MỞ ĐẦ U
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (TBVTV) đang ngày càng phổ biến tại Việt Nam, nhờ vào khả năng diệt sâu bệnh nhanh chóng và dễ dàng sử dụng, điều này giúp nông dân nâng cao năng suất canh tác và mang lại lợi ích kinh tế Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích này, TBVTV cũng gây ra những tác hại nghiêm trọng cho môi trường và sức khỏe của người phun thuốc, đặc biệt là ở nông dân do phương pháp phun thủ công Hệ quả là chi phí y tế cho những vấn đề sức khỏe liên quan đến TBVTV ước tính rất lớn, đặt ra thách thức cho ngành nông nghiệp tại Việt Nam và các nước đang phát triển.
Nghiên cứu này chỉ ra rằng, số lượng, tần suất và đa dạng loại thuốc bảo vệ thực vật (TBVTV) sử dụng là những yếu tố quyết định chính đến chi phí y tế Các kết quả này có thể giúp các cơ quan chức năng hoàn thiện chính sách liên quan đến việc sử dụng TBVTV tại Việt Nam.
TÍNH CẤ P THI Ế T C ỦA ĐỀ TÀI
Thuốc bảo vệ thực vật đóng vai trò quan trọng trong nông nghiệp hiện đại, giúp bảo vệ cây trồng khỏi sâu bệnh Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc này cũng tiềm ẩn nguy cơ cao cho sức khỏe người nông dân, khi họ có thể mắc các bệnh tật do nhiễm độc trong quá trình phun và xử lý.
Ngộ độc thuốc bảo vệ thực vật (TBVTV) là một vấn đề phổ biến đối với nông dân ở các nước đang phát triển, chủ yếu do việc phun thuốc thủ công Mặc dù tình trạng này rất nghiêm trọng, nhưng mức độ và tầm quan trọng của nó chưa được làm rõ Theo ước tính của Van Der Hoek và cộng sự (1998), khoảng 7,5% lao động nông nghiệp ở Sri Lanka bị ngộ độc TBVTV hàng năm, trong khi tỷ lệ này tại Costa Rica và Nicaragua lần lượt là 4,5% và 6,3% (Wesseling và cộng sự, 1993).
Nghiên cứu hiện tại tập trung vào việc khảo sát sự tiếp xúc của nông dân với thuốc bảo vệ thực vật (TBVTV), chi phí điều trị bệnh, và các yếu tố quyết định khác, dựa trên thông tin từ chính người nông dân Dữ liệu sẽ được thu thập thông qua khảo sát thực địa tại các khu vực trồng rau ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Việt Nam đang gia tăng nhanh chóng việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (TBVTV), đặc biệt trong ba thập kỷ qua, dẫn đến tỷ lệ mắc và tử vong do nhiễm độc TBVTV cũng tăng theo Hiện tại, Việt Nam đã sử dụng 200 loại thuốc trừ sâu, 83 loại thuốc trừ nấm và 52 loại thuốc diệt cỏ, trong đó nhiều sản phẩm chứa thành phần độc hại như organophosphates, carbamates và pyrethroid Mặc dù có sự tiến bộ trong ứng dụng khoa học vào nông nghiệp, nhưng khoảng 36% thuốc trừ sâu bị hạn chế vẫn được sử dụng tại An Giang, làm tăng nguy cơ cho sức khỏe nông dân Thêm vào đó, với thị trường lớn hơn và tự do hóa, thuốc trừ sâu độc hại và rẻ tiền ngày càng được ưa chuộng, trong khi rất ít nông dân tuân thủ hướng dẫn của Cục Bảo vệ thực vật.
Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (TBVTV) trong nông nghiệp có ít nhất ba lý do chính Thứ nhất, nông dân kỳ vọng vào sản lượng cao hơn khi sử dụng thuốc trừ sâu, vì họ tin rằng việc giảm lượng thuốc sẽ dẫn đến mất mùa Thứ hai, một số nông dân thay thế thuốc trừ sâu cho các yêu cầu về lao động và vốn, và cần nhiều thuốc diệt cỏ hơn khi gieo lúa trực tiếp, dẫn đến việc làm cỏ bằng tay gần như biến mất ở Sri Lanka Cuối cùng, hoạt động xúc tiến bán hàng và khuyến khích tín dụng cũng góp phần vào việc lạm dụng thuốc trừ sâu Những lý do này cho thấy nông dân vẫn coi thuốc trừ sâu là thiết yếu cho cây trồng mặc dù có nguy cơ cho sức khỏe Do đó, cần có nghiên cứu nghiêm túc để chứng minh tác hại của TBVTV đối với sức khỏe người sử dụng, nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng Từ đó, tác giả chọn đề tài “Đánh giá hiệu quả kinh tế và chi phí khám chữa bệnh của những hộ nông dân sử dụng thuốc bảo vệ thực vật: Trường hợp nghiên cứu các hộ trồng rau tại thành phố Hồ Chí Minh” cho luận văn thạc sĩ của mình.
M ỤC TIÊU NGHIÊN CỨ U
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là so sánh lợi ích kinh tế từ việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật với chi phí chăm sóc sức khỏe cho người dân, nhằm đưa ra kết luận về việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật Luận văn cũng đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất và phát triển theo hướng an toàn.
• Đánh giá hiệu quả kinh tế từ hoạt động trồng rau có sử dụng TBVTV với chi phí khám chữa bệnh
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế và chi phí khám chữa bệnh của hộ nông dân trồng rau tại TP Hồ Chí Minh là cần thiết để hiểu rõ hơn về tình hình sản xuất nông nghiệp Các yếu tố như giá cả nguyên liệu, kỹ thuật canh tác, và điều kiện thị trường có tác động lớn đến chi phí và lợi nhuận của hộ nông dân Đồng thời, việc đánh giá chi phí khám chữa bệnh cũng giúp nông dân quản lý sức khỏe cây trồng và tối ưu hóa sản xuất Nâng cao hiệu quả kinh tế trong trồng rau không chỉ cải thiện đời sống nông dân mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp thành phố.
• Đưa ra một số giải pháp nhằm sản xuất nông nghiệp an toàn cho người sản xuất và tăng lợi ích kinh tế.
CÂU HỎI NGHIÊN CỨ U
Để đạt được mụ tiêu nghiên cứu đã đề ra, luận văn cần trả lời được các câu hỏi nghiên cứu sau:
• Hiệu quả kinh tế từ việc trồng rau so với chi phí khám chữa bệnh bỏ ra hằng năm có cao hơn không?
Hiệu quả kinh tế và chi phí y tế của hộ nông dân trồng rau tại TP Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm chất lượng đất, phương pháp canh tác, giá cả thị trường, và sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương Ngoài ra, các yếu tố như biến đổi khí hậu, dịch bệnh cây trồng, và khả năng tiếp cận công nghệ mới cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất và giảm chi phí khám chữa bệnh cho nông dân Để cải thiện tình hình, cần có các giải pháp đồng bộ nhằm tăng cường năng lực sản xuất và quản lý chi phí y tế hiệu quả hơn.
Để đảm bảo hoạt động sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trồng rau, của hộ nông dân an toàn cho sức khỏe và mang lại lợi nhuận cao, cần áp dụng các giải pháp như sử dụng giống rau an toàn, áp dụng kỹ thuật canh tác hữu cơ, và quản lý dịch hại bằng biện pháp sinh học Ngoài ra, việc đào tạo nông dân về kỹ thuật sản xuất bền vững và tiếp cận thị trường tiêu thụ cũng rất quan trọng Hợp tác xã nông nghiệp có thể giúp nâng cao giá trị sản phẩm và tạo điều kiện cho việc tiêu thụ rau sạch.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨ U
Luận văn này nghiên cứu các lợi ích kinh tế từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trồng rau, của người nông dân, đồng thời phân tích chi phí khám chữa bệnh hàng năm của họ.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn được tiến hành ở TP Hồ Chí Minh từ 01/
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨ U
Để đạt được mục tiêu đề ra, đề tài vận dụng các phương pháp nghiên cứu kinh tế sau:
Phương pháp phân tích tổng hợp là kỹ thuật tổng hợp các lý thuyết liên quan đến chủ đề nghiên cứu và hệ thống hóa các nghiên cứu điển hình Phương pháp này đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng mô hình nghiên cứu và khung phân tích, tạo nền tảng vững chắc cho các nghiên cứu tiếp theo.
