Đặt vấn đề• Thuật ngữ “ Phí người sử dụng” hay viện phí hay phí khám chữa bệnh liên quan tới số tiền mà người bệnh phải trả khi sử dụng các dịch vụ y tế và khi được điều trị bệnh hoặc
Trang 1PHÍ KHÁM CHỮA BỆNH
Trang 2Mục tiêu
1. Trình bầy các hệ thống phí khám chữa bệnh
2. Trình bầy mục tiêu của phí khám chữa bệnh
3. Trình bầy phương thức thu thập và quản lý phí khám
chữa bệnh
4. Mô tả thực trạng phí khám chữa bệnh tại Việt Nam
Trang 3Đặt vấn đề
• Nhu cầu huy động đủ ngân sách cho các hoạt động y tế
• Phân bổ hợp lý các nguồn lực
• Tổ chức cung cấp các dịch vụ y tế nhằm đạt được lợi ích sức khoẻ cao nhất cho mọi người
• Kiểm soát lạm phát chi tiêu cho y tế ở mức độ có thể
chấp nhận
Trang 4Đặt vấn đề
• Thuật ngữ “ Phí người sử dụng” hay viện phí hay phí khám chữa bệnh
liên quan tới số tiền mà người bệnh phải trả khi sử dụng các dịch vụ y tế
và khi được điều trị bệnh hoặc khi được nhận một sự chăm sóc nào đó
• Phí gồm bất kì sự chi trả trực tiếp nào của người sử dụng dịch vụ cho người cung cấp dịch vụ,
• thuốc, hội chẩn, quần áo, các xét nghiệm chẩn đoán,
•
• Phí người sử dụng thường được các cán bộ y tế tư nhân sử dụng để tăng thêm nguồn thu
• Giữa các nước, quá trình áp dụng phí khám chữa bệnh trong lĩnh vực y
tế công có sự khác biệt
• Từ những năm thuộc thập kỉ 80, do phải đối mặt với sự tăng áp lực trong ngân sách nhà nhà nước,
Trang 5Các loại hệ thống phí khám chữa bệnh
• 2.1 Chi trả trọn gói cho các dịch vụ y tế (Fee for
service system) : Phí thực tế người bệnh phải trả là chi
phí thực cộng với một khoản phần trăm thu thêm cho
thuốc và quần áo trong khi điều trị
•
• Ví dụ: Giả sử phần trăm thu thêm được đặt ra là 150% Nếu chi phí cho thuốc điều trị một đứa trẻ bị sốt rét của chương trình y tế là
10 USD thì lệ phí người bệnh phải trả là
•
• Phí = Chi phí thực + (150% x Chi phí thực)
• = 10$ + ( 150% x 10$)
• = 25 $
Trang 6Các loại hệ thống phí khám chữa bệnh
• 2.1 Chi trả trọn gói cho các dịch vụ y tế
• Người bệnh trả một cách chính xác cho những gì mà họ
nhận được trong quá trình khám và điều trị (từ lúc nhập viện, khám, làm xét nghiệm, điều trị)
• không có phần bao cấp ẩn trong giá
• Mặc dù cách tính toán này rất rõ ràng thì nó lại khiến cho
việc quản lý hoàn toàn phức tạp vì giá đặt ra cho mỗi bệnh nhân sẽ khác nhau vì sẽ cần phải kiểm tra và giám sát tiền
và thuốc
• Một điều bất lợi nữa là người bệnh không biết trước được những gì họ sẽ phải trả cho điều trị
Trang 7Các loại hệ thống phí khám chữa bệnh
2.2 Phí người bệnh phải trả là một khoản phí cố đinh cho điều trị mà họ nhận được
Phí như nhau cho các chẩn đoán hoặc các chẩn đoán
được phân loại thành một số các nhóm nhỏ và mỗi nhóm
áp dụng một mức phí riêng
Việc chi trả theo các nhóm chẩn đoán khác nhau dẫn đến một sự thật là một vài trường hợp tốn kém quá nhiều để được điều trị hơn là những trường hợp khác
Trang 8Các loại hệ thống phí khám chữa bệnh
2.2 Phí người bệnh phải trả là một khoản phí cố đinh cho điều trị mà họ nhận được
• Hệ thống phí này đơn giản hơn nhiều cho những cán bộ hành chính
vì chỉ có một số nhỏ các loại phí mà người bệnh phải trả.
• Với hệ thống phí này, các phương pháp điều trị đắt tiền hơn sẽ
được các phương pháp điều trị rẻ tiền hơn bù chi phí.
• Giá có thể được công bố trước
• Cách tính này đòi hỏi phải có kĩ năng tính chi phí trung bình do phải tính chi phí trung bình cho mỗi nhóm bệnh có chẩn đoán như nhau.
Trang 9Các loại hệ thống phí khám chữa bệnh
• 2.3 Chi trả cho mỗi đợt bị bệnh: Lệ phí đặt ra là người bệnh phải
trả một khoản phí cố định cho mỗi lần bị bệnh
• Trong trường hợp này, người bệnh sẽ phải trả một khoản phí cố định cho lần tới khám đầu tiên và không phải trả gì thêm (cùng một cơ sở y tế) nếu lần tới khám sau có liên quan tới chẩn đoán ban đầu
• Như trong hệ thống trả phí cố định đã được bàn luận ở trên, cùng một mức phí có thể được sử dụng cho tất cả các chẩn đoán hoặc các mức phí khác nhau đặt cho các nhóm chẩn đoán khác nhau
• Phương pháp trả phí này cũng cho phép sự bù trừ cho nhau về chi phí giữa các phương pháp điều trị và như vậy cho phép giá cho điều trị cũng sẽ được công bố trước
•
Trang 10Các loại hệ thống phí khám chữa bệnh
phải trả một khoản phí cố định cho mỗi lần bị bệnh
• Lợi ích thêm vào là phương pháp này sẽ động viên người bệnh điều trị đầy đủ và quay trở lại cơ sở y tế nếu như tình trạng sức khoẻ của họ không được cải thiện.
