Nó vừa đảm nhiệm vai trò làm đơn giản hoá công tác chuẩn bị, trình diễn tư liệu, tạo điều kiện để giúp người thầy thực hiện những ý tưởng mới trong giảng dạy vừa kích thích tư duy, phát
Trang 1Nó vừa đảm nhiệm vai trò làm đơn giản hoá công tác chuẩn bị, trình diễn tư liệu, tạo điều kiện để giúp người thầy thực hiện những ý tưởng mới trong giảng dạy vừa kích thích tư duy, phát huy tính sáng tạo trong việc chiếm lĩnh tri thức, khơi gợi niềm đam mê học tập ở học sinh.
Việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy là xu hướng chung của mọi nền giáo dục và nó còn thể hiện được sự tiến bộ của một nền giáo dục quốc gia Mặt khác Chủ đề của năm học 2010 – 2011 là tiếp tục đổi mới quản lí, nâng cao chất lượng dạy học Cùng với việc nâng cao chất lượng dạy học là vấn đề
thực hiện phong trào hai không cũng như việc ứng dụng CNTT vào trong
giảng dạy đạt hiệu quả Việc ứng dụng CNTT ở trường THCS Mỹ Hiệp đã được triển khai thực hiện trong năm học 2009- 2010 và đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ Trong năm học này, Trường THCS Mỹ Hiệp tiếp tục phát huy kết quả đã đạt được và xem đây là khâu quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học, quản lí Trên cơ sở đó và cũng xuất phát từ niềm đam
mê CNTT, tinh thần sáng tạo trong giảng dạy mà tôi đã mạnh dạn nêu lên
Một vài kinh nghiệm trong việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy một tác phẩm văn học mà tôi đã tích lũy được trong năm học 2009- 2010 từ thực tế
việc giảng dạy của bản thân và đồng nghiệp với mong muốn được góp một phần rất nhỏ cho sự hoàn thiện về phương pháp giảng dạy môn Ngữ văn và cũng là cơ sở cho việc mạn đàm vấn đề ứng dụng CNTT vào dạy học hiện đại
II Nhiệm vụ đề tài:
Quán triệt và thực hiện tinh thần văn bản 896/BGDĐT ngày 13/02/2006 và hướng dẫn số 8232/BGDĐT của BGD&ĐT về hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ CNTT, hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học của SGD-ĐT : tiếp tục đổi mới phương pháp quản lý, khuyến khích và động viên đội ngũ sử dụng CNTT trong quá trình giảng dạy, tập trung chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới cách soạn giáo án, góp phần đem lại cho học sinh những giờ dạy thật sự bổ ích và sinh động Và trong năm học 2010 – 2011 này là
Trang 2tiếp tục ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy Thực hiện theo đúng
tinh thần hướng dẫn nhiệm vụ của PGD- ĐT về việc hướng dẫn thực hiện ứng dụng CNTT vào giảng dạy, phương hướng nhiệm vụ năm học, Trường THCS
Mỹ Hiệp đã xác định ứng dụng CNTT vào giảng dạy là một công tác trọng tâm để hoàn thiện phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng giáo dục Đề
tài Một vài kinh nghiệm trong việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy một tác phẩm văn học đó không chỉ là sự trăn trở của riêng bản thân mỗi một giáo
viên dạy môn Ngữ văn như chúng tôi mà còn là sự khẳng định cho một nhu cầu thiết thực trong việc đưa CNTT vào giảng dạy
Việc ứng dụng CNTT ở các trường THCS trong huyện trong năm học vừa qua đã đạt được kết quả khích lệ, tuy nhiên vẫn còn những băn khoăn, những khó khăn nhất định trong thực tế các tiết dạy Việc ứng dụng CNTT như thế nào để mang lại hiệu quả, để không rơi vào hiện tượng gọi là lạm dụng, để không làm mất đi tính sư phạm trong việc truyền đạt tri thức rèn luyện về tư tưởng đạo đức mà lại kích thích được tư duy, sự hứng thú của học sinh? Trên phạm vi của đề tài và trong khuôn khổ phân môn Ngữ văn tôi sẽ
cố gắng giải đáp những câu hỏi trên
III Phương pháp tiến hành:
- Giáo viên tiến hành phát mẫu An – két cho học sinh để các em điền vào những thông tin như :
Nội dung Ý kiến của học sinh
Thích thú, kích thích tư duy, sáng tạo
Trang 3IV Cơ sở và thời gian tiến hành nghiên cứu đề tài :
1 Cơ sở tiến hành:
* Cơ sở lí luận: Dựa vào nội dung chương trình, phương pháp giảng
dạy bộ môn Ngữ văn, các tài liệu tập huấn công tác giảng dạy, thực tế việc tiếp thu của học sinh hiện nay trong các giờ phân tích một tác phẩm văn học, tinh thần các văn bản, công văn của ngành trong việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học, chỉ đạo của bộ phận chuyên môn nhà trường
