Bước 1 Ổn định nề nếp lớp: Như ta đã biết: lớp học mà thiếu kỷ cương nề nếp thì sẽ ảnh hưởng đến kết quả bài dạy của lớp học. Trong quá trình dạy học văn sẽ ảnh hưởng đến tâm thế của người dạy văn và học sinh học văn. Bởi vậy theo tôi, để lớp học môn Văn đạt hiệu quả thì đầu tiên tôi chú trọng đến nề nếp lớp và tôi đã áp dụng như sau: Khi vào lớp, tôi bỏ ra 1phút để ổn định tổ chức . Tôi chia mỗi tổ hoặc 3,4 bàn thành một nhóm , và cũng là nhóm học tập. Sau đó các em cử tổ trưởng, tổ phó, đồng thời cũng là nhóm trưởng, nhóm phó. Tôi cử một lớp trưởng phụ trách chung và lớp phó theo dõi tiến trình bài học và ghi lại như thư ký nhóm . Rồi hướng dẫn các em cách theo dõi và thực hiện (phát cho mỗi em một quyển sổ thư ký) Để động viên cho các em làm việc nhiệt tình và học tập nghiêm túc cố gắng, có tinh thần thi đua giữa các tổ, tôi dùng hình thức khuyến khích điểm thưởng cho những em, những tổ nổi bật hơn sau buổi học.Và cũng trừ điểm đối với những em, những tổ ít tập trung, ít hoạt động và học tập chưa tốt. Có làm như thế, các em mới cố gắng thi đua học tập và tự quản lý trong tổ với nhau.
Trang 1CÁC PHỤ LỤC :
Tên sáng kiến:
2 - Tên Báo cáo sáng kiến, cải tiến kỹ thuật dạy học
- Các thông tin về tác giả sáng kiến, cải tiến kỹ thuật dạy học 2
3 Điều kiện, hoàn cảnh tạo ra sáng kiến, cải tiến kỹ thuật dạy học 3
6 Ảnh minh hoạ cho sáng kiến, cải tiến kỹ thuật và thực hiện nội dung sáng
Trang 2THEO SƠ ĐỒ TƯ DUY PHÁT TRIỂN NHÁNH
Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Học sinh lớp 9 và có thể tất cả các khối lớp.
Thời gian áp dụng: Từ ngày: 10/ 9 /2017 đến ngày 10/5/2018.
Tác giả:
Đơn vị áp dụng sáng kiến:
Trang 3I.ĐIỀU KIỆN , HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
Bộ môn Ngữ văn trong nhà trường THCS gần đây đã có nhiều thay đổi cơ bản theo hướng tích hợp vàtích cực Đặc biệt là kế hoạch dạy học theo chủ đề, bài học có phát triển năng lực cho học sinh…Thế nhưng đểthực hiện được một cách hiệu quả với từng bài học thì vẫn đang là một bài toán chưa có đáp số Chính vì thế màgiáo viên chúng tôi cần phải có những bước tìm hiểu các năng lực tiểm ẩn của học sinh để áp dụng trong quátrình dạy học mới cho phù hợp và hiệu quả
Với mục đích rèn kỹ năng để học sinh có tính tự lập, có tính tư duy sáng tạo, bước đầu có năng lực cảmthụ các giá trị chân, thiện, mỹ trong nghệ thuật, trước hết là trong văn học, có năng lực thực hành và năng lực sửdụng Tiếng Việt như một công cụ để tư duy và giao tiếp Chúng tôi thiết nghĩ giáo viên cần phải định hướngphát triển năng lực cho học sinh
Hơn nữa ở thế kỉ XXI này, công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ và đi vào mọi lĩnh vực của đời sống,việc vận dụng CNTT trong giảng dạy Ngữ văn góp phần đổi mới PPGD theo hướng hiện đại hóa, phù hợp với
xu thế mới của thời đại vì CNTT góp phần hiện đại hóa phương tiện, thiết bị dạy học, góp phần đổi mới phươngpháp
Công nghệ thông tin phát triển, tư duy con người cũng phát triển, học sinh của chúng ta bắt nhịp thời đạirất nhanh và các em có rất nhiều năng lực tiềm ẩn Chính vì vậy mà giáo viên chúng ta cần phải đổi mới phươngpháp dạy học bằng cách chú trọng định hướng phát triển năng lực vốn có của học sinh cho học sinh từ mỗi bàihọc trên lớp
Trang 4Do yêu cầu giáo dục con người, cần phải tạo ra sản phẩm con người năng động sáng tạo, có kỹ năng kỹsảo trong cuộc sống và trong công việc… để thích ứng được với xã hội hiện đại, tiếp cận được với nền vănminh thế giới.