Phương pháp thống kê mô tả là công cụ quan trọng trong luận văn, giúp phân tích và tổng hợp dữ liệu khảo sát trước khi tiến hành phân tích hồi quy Phương pháp này làm rõ các tính chất của bộ dữ liệu, từ đó nâng cao độ chính xác cho các kết luận nghiên cứu.
Phương pháp phân tích định lượng sử dụng mô hình hồi quy bội để ước lượng ảnh hưởng của các biến độc lập đến biến phụ thuộc Kết quả từ phân tích hồi quy cung cấp cơ sở cho tác giả kiểm định các giả thuyết trong nghiên cứu.
B Ố C Ụ C C Ủ A LU ẬN VĂN
Luận văn được tiến hành trình bày trong 5 chương, cụ thể như sau:
Chương 2 Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Thảo luận và hàm ý chính sách.
Chương 1 đã tiến hành nghiên cứu lý do chọn đề tài cũng như tính cấp thiết của đề tài Hơn nữa với mục đích của chương là giới thiệu khái quát nhất về những vấn đề mà luận văn nghiên cứu nên trong chương này, luận văn đã tiến hành xác định mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và cấu trúc luận văn Thông qua chương 1 tác giả đã định hướng và khái quát nội dung luận văn sẽ nghiên cứu về vấn đề gì và những vấn đề đó sẽ được giải quyết cụ thể ở những chương tiếp theo.
CƠ SỞ LÝ THUYẾ T
CÁC KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN ĐẾN NGHIÊN CỨ U
2.1.1.1 Các quan điểm về hiệu quả kinh tế
Trong doanh nghiệp và nền sản xuất xã hội, khái niệm “hiệu quả kinh tế” thường được nhắc đến với các thuật ngữ như “sản xuất có hiệu quả”, “sản xuất không hiệu quả” và “sản xuất kém hiệu quả” Các nhà kinh tế học đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả sản xuất kinh doanh, từ đó giúp chúng ta hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của việc tối ưu hóa quy trình sản xuất để nâng cao hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp.
Theo quan điểm của Mác, hiệu quả được định nghĩa là việc tiết kiệm và phân phối hợp lý thời gian lao động sống và lao động vật hoá giữa các ngành, thể hiện quy luật tiết kiệm và tăng năng suất lao động Ông nhấn mạnh rằng việc nâng cao năng suất lao động vượt quá nhu cầu cá nhân của người lao động là nền tảng cho mọi xã hội (Cac Mac, 1962).
Theo quan điểm của Mác, các nhà kinh tế học Xô Viết định nghĩa "hiệu quả" là sự gia tăng kinh tế thông qua việc tăng trưởng tổng sản phẩm xã hội hoặc thu nhập quốc dân với tốc độ cao, nhằm đáp ứng yêu cầu của quy luật kinh tế cơ bản trong chủ nghĩa xã hội (Cac Mac, 1962).
Theo Paul và cộng sự (2002), một nền kinh tế và doanh nghiệp hiệu quả cần nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất, với hiệu quả được định nghĩa là không lãng phí Nghiên cứu về hiệu quả sản xuất phải tính đến chi phí cơ hội, nghĩa là hiệu quả xảy ra khi xã hội không thể tăng sản lượng của một loại hàng hóa mà không giảm sản lượng của loại hàng hóa khác Tất cả các nền kinh tế hiệu quả đều nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất của mình.