* Cơ sở thực tiễn: Chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu, phân tích ý kiến của
học sinh về các giờ dạy có ứng dụng CNTT, khảo sát trên bài kiểm tra của học sinh qua thực tế các tiết dạy (so sánh với các giờ không ứng dụng CNTT)
để đánh giá hiệu quả của việc ứng dụng CNTT và khắc phục những tồn tại để hoàn thiện phương pháp
Trong suốt năm học 2009- 2010 vừa qua, bản thân tôi cũng như các đồng nghiệp đã nhận ra được những mặt mạnh cũng như một số điểm còn hạn chế trong việc dạy học có ứng dụng CNTT vào bài giảng nhất là ở những tiết giảng văn Thực hiện đề tài này bản thân chúng tôi cũng như những đồng nghiệp trong nhóm Ngữ văn không có tham vọng gì hơn là rút ra được những kinh nghiệm thiết thực trong việc ứng dụng CNTT vào các tiết phân tích tác phẩm văn chương Để việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy không đi lệch hướng, để chất lượng, hiệu quả giáo dục ngày càng nâng cao, học sinh thêm yêu thích bộ môn Ngữ văn
2 Thời gian nghiên cứu:
* Phạm vi nghiên cứu :
Là một giáo viên ở bậc THCS, đối tượng nghiên cứu cho đề tài của tôi
là học sinh từ lớp 6- 9 Tuy nhiên do thời gian không nhiều và khả năng có hạn cho nên tôi chỉ tiến hành nghiên cứu trong phạm vi tại trường
THCS Mỹ Hiệp với các lớp tôi đang dạy, cụ thể ở năm học 2009- 2010
là các lớp 9a1 và 9a2
Trang 4* Kế hoạch nghiên cứu:
Nội dung công việc Thời gian Biện pháp thực hiện
- Đăng kí đề tài 8- 2009 Đăng kí ở tổ
- Tổng hợp kết quả bài
kiểm tra lần 1
10- 2009 Thống kê kết quả bài KT
- Nghiên cứu cơ sở lí
luận
10- 12/ 2009 Tham khảo tài liệu và
trao đổi trong tổ-Tiến hành thực
nghiệm và tổng hợp kết
quả
2- 4 / 2010 Tổng hợp kết quả các bài
kiểm tra ở giai đoạn HKII
- Làm dàn ý đại cương 5 - 2010 Qua kết quả, định hướng
và phác thảo dàn ý đại cương
- Viết đề cương chi tiết 6-7 / 2010 Phản biện ở tổ, tiến hành
Trang 51 THỰC TẾ VIỆC ỨNG DỤNG CNTT VÀO GIẢNG DẠY MỘT
TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG:
Qua dự giờ đồng nghiệp trong nhóm Ngữ văn và những kinh nghiệm
mà bản thân chúng tôi rút ra được từ các tiết dạy, chúng tôi nhận thấy còn có những tồn tại như sau :
1.1 Giáo viên lợi dụng tiện ích của Microsoft Office Power point đưa
dữ liệu vào một tiết dạy còn quá nhiều, đôi lúc không cần thiết Chẳng hạn như khi đang hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài “Phong cách Hồ Chí Minh” (Ngữ văn 9), để minh chứng cho sự giản dị của Bác trong cuộc sống cũng như trong sinh hoạt hằng ngày thì giáo viên đưa ra những hình ảnh minh họa cho từng khía cạnh của vấn đề, từ đó sẽ giúp cho các em có cái nhìn sâu sát hơn nhưng có lúc một số giáo viên lại trình chiếu hết cả một đoạn phim dài cho học sinh xem về cuộc đời hoạt động của Bác Có thể nói đây là một hình thức lạm dụng quá mức CNTT không những ảnh hưởng nhiều đến việc rèn luyện các kĩ năng cơ bản cho học sinh mà còn đi lệch hướng so với chỉ đạo của ngành trong năm học 2010 - 2011 Kết quả dẫn đến học sinh sẽ phân tán tư tưởng không tập trung vào nội dung cơ bản của bài, thậm chí khi giáo viên hỏi thì học sinh không nghe vì mãi bàn tán về những tranh ảnh mà giáo viên vừa đưa ra
1.2 Nguồn tư liệu minh hoạ chưa phong phú, chưa sát với nội dung
bài học
Tư liệu minh hoạ cho một giờ phân tích tác phẩm văn chương không chỉ là hình ảnh, mà còn là video, audio, sách nói, mô hình…Thế nhưng thực
tế các giờ dạy chưa khai thác hết những yêu cầu này Chẳng hạn khi cho học
sinh tìm hiểu về nét đẹp của Bác trong cuộc sống thường ngày (Đức tính giản
dị của Bác Hồ - Ngữ văn 7) các hình ảnh nhà sàn, khu vườn, trang phục vẫn
chưa đủ, nếu không nói là chưa đủ sức làm nổi bật vấn đề mà phải cần có những đoạn phim tư liệu tái hiện một cách sống động cuộc sống sinh hoạt của Bác từ căn nhà sàn, ao cá, nơi làm việc, cảnh Bác tiếp xúc với mọi người…Và điều quan trọng ở đây là phải biết đưa lên khi nào, nội dung nào cho phù hợp
Một ví dụ khác để thấy được tính hình thức của tư liệu minh hoạ là khi
giảng dạy những bài thơ trong tập Nhật kí trong tù giáo viên lại sử dụng chân