Đặc biệt nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khoá XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập
đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khoá, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học.” Điều đó càng thôi thúc tôi tạo ra một sáng kiến:
“ XÂY DỰNG MÔ HÌNH DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN LỚP 9
THEO SƠ ĐỒ TƯ DUY PHÁT TRIỂN NHÁNH ”
II MÔ TẢ GIẢI PHÁP TRƯỚC KHI TẠO RA SÁNG KIẾN
1 Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến.
Giới trẻ ngày nay thì lại nghiêng về xu hướng tiếp xúc với công nghệ thông tin, thực tế cho thấy số học sinhkhông hứng thú trong việc học thụ động và rất nhanh nhẹn với việc tự tra cứu, tìm tòi qua các phương tiệnthông tin đại chúng Dạy học ngữ văn theo mô hình sơ đồ tư duy phát triển nhánh là một điểm mới trongchương trình phổ thông Nó có vai trò vô cùng quan trọng , nhằm củng cố và khắc sâu thêm những kiến thức
đã học trong chương trình chính khóa Mở rộng và nâng cao thêm một số tri thức và kĩ năng cần thiết nhưng
Trang 5chưa được chuẩn bị trong chương trình chính khóa Hệ thống lại một số tri thức và kĩ năng thiết thực nhằmgóp phần nâng cao chất lượng Bước đầu đáp ứng nguyện vọng và sở thích cá nhân của một số học sinh ỞTHCS được đưa vào giảng dạy từ năm học 2004-2005 Khi bắt đầu thực hiện mỗi chúng ta không khỏi ngỡngàng, lúng túng trong việc tổ chức dạy và học
Trong quá trình dạy học thì mỗi giáo viên có những hình thức tổ chức và dạy học riêng , không aigiống ai Mỗi đối tượng học sinh có khả năng tiếp thu, lĩnh hội kiến thức, thực hành bài học khác nhau Hơnnữa tình hình học tập của học sinh ngày nay rất cần phải quan tâm, nhất là ý thức học tập của các em đối vớimôn học Ngữ văn Các em học sinh cũng như cha mẹ các em luôn có tiềm thức suy nghĩ về học môn Văn làphải học thuộc nhiều, ghi chép nhiều, nghe giảng nhiều Do đó phụ huynh học sinh họ không muốn con họ họcmôn Văn nếu như không phải là bộ môn bắt buộc để thi vào THPT Còn bản thân học sinh thì luôn luôn ngạikhi phải học môn Ngữ Văn Chính vì những lý do trên mà tôi nghĩ ngay từ khâu ổn định nề nếp lớp và tạohứng thú học tập trước khi vào bài học cũng phải được cải tiến để tạo hứng thú cho học sinh Khâu này tôi tổchức trò chơi vận dụng sơ đồ tư duy phát triển nhánh Có tổ chức lớp học tốt thì mới nói đến việc dạy và học
có kết quả Để đạt được mục đích đó không phải là đơn giản, mà nó là một quá trình lâu dài đầy khó khăn.Muốn dạy và học tốt thì lớp học thật sự có nề nếp, nghiêm túc, học sinh hoạt động tích cực mới đem lại hiệuquả mĩ mãn Để học sinh hoạt động tích cực thì phải tạo ra không khí vui vẻ hấp dẫn, thoải mái mới thu hútđược mọi đối tượng hoạt động học tập Chính vì thế, tôi đã trọn một số phương pháp như “ Ổn định nề nếplớp và tạo hứng thú học tập bằng hình thức trò chơi trong dạy học bộ môn Ngữ văn 9 và giải quyết nội dungkiến thức của bài học bằng hệ thống sơ đồ tư duy phát triển nhánh”.Điều nổi bật của đổi mới chương trìnhhiện nay là đổi mới phương pháp dạy học, nhằm tăng cường tính chủ động, tích cực, sáng tạo của người học
Trang 6Thông qua quá trình học tập, người học đã có được cơ hội để rèn luyện kĩ năng tự học, biết cách tự kiến tạonên kiến thức với sự hướng dẫn của giáo viện Như vậy vai trò tích cực, chủ động của người học cũng được đềcập cao hơn.