•
• Cả ba hệ thống phí người sử dụng trên đều có thể đưa ra sự khác nhau về giá cả cho các nhóm dân số cụ thể Ví dụ như: theo độ tuổi hoặc có lẽ theo tình trạng bệnh Miễn phí có thể được áp
dụng hoàn toàn cho người nghèo Các hệ thống phí khác nhau thì tất cả đều có những hàm ý khác nhau về thói quen kê đơn và việc
sử dụng thuốc hợp lý
•
Trang 11Mục tiêu chung của phí khám chữa bệnh
Trang 12Tác động tiêu cực của phí KCB
1. Phí khám chữa bệnh hạn chế nhóm thu nhập thấp tiếp
cận các dịch vụ y tế
2. Một số người dân bị đưa vào bẫy nghèo đói
3. Phí khám chữa bệnh tại bệnh viện góp phần cho sự
thiếu công bằng về tài chính cho các bệnh viện giữa thành phố và nông thôn
4. Phí khám chữa bệnh bệnh viện tạo ra sự mất công
bằng trong cán bộ y tế ở các khu vực khác nhau
Trang 13Những điều cần xem xét trong thực tế
• Sự sẵn sàng chi trả: Ưu tiên của mọi người trong việc chi trả cho chăm sóc sức khỏe
• Khả năng chi trả
• 3 Quản lý tiền thu được
Trang 14Phí khám chữa bệnh tại Việt Nam
• Vào cuối những năm 80 hệ thống y tế Viêt Nam chịu nhiều áp lực
do ảnh hưởng của quá trình đổi mới khiến cho ngành Y tế Việt Nam không thể duy trì một mạng lưới rộng lớn y tế cơ sở
• Năm 1989 mức chi cho chăm sóc y tế Việt Nam ở trong tình trạng khủng hoảng, mức chi cho y tế chỉ chiếm 3,3% tổng chi của
Chính phủ, và Chính phủ chỉ có thể đáp ứng được 40% nhu cầu chăm sóc y tế khẩn cấp nhất (Witter, 1996; Guldner và Rifkin,
1993)
• Để có thể tăng thêm đầu tư cho các cơ sở y tế công nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của người dân, năm 1989, nhà nước đã bắt đầu cơ chế thu phí người sử dụng ( thu một phần viện phí)
Trang 15Phí khám chữa bệnh tại Việt Nam
bắt đầu được thực hiện ở Việt Nam cho phép ở các cơ sở y tế công
cho phép các bệnh viện công ở tuyến huyện, tỉnh và TW được thu phí khám bệnh cơ bản ở mức khoảng từ 0,07 đến 0,27 Đô la Mỹ (Prescott, 1997)
hao khác, các cơ sở y tế cũng được phép thu thêm những khoản phụ phí
thu này chỉ chiếm 5%-7% trong giai đoạn 1990-1995 và tăng lên
15,69% năm 2000
Trang 16Phí khám chữa bệnh tại Việt Nam
từng loại dịch vụ khám bệnh và xét nghiệm chẩn đoán cũng như qui trình cần áp dụng tại các phòng khám và bệnh viện
quân sang cơ chế thu theo thực tế sử dụng
khoản tiền giường nằm hàng ngày
các tỉnh và thậm chí trong cùng một tỉnh, một số bệnh viện không tuân thủ khung phí quy định, và một số bệnh viện
khác thì lại áp đặt những khoản phụ phí
Trang 17Phí khám chữa bệnh tại Việt Nam
• Hướng dẫn sử dụng cảc khoản thu từ phí cũng đã được sửa đổi, tiền thưởng cho nhân viên y tế giảm từ 35%
xuống 25-28% và tăng tỷ trọng các khoản chi ngoài quỹ lương từ 60% dến 70%
• Những khoản chi ngoài lương tăng có thể được dùng để mua sắm các trang thiết bị y tế
• Phần còn lại từ 2% đến 5% được sử dụng để xây dựng quỹ hỗ trợ cho bệnh viện Tuy nhiên còn thiếu hệ thống giám sát hiệu quả nên những hướng dẫn này đã không được tuân thủ một cách chặt chẽ
Trang 18Phí khám chữa bệnh tại Việt Nam
từ 1994-2000 tuy nhiên đóng góp của nguồn thu này cho ngân sách chung cho ngành y tế chỉ chiếm 16,7% trong năm 2002
tăng đáng kể
không chính thức nên gánh nặng về chi phí đã chuyển sang người sử dụng.
phải có hệ thống quản lý việc thu và sử dụng nguồn thu một cách có hiệu quả và tăng cường sự công bằng cho người dân trong tiếp cận và
sử dụng các dịch vụ CSSK.
Trang 19Tiểu luận
• Phân tích gánh nặng kinh tế của một bệnh tại Việt Nam?
• Dàn ý:
• 1 Mức độ phổ biến của bệnh/ vấn đề sức khỏe quan
tâm? Tác động về sức khỏe (số mắc, chết, số năm sống mất đi,…)
• 2 Chi phí do đau ốm (từ phía bệnh nhân, hệ thống y tế,
xã hội)
• 3 Các biện pháp can thiệp tiềm tàng?
• Trình bầy không quá 2 trang A4, cỡ chữ 12