1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Quản lý công Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình

152 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 152
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số tác giả đã quan tâm nghiên cứu công tác quản lý nhà nước về tôn giáo trong thời gian qua như: - Trần Văn Tình: “Quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh T

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN THÀNH CHUNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ CÔNG

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN THÀNH CHUNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ CÔNG

Chuyên ngành: Quản lý công

Mã số: 60 34 04 03 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS HOÀNG VĂN CHỨC

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình được PGS.TS Hoàng Văn Chức hướng dẫn thực hiện là công trình nghiên cứu của tôi, những số liệu và nội dung trong luận văn này là trung thực, khách quan dựa trên cơ sở kết quả khảo cứu thực tế và các tài liệu đã được công bố

Thừa Thiên Huế, tháng 02 năm 2018

Nguyễn Thành Chung

Trang 4

Lời cảm ơn Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám đốc Học viện, các khoa, phòng, các cán bộ, công chức, viên chức trong Học viện đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi tham dự lớp đào tạo thạc sĩ khoá 21 và hoàn thành luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến PGS.TS Hoàng Văn Chức đã tận tình hướng dẫn nghiên cứu khoa học, giúp đỡ tôi trong quá trình viết luận văn này

Tôi chân thành cảm ơn đến Huyện ủy, HĐND,UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam huyện Bố Trạch, Phòng Nội vụ huyện Bố Trạch và các xã có đồng bào theo đạo đã tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt để giúp đỡ tôi trong quá trình viết luận văn

Mặc dù đã rất cố gắng đầu tư thời gian và trí lực cho luận văn, song do năng lực của người viết còn hạn chế, kết hợp với một số trở ngại do khách quan đem lại, nên chắc chắn trong luận văn còn nhiều thiếu sót

Rất mong được sự đóng góp chân thành từ các phía thầy giáo, cô giáo

và những nhà quản lý giáo dục đã có kinh nghiệm thực tế để tác giả của luận văn có thể tiếp thu, bổ sung cho luận văn của mình đạt được mục tiêu đề ra là góp phần nhỏ vào quá trình đổi mới quản lý nhà nước về tôn giáo nói chung

và nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình

Học viên Nguyễn Thành Chung

Trang 5

MỤC LỤC

Trang bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh từ viết tắt

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO 8

1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài luận văn 8

1.1.1 Tín ngưỡng và hoạt động tín ngưỡng 8

1.1.2 Tôn giáo và hoạt động tôn giáo 8

1.1.3 Tổ chức tôn giáo và cơ sở tôn giáo 11

1.1.4 Mê tín, dị đoan 12

1.1.5 Quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo 12

1.2 Sự cần thiết quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo 14

1.2.1 Thực hiện chức năng của Nhà nước trong quản lý ngành và lĩnh vực 14

1.2.2 Vai trò của tín ngưỡng, tôn giáo trong đời sống xã hội 16

1.2.3 Nhu cầu chính đáng của một bộ phận đồng bào có đạo 19

1.3 Chủ thể, đối tượng và nội dung QLNN về hoạt động tôn giáo 20

1.3.1 Chủ thể và đối tượng quản lý 20

1.3.2 Nội dung quản lý nhà nước về tôn giáo 22

1.3.3 Phương thức quản lý nhà nước về tôn giáo 24

1.4 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về tôn giáo 27

Trang 6

1.4.1 Kinh nghiệm của một số địa phương 27

1.4.2 Bài học kinh nghiệm cho huyện Bố Trạch 34

Tiểu kết Chương 1 35

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH 37

2.1 Khái quát tự nhiên, kinh tế-xã hội huyện Bố Trạch 37

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 37

2.1.2 Đặc điểm về kinh tế-xã hội 37

2.2 Thực trạng hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện Bố Trạch 39

2.2.1 Đặc điểm tôn giáo trên địa bàn huyện Bố Trạch 39

2.2.2 Phân bố của tín đồ 41

2.2.3 Khái quát hoạt động các tôn giáo ở huyện Bố Trạch 42

2.2.4 Sử dụng đất đai của các tôn giáo trên địa bàn Huyện 45

2.3 Phân tích thực trạng tổ chức thực hiện các nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện Bố Trạch 47

2.3.1 Tổ chức thực hiện pháp luật và chính sách đối với tôn giáo 47

2.3.2 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về tôn giáo của huyện Bố Trạch 52

2.3.3 Đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước về tôn giáo của huyện Bố Trạch 55

2.3.4 Quản lý hoạt động xây dựng, trùng tu, sửa chữa cơ sở thờ tự, các công trình phụ trợ 59

2.3.5 Quản lý việc thành lập tổ chức tôn giáo, thuyên chuyển các chức sắc trên địa bàn Huyện 60

2.3.6 Công tác tuyên truyền, phổ biến, bồi dưỡng pháp luật cho các chức sắc, chức việc trên địa bàn Huyện 61

Trang 7

2.3.7 Công tác QLNN đối với các hoạt động từ thiện, nhân đạo của tôn giáo trên địa bàn Huyện 62 2.3.8 Xây dựng mối quan hệ, phối hợp trong quản lý nhà nước về tôn giáo của huyện Bố Trạch 63 2.3.9 Giám sát, kiểm tra, thanh tra trong quản lý nhà nước về tôn giáo của huyện Bố Trạch 65 2.4 Đánh giá QLNN đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện Bố Trạch 68 2.4.1 Kết quả đạt được và nguyên nhân 68 2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân trong công tác QLNN đối với hoạt động tôn giáo 71 Tiểu kết Chương 2 78 Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆNQUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH 80 3.1 Quan điểm, phương hướng về công tác tôn giáo 80 3.1.1 Quan điểm của Đảng 80 3.1.2 Phương hướng QLNN đối với hoạt động tôn giáo của huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình 82 3.1.3 Dự báo xu hướng hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện trong thời gian tới 87 3.2 Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện Bố Trạch 88 3.2.1 Xây dựng kế hoạch thực hiện, cụ thể hóa các chính sách pháp luật

về tôn giáo 88 3.2.2 Hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về tôn giáo 90 3.2.3 Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về tôn giáo 96

Trang 8

3.2.4 Xây dựng, nâng cao chất lượng lực lượng cốt cán trong tôn giáo

trên địa bàn Huyện 103

3.2.5 Hoàn thiện cơ chế và cách thức phối hợp giữa cơ quan nhà nước trong quản lý hoạt động tôn giáo của Huyện 105

3.2.6 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho công dân và đồng bào có đạo 109

3.2.7 Tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạm trong quản lý nhà nước tôn giáo trên địa bàn Huyện 110

3.3 Khuyến nghị 111

3.3.1 Đối với Trung ương 111

3.3.2 Đối với Ban Tôn giáo Chính phủ 112

3.3.3 Đối với tỉnh Quảng Bình 112

Tiểu kết Chương 3 113

KẾT LUẬN 115 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BCĐ: Ban chỉ đạo

ĐCS: Đảng Cộng sản

GCN QSĐ: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất GHPG: Giáo hội Phật giáo

GHPGVN: Giáo hội Phật giáo Việt Nam

TQVN Tổ quốc Việt Nam

UBND: Ủy ban nhân dân

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang Bảng 2.1 Số lượng tín đồ các tôn giáo trên địa bàn huyện Bố Trạch năm 2017 40 Bảng 2.2 Số lượng chi tiết tín đồ các tôn giáo trên địa bàn huyện 42

Bố Trạch năm 2017 42 Bảng 2.3 Cán bộ, công chức phụ trách quản lý nhà nước về tôn giáo huyện Bố Trạch năm 2017 55

Trang 11

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Trang

Sơ đồ 3.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý tôn giáo từ Trung ương đến cơ sở 90

Sơ đồ 3.2 Hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về tôn giáo theo Nghị định số 37/1993/NĐ-CP ngày 4/6/1993 và Thông tư số 01/1994/TTLB ngày 11/4/1994 91

Sơ đồ 3.3 Hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về tôn giáo theo Nghị định 14/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 02 năm 2008 của Chính phủ 91

Trang 12

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tôn giáo là hiện tượng xã hội tác động hết sức phức tạp và sâu sắc đến mọi mặt của đời sống nhân loại Hiện nay, tôn giáo ngày càng can thiệp sâu hơn vào đời sống chính trị với nhiều hình thức khác nhau; là một trong những vấn đề nhạy cảm không chỉ riêng ở Việt Nam mà cả trên thế giới; tôn giáo và dân tộc là một trong những nhân tố tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam Bởi vậy, không một quốc gia nào không đặt ra vấn đề phải nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về tôn giáo