Khi bàn về khái niệm hiệu quả, Đỗ Kim Chung và cộng sự (1997) nhấn mạnh sự cần thiết phải phân biệt ba khái niệm cơ bản: hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ nguồn lực và hiệu quả kinh tế.
Hiệu quả kỹ thuật là chỉ số đo lường số lượng sản phẩm đạt được so với chi phí đầu vào Trong kinh tế vi mô, hiệu quả kỹ thuật thường được sử dụng để phân tích cách thức sử dụng nguồn nhân lực, cho thấy mỗi đơn vị nguồn lực được sử dụng trong sản xuất sẽ tạo ra bao nhiêu đơn vị sản phẩm.
Hiệu quả phân bổ các nguồn lực là chỉ tiêu quan trọng phản ánh giá trị sản phẩm thu được từ việc tối ưu hóa chi phí đầu vào Chỉ tiêu này được tính toán dựa trên sự cân nhắc giữa các yếu tố sản phẩm và giá đầu vào, giúp đánh giá mức độ sinh lời trên mỗi đồng chi phí bổ sung cho nguồn lực.
Hiệu quả kinh tế trong nông nghiệp bao gồm cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ, cho thấy sự quan trọng của việc sử dụng hợp lý các nguồn lực Điều này có nghĩa là cần xem xét cả yếu tố hiện vật và giá trị để đạt được hiệu quả tối ưu trong sản xuất.
Một số nhà kinh tế cho rằng những quan điểm hiện tại về hiệu quả kinh tế chưa đầy đủ, vì chỉ xem xét từ những khía cạnh trực tiếp Do đó, khi đánh giá hiệu quả kinh tế, cần phải đặt nó trong bối cảnh tổng thể của kinh tế - xã hội, chú trọng đến các mục tiêu phát triển như nâng cao mức sống và cải thiện môi trường.
Hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh là một khái niệm phản ánh chất lượng hoạt động sản xuất và trình độ phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội Quan niệm về hiệu quả này có sự khác biệt tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội và mục tiêu của từng đơn vị sản xuất Tuy nhiên, tất cả các quan niệm đều chung một điểm: tiết kiệm nguồn lực để tối đa hóa sản lượng sản phẩm Do đó, hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh có thể được hiểu một cách tổng quát như việc tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên để đạt được kết quả tốt nhất.
Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng hoặc quá trình kinh tế phản ánh mức độ sử dụng hiệu quả các nguồn lực như nhân lực, tài lực, vật lực và tiền vốn nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể.
Từ khái niệm khái quát này, có thể hình thành công thức biểu diễn khái quát phạm trù hiệu quả kinh tế như sau:
H là hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (quá trình kinh tế) nào đó;
K là kết quả thu được từ hiện tượng (quá trình) kinh tế đó
C là chi phí toàn bộ để đạt được kết quả đó.
Hiệu quả kinh tế là chỉ số phản ánh chất lượng hoạt động kinh tế, được xác định thông qua tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí đã bỏ ra để đạt được kết quả đó.
2.1.1.2 Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế
Theo tác giả Đỗ Kim Chung và cộng sự (1997) thì có định nghĩa về các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế như sau:
Giá trị sản xuất (GO) phản ánh tổng sản phẩm vật chất và dịch vụ do lao động của doanh nghiệp tạo ra trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm Nó được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau.
- C: là chi phí cho quá trình sản xuất, bao gồm:
+ C1: khấu hao tài sản cố định + C 2 : chi phí trung gian (C 2 ) cấp
Thu nhập của người lao động bao gồm các khoản như tiền công, tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp có tính chất lương và tiền nộp bảo hiểm xã hội, trong đó chỉ tính phần doanh nghiệp chi trả cho người lao động mà không bao gồm phần trích từ tiền công của người lao động để trả.