Trong thực tế hầu hết học sinh không thích học môn văn Đó là thực tế không thể né tránh Từ thực tế trên, tôi
có suy nghĩ nên làm thế nào để có tiết học nhẹ nhàng, thoải mái, cho người dạy và gợi hứng thú ham học cho người học, đem lại hiệu quả cao sau mỗi bài học Do đó tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “ Xây dựng mô hình dạy học môn Ngữ văn lớp 9 theo sơ đồ tư duy phát triển nhánh” Và đã thực hiện, đạt được hiệu quả tương đối trong 3 năm học vừa qua
2 Mô tả giải pháp kỹ thuật sau khi tạo ra sáng kiến:
HÌNH THÀNH ÁP DỤNG:
Bước 1/ Ổn định nề nếp lớp:
Như ta đã biết: lớp học mà thiếu kỷ cương nề nếp thì sẽ ảnh hưởng đến kết quả bài dạy của lớp học Trongquá trình dạy học văn sẽ ảnh hưởng đến tâm thế của người dạy văn và học sinh học văn Bởi vậy theo tôi, đểlớp học môn Văn đạt hiệu quả thì đầu tiên tôi chú trọng đến nề nếp lớp và tôi đã áp dụng như sau:
Khi vào lớp, tôi bỏ ra 1phút để ổn định tổ chức
- Tôi chia mỗi tổ hoặc 3,4 bàn thành một nhóm , và cũng là nhóm học tập Sau đó các em cử tổ trưởng, tổphó, đồng thời cũng là nhóm trưởng, nhóm phó
- Tôi cử một lớp trưởng phụ trách chung và lớp phó theo dõi tiến trình bài học và ghi lại như thư ký nhóm
Trang 7Để động viên cho các em làm việc nhiệt tình và học tập nghiêm túc cố gắng, có tinh thần thi đua giữa các
tổ, tôi dùng hình thức khuyến khích điểm thưởng cho những em, những tổ nổi bật hơn sau buổi học.Và cũngtrừ điểm đối với những em, những tổ ít tập trung, ít hoạt động và học tập chưa tốt Có làm như thế, các em mới
cố gắng thi đua học tập và tự quản lý trong tổ với nhau
Bước 2 - Cải tiến phương pháp giảng dạy bằng cách “ Xây dựng mô hình dạy học môn Ngữ văn lớp 9 theo sơ đồ tư duy phát triển nhánh” cho từng nội dung kiến thức bài dạy :
a) Xây dựng mô hình dạy học theo sơ đồ tư duy phát triển nhánh cho dạng bài Tiếng Việt 9:
* Sơ đồ bài giảng: “Các phương châm hội thoại” ( Tiếng Việt 9 –Học kì 1)
- Trong chương trình, kế hoạch dạy học thì bài học này được tiến hành trong 3 tiết Tôi đã chia:
+ Tiết 1: Cho học sinh tìm hiểu kiến thức cơ bản và hình thành các nhánh trong sơ đồ, rồi giải mã sơ đồ.+ Tiết 2: Cho học sinh trình bày lại sơ đồ và giải mã để kiểm tra mức độ thông hiểu của học sinh
+ Tiết 3: Học sinh sẽ thực hiện các bài tập trong SGK và bài tập nâng cao
Để giúp học sinh tìm hiểu kiến thức cơ bản tôi vẫn tôn trọng tiến trình trong sách giáo khoa, phân tích các ví
dụ sgk để học sinh nắm được nội dung bài học Sau đó tôi đặt các câu hỏi hướng vào nội dung của từng nhánh
để mỗi câu trả lời của các em sẽ là một nét vẽ trong sơ đồ phát triển nhánh
Hình thức vẽ sơ đồ: Học sinh lên bảng vẽ bằng phấn trắng hoặc giáo viên vận dụng sơ đồ câm trên powerpointchiếu trên màn hình và cho học sinh đánh nội dung trong các nhánh qua máy tính kết nối trên bàn giáo viên.Đây cũng là cách để kiểm tra kiến thức vừa học trên lớp cho học sinh Sau đây là hình ảnh mô phỏng sơ đồ :