Vấn đề tôn giáo luôn là một vấn đề xã hội phức tạp, tế nhị và nhạy cảm Khi nói đến tôn giáo có nhiều ý kiến trái chiều nhau, thậm chí đối lập hẳn với nhau Có người cho rằng tôn giáo gắn với mê tín dị đoan, với sự bất ổn Có người lại cho rằng tôn giáo, tín ngưỡng là nhu cầu tinh thần của con người, là đức tin của con người đối với đấng thiêng liêng, đấng chí tôn mà người ta tôn thờ Làm sao để các tôn giáo hoạt động một cách bình thường theo giáo lý, giáo luật của từng tôn giáo và phù hợp với pháp luật của mỗi quốc gia; phát huy những giá trị tích cực, hạn chế những mặt phức tạp, nhạy cảm và cũng chính là để mọi người có cách nhìn biện chứng, khoa học, khách quan về tôn giáo là một công việc không ít khó khăn Để giải quyết tốt nhất khó khăn này thì vai trò quản lý của nhà nước đối với tôn giáo là vô cùng quan trọng

Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, số lượng người theo tôn giáo khá đông Do đó, việc đề ra chính sách tôn giáo đúng đắn và thực hiện có hiệu quả chính sách đó là một vấn đề hệ trọng, không những ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi hợp pháp và nhu cầu của một bộ phận nhân dân, mà còn tác động không nhỏ đến tình hình chính trị - kinh tế - xã hội của đất nước Nhận thức rõ điều đó, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn đưa ra và thực hiện được chính sách đúng đắn về tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân

Trang 13

2

Mỗi tôn giáo có quá trình hình thành, xuất hiện và hoạt động, có hệ thống giáo lý, giáo luật, tổ chức khác nhau Hơn nữa, đặc điểm, tình hình tôn giáo của mỗi vùng mỗi khác Do đó, vấn đề đặt ra cho tất cả các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương đều cần phải có những giải pháp quản lý sao cho phù hợp với đặc điểm, tình hình tôn giáo chung của cả nước và cho từng vùng, từng địa phương

Trong xu thế đổi mới chung của đất nước, những năm gần đây, sự đồng hành của các tôn giáo cùng dân tộc trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội đã tăng lên; hầu hết mọi hoạt động tôn giáo đều diễn ra trong khuôn khổ chính sách, pháp luật và tuân thủ việc quản lý chính quyền Nhờ vậy, khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố Tuy nhiên, hiện nay cũng còn nhiều bất cập liên quan đến công tác quản lý nhà nước, như giải quyết những hoạt động truyền đạo trái phép đã và đang diễn ra ở một số nơi, tình hình khiếu kiện về đất đai, cơ sở thờ tự của tôn giáo có xu hướng gia tăng…Để giải quyết những bất cập này, phải nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tôn giáo Đây là một vấn đề hết sức cần thiết trong tình hình hiện nay

Quảng Bình là tỉnh có dân số đông, đồng thời cũng là địa phương có số lượng, tín đồ, chức sắc, chức việc khá đông Trong số 08 huyện, tỉnh, thị xã của Quảng Bình, huyện Bố Trạch là một trong những huyện có địa bàn rộng lớn, dân số đông có 02 tôn giáo chính đó là Công giáo và Phật giáo với số lượng tín đồ lớn

Bố Trạch là đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Quảng Bình Trong thời gian qua đã có nhiều chủ trương, biện pháp nhằm quản lý tốt các tôn giáo trên địa bàn Trong tình hình mới, hoạt động của các tôn giáo nói chung, ở Quảng Bình đã

có nhiều thay đổi Theo đó, vấn đề đặt ra cho chính quyền các cấp trong cả nước, trong đó có Quảng Bình và huyện Bố Trạch phải có những giải pháp mới, phù hợp với tình hình mới, trước hết là phải tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các tôn giáo Với ý nghĩa đó, luận văn này muốn tìm hiểu về mặt lý luận và thực tiễn mối quan hệ giữa nhà nước với tôn giáo nói chung, thực tế công tác quản lý nhà

Trang 14

Từ những lý do trên, học viên chọn: “Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học Quản lý công Mong muốn kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ đóng góp vào việc cải thiện công tác quản lý nhà nước về tôn giáo tại Quảng Bình nói chung và tại huyện Bố Trạch nói riêng trong thời gian tới

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Quản lý nhà nước về tôn giáo tại tỉnh Quảng Bình nói chung và tại huyện Bố Trạch nói riêng luôn được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm và luôn được thể hiện trong các Nghị quyết của Đảng và chính sách của nhà nước Tuy nhiên, việc xây dựng chính sách trong thời gian qua vẫn chưa thật sự giải quyết đúng những vấn đề cần quan tâm

Hiện nay đã có nhiều công trình, nhiều bài viết về tôn giáo và ảnh hưởng của tôn giáo đối với các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Một số tác giả đã quan tâm nghiên cứu công tác quản lý nhà nước về tôn giáo trong thời gian qua như:

- Trần Văn Tình: “Quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh Trà Vinh”, đề tài Thạc sĩ Quản lý Hành chính công, năm 2013 - Học viện Hành chính

- Phạm Văn Năm: “Quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh Bình Định”, đề tài Thạc sĩ Quản lý Hành chính công, năm 2010 - Học viện Hành chính

Trang 15

4

- Trần Thị Ngọc: “Quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Phật trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế”, đề tài Thạc sĩ Quản lý Hành chính công, năm 2009 - Học viện Hành chính

Ngoài ra, còn có một số luận văn tốt nghiệp Đại học chính trị, như: “Thực trạng tôn giáo và công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở Cà Mau” của Vũ Bình Lương năm 2003; “Công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa – Thực trạng và giải pháp” của Lê Văn Nhuần năm 2004; “Nâng cao hiệu quả công tác tôn giáo ở Quận n 9, T hành phố Hồ Chí Minh hiện nay” của Nguyễn Thị Kim Như năm 2004

Các công trình trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của tôn giáo, đặt vấn đề quản lý nhà nước về tôn giáo ở từng lĩnh vực, từng địa phương khác nhau và có nhiều ý kiến phong phú có thể tham khảo, học tập Tuy nhiên, cho đến hiện nay vẫn chưa có công trình, luận văn cao học nào đề cập đến công tác quản lý nhà nước về tôn giáo trên địa bàn cấp huyện của Quảng Bình

Chính vì lý do đó mà trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài “Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình” tác giả sẽ tiếp thu, kế thừa có chọn lọc thành quả nghiên cứu của các công trình đã có

và các tài liệu liên quan đến đề tài luận văn này

Thực trạng việc xây dựng và thực thi chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo trên địa bàn huyện Bố Trạch vẫn còn gặp nhiều vấn đề hết sức khó khăn Qua

đó tác giả đề xuất một số giải pháp trong công tác xây dựng và tạo ra một cơ chế quản lý, cải thiện công tác quản lý tại huyện trong thời gian tới để thực hiện công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ngày càng hoàn thiện, đáp ứng thích hợp với thực tiễn xã hội tại huyện Bố Trạch hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu

Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động quản lý nhà nước đối với hoạt động

Trang 16

5

tôn giáo trên địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình; từ đó đề xuất các giải pháp quản lý nhà nước nhằm tiếp tục hoàn thiện QLNN đối với các hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phân tích làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo

- Nghiên cứu, phân tích đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình

- Phân tích phương hướng và đề xuất một số giải pháp QLNN nhằm tiếp tục hoàn thiện QLNN đối với các hoạt động tôn giáo trên dịa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: các nội dung QLNN đối với hoạt động tôn giáo theo quy định của pháp luật

- Về không gian: huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình

- Về thời gian: từ năm 2012 đến năm 2017

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Trang 17

6

5.2 Về phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài, tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

- Phương pháp sưu tầm số liệu, tư liệu;

- Phương pháp thống kê,

- Phương pháp phân tích

- Phương pháp tổng hợp;

- Phương pháp so sánh và đối chiếu;

- Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

7.1 Về lý luận

Phân tích, tổng quan làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo; vận dụng trong QLNN đối với các hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong học tập, giảng dạy, nghiên cứu và cho các nhà quản lý trong lĩnh vực QLNN đối với các hoạt động tôn giáo

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo; Phục lục; kết cấu của Luận văn gồm có ba chương:

Trang 18

7

Chương 1: Cơ sở khoa học QLNN đối với hoạt động tôn giáo

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình

Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện QLNN đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình

Trang 19

8

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI

HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO 1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài luận văn

1.1.1 Tín ngưỡng và hoạt động tín ngưỡng

1.1.1.1 Tín ngưỡng

Tín ngưỡng là một niềm tin có hệ thống mà con người tin vào để giải thích thế giới và để mang lại sự bình yên cho bản thân và mọi người Tín ngưỡng còn là thể hiện giá trị của cuộc sống, ý nghĩa của cuộc sống bền vững đôi khi được hiểu là tôn giáo

Theo Khoản 1, Điều 2, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016: “Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng”[26, tr.6]

1.1.1.2 Hoạt động tín ngưỡng

Theo Khoản 2, Điều 2, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016: “Hoạt động tín ngưỡng là hoạt động thể hiện sự tôn thờ tổ tiên”; tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng; thờ cúng thần, thánh, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội” [26, tr.6]

1.1.2 Tôn giáo và hoạt động tôn giáo

1.1.2.1 Tôn giáo

Từ điển Tiếng Việt [69, tr.1011-1218] định nghĩa là “Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội gồm những quan niệm dựa trên cơ sở tín ngưỡng và sùng bái lực lượng siêu tự nhiên của con người, cho rằng có những lực lượng siêu tự nhiên quyết định

số phận con người, con người phải phục tùng và tôn thờ”

Trang 20

Theo Các Mác: “Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” [68, tr.570]

Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội ra đời và biến đổi theo sự biến động của đời sống kinh tế, xã hội Tín ngưỡng, tôn giáo là sự phản ánh một cách hoang đường, hư ảo hiện thực khách quan vào đầu óc con người Qua sự phản ảnh của tôn giáo, những sức mạnh tự phát trong tự nhiên và xã hội đều trở nên thần bí Anghen viết “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua là sự phản ánh hư ảo – vào trong đầu óc con người – của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hằng ngày của họ; chỉ

là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế” [2, tr.437]

Tôn giáo là sản phẩm của con người, gắn với những điều kiện lịch sử tự nhiên và xã hội xác định, do đó tôn giáo là một hiện tượng xã hội, nó phản ánh sự bất lực, bế tắc của con người trước tự nhiên và suy cho cùng là cách để con người hiểu về thế giới tự nhiên và xã hội

Theo Khoản 5, Điều 2, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016: “Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức”[26,tr.7]

Trang 21

10

Chính vì vậy, theo quan niệm chung nhất, tôn giáo chính là hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, bao gồm ý thức về lực lượng siêu nhiên, tổ chức, hoạt động tôn thờ lực lượng siêu nhiên mà sự tồn tại và phát triển của nó là do sự phản ánh hư ảo hiện thực khách quan vào trong đầu óc của con người

Ở nước ta, về mặt quản lý nhà nước, một tổ chức tôn giáo được công nhận khi có đủ các điều kiện sau: “Là tổ chức của những người có cùng tín ngưỡng, có giáo lý, giáo luật, lễ nghi không trái với thuần phong, mỹ tục, lợi ích dân tộc; có hiến chương, điều lệ thể hiện tôn chỉ, mục đích, đường hướng hành đạo gắn bó với dân tộc và không trái với quy định của pháp luật; có đăng ký hoạt động tôn giáo và hoạt động tôn giáo ổn định; có trụ sở, tổ chức và người đại diện hợp pháp; có tên gọi không trùng tên tổ chức tôn giáo đã được cơ quan có thẩm quyền công nhận” [64, tr.3]

1.1.2.2 Hoạt động tôn giáo

Theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo: “Hoạt động tôn giáo là việc truyền bá, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi, quản lý tổ chức của tôn giáo” Như vậy, theo định nghĩa này chúng ta thấy rõ “Hoạt động tôn giáo” của một tôn giáo có tổ chức bao gồm ba loại hoạt động cơ bản: 1, Hoạt động hành đạo (thực hành giáo lý, giáo luật,

lễ nghi); 2, Hoạt động quản đạo (quản lý tổ chức của tôn giáo); 3, Hoạt động truyền đạo (truyền bá)

Hoạt động hành đạo: chủ thể các hoạt động hành đạo là người tín đồ hay chức sắc hoặc của một cộng đồng tín đồ, tập thể chức sắc Mục đích của hoạt động hành đạo là nhằm thỏa mãn đức tin tôn giáo của mỗi cá nhân hoặc là của cả cộng đồng

Hoạt động quản đạo: về cơ bản là hoạt động của đội ngũ chức sắc tôn giáo nhằm bảo đảm cho giáo luật được giữ gìn và thực thi nghiêm chỉnh trong nội bộ giáo hội

Trang 22

11

Hoạt động truyền đạo: Về bản chất là hoạt động tuyên truyền, phổ biến, thuyết phục, cảm hóa, bồi dưỡng cho người ngoài tôn giáo của mình biết, hiểu và đồng ý gia nhập vào tôn giáo của mình

Vấn đề đặt ra trong quản lý nhà nước về tôn giáo là điều chỉnh, là hướng dẫn mọi hoạt động tôn giáo đều phải diễn ra trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật Nhà nước

1.1.3 Tổ chức tôn giáo và cơ sở tôn giáo

1.1.3.1 Tổ chức tôn giáo

Theo Khoản 12, Điều 2, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016: “Tổ chức tôn giáo là tập hợp tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành của một tôn giáo được tổ chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận nhằm thực hiện các hoạt động tôn giáo”[26, tr.7]

Khi nói về tổ chức tôn giáo cần chú ý một số vấn đề sau:

- Cần phải phân biệt giữa cộng đồng tôn giáo và tổ chức tôn giáo với tư cách

là những thể chế được định ra Đó là sự phân biệt giữa hai loại thành viên trong một cộng đồng, những chức sắc chịu trách nhiệm thực hiện thể chế trong bộ máy tổ chức tôn giáo và những tín đồ nói chung

- Không thể dựa vào tính tổ chức mà đánh giá sự hơn kém giữa các tôn giáo Tất nhiên tính tổ chức cao của tôn giáo có thể làm cho tôn giáo dễ được truyền bá

và phát triển Tuy nhiên yếu tố quyết định, cơ bản là tôn giáo đó có chiếm được niềm tin của cộng đồng hay không?

- Khi đề cập đến tổ chức tôn giáo thì phải kể đến một tổ chức quan trọng là giáo hội Không một tôn giáo nào mà không có giáo hội Giáo hội gắn bó chặt chẽ với dân tộc, có lúc nó mở rộng ra ngoài phạm vi biên giới, có lúc chỉ bao gồm một

bộ phận dân tộc, có lúc nó được chỉ đạo bởi một đoàn giáo sĩ, có lúc nó lại gần như hoàn toàn không có một cơ quan chỉ đạo được chính thức giao nhiệm vụ

Trang 23

12

1.1.3.2 Cơ sở tôn giáo

Theo Khoản 14, Điều 2, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016: “Cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, trụ sở của tổ chức tôn giáo, cơ sở hợp pháp khác của tổ chức tôn giáo”[26, tr.8]

Nơi thờ tự, tu hành bao gồm: chùa, nhà thờ, thánh đường, thánh thất, tu viện thuộc tổ chức tôn giáo

Nơi đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo bao gồm: học viện, trường cao đẳng, trường trung cấp phật học, đại chủng viện của đạo Công giáo, Viện thánh kinh thần học của đạo Tin lành

ra trong tôn giáo khác, theo họ đó là “điều huyễn hoặc”

Mỗi tôn giáo đều tự cho rằng tôn giáo mình không mê tín vì họ có “bằng chứng” để hỗ trợ cho những lễ nghi, giáo điều, tín ngưỡng, v.v của họ Và “bằng chứng” duy nhất và tối quan trọng nhất là “đức tin” của họ Và theo ý niệm “đức tin” thì tín đồ không cần phải giải thích được bằng kiến thức khoa học hiện thời về bất cứ điều gì dù là huyễn hoặc và phản khoa học hay phản thực tế bao nhiêu