- M: thu nhập của doanh nghiệp, gồm các khoản:
+Thuế sản xuất + Lãi trả tiền vay ngân hàng
+ Mua bảo hiểm nhà nước (không kể bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho cán bộ công nhân viên)
+ Thuế thu nhập doanh nghiệp
+ Phần còn lại lãi ròng của hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp
Lưu ý: Khi tính giá trị sản xuất, cần tuân thủ theo các nguyên tắc sau:
- Phản ánh đúng và đủ giá trị sản phẩm bao gồm cả C, V, M. làm
- Chỉ được tính kết quả do lao động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ra trong kỳ.
Trong kỳ báo cáo, toàn bộ kết quả hoàn thành sẽ được tính, bao gồm cả sản phẩm tự sản xuất, tự tiêu, sản phẩm chính và sản phẩm phụ đã được sản xuất trong thời gian này.
- Được tính chênh lệch của sản phẩm dở dang và bán thành phẩm
Do các loại hình doanh nghiệp có những đặc điểm, tính chất khác nhau nên chỉ
CÁC LÝ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN ĐẾN NGHIÊN CỨ U
Tổng hợp các lý thuyết có liên quan đến nghiên cứu, bao gồm các lý thuyết
Hiệu quả Pareto, hay tối ưu Pareto, là lý thuyết quan trọng trong kinh tế học, với ứng dụng rộng rãi trong lý thuyết trò chơi, kỹ thuật và khoa học xã hội Nó mô tả việc chuyển đổi giữa các phân bổ nguồn lực, trong đó ít nhất một cá nhân được cải thiện mà không làm tổn hại đến bất kỳ ai khác, được gọi là cải thiện Pareto Khi không còn cách nào để cải thiện hơn nữa, phân bổ đó được xem là hiệu quả Pareto Trong nghiên cứu, việc tăng thu nhập cho người trồng rau thông qua việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (TBVTV) có thể dẫn đến chi phí sản xuất cao hơn và có thể gia tăng chi phí chữa bệnh Do nguồn lực sản xuất và tích lũy của hộ gia đình có hạn, việc cân bằng trong việc sử dụng TBVTV là cần thiết để đạt được tối ưu về thu nhập mà không làm giảm điều kiện sống của các cá nhân khác.
“xấu đi” tình trạng sức khỏe hay năng suất sản xuất đó chính là nội dung hiệu quả tối ưu của Pareto.
Lý thuyết chi trả hợp lý (WTP) cho thấy rằng mức giá mà khách hàng sẵn lòng chi trả khi mua sản phẩm phụ thuộc vào giá trị kinh tế và mức độ hữu dụng của sản phẩm đó Mức giá hạn chế và mức giá tối đa là hai yếu tố quyết định mức sẵn lòng chi trả Nếu sản phẩm không có sản phẩm thay thế, khách hàng sẽ sẵn sàng chi trả mức giá hạn chế để đạt được độ hữu dụng Ngược lại, nếu có sản phẩm thay thế với giá trị kinh tế thấp hơn, mức giá tối đa mà khách hàng chấp nhận sẽ tương đương với giá trị của sản phẩm thay thế Mức sẵn lòng chi trả được định nghĩa là mức giá cao nhất mà một cá nhân sẵn lòng chi trả cho hàng hóa hoặc dịch vụ.
Theo quan điểm của (1994), mức sẵn lòng chi trả phản ánh cường độ ưa thích của cá nhân hoặc xã hội đối với một hàng hóa Mức giá mà họ sẵn lòng chi trả thể hiện mức độ thỏa mãn khi sử dụng hàng hóa đó Điều này cho thấy rằng, sự chi trả của nông dân trồng rau cho thuốc bảo vệ thực vật (TBVTV) phụ thuộc vào mức độ hữu ích của nó trong quá trình trồng rau và giá cả của các sản phẩm thay thế trên thị trường.