Trang 8* Sơ đồ bài giảng “Các phương châm hội thoại”
* Giải mã sơ đồ như sau:
- Giải mã từ khoá ( Tên đầu bài của bài học): Tôi cho học sinh chú ý vào từ được gạch chân trong từ khoá của
sơ đồ đó là từ “các” – không phải là 1 mà là nhiều, từ “Hội thoại” giúp chúng ta suy nghĩ rằng các phương
Trang 9châm hội thoại này phải xuất hiện trong các cuội đối thoại, xuất hiện trong lời nói của nhân vật hoặc của ngườitham gia hội thoại Dưới từ khoá tôi cho hs nhớ số 5 để gợi nhắc nội dung từ khoá này sẽ có 5 phương châmhội thoại (5 nhánh: Về lượng, về chất, quan hệ, cách thức, lịch sự.)
+ Nhánh 1: Về lượng – có liên quan đến số lượng hoặc trọng lượng Nếu tuân thủ thì phải “đủ” theo yêu cầucủa số lượng của thông tin lời nói đó Còn ngược lại thừa hoặc thiếu thông tin về sự vật sự việc nói đến tronghội thoại thì là vi phạm phương châm này
Làm rõ nghĩa cho nhánh 1 là ví dụ bằng cuộc đối thoại của 2 người trong đó người hỏi là “bạn bơi ở đâu?” ,người trả lời “bơi ở dưới nước” Như vậy câu trả lời của người này thiếu thông tin mà người hỏi muốn biết làđịa chỉ đi bơi ở đâu đồng thời lại thừa thông tin không cần thiết đó là từ “ dưới nước” vì bơi dĩ nhiên là phảibơi dưới nước rồi
+ Nhánh 2: Về chất – Cho học sinh nhớ là có liên quan đến chất lượng Ví dụ nếu bài tập giáo viên giao vềnhà mà bạn quan tâm đến chất lượng thì bạn phải làm đúng các bài đó chứ không phải chỉ làm cho đủ số lượngbài tập Vậy từ lô zic để hiểu phương châm về chất cần nhớ là đi với từ “đúng” (trong sơ đồ đã khoanh tròn).Nếu trong hội thoại mà người tham gia hội thoại đưa ra thông tin đúng, có nghĩa là tuân thủ, ngược lại nếu đưa
ra thông tin sai là vi phạm phương châm về chất Để làm rõ hơn tôi đưa ra ví dụ vi phạm phương châm về chấtrất dễ nhớ đó là trong cuội hội thoại có người nói: “ Tôi nhìn thấy có quả bí to bằng cái nhà” Câu nói này cónội dung không đúng sự thật vì làm gì có quả bí to như thế
+ Nhánh 3: Phương châm quan hệ - Nhắc đến từ “ quan hệ” chúng ta phải liên tưởng đến ý nghĩa chặt chẽ, lôzich, ăn khớp với nhau trong 1 cuộc hội thoại thế mà “ ông nói gà, bà nói vịt” có nghĩa là trả lời lạc đề đi thì
Trang 10+ Nhánh 4: Phương châm cách thức: Từ đánh dấu đỏ của nhánh là từ “ Cách” Cách trong hội thoại, giao tiếp
là cách nói năng, thế có nghĩa là trong hội thoại chúng ta cần phải nói năng ngắn gọn, rõ ràng, mạch lạc, tránhvòng vo Nếu vòng vo, không rõ ràng ( dây cà ra dây muống) thì là vi phạm phương châm cách thức Để tránhhiện tượng học sinh rối vì nhiều phương châm hội thoại mà khó nhớ Tôi đưa ra ví dụ minh hoạ bằng 1 câuchuyện cười để tạo ấn tượng cho học sinh nhớ được đặc điểm của nhánh 4 này là câu chuyện “Cái áo ông chủ