1.1.5 Quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo

Tư tưởng về xây dựng một nhà nước của dân, do dân và vì dân là điểm cơ bản nhất để phân biệt sự khác nhau giữa Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các hình thức nhà nước khác Tất cả mọi quyền lực trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, là công cụ quyền lực của nhân dân, là nhà nước của dân, do

Trang 24

13

dân và vì dân Do đó, nhà nước có trách nhiệm quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, thông qua hệ thống thiết chế tổ chức, những quy định mang tính nhà nước và pháp quyền…nhà nước quản lý xã hội trên tất cả các lĩnh vực (trong đó có lĩnh vực tôn giáo) nhằm làm cho xã hội tồn tại trong trật tự và ổn định Ở Việt Nam hiện nay, trong điều kiện Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền, toàn bộ tổ chức và hoạt động của Nhà nước đều phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật

Quản lý nhà nước là hoạt động của Nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp nhằm thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại của Nhà nước; là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người

Quản lý nhà nước bao gồm hệ thống tập hợp các văn bản pháp luật nhà nước với những thiết chế bộ máy được phân công theo từng chức năng Mức độ và hiệu quả thực hiện chức năng này rất khác nhau trong các nhà nước khác nhau cũng như

ở các giai đoạn phát triển khác nhau của chính nhà nước đó

Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội mang tính nhà nước (hay nói cách khác đi là quyền lực công, công quyền) nhằm tổ chức và điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người bằng quyền lực nhà nước

Vận dụng các cơ sở lý luận trên về Quản lý nhà nước, tác giả xác định Quản

lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo là quá trình dùng quyền lực Nhà nước (quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp) của các cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật để tác động, điều chỉnh các quá trình tôn giáo (của mọi

tổ chức tôn giáo) và hành vi hoạt động tôn giáo (của mọi thể nhân tôn giáo) để chúng diễn ra đúng với chủ trương của Nhà nước – thể hiện trong luật pháp Nhà nước (đó là chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với tôn giáo

và công tác tôn giáo đã được thể chế hóa thành Pháp luật Nhà nước) đạt được mục tiêu cụ thể của chủ thể quản lý Chức năng này quy định cho các cơ quan nhà nước thuộc cả ba hệ thống cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp

Trang 25

14

“Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo” là một dạng quản lý nhà nước mang tính chất nhà nước, nó tổ chức và điều chỉnh quá trình hoạt động tôn giáo của các pháp nhân tôn giáo và các thể nhân tôn giáo bằng quyền lực nhà nước Trong khái niệm này có hai điểm cần lưu ý: “Pháp nhân tôn giáo” là những tổ chức giáo hội từ cơ sở trở lên đã được Nhà nước cho phép hoạt động, có tư cách pháp nhân, được Nhà nước bảo hộ; “Thể nhân tôn giáo” là các tín đồ, chức sắc, nhà tu hành của các tổ chức tôn giáo được nhà nước công nhận và cho phép hoạt động bình thường (không thuộc diện đó thì không phải là pháp nhân tôn giáo)

Vậy QLNN đối với hoạt động tôn giáo sự tác động của các cơ quan quản lý nhà nước các cấp đối với toàn bộ quá trình hoạt động tôn giáo nhằm huy động sức mạnh của người dân và cộng đồng có tín ngưỡng, tôn giáo để đạt mục tiêu của chủ thể cầm quyền ở cấp đó đặt ra

1.2 Sự cần thiết quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo

1.2.1 Thực hiện chức năng của Nhà nước trong quản lý ngành và lĩnh vực

Thứ nhất, xét từ góc độ chức năng của Nhà nước Việt Nam là nhà nước của dân, do dân và vì dân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc thống nhất quyền lực Nhà nước nhưng có sự phân công giữa

ba quyền: Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam đã, đang thực hiện quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa, cải cách tư pháp và cải cách hành chính để tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước đối với mọi mặt của đời sống xã hội Tôn giáo là một thực thể khách quan trong xã hội Cũng như mọi thực thể khác, tôn giáo phải chịu sự quản lý của Nhà nước Vai trò quản lý nhà nước của Nhà nước ta càng được phát huy có hiệu quả thì hoạt động tôn giáo, lợi ích của các tôn giáo càng phát triển hài hòa trong lợi ích chung của cả cộng đồng dân tộc và của toàn bộ xã hội; các tôn giáo được sự bảo vệ chung của Nhà nước, hệ thống chính trị trước mọi âm mưu, thủ đoạn lợi dụng tôn giáo của các thế lực xấu ở trong và ngoài nước

Trang 26

15

Thứ hai, xét từ góc độ thực tiễn hoạt động tôn giáo của các tổ chức tôn giáo

ở nước ta Theo số liệu của Ban Tôn giáo Chính phủ, ở nước ta hiện có 13 tôn giáo với 39 tổ chức tôn giáo lớn nhỏ đã được Nhà nước ta công nhận, cho phép hoạt động Ngoài ra, còn có trên 70 nhóm tôn giáo khác nhau, trong đó có rất nhiều hiện tượng tôn giáo mới đang hoạt động ở nhiều mức độ khác nhau Mặt khác, trong bối cảnh mở cửa, hội nhập, giao lưu quốc tế diễn ra sâu rộng trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có tín ngưỡng, tôn giáo Sự đa tín ngưỡng, tôn giáo vốn đã phức tạp do lịch sử để lại nay lại càng phức tạp thêm bởi các thế lực trong và ngoài nước luôn tìm cách lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo dưới chiêu bài “nhân quyền” và

“tự do tôn giáo” để chống lại Đảng và Nhà nước ta nói chung và khối đại đoàn kết toàn dân tộc nói riêng

Thứ ba, xét từ góc độ vai trò tích cực và tiêu cực của tôn giáo trong xã hội Với vai trò tích cực biểu hiện tập trung nhất ở giá trị văn hóa tôn giáo, trong đó, nổi bật hơn cả là giá trị văn hóa đạo đức mà các tôn giáo đã đóng góp cho nền văn hóa nhân loại Ở đó, văn hóa tôn giáo nói chung, văn hóa đạo đức tôn giáo nói riêng đã được nhà tâm lý học người Áo Sigmund Freud (1856-1939) đánh giá trong cuốn

“Tương lai hư ảo”: “Tôn giáo đã phục vụ to lớn cho văn hóa nhân loại bằng việc nó kiềm chế, ngăn cản những điều có tính bản năng của con người và có thể giúp các tín đồ chống lại những ưu phiền của mình” Ngày nay, vai trò tích cực của tôn giáo

đã được Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với sự nghiệp xây dựng xã hội mới” trong Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 16 tháng 10 năm 1990 của Bộ Chính trị Khóa VI “Về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới”

Còn với vai trò tiêu cực biểu hiện tập trung nhất ở khía cạnh các tôn giáo thường bị lôi cuốn tham gia vào chính trị tiêu cực; thậm chí có nơi, có lúc đã thành lập các đảng phái chính trị dưới ngọn cờ tôn giáo để đấu tranh giành chính quyền, nhằm tôn giáo hóa nhà nước và xã hội Về vấn đề chính trị tôn giáo, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lê Nin đã chỉ rõ: “Nhà nước mà còn lấy tôn giáo làm nền tảng thì chưa phải nhà nước đích thực…Còn nhà nước dân chủ, một nhà nước thật

Trang 27

16

sự thì nó không cần đến tôn giáo để bù đắp về chính trị cho mình” [3, tr.541-542] Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định “Vừa quan tâm giải quyết một cách hợp lý nhu cầu tín ngưỡng của quần chúng, vừa cảnh giác kịp thời đập tan mọi âm mưu thủ đoạn lợi dụng tôn giáo để chống lại cách mạng” trong Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 16 tháng 10 năm 1990 của Bộ Chính trị Khóa VI “Về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới”

Hay như GS.TS Đỗ Quang Hưng, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu tôn giáo đã từng phân tích về vấn đề chính trị trong tôn giáo như sau: “Cũng theo các nhà xã hội học, trên bình diện chính trị học, các giáo hội thường được xếp vào loại những đoàn thể áp lực…Nó tuy đứng ngoài quyền lực, nhưng sức ép của nó với chính quyền lại rất lớn Thế lực của các đoàn thể áp lực ấy rất tiềm tàng: Nó bắt nguồn từ uy tín của tôn giáo trong dân chúng và bản thân cơ cấu tổ chức giáo hội của nó cũng là một sức mạnh khi được sử dụng vào các chiến thuật chính trị” [52, tr.30-31]