Phương pháp chi phí y tế (Cost of Illness) được áp dụng để tính toán các chi phí phát sinh từ sức khỏe con người bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm môi trường Các chi phí này bao gồm chi phí khám chữa bệnh, thuốc men, và giảm năng suất lao động do ô nhiễm Nông dân tiếp xúc với thuốc bảo vệ thực vật (TBVTV) có nguy cơ nhiễm độc qua da và đường hô hấp, dẫn đến nguy cơ bệnh tật cao Việc tiếp xúc thường xuyên với TBVTV mà không tuân thủ quy trình sử dụng là nguyên nhân chính làm tăng chi phí y tế cho các hộ trồng rau.
2.3 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
Antle và Pingali (1994) đã nghiên cứu tác động của thuốc trừ sâu đến sức khỏe người nông dân và ảnh hưởng của sức khỏe kém đến năng suất nông nghiệp, phát hiện rằng thuốc trừ sâu liên quan đến khiếm khuyết sức khỏe làm giảm đáng kể năng suất lao động Antle và Capalbo (1994) đã xây dựng một khung phân tích để giải thích mối quan hệ giữa sức khỏe và năng suất trong bối cảnh sử dụng thuốc trừ sâu ở các nước đang phát triển Phân tích thực nghiệm cho thấy thuốc trừ sâu được sử dụng hiệu quả ở mức độ khác nhau, nhưng cũng chỉ ra rõ ràng nguy cơ đến sức khỏe con người từ việc sử dụng chúng.
Dung và Dung (1999) đã tiến hành nghiên cứu để đánh giá hiệu quả kinh tế và tác động của thuốc trừ sâu đối với sức khỏe của người nông dân trồng lúa tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long Nghiên cứu này đã đưa ra các mô hình nhằm phục vụ cho mục tiêu đánh giá trên.
Mô hình 1: Năng suất lúa
LnY = LnA + β1 Soil + β2 Mefarm + β3 Lafarm + β4EDU2 + β5EDU3 + β6LnNPK + β7LnTodose + β8LnHirLab + β9LnFarlab
LnY = logarit tự nhiên của Năng suất (tấn / ha) ha)
LnNPK = logarit tự nhiên của tổng nitơ, phốt pho,và phân bón kali (kg /
LnTodose = logarit tự nhiên tổng liều tất cả thuốc trừ sâu đã sử dụng
LnHirlab = logarit tự nhiên của lao động thuê (ngày công/ ha)
LnFarlab = logarit tự nhiên của lao động gia đình (ngày công/ha)
Mefarm (Biến giả Dummy) = 1 nếu trang trại có diện tích trung bình (5-10 ha), = 0 nếu có diện tích khác
Lafarm (Biến giả Dummy) = 1 Nếu trang trại có diện tích lớn (>10 ha); = 0 có diện tích khác
Soil (Biến giả Dummy) = 1 nếu đất là loại 1; = 0 nếu đất là loại khác
EDU2 (Biến giả Dummy) = 1 Nếu nông dân có trình độ cấp 2; = 0 nếu nông dân có trình độ khác
EDU3 (Biến giả Dummy) = 1 nếu nông dân có trình độ trung học và trên trung học; = 0 nếu nông dân có trình độ khác
Mô hình 2: Năng suất cận biên xác định số lượng tối ưu của thuốc trừ sâu thông qua mối quan hệ tỷ lệ giữa giá thuốc trừ sâu và giá lúa bán ra, được thể hiện qua công thức cụ thể.