dung Bác những năm 60 (Hoặc những năm Bác còn ở nước ngoài), thiết nghĩ việc làm trên không những không có hiệu quả mà còn tạo những sự hiểu nhầm đáng tiếc trong học sinh Hay khi cùng học sinh cảm nhận bức tranh về
Trang 6cuộc sống lao động của đất nước trong bài thơ Mùa xuân nho nhỏ - Thanh
Hải, thầy giáo lại sử dụng ảnh chụp cuộc sống lao động và chiến đấu của
quân và dân ta giai đoạn Miền Bắc bắt đầu đi lên xây dựng CNXH để minh hoạ như vậy là không đảm bảo tính chân thực
1.3 Ứng dụng CNTT đơn giản chỉ là cho học sinh xem ảnh, nghe nhạc
và xem những đoạn clip có liên quan đến bài học:
Văn chương nghệ thuật vốn rất gần gũi với hội hoạ và âm nhạc Những tác phẩm văn học đưa vào giảng dạy trong chương trình là những tác phẩm lớn có ảnh hưởng đến tư tưởng của cả một thời đại vì vậy nó thường là đề tài của các bộ môn nghệ thuật khác (Nhất là đối với các tác phẩm thơ) đó là chưa
kể đến có những tác phẩm văn chương và hội hoạ, âm nhạc ra đời cùng một thời kì, cùng hướng đến một đề tài Hiện tượng này vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với việc minh hoạ cho nội dung bài học, tích hợp kiến thức giữa các phân môn Người thầy cần phải xác định rõ tính trọng tâm của bài dạy tức là chúng ta đang khai thác vẻ đẹp nội dung tư tưởng và nghệ thuật của một tác phẩm văn chương, âm nhạc, hội hoạ chỉ là phương tiện để giúp học sinh có cái nhìn sâu sắc, nhiều chiều – tất cả chỉ đóng vai trò bổ trợ Trong thực tế giảng dạy hiện nay có trường hợp thầy cô giáo đã cho học sinh nghe một ca khúc có liên quan nội dung bài học ở phần củng cố kiến thức mà không có một câu hỏi nào đặt ra để tạo nên sự liên hệ giữa nghệ thuật ngôn từ với ca từ nhằm giúp các em khắc sâu tri thức vừa chiếm lĩnh Ví dụ khi phân tích bài
thơ Nói với con – Y Phương (Ngữ văn 9) giáo viên chỉ dừng lại ở việc cho các
em nghe ca khúc Quê hương (Giáp Văn Thạch) mà không cho học sinh cảm
nhận về tình yêu quê hương được thể hiện trong bài hát đó như thế nào? Qua bài hát đó học sinh mới cảm nhận sâu sắc hơn về tình yêu quê hương trong bài thơ của nhà thơ Y Phương,từ đó để giúp các em thấy được rằng đối với tác giả quê hương với những nét văn hóa thổ nhưỡng hay con người…tất cả
nó đã ăn sâu vào trong tâm hồn và đó cũng là nguồn cảm hứng bất tận để tác giả viết nên những tác phẩm có giá trị Cũng tương tự như vậy khi dạy bài thơ
Mùa xuân nho nhỏ - Thanh Hải mà chỉ cho học sinh nghe ca khúc Mùa xuân nho nhỏ mà không có sự phân tích, tạo mối liên hệ với bài thơ thì chưa phát
huy được tính hiệu quả Chẳng hạn sau khi đã phân tích bài thơ, giáo viên đưa
ca khúc đã được phổ nhạc cho học sinh nghe và đưa ra câu hỏi cho các em
Ví dụ: Khi nghe những giai điệu ấy đã khơi gợi cho em những tình cảm gì? Qua tìm hiểu nội dung bài thơ và khi được nghe ca khúc này làm cho em có suy nghĩ gì về tác giả? Đó phải chăng chính là những cảm xúc của nhà thơ Thanh Hải đang nghĩ về quê hương, đất nước khi đang nằm trên giường bệnh
Trang 7Từ đó hướng cho các em thấy rằng nếu tác phẩm văn chương tác động đến tư duy nhận thức của người đọc thì những giai điệu của âm nhạc sẽ tác động đến tâm hồn cũng như xúc cảm của con người, giữa hai mặt này nó có sự tác động qua lại lẫn nhau.
1.4 Tạo tình huống để dẫn xuất tư liệu:
Việc đưa tư liệu minh hoạ cũng rất cần tình huống vì tình huống phù hợp sẽ giúp học sinh chiếm lĩnh nội dung dễ dàng hơn, mức độ khắc sâu kiến thức sẽ tốt hơn Ngược lại nếu tình huống không phù hợp tư liệu sẽ không phát huy được tác dụng, tính liên kết bài giảng sẽ bị phá vỡ Cũng như nhiều lúc giáo viên chưa để học sinh giữ vai trò chủ thể trong việc chiếm lĩnh nội dung tư liệu Hiện tượng này có thể thấy rất rõ ở việc giáo viên vừa đưa tư liệu vừa phân tích đẩy học sinh về tư thế thụ động Hạn chế này có thể bắt nguồn từ việc tư liệu trích dẫn có thể chưa sát với nội dung bài học hay do dung lượng thời gian không cho phép
Cụ thể như dạy bài “Đức tính giản dị của Bác Hồ” để cho học sinh thấy