Như vậy, chỉ xem xét tổng quát trên ba mặt cơ bản trên, chúng ta thấy rõ sự cần thiết của Nhà nước trong quản lý tôn giáo nói chung và trong quản lý các hoạt động tôn giáo nói riêng Phải khẳng định một điều rằng việc tăng cường quản lý nhà nước về tôn giáo là hết sức cần thiết trong bất kỳ giai đoạn nào của xã hội

1.2.2 Vai trò của tín ngưỡng, tôn giáo trong đời sống xã hội

Vai trò của tín ngưỡng, tôn giáo trong đời sống xã hội không chỉ xuất phát từ bản chất, chức năng đó mà còn chịu sự chi phối của chính trị, văn hóa, đạo đức…Trong xã hội có đối kháng giai cấp, vai trò xã hội của tôn giáo thường bị chi phối bởi ý thức chính trị - giai cấp Các giáo hội ngoài chức năng tôn giáo còn thực hiện những chức năng ngoài tôn giáo như: thống trị xã hội, chiến tranh xâm lược

Do vậy, khi đánh giá một tổ chức tôn giáo phải luôn luôn có quan điểm lịch sử, cụ thể, đặc biệt phải phân biệt giữa chức năng xã hội của tôn giáo với vai trò xã hội của nó.Vai trò xã hội của tôn giáo có cả mặt tích cực lẫn tiêu cực

Trước hết ta cần phải nhìn nhận những mặt tiêu cực như:

Trang 28

17

- Do bị thế giới quan duy tâm chi phối, tôn giáo thường hạn chế phát triển tư duy duy vật, khoa học, làm cho con người dễ có thái độ nhẫn nhục, khuất phục, không tích cực, chủ động, sáng tạo trong việc tạo dựng hạnh phúc thật sự nơi trần gian, mà lại hi vọng hạnh phúc ở cuộc sống sau khi chết Điều đó dễ dẫn đến thái độ

mù quáng và hành vi cuồng tín ở một số tín đồ - chức sắc tôn giáo

- Do có bản chất chung là niềm tin vào lực lượng siêu nhiên nên các sinh hoạt tôn giáo rất dễ bị lợi dụng hành nghề mê tín dị đoan Trong thực tế, các hiện tượng tôn giáo và mê tín dị đoan thường đan xen nhau Đồng thời ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo tăng lên khi bị ảnh hưởng của giai cấp thống trị và kẻ xấu lợi dụng

để thực hiện ý đồ chính trị và buôn thần bán thánh

Tôn giáo còn mang lại cho con người niềm tin mù quáng, bù đắp hư ảo vào đầu óc con người, tin tưởng vào “bến bờ” hạnh phúc ở bên kia thế giới, vào số mệnh và sự sắp đặt vận mệnh của mình ở các đấng siêu nhiên Từ sự mù quáng dẫn đến hủy diệt con người, có khi hàng loạt

Tôn giáo mang tính bảo thủ và sức ỳ lớn, con người có niềm tin tôn giáo muốn thay đổi cuộc sống của mình chỉ trông chờ vào các đấng thiêng liêng, không

nỗ lực bản thân, chờ sự thay đổi của số mệnh

Các tổ chức tôn giáo tham gia các hoạt động chính trị hoặc bị lợi dụng vào chính trị gây mất ổn định xã hội và an ninh quốc gia Các cuộc thánh chiến để mở rộng “đất thánh”, các tổ chức vũ trang, khủng bố mang màu sắc tôn giáo “tử vì đạo” như của Hồi giáo hiện nay…là mối đe dọa cho hòa bình thế giới

Bên cạnh những mặt tiêu cực, phải thừa nhận vai trò xã hội của tôn giáo cũng

có những mặt tích cực nhất định:

Tôn giáo vừa phản ánh sự khốn cùng của hiện thực vừa phản kháng chống lại

sự khốn cùng ấy, nên có lúc tôn giáo đã góp phần cổ vũ cuộc đấu tranh chống lại sự bất công, tàn bạo trong xã hội có áp bức và bóc lột Và văn hóa, đạo đức tôn giáo cũng có những nội dung mang tính nhân văn, khuyến thiện, trừ ác nên có nội dung

đã trở thành giá trị văn hóa đạo đức tinh thần của nhân loại Bởi thế, Đảng ta khẳng

Trang 29

18

định: “Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [35, tr156]

Tôn giáo góp phần xoa dịu nỗi đau, an ủi tinh thần con người trước những vấn đề chưa giải quyết, chưa lý giải được Con người đứng trước những khó khăn, vướng mắc của cuộc sống bản thân hoặc những hiện tượng bất thường của tự nhiên tìm cách lý giải từ những bậc thần linh, từ số mệnh đã an bài hoặc tìm chốn nương tựa về mặt tinh thần ở đức tin tôn giáo để có thể tạm yên tâm, tự an ủi

Đạo đức tôn giáo phù hợp với xây dựng đạo đức con người mới xã hội chủ nghĩa Tôn giáo hướng con người đến giá trị “Chân – Thiện – Mỹ”, làm điều lành, tránh xa điều ác, thương người, chia sẻ với những khổ đau, bất hạnh của người khác bằng các hoạt động cụ thể như hoạt động từ thiện…Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết:

“Học thuyết tôn giáo của Khổng tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân Tôn giáo Giêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả Chủ nghĩa Mác có

ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó, chính sách nó thích hợp với đất nước ta Họ đều muốn mưu cầu hạnh phúc cho mọi người, mưu cầu phúc lợi cho xã hội Nếu hôm nay còn sống trên đời, nếu họp lại một chỗ, tôi tin rằng họ chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết Tôi cố gắng làm học trò nhỏ của các vị ấy” [18, tr.152]

Một số sản phẩm của tôn giáo có giá trị văn hóa cần được gìn giữ, bảo tồn và phát huy Nhiều công trình, đền thờ, kinh sách đồ thờ tự…của các tôn giáo trên thế giới là di sản văn hóa thế giới, kể cả các hoạt động sinh hoạt tôn giáo như Lễ Phật Đản của Phật giáo cũng được công nhận là lễ hội tôn giáo thế giới Ở nước ta, nhiều đền, chùa, nhà thờ, tượng là công trình kiến trúc có giá trị văn hóa và nghệ thuật cao, các lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo là sinh hoạt văn hóa mang tính truyền thống của dân tộc và cộng đồng

Trang 30

19

1.2.3 Nhu cầu chính đáng của một bộ phận đồng bào có đạo

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách đúng đắn, nhất quán về tôn giáo và công tác tôn giáo, như: Nghị quyết số 24 của Bộ Chính trị (khóa VI); Nghị quyết 25/NQ-TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về “Công tác tôn giáo” Chính phủ có Nghị định

số 92/NĐ-CP ngày 08/11/2012 Quy định chi tiết và biện pháp thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo và Chỉ thị số 01/2005/CT-TTg ngày 04/2/2005 của Thủ tướng Chính phủ về một số công tác đối với đạo Tin Lành,… nhiều tỉnh, thành phố đã chủ động xây dựng Nghị quyết chuyên đề về công tác tôn giáo, thành lập Ban chỉ đạo công tác tôn giáo để chỉ đạo thống nhất trong hoạt động Nhận thức

về công tác tôn giáo của cấp ủy Đảng, chính quyền, cơ quan quản lý các cấp được nâng lên ngang tầm đòi hỏi của thực tiễn Đã vận dụng linh hoạt các biện pháp trong xử lý những vấn đề liên quan đến tôn giáo gắn với hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương; giải quyết tương đối kịp thời các nhu cầu chính đáng về sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào; tạo điều kiện giúp đỡ các giáo hội, chức sắc sinh hoạt tôn giáo đúng pháp luật…

Với những chính sách và quan điểm đúng đắn trên, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào tôn giáo những năm qua được nâng lên rõ rệt Đa số chức sắc, chức việc, tín đồ phấn khởi, tin tưởng trước những thành tựu đổi mới của đất nước; tín đồ các tôn giáo đã phát huy truyền thống yêu nước, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, đoàn kết chặt chẽ giữa đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo với đồng bào không theo tôn giáo, hăng hái tham gia các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và củng cố quốc phòng, đảm bảo an ninh trật tự, góp phần làm nên những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước ta

Quan điểm của Chính phủ Việt Nam nhất quán cho rằng tôn giáo - tín ngưỡng là nhu cầu tinh thần chính đáng của một bộ phận nhân dân, đồng bào các tôn giáo là một bộ phận của khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn

Trang 31

20

giáo; gìn giữ và phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những người có công với Tổ quốc và nhân dân vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.”