MPP = dY/dTodose = Pp/Py
MPP = giá trị năng suất cận biên của thuốc trừ sâu Pp = đơn giá thuốc trừ sâu (đồng/gram)
Py = đơn giá của lúa (đồng/kg)
Mô hình 3 Rủi ro sức khỏe ln Odds( p i
Odds: Biến nhị phân rủi ro sức khỏe, = 1 nếu nhập viện, =0 nếu không nhập Pesticde: Biến tiếp xúc với thuốc trừ sâu
Characteristics: Biến đặc điểm cá nhân i
Mô hình 4: Mô hình chi phí y tế
LnHC = f (LnAGE, HEALTH, SMOKE, DRINK, LTODOSE, LINDOSE, LHEDOSE, NA1, NA2, NA3, TOCA1, TOCA2, IPM, CLINIC)
LnHC = Log chi phí y tế của nông dân
LnAGE = Log tuổi nông dân
HEALTH = Cân nặng của người nông dân
SMOKE = Dummy cho hút thuốc (0 cho người không hút thuốc, và 1 cho người hút thuốc)
DRINK = Dummy cho uống rượu (0 cho người không uống & 1 cho những người uống)
IPM = Dummy đối với người áp dụng IPM (0 là người nông dân không áp dụng IPM & 1 cho nông dân có áp dụng IPM
LTODOSE = Log tổng liều lượng của tất cả các loại thuốc BVTV được sử dụng (gram / ha)
LINSECT = Log của liều thuốc trừ sâu được sử dụng (gram / ha)
LHERB = Log của liều thuốc diệt cỏ được sử dụng (gram / ha)
LFUNG = Log của liều thuốc diệt nấm được sử dụng (gram / ha)
TOCAl = Tổng liều loại I & II (gram ai / ha)
TOCA2 = Tổng liều loại III và IV (gram ai / ha)
NA1 = Log của số lần ứng dụng của thuốc trừ sâu / mùa
NA2 = Số lần liên hệ với TOCA1 / mùa
NA3 = Số lần liên hệ với TOCA3 / mùa
CLINIC = Dummy đối với những người đã có mắc bệnh nhập viên (0 đối với những người không nhập viện)
Nghiên cứu này đánh giá năng suất lúa và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất thông qua khảo sát hộ nông dân Mô hình hồi quy Logit được áp dụng để xác định các vấn đề kinh tế liên quan đến đặc điểm của nông dân, đồng thời phân tích mức độ tiếp xúc với thuốc trừ sâu Mục tiêu là xác định các loại khiếm khuyết sức khỏe có thể do việc sử dụng thuốc trừ sâu kéo dài gây ra.
Thuốc trừ sâu có tác động tiêu cực đến sức khỏe của người nông dân, với mức độ ảnh hưởng được ước tính qua chức năng đáp ứng liều Các nghiên cứu cho thấy lượng thuốc trừ sâu sử dụng thường vượt quá mức tối ưu cho lợi nhuận tối đa Sức khỏe của nông dân bị ảnh hưởng nghiêm trọng qua số lần tiếp xúc, thay vì tổng liều lượng Sự gia tăng trong việc sử dụng thuốc diệt cỏ và thuốc diệt nấm dẫn đến chi phí y tế cao hơn Do lợi ích kinh tế từ việc tiết kiệm đầu vào và giảm chi phí y tế nặng nề hơn so với tổn thất năng suất, một mức thuế suất 33,4% trên giá thuốc trừ sâu đã được đề xuất.
Ajayi (2000) đã tiến hành nghiên cứu về tác động của thuốc trừ sâu đối với năng suất và sức khỏe của nông dân trồng lúa và bông tại Côte d'Ivoire, Tây Phi Để đạt được mục tiêu này, nghiên cứu đã xây dựng hai mô hình nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng thuốc trừ sâu trong sản xuất nông nghiệp.
Mô hình 1: Mô hình năng suất lúa – bông
Mô hình này được nghiên cứu xây dựng như sau:
Y là sản lượng và X1, X2, X3, X4, Xn là các yếu tố đầu vào của trang
Sử dụng chức năng định dạng Cobb-Douglas, đó là hình thức phổ biến nhất trong nghiên cứu sản xuất.
Nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố đầu vào đều ảnh hưởng tích cực đến sản lượng Tuy nhiên, trong số các yếu tố này, tổng lượng thuốc trừ sâu sử dụng và vị trí địa lý của hộ gia đình lại có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với sản lượng lúa/bông.