được sự giản dị của Bác thể hiện ở nhiều phương diện khác nhau như về trang phục, bữa ăn, nơi ở, … thì người thầy sẽ đưa những hình ảnh minh họa cho điều này nhưng đưa như thế nào và vào lúc nào cho phù hợp Và trường hợp nếu như khi đưa hình ảnh minh họa mà giáo viên không dừng lại để phân tích thì chẳng khác nào giống như là một giờ chiếu phim, thậm chí khi xem xong học sinh cũng chẳng còn nhớ trong đầu mình về điều gì; đưa lên như thế thì sẽ không có tác dụng Trong trường hợp này, khi đưa hình ảnh lên học sinh quan sát và bắt đầu đặt câu hỏi cho học sinh: Qua các bức tranh này giúp em hiểu
gì về cuộc sống của Bác ? Lúc đó học sinh sẽ trả lời ngay đó chính là sự giản
dị ở nhiều phương diện khác nhau Bác Hồ của chúng ta giản dị trong cách ăn mặc, nơi ở và cả trong bữa ăn với những món ăn thật đạm bạc, dân dã Như thế học sinh chỉ cần nhìn tranh mà các em có thể rút ra được nội dung kiến thức của bài học bởi lẽ các em đã cảm nhận được nội dung qua từng bức tranh, mặt khác còn tránh được tình trạng đọc chép cho học sinh Từ đó giúp học sinh sẽ khắc sâu được nội dung kiến thức của bài học hơn, lại nhớ được lâu khó mà quên được
1.5 Thời gian dẫn xuất tư liệu quá nhiều (Đặc biệt là tư liệu ở dạng
video): Thực tế giảng dạy có thể thấy rõ tồn tại này khi một đơn vị kiến thức nào đó rất cần minh hoạ bằng tư liệu dạng video nhưng nội dung chúng ta cần không được xâu chuỗi liên tiếp nhau mà lại được bố trí xen lẫn với những đoạn video không liên quan (Ý tưởng của người quay) chính vì vậy muốn để
Trang 8học sinh chiếm lĩnh hết nội dung vấn để đòi hỏi lượng thời gian trình chiếu sẽ kéo dài và khi đó giờ giảng văn sẽ trở thành giờ sinh hoạt ngoại khoá Ví dụ
khi khai thác nét đẹp trong cuộc sống thường ngày của Bác (Đức tính giản dị
của Bác Hồ (Ngữ văn 7) ) sách giáo viên định hướng khai thác qua các phương
diện như nơi ở, trang phục, quan hệ với mọi người nhưng tư liệu dạng video
để minh hoạ không có, người dạy chỉ có thể sử dụng từ các đĩa VCD có dung lượng thời gian trình chiếu lớn Thiết nghĩ nếu chúng ta cắt những đoạn video nhỏ sau đó ghép thành một file và trình chiếu sẽ hiệu quả hơn nhiều
1.6 Thiết bị phục vụ chưa đáp ứng để người giáo viên có thể thực hiện
hết ý tưởng của mình trong việc truyền tải kiến thức :
Phương pháp kĩ thuật dạy học tích cực đặt nặng vấn đề hoạt động nhóm của học sinh Hiện nay với những phương pháp kĩ thuật dạy học tích cực cũng
có thể giúp các em phát huy được khả năng hoạt động tích cực của mình bằng một số kĩ thuật dạy học mới như kĩ thuật “khăn trải bàn”, kĩ thuật “các mảnh ghép”, “kĩ thuật KWL và sơ đồ tư duy”,… Với những kĩ thuật dạy học tích cực này cũng sẽ giúp cho học sinh tính tự giác, chủ động trong việc lĩnh hội kiến thức Trong trường hợp này, nếu lớp chia thành sáu nhóm hay bốn nhóm thì mỗi nhóm cần có một máy tính Khi giáo viên định hướng cho học sinh thảo luận câu hỏi nào đó, người giáo viên sẽ đưa ngay câu hỏi đó lên màn hình cùng với mô hình hướng dẫn cách thực hiện theo kĩ thuật dạy học tích cực Câu hỏi đó sẽ được truyền tải từ máy chủ đến các máy con của các nhóm và các nhóm lần lượt thực hiện rồi đưa kết quả báo về máy chủ
Trong thực tế dạy học người giáo viên vẫn quen thực hiện yêu cầu này dưới hình thức đưa bảng nhóm đính lên bảng lớn để cả lớp cùng nhận xét, hoàn thiện trong khi đó công nghệ scan tốc độ cao có thể thay thế được việc làm này.Vậy tại sao chúng ta không sử dụng khả năng của các camera có độ phân giải và tốc độ quét cao để đưa phần thảo luận của các nhóm lên màn hình làm cơ sở cho việc sửa chữa, hoàn chỉnh kiến thức
Chẳng hạn như khi dạy bài “ Bài thơ về tiểu đội xe không kính”- Phạm Tiến Duật (ngữ văn 9) , ta thấy nội dung của bài thơ này có mối liên hệ với bài “Đồng chí”, giáo viên cho học sinh thảo luận câu hỏi: Hình ảnh người lính được khắc họa ở hai bài thơ này có gì khác nhau ? Có thể hướng dẫn cho học sinh thảo luận theo kĩ thuật khăn trải bàn Sau khi các em làm việc xong, thay bằng yêu cầu các nhóm đưa lên bảng ý kiến giải đáp của nhóm mình bằng cách như dùng nam châm đính lên bảng để cả lớp theo dõi, làm nhu vậy
có thể mất thời gian nhiều hơn là lúc đó người giáo viên sử dụng CNTT để
Trang 9đưa phần thảo luận các nhóm lên màn hình, việc làm này học sinh sẽ dễ dàng quan sát theo dõi hơn.
2 ĐỊNH HUỚNG VÀ KINH NGHIỆM ỨNG DỤNG CNTT VÀO MỘT
GIỜ TÌM HIỂU VĂN BẢN.