1.3 Chủ thể, đối tượng và nội dung quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo 1.3.1 Chủ thể và đối tượng quản lý

1.3.1.1 Chủ thể quản lý

Chủ thể quản lý nhà nước là các cá nhân hay tổ chức mang quyền lực Nhà nước trong quá trình tác động vào đối tượng quản lý Chủ thể quản lý nhà nước về tôn giáo bao gồm: Nhà nước, cơ quan Nhà nước, tổ chức và cá nhân được Nhà nước trao quyền nhân danh Nhà nước và cá nhân được Nhà nước trao quyền

Chủ thể cụ thể của quản lý nhà nước về tôn giáo là các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật trong hệ thống Chính phủ (hệ thống hành pháp)

từ Trung ương đến cơ sở Cụ thể:

+ Ở Trung ương là Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ (cơ quan tham mưu là Ban Tôn giáo Chính phủ thuộc Bộ Nội vụ)

+ Ở địa phương là Uỷ ban nhân dân các cấp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp tỉnh, thành, huyện và xã (cơ quan tham mưu, giúp việc là Ban Tôn giáo thuộc

Sở Nội vụ, Cán bộ công tác Tôn giáo thuộc Phòng Nội vụ, Công chức Văn phòng – Thống kê thuộc Ủy ban nhân dân xã)

1.3.1.2 Đối tượng quản lý

Đối tượng quản lý nhà nước về tôn giáo bao gồm hoạt động của các tín đồ, chức sắc, nơi thờ tự, đồ dùng việc đạo, cơ sở vật chất và xã hội của tôn giáo và địa điểm sinh hoạt, gồm năm mặt quản lý:

Thứ nhất, mỗi tín đồ đều có hai mặt thống nhất với nhau: mặt công dân và mặt tín đồ (thống nhất chứ không đồng nhất) Đã là tín đồ trước hết phải là công dân, bình đẳng trước pháp luật, có quyền và nghĩa vụ công dân, còn mặt tín đồ thì

Trang 32

21

có đặc điểm sau: là người có tín ngưỡng, tôn giáo, có niềm tin, tình cảm, đời sống tâm linh ở nhiều mức độ khác nhau, có nghĩa vụ và quyền lợi do Giáo hội quy định (trong giáo luật, trong lễ nghi – đó là cái riêng của họ) Trong quản lý phải lưu ý hai điểm này

Thứ hai, mỗi chức sắc tôn giáo có sự thống nhất giữa các mặt sau đây, (nhưng nó không đồng nhất):

+ Mặt công dân, có hai đặc điểm: phần lớn họ là người chuyên lo việc đạo, không trực tiếp lao động sản xuất, họ bình đẳng trước pháp luật về quyền và nghĩa

vụ công dân

+ Mặt tín đồ, họ được giáo hội bổ nhiệm các phẩm trật khác nhau, có quyền

uy khác nhau tùy theo phẩm trật, đạo hạnh, năng lực hành đạo

+ Mặt hành đạo, tùy thuộc vào giáo hội bổ nhiệm, các phẩm trật khác nhau,

họ có quyền uy khác nhau trong hành đạo

+ Mặt đại diện, họ đại diện ở những mức độ khác nhau trong sứ mệnh của mình ở từng tôn giáo khác nhau (thay mặt cho Đấng tối cao, Giáo hoàng, Giáo xứ…)

+ Mặt quản lý, họ có đặc điểm: chăn dắt tín đồ thông qua quá trình là mục

vụ, họ quản lý hành chính đạo theo thẩm quyền (giáo phận, giáo xứ…) Có sự thống nhất giữa năm mặt nhưng không đồng nhất

Thứ ba, đặc điểm nơi thờ tự phải thống nhất:

+ Mặt vật chất: xây dựng theo kiểu kiến trúc nào

+ Mặt tôn nghiêm: nơi thờ tự phải tôn nghiêm Vì đây là nơi hiện diện của thần quyền, nơi bái vọng, nơi diễn ra các hoạt động nghi lễ nên phải sạch sẽ, văn minh Khi họ đề nghị cho tu bổ, chính quyền phải tạo điều kiện

+ Mặt trụ sở: nơi diễn ra các hoạt động hành chính đạo

Trang 33

lễ trọng, các phép bí tích, các việc bồi linh khác nhau…)

Thứ năm, đặc điểm về đồ dùng việc đạo: đồ dùng việc đạo có sự thống nhất giữa mặt vật chất (gồm kinh sách, tượng, bài vị, tranh ảnh, trống kèn, chuông mõ…được làm bằng các chất liệu vật chất) và mặt biểu đạt (tức là biểu đạt một nội dung nào đó gắn với sinh hoạt tôn giáo)

1.3.2 Nội dung quản lý nhà nước về tôn giáo

Cơ chế thực hiện, điều kiện đảm bảo hiệu quả quản lý nhà nước về tôn giáo phải căn cứ vào Luật tín ngưỡng, tôn giáo đã được Quốc hội thông qua ngày 18 tháng 11 năm 2016 (Trước đây là Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004)

Nội dung quản lý nhà nước về tôn giáo theo Luật tín ngưỡng, tôn giáo gồm các nội dung chính như sau:

1 Xây dựng chính sách, ban hành văn bản quy phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo

2 Quy định tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

3 Tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo

4 Phổ biến, giáo dục pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo

5 Nghiên cứu trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo; đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ, công chức, viên chức làm công tác tín ngưỡng, tôn giáo

6 Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật

về tín ngưỡng, tôn giáo

7 Quan hệ quốc tế trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo

Trang 34

+ Quản lý việc thuyên chuyển nơi hoạt động của các chức sắc, nhà tu hành

- Về mặt hoạt động tôn giáo:

+ Quản lý việc đăng ký chương trình, hoạt động tôn giáo hàng năm của tổ chức tôn giáo cơ sở

+ Quản lý việc đăng ký người vào tu

+ Quản lý việc tổ chức các Hội nghị, Đại hội của tổ chức tôn giáo

+ Quản lý các cuộc lễ, giảng đạo, truyền đạo của các tổ chức tôn giáo, chức sắc, nhà tu hành diễn ra ngoài cơ sở tôn giáo

+ Quản lý hoạt động tôn giáo của các chức sắc, nhà tu hành tại cơ sở tôn giáo được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh

+ Quản lý việc cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới công trình tôn giáo, công trình phụ trợ thuộc cơ sở tôn giáo

Trang 35

24

+ Quản lý việc tổ chức quyên góp của các cơ sở, tổ chức tôn giáo

+ Quản lý mối quan hệ quốc tế của các tổ chức tôn giáo, tín đồ, nhà tu hành, chức sắc

1.3.3 Phương thức quản lý nhà nước về tôn giáo

1.3.3.1 Quản lý bằng công cụ pháp luật, chính sách

Quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân và do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; đã đòi hỏi phải tăng cường xây dựng, hoàn thiện không ngừng hệ thống chính sách, pháp luật Nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo và liên quan đến tôn giáo Hệ thống chính sách, pháp luật tôn giáo hoàn chỉnh không chỉ tạo ra hành lang pháp lý để mọi công dân và mọi tổ chức sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật Nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo; mà còn là một công cụ hữu dụng để các chủ thể quản lý nhà nước điều chỉnh mọi thể nhân tôn giáo và các pháp nhân tôn giáo trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật Nhà nước Mặt khác, hệ thống chính sách, pháp luật tôn giáo hoàn chỉnh còn là cơ sở pháp lý để xây dựng hoàn chỉnh bộ máy quản lý nhà nước về tôn giáo ở các cấp theo quy định trong chính sách, pháp luật Nhà nước