Trang 12- Có 3 cách phát triển từ vựng Tiếng Việt
+ Nhánh 1- Phát triển nghĩa của từ trên cơ sở nghĩa gốc Cách này được phát triển dựa theo phương thức ẩn dụhoặc theo phương thức hoán dụ Mỗi phương thức là một nhánh nhỏ, mỗi nhánh nhỏ có 1 ví dụ minh hoạ cóliên quan đến ẩn dụ hoặc hoán dụ
+ Nhánh 2 phát triển từ bằng cách tạo từ ngữ mới Nhánh này sẽ có 3 nhánh nhỏ, đó là 3 cách ghép: ghép từ cósẵn, ghép tạo từ láy, ghép theo công thức X +tặc Mỗi nhánh nhỏ này sẽ có 1 ví dụ để minh hoạ
+ Nhánh 3: Phát triển từ vựng Tiếng Việt bằng cách mượn tiếng nước ngoài Chủ yếu là mượn Tiếng Hán, cóthể mượn các tiếng châu Âu…
Cuối sơ đồ tôi cho hình thành lưu ý cho học sinh phân biệt rõ 2 phương thức Phát triển từ ở nhánh 1
* Kiểm tra kiến thức đã học bằng trò chơi thi điền nội dung đã học vào sơ đồ
1.Một số hình thức lồng ghép trò chơi trong dạy và học Ngữ văn ở THCS:
* Nguyên tắc: Giáo viên cần chú ý đến đặc thù của từng phân môn; lưu ý mối quan hệ giữa trò chơi với
hệ thống câu hỏi; vận dụng linh hoạt, hợp lí, đúng mức và đúng lúc để không xáo trộn nhiều không gian lớphọc, nhanh chóng ổn định lớp học khi trò chơi kết thúc; trò chơi phải phù hợp với nội dung, mục tiêu cần đạt,không vận dụng cho tất cả các tiết học, đôi khi gây phản cảm, phản tác dụng; trò chơi bao giờ cũng kết thúcbằng thưởng cho người (đội) thắng hoặc xử phạt nhẹ nhàng cho vui (dí dỏm, tế nhị)
* Một số trò chơi có thể vận dụng lồng ghép trong việc dạy học Ngữ văn bằng sơ đồ tư duy phát triển nhánh:
Trang 13- Giáo viên có thể tự sáng tạo ra những trò chơi phù hợp với tiết học (trò chơi phát động, trò chơi hoạt động,trò chơi luỵên trí, trò chơi chú ý và quan sát, trò chơi huy động kiến thức, trò chơi vận dụng kiến thức…), tự
đặt tên trò chơi (theo nguyên tắc vừa phù hợp, vừa kích thích sự tò mò của các em Ví dụ: Sắc màu, 123 ta
cùng tìm, Họ đang nói gì?, Đi tìm bí mật của cành cây, Tiếp sức…) (Để hoàn thành những sơ đồ câm về bài
học)
* Trò chơi hoàn thành sơ đồ câm khi dạy bài “Sự phát triển của từ vựng tiếng việt ”,
Sau những tiết ôn luyện các kiến thức cơ bản: Cho học sinh lên tích vào dạng câu hỏi ( Khái quát hoặc chi tiết)rồi trả lời các câu hỏi đưa ra để có thể hoàn thiện sơ đồ.Hoặc có thể chơi trò tiếp sức hoàn thiện nhanh nhất cácnhánh của cây sơ đồ
Trang 14Tiếng Việt: Lồng ghép trò chơi đối với phân môn này là khá phù hợp, đặc biệt là đối với những tiết thực hành,
luyện tập
GV: hướng dẫn thể lệ: Lớp sẽ được chia làm 4 nhóm, cùng mô tả một bức tranh có những tình huống đòi hỏi
phải giao tiếp (mỗi nhân vật chỉ được nói một câu) Các nhóm sẽ làm việc độc lập một cách nhanh nhất và
đúng nhất Nhóm nào thực hiện nhanh nhất và hợp lí nhất, sẽ thắng.