2.1 Ứng dụng CNTT vào phần giới thiệu tác giả, tác phẩm:
Thông thường chúng ta vẫn lợi dụng khả năng dẫn xuất hình ảnh của Power point để đưa hình ảnh có liên quan tác giả, tác phẩm làm cơ sở để học sinh khai thác, nắm bắt một số thông tin quan trọng về cuộc đời, sự nghiệp văn chương cũng như những kiến thức mang tính tư liệu về tác phẩm Trong thực tế hiện nay nguồn tư liệu trên Internet có thể thoã mãn được mọi ý tưởng của giáo viên Với tôi, mặc dù lượng thời gian dành cho phần này là rất hạn chế nhưng tôi đã cố gắng đưa tư liệu một cách đầy đủ, phong phú và thiết thực nhất nhằm giúp các em có được cơ sở vững chắc trước khi bắt tay phân tích vẻ đẹp của tác phẩm
Kinh nghiệm ứng dụng qua một trường hợp cụ thể :
Tìm hiểu Mùa xuân nho nhỏ - Thanh Hải (Ngữ văn 9)
Trong phần tìm hiểu tác giả, tác phẩm tôi sử dụng một file flast trình chiếu (45 giây) chùm ảnh về nhà thơ (Ảnh chân dung đời thường, ở chiến trường, trong các cuộc hội nghị, các tác phẩm của ông hay hình ảnh Thanh Hải lúc trên giường bệnh, ảnh về bản chép tay của bài thơ, ảnh bức thư pháp phác họa khổ 4 bài thơ…), sau đó sử dụng hệ thống câu hỏi để học sinh khái quát được những nét chính về phần tác giả và tác phẩm mà không cần phải xem lại chú thích sách giáo khoa Qua các hình ảnh đó, giáo viên sẽ định hướng học sinh cảm nhận và hiểu được rõ hơn về hoàn cảnh sáng tác bài thơ,
từ đó thấy được sức ảnh hưởng của bài thơ và cảm nhận được nghị lực, lí tưởng sống cao đẹp của tác giả
Tóm lại ở phần này, chúng tôi đã mượn những tư liệu dạng hình ảnh, video để nói lên những gì mình muốn nói Chúng tôi nghĩ từ trực quan học sinh sẽ khắc sâu được kiến thức cũng như tạo được ấn tượng về tác giả, tác phẩm mình tìm hiểu
2.2 Ứng dụng CNTT vào khai thác vẻ đẹp của tác phẩm nghệ thuật.
Văn chương nghệ thuật bao giờ cũng đi từ cuộc sống, vì vậy hiện thực của sống là sự đối sánh rất quan trọng để thầy và trò cùng thấy được tính chân thực của nội dung phản ánh và tài năng quan sát, miêu tả của tác giả
Trang 10Hiện thực miêu tả trong các tác phẩm được gợi lại trong cảm nhận của học sinh chủ yếu qua lớp ngôn ngữ giàu tính tạo hình trong khi đó năng lực tư duy – đặc biệt là tư duy hình tượng của đại bộ phận các em học sinh hiện nay còn hạn chế Vậy làm gì để giúp các em chiếm lĩnh được hiện thực miêu tả (Bước đệm quan trọng trong việc cắt nghĩa giá trị nội dung, hình thức một tác phẩm) một cách dễ dàng? Và làm sao để tránh khuynh hướng “chiếu phim” trong giờ giảng văn hiện nay?
Hiện thực cuộc sống thể hiện qua tác phẩm văn học là hiện thực cuộc sống đã được nhào nặn bỡi tài năng người nghệ sĩ với những dụng ý riêng, không có sự lặp lại, nó không giống với bất kì tấm ảnh hay thước phim nào cho dù tất cả cùng hướng về một đề tài Chính vì vậy việc đưa tư liệu mà thường là hình ảnh và video có liên qua đến thế giới cuộc sống phản ánh vào tác phẩm chỉ ở tư cách đối sánh và được xem là phương tiện một cách thuần tuý
Việc dẫn xuất tư liệu trong quá trình chiếm lĩnh vẻ đẹp tác phẩm cũng đòi hỏi một nghệ thuật – tức là trước khi dẫn xuất người thầy phải có một sự định hướng về cách thức sử dụng cũng như tính hiệu quả
* Kinh nghiệm ứng dụng : Quá trình ứng dụng được tiến hành theo các tiêu chí sau:
- Chỉ sử dụng tư liệu so sánh ở những chi tiết nghệ thuật quan trọng quyết định đến việc chiếm lĩnh tư tưởng của tác phẩm, chi tiết khó cắt nghĩa thông qua tư duy hình tượng
+ Ví dụ : Trong bài thơ Nói với con – Y Phương, phân tích đoạn thơ:
Đan lờ cài nan hoa Vách nhà ken câu hát Rừng cho hoa
Con đường cho những tấm lòng
Tư tưởng nghệ thuật ẩn sau đoạn thơ này là sự cưu mang, đùm bọc của quê hương đối với mỗi con người nhưng để chiếm lĩnh được vấn đề trên người thầy phải giúp cho học sinh cảm nhận được vẻ đẹp của cuộc sống lao động sản xuất, sinh hoạt văn hoá, vẻ đẹp và mối quan hệ gắn bó giữa thiên
nhiên núi người với “người đồng mình” Có thể nói với khả năng của người