Thực tiễn quản lý nhà nước đối với tôn giáo của các nước trên thế giới cũng như ở nước ta từ năm 1946 đến nay (năm ra đời bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta) đã chứng minh quá trình xây dựng chính sách, pháp luật quản lý nhà nước đối với tôn giáo là một nội dung cơ bản nhất trong nội dung quản lý nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo Có thể khẳng định rằng: Nhà nước không có pháp luật, chính sách quản lý nhà nước đối với tôn giáo thì Nhà nước không có cơ sở pháp lý để thực hiện chức năng quản lý xã hội của mình trong lĩnh vực tôn giáo

Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta được cụ thể hóa bằng những nội dung sau:

+ Các tôn giáo ở Việt Nam được hoạt động tự do trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật Nhà nước Việt Nam

Trang 36

25

+ Một tôn giáo ở Việt Nam muốn hoạt động hợp pháp phải đáp ứng đủ những tiêu chí cơ bản sau: có tín đồ tự nguyện tin theo; có giáo sĩ hướng dẫn việc đạo; có tôn chỉ mục đích hoạt động không trái với pháp luật Nhà nước Việt Nam; có

hệ thống giáo lý, giáo luật phù hợp; có nơi thờ tự đảm bảo vệ sinh, an toàn; không hoạt động mê tín dị đoan làm tổn hại đến tinh thần, vật chất, sức khỏe của tín đồ và làm ảnh hưởng đến những quyền cơ bản của người khác và phải đăng ký hoạt động với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

+ Mọi công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật Nhà nước Việt Nam xử lý bằng pháp luật đối với bất kỳ một công dân Việt Nam nào vi phạm pháp luật, bất kể công dân đó theo tôn giáo hay không theo tôn giáo và xử lý bằng pháp luật mọi hành vi lợi dụng tôn giáo, mạo danh tôn giáo để gây rối trật tự xã hội, làm phương hại đến an ninh quốc gia, tổn hại tinh thần, vật chất, văn hóa, sức khỏe của công dân

+ Các tôn giáo ở Việt Nam được Nhà nước khuyến khích tham gia các hoạt động giáo dục, từ thiện, nhân đạo theo sự hướng dẫn của các cơ quan chuyên môn

+ Các tôn giáo được mở trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành, được cử người

đi đào tạo ở nước ngoài Các tổ chức, cá nhân tôn giáo được tạo điều kiện thuận lợi

để giao lưu quốc tế theo quy định của pháp luật

Khoa học quản lý xác định rằng bộ máy quản lý là một thực thể hay một hệ thống những hoạt động trên một lĩnh vực nhất định được kết hợp với nhau một cách

có ý thức để đi đến mục tiêu chung và hoạt động quản lý phải có con người và do con người làm chủ thể Nếu pháp luật là các quy tắc xã hội do Nhà nước đặt ra, Nhà nước tổ chức thực hiện; thì Nhà nước phải có công cụ của mình để thực hiện các quy tắc xã hội đó Để phát huy được quyền lực, năng lực, hiệu lực và hiệu quả quản

lý nhà nước đối với tôn giáo, việc tiến hành xây dựng và không ngừng hoàn thiện

bộ máy quản lý nhà nước đối với tôn giáo ở các cấp chính quyền là một nội dung quan trọng của quản lý nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo Bộ máy đó vừa phải đảm bảo thực hiện được các chức năng của Nhà nước ta trong lĩnh vực lập pháp, tư pháp

Trang 37

26

và hành pháp; vừa phải phát huy được nguyên tắc quản lý nhà nước theo ngành kết hợp với quản lý nhà nước theo địa bàn lãnh thổ đối với mọi tôn giáo theo quy định của pháp luật

1.3.3.2 Phương pháp giáo dục, thuyết phục

Nếu như trong quản lý hành chính nhà nước nói chung, mệnh lệnh hành chính là phương pháp chủ yếu thì phương pháp giáo dục, thuyết phục như là tiền đề cần thiết cho mệnh lệnh hành chính Quá trình làm cho đối tượng hiểu, đồng thuận, thực hiện quyết định hành chính của chủ thể quản lý theo thẩm quyền là cực kỳ quan trọng Có lẽ vì thế mà Đảng ta đã nêu thành quan điểm chỉ đạo công tác tôn giáo nói chung: “Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng” [35, tr.49] Trong hoạt động quản lý hành chính thì lợi ích của chủ thể quản

lý và đối tượng quản lý là nhất trí, cho nên hoạt động quản lý thể hiện ý chí và phục

vụ lợi ích của nhân dân lao động Mặt khác, những nhiệm vụ và mục tiêu quản lý hành chính nhà nước không thể đạt được nếu thiếu sự ủng hộ rộng rãi và tích cực của quần chúng, đồng thời đạt hiểu quả cao trên cơ sở động viên và tạo điều kiện cho quần chúng nhân dân tham gia vào giải quyết những nhiệm vụ đặt ra trước mắt Thông qua phương pháp thuyết phục, các chủ thể của quản lý hành chính nhà nước giáo dục cho mọi công dân nhận thức đúng đắn về kỷ cương xã hội, kỷ luật nhà nước và động viên họ tự giác thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước và xã hội

1.3.3.3 Quản lý bằng công cụ hành chính-kinh tế

Phương pháp hành chính là các phương pháp tác động dựa vào các mối quan

hệ tổ chức của hệ thống quản lý Phương pháp này có vai trò rất to lớn trong công tác quản lý nhằm xác lập trật tự, kỷ cương trong tổ chức quản lý; giải quyết các vấn

đề đặt ra trong quản lý một cách nhanh chóng và là khâu nối các phương pháp khác thành một hệ thống Trong bất kỳ một tổ chức nào cũng hình thành những mối quan

hệ tổ chức trong hệ thống quản lý.Về phương diện quản lý nó biểu hiện thành mối quan hệ giữa quyền uy và phục tùng Người quản lý dử dụng quyền lực của mình để buộc đối tượng quản lý phải thực hiện nhiêm vụ Cách thức tác động trực tiếp của

Trang 38

1.4 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về tôn giáo

1.4.1 Kinh nghiệm của một số địa phương

1.4.1.1 Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn thịxã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình

Thị xã Ba Đồn có diện tích tự nhiên 16.318,28 ha, 115.196 nhân khẩu Thị xã

Ba Đồn có 16 đơn vị hành chính cấp xã (06 xã và 10 phường) Địa giới hành chính thị xã Ba Đồn có phía Đông giáp Biển Đông, Tây giáp huyện Tuyên Hóa, Nam giáp huyện Bố Trạch, Bắc giáp huyện Quảng Trạch

Từ ngày thành lập cho đến nay, thị xã Ba Đồn luôn giữ được vị trí quan trọng

ở phía bắc của tỉnh Qua hơn 04 năm thành lập và phát triển, ngày nay thị xã Ba Đồn đã trở thành trung tâm văn hóa, dịch vụ, thương mại, xuất nhập khẩu, đầu tư và sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp ở cửa ngỏ phía bắc của tỉnh Quảng Bình

Trên địa bàn thị xã Ba Đồn có 14/16 xã, phường có đồng bào theo đạo Công giáo với số lượng khoảng 37.250 giáo dân, chiếm 33% dân số thị xã, sinh hoạt tại

12 giáo xứ, 34 giáo họ

Tổ chức tôn giáo đã xây dựng 34 cơ sở thờ tự (trong đó: 12 nhà thờ giáo xứ,

22 nhà thờ giáo họ)

Trang 39

28

Trong thời gian vừa qua tình hình hoạt động của các tôn giáo trên địa bàn thị

xã Ba Đồn có nhiều diễn biến phức tạp, nhưng công tác quản lý nhà nước về tôn giáo đã thu được nhiều kết quả tích cực, đó là: hoạt động tôn giáo theo đúng pháp luật của Nhà nước, điều lệ, lễ nghi của các tôn giáo; các tín đồ đều thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, tích cực lao động, sản xuất, góp phần xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội của Thị xã Thị xã

Ba Đồn cũng đã triển khai thực hiện đảm bảo các chính sách đối với các chức sắc, chức việc và bà con giáo dân, qua đó góp phần làm ồn định tình hình chính trị, trật

tự an toàn xã hội và phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn Thị xã…Song bên cạnh những thành tựu đó, Ủy ban nhân dân Thị xã cũng khẳng định vẫn còn những hạn chế, tồn tại nhất định và cần được khắc phục kịp thời để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tôn giáo trên địa bàn như khắc phục và tìm ra các giải pháp tối

xã hội cho nhân dân, đặc biệt là nhân dân có đạo

Năm là, xử lý các tình huống tôn giáo phải thông qua công tác vận động quần chúng và tranh thủ đội ngũ cốt cán tôn giáo trong từng khu phố, tổ dân phố