HS: nghe phổ biến thể lệ trò chơi.
HS: Tham gia trò chơi theo hướng dẫn của giáo viên: Làm việc theo nhóm với yêu cầu bí mật với các nhóm
khác (để không ảnh hưởng đến không gian học tập của các lớp khác) nhưng phải huy động được sức mạnh củatập thể (nhóm chơi); đảm bảo đúng và trong thời gian nhanh nhất
GV: Quan sát học sinh chơi và có những chỉ dẫn kịp thời.
Giáo viên nhận xét và đánh giá công khai, chốt lại một số lưu ý về bài học và khẳng định vai trò của ngữ
cảnh đối với quá trình tạo lập và lĩnh hội lời nói Tuyên bố đội thắng cuộc
HS: Thực hiện yêu cầu của bên thắng.
Trang 15( Phần này để học sinh thực hiện kín thông qua trò chơi tiêp sức hoặc ai nhanh hơn ai)
Trang 16* Sơ đồ bài giảng: “ Thuật ngữ ” ( Tiếng Việt 9 –Học kì 1)
* Giải mã sơ đồ bài học “ Thuật ngữ” như sau:
- Muốn nắm chắc kiến thức về thuật ngữ thì học sinh cần nhớ kỹ 3 đặc điểm tương ứng với 3 nhánh sau:
+ Nhánh 1: Đặc điểm 1 – Biểu thị khái niệm khoa học
Trang 17+ Nhánh 2: Đặc điểm 2 – Mỗi thuật ngữ chỉ biểu thị 1 khái niệm.
+ Nhánh 3: Đặc điểm 3 – Không có tính biểu cảm (Không xuất hiện trong văn bản nghệ thuật)
- Cho học sinh nhớ một vài ví dụ cơ bản và nhớ phần lưu ý
* Sơ đồ bài giảng: ““ Đối thoại, độc thoại, độc thoại nôi tâm”
Trang 18* Giải mã cho sơ đồ 4 – bài giảng “ Đối thoại, độc thoại, độc thoại nôi tâm”
- Từ khoá của sơ đồ đã thể hiện 3 nội dung, học sinh sẽ hình dung được sơ đồ có 3 nhánh:
+ Nhánh 1: Đối thoại Ở nhánh này tiếp tục được làm rõ bởi 2 ý:
* Đối thoại là gì? - là đối đáp trò chuyện giữa 2 hoặc nhiều người, giữa họ đều có lời nói trực tiếp
* Khi viết sẽ gạch đầu dòng ở trước mỗi lượt lời
+ Nhánh 2: Độc thoại (có 2 nhánh nhỏ làm ý)
* Độc thoại là lời nói của nhân vật nói với chính mình hoặc nói với ai đó trong tưởng tượng
* Khi viết có gạch đầu dòng ở trước mỗi lượt lời
+ Nhánh 3 : Độc thoại nội tâm ( cũng có 2 nhánh nhỏ)
* Độc thoại nội tâm là những suy nghĩ trong đầu của nhân vật, chưa thành lời
* Khi viết không có gạch đầu dòng ở trước mỗi suy nghĩ của nhân vật.