Mô hình 2: Rủi ro y tế
Mô hình logit biến nhị phân như sau:
) = f(LOCATION, SEG, CONTACT, QTY, DURATN, PERCEPTION,
LnHTH = Biến nhị phân rủi ro y tế, = 1 nếu bị nhập viện, =0 nếu không nhập
Location = Biến Dummy đối với vị trí địa lý của các hộ gia đình, =1 nếu hộ gia đình ở lâu dài tại khu vực sản xuất; = 0 nếu ngược lại.
SEG = Nhóm biến tình kinh tế của hộ gia đình (Biến này gồm thu nhập thấp, trung bình và thu nhập cao)
Contact = Số lần tiếp xúc thuốc trừ sâu trong năm
QTY = Tổng số lượng thuốc trừ sâu mà các hộ gia đình trong quá trình phun mùa (lít). n
DURATN = Tổng thời gian (số giờ) mà thiết trong hộ gia đình được tiếp xúc với thuốc trừ sâu phun trong nông nghiệp mùa.
Perception = Là tỷ lệ phần trăm của số lần phun thuốc bị thẩm thấu
Practice = Số lần thực hiện bảo hộ lao động khi phun thuốc trừ sâu so với tổng số lần phun thuốc.
Nghiên cứu cho thấy thời gian sử dụng thuốc trừ sâu của các hộ gia đình, cụ thể là vị trí địa lý, có ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe con người Thời gian phun thuốc càng lâu thì rủi ro sức khỏe càng tăng Ngoài ra, số lần tiếp xúc và tổng liều lượng thuốc trừ sâu cũng tỷ lệ thuận với nguy cơ sức khỏe Ngược lại, việc thực hiện các biện pháp bảo hộ lao động lại có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với rủi ro sức khỏe của nông dân.
Nghiên cứu của Atreya (2005) cho thấy nông dân trồng rau ở Nepal chi khoảng 1,58 USD mỗi năm cho thiết bị an toàn, với tổng chi phí sức khỏe do tiếp xúc với thuốc trừ sâu dao động từ 0,00 USD đến 59,34 USD, trung bình là 16,81 USD Mức sẵn sàng trả của hộ gia đình cho việc sử dụng thuốc trừ sâu an toàn dao động từ 20 USD đến 665 USD mỗi năm Tương tự, Wilson (2005) đã sử dụng dữ liệu từ Sri Lanka để ước tính chi tiêu cho các hành vi phòng thủ của nông dân, cho thấy rằng chi tiêu này tỷ lệ nghịch với tỷ lệ mắc bệnh của nông dân sử dụng thuốc trừ sâu.
Abedullah và cộng sự (2007) đã áp dụng phương pháp tiếp cận cận biên để xác định các chiến lược đầu tư trong tương lai, với mục tiêu nâng cao năng suất lúa cho khu vực.
Nghiên cứu được thực hiện tại Punjab, Pakistan, với dữ liệu thu thập từ 200 nông dân vào năm 2005 tại hai huyện Tehsils và Sheikhupura, khu vực trồng lúa lớn của tỉnh Punjab Sử dụng hàm sản xuất Cobb Douglas, nghiên cứu đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lúa.
6 3 ln y i = ln β 0 + ∑ β j ln x ij + ∑ β m D im + ε i ; i = 1, 2, …, n j =1 m=1
Xi1 = Diện tích trồng lúa
Xi2 = thời gian cày / trang trại
Xi3 = Thời gian cho thủy lợi / trang trại
Xi4 = Giờ lao động / trang trại
Xi5 = Chi phí thuốc trừ sâu (Rupi / trang trại)
Xi6 = chi phí phân NPK / trang trại
Di1 = Dummy màng phủ =1 nếu có; = 0 nếu không có màng phủ
ỔNG T QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 23 2.4 KHUNG PHÂN TÍCH
Kết luận và hàm ý chính sách