thầy qua khâu truyền đạt đơn thuần bằng lời giảng thì học sinh không thể cảm nhận được nội dung vấn đề một cách trọn vẹn hoặc nếu cảm nhận được thì cũng là sự gượng ép vì vốn kiến thức, sự hiểu biết của các em về cuộc sống
của “người đồng mình” là rất hạn chế Ở đây với một đoạn video ngắn đã
Trang 11được biên tập (Cảnh lao động sản xuất, sinh hoạt văn hoá, cảnh núi rừng với cuộc sống của người đồng bào Tây Bắc đang hăng hái tăng gia sản xuất như gặt lúa, giã gạo… cùng với cảnh người dân nơi đây đang ca hát, múa những làn điệu ở quê hương mình…) với dụng ý riêng của người thầy sẽ giúp các em
có một cái nhìn thực, cụ thể, sinh động hơn nội dung vấn đề tạo tiền đề cho việc cảm nhận nội dung tư tưởng
- Sử dụng linh hoạt các nguồn tư liệu để làm bài giảng phong phú, sinh động giúp dễ tiếp cận vấn đề và bồi dưỡng khiếu thẩm mĩ ở các em học sinh
+ Trong một giờ tìm hiểu tác phẩm văn chương nguồn tư liệu dẫn xuất thường là hình ảnh, video, mô hình, âm thanh…nhưng vấn đề đặt ra là làm thế nào để không rơi vào trường hợp lạm dụng mà lại phát huy tính hiệu quả Tất cả trông chờ vào khả năng tạo tình huống, ứng xử tình huống của người thầy
+ Ví dụ : Tìm hiểu bài thơ Mùa xuân nho nhỏ - Thanh Hải
Ở tiết dạy này có thể thấy nguồn tư liệu khá phong phú bao gồm hình ảnh, video, âm thanh, mô hình Đó vừa là thuận lợi vừa là khó khăn đối với mỗi một người thầy Với kinh nghiệm rút ra từ quá trình giảng dạy của mình, chúng tôi đã thực hiện như sau :
Sử dụng một bộ sưu tập hình ảnh để giúp các em khai thác vẻ đẹp thiên
nhiên mùa xuân xứ Huế, đặc biệt là hình ảnh “Tôi đưa tay tôi hứng”.
Sử dụng đoạn video ngắn để minh hoạ cho bức tranh về đất nước thời
kì xây dựng và phát triển thể hiện ở đoạn thơ :
Mùa xuân người cầm súng, Lộc giắt đầy trên lưng.
Mùa xuân người ra đồng, Lộc trải dài nương mạ.
Tất cả như hối hả.
Tất cả như xôn xao.
Sử dụng mô hình để khái quát hình ảnh đất nước từ quá khứ đến tương lai
Hoặc khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu phân tích khổ cuối của bài thơ,
có lẽ mặc dù đang nằm trên giường bệnh nhưng tâm hồn nhà thơ vẫn luôn hướng về đất nước, quê hương với tất cả tấm lòng yêu thương cùng những nguyện ước chân thành Lúc này ta có thể sử dụng những điệu hát như khúc Nam ai, Nam bình để giúp học sinh cảm nhận được tình yêu quê hương, đất
Trang 12nước, tình yêu cuộc sống của nhà thơ Có thể thấy rằng dù trước giờ phút xa lìa cõi đời thế nhưng nhà thơ vẫn với một tâm hồn lạc quan, một tình yêu quê hương sâu nặng, vẫn luôn khao khát và xin một lần được hát những điệu hát, lời ca của quê hương mình Từ đó mà các em tự nhận thấy rằng tác giả Thanh Hải quả là một người có tình yêu quê hương tha thiết.
+ Một giờ giảng văn hiện nay yêu cầu của việc trình chiếu tư liệu là rất cần thiết nhưng người thầy phải luôn xác định một quan điểm là việc làm trên chỉ đóng vai trò bổ trợ để tiết dạy sinh động, hấp dẫn, kích thích tư duy học sinh, mục đích mà cả thầy và trò cùng hướng đến là lĩnh hội vẻ đẹp nội dung, nghệ thuật tác phẩm
+ Việc dẫn xuất các nguồn tư liệu dạng hình ảnh, video…cũng góp phần bồi dưỡng năng khiếu thẩm mĩ cho học sinh và cũng giúp cho các em thấy được rằng có nhiều cách để thể hiện vẻ đẹp của cuộc sống nhưng sinh động và hấp dẫn nhất vẫn là nghệ thuật ngôn từ
- Tạo tình huống phù hợp để dẫn xuất tư liệu: Đây cũng là vấn đề rất quan trọng nhằm phát huy hiệu quả của việc ứng dụng CNTT vào bài giảng Đây là vấn đề tuỳ thuộc vào ý tưởng của người dạy và cũng là một nghệ thuật Chẳng hạn trong quá trình phân tích bức tranh thiên nhiên thu sang trong bài
“Sang thu”của Hữu Thỉnh nếu trình chiếu một bức tranh hay một đoạn video
với nội dung tả cảnh thu sang thì chỉ làm mắt hoa ý loạn, học sinh không những khó nắm bắt vấn đề mà còn phá vỡ vẻ đẹp của bức tranh thơ Ở tác phẩm này việc dẫn xuất hình ảnh chỉ trên bình diện tổng thể và sự đối sánh giữa các loại hình nghệ thuật để thấy được tài năng quan sát, cảm nhận tinh tế của nhà thơ mà thôi Tất cả mọi hình ảnh, video, sách nói…chỉ dẫn xuất được khi học sinh đã chiếm lĩnh xong nét đẹp độc đáo của bức tranh thu sang