-> Lưu ý của sơ đồ này giúp cho học sinh phát hiện nhanh là đối thoại, độc thoại, độc thoại nội tâm thường xuất hiện trong văn bản tự sự
* Phần Tiếng Việt Kì 2:
* Sơ đồ bài giảng “Khởi ngữ”
Trang 19* Giải mã sơ đồ:
- Giải thích từ khoá của sơ đồ: “Khởi” là đầu tiên, xác định được vị trí nên dấu hiệu đầu tiên là nó phải đứng
trước nòng cốt câu Còn “ngữ” có nghĩa là bản thân nó chỉ là một ngữ (từ hoặc cụm từ)
- Căn cứ vào một số dấu hiệu qua các từ nó thường đi kèm để chia nhánh thì tôi đã thiết kế cho học sinh nhớđược 5 ví dụ cơ bản nhất (như trên sơ đồ) Sau đó tôi cho gạch chân, in đậm những khởi ngữ và nhặt những dấuhiệu thường gặp sang bên ghi chú Nhờ những dấu hiệu này mà học sinh làm bài tập nhận biết rất nhanh
Trang 20- Để học sinh nắm chắc kiến thức bài học tôi đã làm thêm bước phân biệt với trạng ngữ bởi vì trạng ngữ cónhững dấu hiệu hình thức giống như khởi ngữ, đồng thời tôi tích hợp được việc ôn lại kiến thức về thành ngữ
đã học ở lớp 7.( Thành ngữ có nội dung chỉ thời gian, nơi chốn, phương tiên, cách thức còn khởi ngữ thìkhông có nội dung đó mà chỉ nhắc lại đề tài nêu ở trong câu)
* Sơ đồ bài giảng “Các thành phần biệt lập”
Trang 21* Giải mã sơ đồ:
- Giải mã từ khoá: “Các” là không phải 1 mà nhiều “Thành phần” nghĩa là nó chỉ có 1 từ hoặc cụm từ, chưa
có cấu tạo như là câu Còn “biệt lập” là nó mang tính chất đặc biệt và độc lập, có thể tách ra thành câu riêngđược
- Sơ đồ được phát triển thành 4 nhánh chính (4 thành phần)
+ Nhánh 1: Thành phần tình thái Ở nhánh này tôi căn cứ vào dấu hiệu để phân loại thành 2 nhánh nhỏtiếp, đó là từ , ngữ có ý nghĩa chỉ độ tin cậy cao và từ ngữ có ý nghĩa chỉ độ tin cậy chưa cao Ở nhánh này tôicho học sinh đi từ ví dụ trong và ngoài sách giáo khoa để tìm ra các dấu hiệu nhận biết
+ Nhánh 2: Thành phần cảm thán: Bộc lộ tâm lý vui mừng, buồn, giận… Học sinh kể ra các dấu hiệu.+ Nhánh 3 : Thành phần gọi, đáp: dùng để gọi và để đáp trong giao tiếp nhưng nó chỉ có vai trò tạo lậphoặc duy trì mối quan hệ giao tiếp Cho học sinh nhớ những dấu hiệu cơ bản
+ Nhánh 4: Thành phần phụ chú: là thành phần ghi chú, bổ sung, giải thích cho nội dung đi kèm trước
nó Thành phần này tôi cũng cho học sinh chỉ ra và nhớ những dấu hiệu về hình thức như nó đặt giữa 2 dấugạch ngang, 2 dấu ngoặc đơn, giữa 1 dấu gạch ngang và dấu phẩy hoặc đặt sau dấu 2 chấm
Lưu ý của sơ đồ này là học sinh cần thuộc, nhớ các dấu hiệu Nhớ thêm “Khởi ngữ” không nằm trong cácthành phần biệt lập này
Trang 22* Sơ đồ bài giảng “Liên kết câu và liên kết đoạn văn”
* Giải mã sơ đồ:
- Giải mã từ khoá: “Liên kết” có tính chất kết dính, gắn chặt, lô zich giữ các câu trong 1 đoạn văn hoặc giữa các đoạn văn trong bài văn
Trang 23- Sau khi tìm hiểu ví dụ sách giáo khoa để đi đến kết luận, tôi cho học sinh khai thác phần ghi nhớ (SGK) để hình thành sơ đồ và phát triển nhánh như sau:
+ Nhánh 1: Liên kết về nội dung, nhánh này phát triển thành 2 nhánh nhỏ dựa từ của nhánh, đặt và trả lời câu hỏi: những điều kiện nào làm nên nội dung chặt chẽ ? – Chủ đề phải thyoongs nhất, liên kết lại Trình