Trang 40

Quảng Trạch có vị trí phía Bắc giáp với tỉnh Hà Tĩnh, phía Nam giáp huyện

Bố Trạch, phía Tây giáp huyện Tuyên Hoá và phía Đông giáp Biển Đông Huyện có diện tích tự nhiên hơn 612 km2, tổng dân số gần 199 ngàn người, mật độ dân số bình quân khoảng 325 người/km2 Là huyện đồng bằng nhưng Quảng Trạch vẫn có

cả rừng và biển, nhiều nơi rừng chạy sát bờ biển Vùng đồng bằng tuy nhỏ nhưng có các hệ thống giao thông, sông ngòi đảm bảo thuận tiện cho quá trình phát triển kinh

tế

Huyện có hai con sông chính đó là Sông Gianh và Sông Roòn, đồng thời có một hệ thống suối nhỏ chằng chịt, có khả năng nuôi trồng thuỷ sản và xây dựng các đập hồ thuỷ lợi để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và công nghiệp, ổn định môi trường trong lành Ở huyện Quảng Trạch, lãnh đạo các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, cá đoàn thể xác định công tác tôn giáo là công tác được thường xuyên quan tâm

Tổng số giáo dân sinh hoạt tôn giáo tại huyện trên 20.000 người Trên địa bàn huyện có 7 giáo xứ, 23 giáo họ, 01 giáo điểm; 07 linh mục quản xứ, 01 linh mục quản họ, 207 thành viên hội đồng mục vụ (trong đó 87 thành viên hội đồng mục vụ giáo xứ và 120 thành viên hội đồng mục vụ giáo họ); 17 nhà thờ, trong đó có 02 nhà thờ xứ được xây dựng trong năm 2015 (nhà thờ giáo xứ Xuân Hòa xã Quảng Xuân

và nhà thờ giáo xứ Phù Kinh xã Phù Hóa) 01 nhà thờ họ giáo cũng được xây dựng trong năm 2015 đó là nhà thờ họ giáo Hậu Thọ thuộc xứ Phù Kinh

Bộ phận Tôn giáo trực thuộc Phòng Nội vụ Huyện đã phối hợp với các cơ quan, ban, ngành của Huyện làm tốt công tác tuyên truyền vận động đồng bào các tôn giáo luôn chấp hành chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vận động những người có uy tín trong đồng bào có đạo tích cực hướng dẫn tín đồ

Ngày đăng: 07/04/2021, 18:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Các Mác – Ph.Ănghen (1995), Các Mác – Ănghen toàn tập, tập 3, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Mác – Ănghen toàn tập
Tác giả: Các Mác, Ph.Ănghen
Nhà XB: NXB. Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
7. V.I.LêNin (1979), V.I.LêNin toàn tập, tập 17, NXB. Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: V.I.LêNin toàn tập
Tác giả: V.I.LêNin
Nhà XB: NXB. Tiến bộ
Năm: 1979
10. V.I.LêNin (1978), V.I.LêNin toàn tập, tập 3, NXB. Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: V.I.LêNin toàn tập, tập 3
Tác giả: V.I.LêNin
Nhà XB: NXB. Tiến bộ
Năm: 1978
12. V.I.LêNin (1979), V.I.LêNin toàn tập, tập 12, NSB. Tiến bộ, Mátxcơva 13. V.I.LêNin (1979), V.I.LêNin toàn tập, tập 17, NSB. Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: V.I.LêNin toàn tập
Tác giả: V.I.LêNin
Nhà XB: NSB. Tiến bộ
Năm: 1979
15. V.I.LêNin (1980), V.I.LêNin toàn tập, tập 33, NXB. Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: V.I.LêNin toàn tập
Tác giả: V.I.LêNin
Nhà XB: NXB. Tiến bộ
Năm: 1980
20. Hồ Chí Minh (1995), Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB. Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
21. Thái Văn Anh (2013), “Sinh viên Học viện Phật giáo Việt Nam dự định làm gì sau Tốt nghiệp”, Tạp chí Đạo Phật ngày này (số 37), tr.5 – 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh viên Học viện Phật giáo Việt Nam dự định làm gì sau Tốt nghiệp
Tác giả: Thái Văn Anh
Nhà XB: Tạp chí Đạo Phật ngày này
Năm: 2013
22. Ban Tôn giáo Chính phủ (2006), Các văn bản pháp luật quan hệ đến tín ngưỡng, tôn giáo, NXB. Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn bản pháp luật quan hệ đến tín ngưỡng, tôn giáo
Tác giả: Ban Tôn giáo Chính phủ
Nhà XB: NXB. Tôn giáo
Năm: 2006
24. Ban Tôn giáo Chính phủ và Phái đoàn Liên minh Châu Âu tại Việt Nam (2013), Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế giá trị di sản của đa dạng tôn giáo ở Việt Nam, Tư liệu Vụ Phật giáo – Ban Tôn giáo Chính phủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế giá trị di sản của đa dạng tôn giáo ở Việt Nam
Tác giả: Ban Tôn giáo Chính phủ, Phái đoàn Liên minh Châu Âu tại Việt Nam
Nhà XB: Tư liệu Vụ Phật giáo – Ban Tôn giáo Chính phủ
Năm: 2013
28. Nguyễn Trung Chính (2013), “Tổng kết 8 năm thực hiện Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo”, Tạp chí Công tác Tôn giáo (số 12), tr.25 – 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết 8 năm thực hiện Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo
Tác giả: Nguyễn Trung Chính
Nhà XB: Tạp chí Công tác Tôn giáo
Năm: 2013
29. PGS.TS. Hoàng Văn Chức (chủ biên, 2009). Giáo trình quản lý Nhà nước về Tôn giáo và Dân tộc, NXB. Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý Nhà nước về Tôn giáo và Dân tộc
Tác giả: PGS.TS. Hoàng Văn Chức
Nhà XB: NXB. Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2009
30. Ths. Bùi Hữu Dược (2012), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác tôn giáo”, Tạp chí Công tác Tôn giáo, số 12, tr.15 – 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác tôn giáo
Tác giả: Ths. Bùi Hữu Dược
Nhà XB: Tạp chí Công tác Tôn giáo
Năm: 2012
32. Đảng Cộng sản Việt Nam (1982), Văn kiện Đại hội V, tập 1, NXB. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội V, tập 1
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB. Sự thật
Năm: 1982
34. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội VII, NXB. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB. Sự thật
Năm: 1991
35. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội VIII, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB. Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
37. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Nghị quyết số 07NQ/TW ngày 7/11/1993 của Bộ Chính trị “Về Đại đoàn kết toàn dân tộc và tăng cường Mặt trận dân tộc thống nhất” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về Đại đoàn kết toàn dân tộc và tăng cường Mặt trận dân tộc thống nhất
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1993
38. Đảng Cộng sản Việt Nam (2010), Các Văn kiện trình Đại hội XI của Đảng – Tài liệu sử dụng tại Đại hội cấp huyện, cấp tỉnh và Trung ương, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Văn kiện trình Đại hội XI của Đảng – Tài liệu sử dụng tại Đại hội cấp huyện, cấp tỉnh và Trung ương
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB. Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
39. Giáo hội Phật giáo Việt Nam (2012), Giáo hội Phật giáo Việt Nam từ Đại hội đến Đại hội (1981 - 2012), NXB. Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo hội Phật giáo Việt Nam từ Đại hội đến Đại hội (1981 - 2012)
Tác giả: Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Nhà XB: NXB. Tôn giáo
Năm: 2012
40. Giáo hội Phật giáo Việt Nam (2012), Kỷ yếu Hội thảo kỷ niệm 30 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam (1981 - 2011), NXB. Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo kỷ niệm 30 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam (1981 - 2011)
Tác giả: Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Nhà XB: NXB. Tôn giáo
Năm: 2012
41. Giáo hội Phật giáo Việt Nam (2012), Đạo pháp, Dân tộc, Chủ nghĩa xã hội và Hòa bình, NXB. Tổng hợp, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo pháp, Dân tộc, Chủ nghĩa xã hội và Hòa bình
Tác giả: Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Nhà XB: NXB. Tổng hợp
Năm: 2012

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w