Cụ thể ở bài thơ này chỉ có ba khổ thơ nhưng giữa các khổ lại có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, mạch cảm xúc được thể hiện xuyên suốt trong toàn
bộ bài thơ; các hình ảnh, chi tiết ở các khổ thơ đều tập trung thể hiện làm rõ bức tranh thu sang tuyệt đẹp Vì thế ta không thể phân tích hết khổ 1 hay khổ
2 rồi đưa hình ảnh lên cho học sinh quan sát,cảm nhận về bức tranh thiên nhiên thì học sinh sẽ khó mà cảm thụ được Cho nên trong trường hợp này người giáo viên nên để sau khi hướng dẫn học sinh phân tích xong nội dung bài mới có thể đưa tranh cho học sinh cảm nhận Lúc này các em đã được tìm hiểu qua bài thơ và khi nhìn vào bức tranh sẽ giúp cho các em có được sự cảm nhận sâu sắc hơn về bức tranh thu trong bài, từ đó làm cho học sinh nhận thấy rằng cùng viết về một đề tài nhưng có lẽ mỗi nhà thơ lại mang một phong cách độc đáo riêng, có cách cảm nhận riêng bởi lẽ thông thường các
Trang 13nhà thơ khác thường mượn tín hiệu hình ảnh lá vàng rơi để vẽ nên bức tranh mùa thu nhưng đến với nhà thơ Hữu Thỉnh thì hoàn toàn lại khác Đọc bài thơ
ta không hề thấy hình ảnh lá vàng nào nhưng tác giả cũng đã vẽ nên một bức tranh thu vô cùng đẹp và ấn tượng, khơi gợi bao cảm xúc trong lòng mỗi người đọc
- Nguồn tư liệu đưa vào phải được phân tích tạo mối liên hệ với nội dung bài dạy:
Nếu dẫn mà không phân tích thì cũng không ý nghĩa, làm bài giảng trở nên lan man Một thực tế thường xảy ra với các bài giảng hiện nay là kết thúc bài giảng giáo viên cho học sinh nghe một ca khúc có liên quan mà không hề định hướng cảm xúc, khu biệt tư duy phân tích, cũng không tạo mối liên hệ nào với kiến thức vừa chiếm lĩnh xong để các em là người thưởng thức tác phẩm âm nhạc thuần tuý trong khi mục tiêu chính của bài dạy là vẻ đẹp nội dung, nghệ thuật của tác phẩm văn chương
Ví dụ : Khi dạy bài “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương, chúng tôi đã
cho các em nghe ca khúc được phổ nhạc từ thơ ở phần củng cố kiến thức Dụng ý của chúng tôi là muốn khắc sâu cảm xúc của các em về Bác, để cho các em thấy được sự thiêng liêng của Bác (Bác là hình ảnh không chỉ trong văn chương nghệ thuật mà còn trong âm nhạc, hội hoạ…), sự thành công của Viễn Phương, cái hay, cái độc đáo của thơ ca
2.3 Ứng dụng CNTT vào việc tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm.
Trong các giờ dạy văn bản hiện nay, để tích cực hoá hoạt động thảo luận nhóm trong việc tìm hiểu những đơn vị kiến thức khó chúng ta vẫn thường áp dụng các kĩ thuật dạy học tích cực mà được sử dụng nhiều nhất vẫn
là kĩ thuật khăn trải bàn, các mảnh ghép CNTT sẽ giúp chúng ta rất nhiều trong việc hiển thị nội dung câu hỏi thảo luận, cách thức tổ chức, thực hiện kĩ thuật Ưu điểm của việc ứng dụng CNTT ở đây là có thể tập trung được sự chú ý của học sinh trong khâu hướng dẫn cách thức thảo luận tìm ra kiến thức cũng như khâu trình bày sản phẩm, nhận xét, đánh giá, bổ sung để hoàn thiện kiến thức của thầy và trò
Ví dụ: Áp dụng kĩ thuật khăn trải bàn để tìm hiểu đơn vị kiến thức:
Tìm hiểu ý nghĩa hình ảnh mùa xuân trong bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của
nhà thơ Thanh Hải trong chương trình Ngữ văn 9
- Bước 1: Giáo viên cho hiển thị câu hỏi thảo luận ở màn hình và kĩ thuật để tìm hiểu nội dung kiến thức yêu cầu
Trang 14- Bước 2: Giáo viên đưa mô hình khăn trải bàn và các bước thực hiện sau đó thuyết trình Cụ thể:
+ Quá trình thảo luận gồm hai giai đoạn:
Các cá nhân lần lượt đưa ý kiến của mình vào ô quy định
Cả nhóm thảo luận và đưa ý kiến chung vào ô trung tâm
Tất cả thao tác này được tiến hành trên máy vi tính của mỗi nhóm
- Bước 3: Giáo viên yêu cầu các nhóm chuyển sản phẩm của mình về máy chủ Sau khi dữ liệu được truyền về máy chủ, giáo viên tranh thủ duyệt
2.4 Ứng dụng CNTT vào việc củng cố, khắc sâu kiến thức.