tự các câu văn cũng phải sắp xếp hợp lý
+ Nhánh 2 Về hình thức Đây là nhánh kiến thức cơ bản nhất thường vận dụng trong các dạng câu hỏi Nhánh này tôi cho chia ra thành 4 nhánh cơ bản nhất (4 phép liên kết như trình bày trên sơ đồ) Ở mỗi phép liên kết đó tôi hướng cho học sinh ghi nhớ những ví dụ hoặc những dấu hiệu nhận biết của từng phép
- Riêng phép nối tôi chú trọng hơn và tiếp tục phát triển 3 nhánh nhỏ sau:
Nối bằng quan hệ ngang bằng: thường hay sử dụng các từ “và”, “với”, “rồi”…
Nối bằng quan hệ không ngang bằng: thường hay sử dụng các quan hệ từ “hơn nữa”, “ hơn thế nữa”,
“nhưng” , “mặt khác”, “tuy nhiên” …
Nối bằng các cặp quan hệ từ: thường dùng các cặp quan hệ từ sau: : Nếu… thì …
Tuy … nhưng …
Không những …mà còn …Bởi … nên …
Vì … nên … Mặc dù … nhưng …
- Sơ đồ này tôi lưu ý cho học sinh: Thuộc các dấu hiệu của từng phép liên kết để giải quyết các dạng bài tập nhận biết Vận dụng một cách linh hoạt các phép liên kết các câu trong một đoạn văn, liên kết các đoạn văn trong bài tập làm văn nghị luận về thơ hoặc nhân vật của mình
Trang 24* Sơ đồ bài giảng “Nghĩa tường minh và hàm ý”
Trang 25+ Nhánh 2: Hàm ý có 2 đặc điểm khác biệt với tường minh đó là không diễn đạt trực tiếp và nghĩa của từ là nghĩa bóng, nghĩa hàm ẩn
Ở Sơ đồ bài học này tôi lưu ý cho học sinh : muốn hiểu được nghĩa của hàm ý cần căn cứ vào ngữ cảnh của lờinói
* Sơ đồ bài giảng “Phép lập luận, phân tích và tổng hợp”
* Giải mã sơ đồ:
Trang 26- Giải mã từ khoá: Từ khoá của sơ đồ này đã chứa đựng 2 nội dung, 1 là đoạn văn viết theo phép phân tích, 2
là đoạn văn viết theo phép tổng hợp Mỗi nội dung được hình thành 1 nhánh lớn
+ Nhánh 1: Phép phân tích được tiếp tục phát triển thành 3 nhánh nhỏ: 1 là các ý cơ bản của khái niệm,
2 là các biện pháp, dấu hiệu nhận biết qua vị trí của câu chủ đề
Ở nhánh nhỏ thứ 2 ( Biện pháp) được tiếp tục phát triển thành cụ thể hơn đó là 4 biện pháp phân tích ( Nêu giả thiết / So sánh đối chiếu/ Giải thích /Chứng minh)
+ Nhánh 2: Phép tổng hợp cũng có 2 nhánh nhỏ
1 là ý cơ bản của khái niệm
Nhánh nhỏ 2: dấu hiệu nhận biết bằng cách để lập luận ở cuối đoạn văn Đặc biệt chú ý phép nàythường dùng các từ trước lập luận như “Tóm lại / Thế có nghĩa là / Như vậy / Thật vậy / Quả thật / Đúng
là / …”
Lưu ý: Phép lập luận khác với phương thức lập luận (Phương thức biểu đạt)
- Phép lập luận trong cách viết đoạn văn chỉ có 2 phép nêu trên Nó khác hẳn với phương thức lập luận Vìphương thức lập luận không nằm ở 1 bài cụ thể nên giáo viên thông qua bài Phép lập luận phân tích và tổng hợp này để giúp học sinh phân biệt rõ giữa “phép” với “phương thức” Tôi đã đưa ra 1 sơ đồ khác
tổng hợp nhận xét các phương thức lập luận đã học từ các lớp dưới theo sơ đồ dưới đây Sơ đồ này giúp họcsinh phân biệt được dạng câu hỏi của bài tập nhận biết về phép lập luận của đoạn văn với dạng bài nhậnbiết về phương thức lập luận của đoạn văn, tìm được phương thức biểu đạt của đoạn văn một cách nhanhnhất