Củng cố, khắc sâu kiến thức là rất cần thiết trong một giờ tìm hiểu văn bản Nó giúp cho các em hệ thống hoá, khắc sâu kiến thức vừa nắm bắt Với kinh nghiệm qua nhiều tiết giảng, chúng tôi mạnh dạn nêu lên những kinh nghiệm sau :
* Ngoài hệ thống câu hỏi để hệ thống hoá kiến thức được thực hiện dưới hình thức trao đổi giữa giáo viên với học sinh, chúng tôi còn có những cách làm sau :
- Đối với thơ : Cho học sinh xem phần ngâm thơ có diễn xuất (Nguồn
tư liệu sưu tầm hoặc tự thiết kế) hay nghe ca khúc được phổ nhạc từ đó giáo viên định hướng cho học sinh cảm nhận linh hồn, tìm hiểu ý nghĩa của tác
phẩm Ví dụ như ở Mùa xuân nho nhỏ - Thanh Hải chúng ta có thể sử dụng ca
khúc Mùa xuân nho nhỏ do ca sĩ Thanh Hoa thể hiện để làm phương tiện củng cố kiến thức
Sử dụng ca khúc được phổ nhạc từ thơ để củng cố kiến thức được xem
là hiện tượng phổ biến hiện nay khi dạy những bài thơ trong chương trình
Ngoài ra ta có cũng có thể củng cố nội dung bài bằng cách đưa sơ đồ để
hệ thống lại kiến thức cho học sinh Chẳng hạn : Đối với bài thơ “Ánh trăng”- Nguyễn Duy, sau khi hướng dẫn học sinh phân tích xong bài thơ, để
Trang 15củng cố lại nội dung toàn bài, giáo viên chỉ cần đưa sơ đồ và học sinh nhìn vào đó có thể nắm lại nội dung toàn bộ bài thơ.
*Sơ đồ :
- Đối với văn xuôi : Chọn một đoạn văn giàu tính nghệ thuật có đọc minh hoạ từ đó giúp các em cảm nhận được dấu ấn về phong cách cá nhân và
nét độc đáo về nghệ thuật hành văn của văn bản Ví dụ như ở “Lặng lẽ Sa Pa”
chúng ta có thể chọn đoạn văn sau kết hợp đưa lên một đoạn phim minh họa cho cảnh rừng nơi Sa Pa :
“ Nắng bây giờ bắt đầu len tới, đốt cháy rừng cây Những cây thông chỉ cao quá đầu, rung tít trong nắng những ngón tay bằng bạc dưới cái nhìn bao che của những cây tử kinh thỉnh thoảng nhô cái đầu màu hoa cà lên trên màu xanh của rừng Mây bị nắng xua, cuộn tròn lại từng cục, lăn trên các vòm lá ướt sương, rơi xuống đường cái, luồn cả vào gầm xe”
và phân tích để thấy được sự kết hợp tuyệt diệu của miêu tả với tự sự (Sự kết hợp tạo nên chất thơ cho thiên truyện)
* Trong phần nâng cao kiến thức, giáo viên cũng có thể trích dẫn những đoạn bình phẩm của các nhà phê bình để học sinh vừa tích luỹ thêm kiến thức, vừa học tập được phương pháp chiếm lĩnh, đánh giá nội dung, nghệ thuật tác phẩm và thấy được vị trí của nó trong đời sống văn học
2.5 Ứng dụng CNTT để hướng dẫn học sinh giải các bài tập trực tuyến
tại các website: www.onthi.com, www.hocmai.vn, www.kinanglamvan.net,
www.nguvanthcspm.tk …
Ánh trăng
Qúa khứ
Hiện tại
Gắn bó Tình cảm sâu nặng
Dửng dưng Tình cảm thay đổi
Bài học về tư tưởng đạo đức, lối sống
Trang 162.6 Ứng dụng CNTT vào phần hướng dẫn về nhà.
Việc ứng dụng này vừa tiết kiệm được thời gian vừa giúp học sinh có thể nắm bắt được vấn đề một cách trọn vẹn Để thực hiện tốt nội dung này đòi hỏi người thầy phải có sự chuẩn bị thật công phu mà chúng tôi vẫn thường vận dụng sơ đồ dạng cây để hướng dẫn
2.7 Thể nghiệm vào một tiết dạy cụ thể: Ngữ văn 9
- Kiến thức: Những nét chính về Thanh Hải và bài thơ Mùa xuân nho nhỏ,
cảm nhận được những cảm xúc của tác giả trước mùa xuân của thiên nhiên đất nước và khát vọng đẹp đẽ: muốn làm “mùa xuân nho nhỏ” dâng hiến cuộc đời Từ đó mở ra những suy nghĩ về ý nghĩa, giá trị cuộc sống là sống
có ích và cống hiến cho cuộc đời chung
+ Chất trữ tình, hình ảnh giàu tính nghệ thuật
- Kĩ năng: Rèn luyện kỹ năng phân tích, cảm nhận thơ
- Thái độ: Giáo dục tình cảm yêu quê hương, khát vọng sống cống hiến cho đời
II Chuẩn bị.
1 Giáo viên:
- Tư liệu : Tham khảo thơ ca giai đoạn sau năm 1975, Thanh Hải – thơ và cuộc đời, sách giáo khoa, giáo viên
- Thiết bị : Hình ảnh Thanh Hải, phiếu học tập, bảng phụ
- Tích hợp : Văn miêu tả, biểu cảm, thể thơ năm chữ, thơ Huy Cận
- Phương án tổ chức lớp học : Giao cả nhóm sưu tầm ảnh Thanh Hải và thơ
ca của ông, thơ Huy Cận (những bài ca ngợi hình ảnh con người mới), tìm hiểu hình ảnh mùa xuân thiên nhiên, đất nước, con người thể hiện qua bài thơ
2 Học sinh