1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An (LV thạc sĩ)

122 523 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bànhuyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bànhuyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bànhuyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bànhuyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bànhuyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bànhuyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bànhuyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bànhuyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bànhuyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bànhuyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bànhuyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bànhuyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An (LV thạc sĩ)

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

-/ -

BỘ NỘI VỤ / HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

HOÀNG XUÂN THÁI

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Chuyên ngành: Quản lý công

Mã số: 60 34 04 03

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HOÀNG VĂN CHỨC

HÀ NỘI, NĂM 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn: "Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo bàn huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An" là công trình nghiên cứu khoa học

của riêng tôi

Nội dung của luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin của một số tác phẩm, tạp chí khoa học, kết quả nghiên cứu của các đề tài khoa học

Các số liệu trong Luận văn là trung thực, chính xác và có nguồn gốc cụ thể, rõ ràng Kết quả nghiên cứu trong luận văn đảm bảo tính khách quan, khoa học; các trích dẫn theo đúng quy định và chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác

Tác giả Luận văn

Hoàng Xuân Thái

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Quản lý công, tôi nhận đã nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn của quý thầy, cô giáo công tác tại Học viện Hành chính quốc gia Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo đã quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Hoàng Văn Chức- Người hướng dẫn khoa học, đã dành nhiều thời gian và tâm huyết, tận tình hướng dẫn nghiên cứu khoa học và giúp tôi hoàn thành luận văn chương trình thạc sỹ chuyên ngành Quản lý công

Tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, tạo điều kiện, hỗ trợ giúp đỡ của Khoa Nhà nước và Pháp luật, Khoa Quản lý nhà nước về Tài chính công, Khoa Tổ chức và Quản lý nhân sự, Khoa Quản lý nhà nước về Xã hội, Khoa Hành chính học, Khoa Lý luận cơ sở, Khoa Văn bản và Công nghệ hành chính, Khoa Quản lý nhà nước về Kinh tế, Bộ môn Ngoại Ngữ, Khoa sau Đại học Học viện Hành chính quốc gia và tập thể cán bộ, công chức tại UBND huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An

Tôi xin trân trọng cảm ơn các đồng chí Lãnh đạo, chuyên viên Phòng Nội vụ - UBND huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An và gia đình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi nghiên cứu và hoàn thành Luận văn này

Mặc dù có nhiều nỗ lực và cố gắng trong quá trình nghiên cứu nhưng luận văn vẫn còn một số thiếu sót, tác giả mong nhận được những đóng góp,

bổ sung từ phía độc giả và hy vọng được tiếp tục nghiên cứu toàn diện hơn, góp phần nhỏ bé vào công cuộc cải cách nền hành chính nước nhà hiện nay

Tác giả Luận văn

Trang 4

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

ANTT-ATXH An ninh trật tự - An toàn xã hội

Trang 5

MỤC LỤC

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG

TÔN GIÁO 15

1.1 NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1.1 Tín ngưỡng và hoạt động tín ngưỡng 15

1.1.2 Tôn giáo và hoạt động tôn giáo 16

1.1.3 Mê tín dị đoan 17

1.1.4 Quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo 17

1.2 SỰ CẦN THIẾT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO 19

1.2.1 Thực hiện vai trò của Nhà nước trong quản lý ngành, lĩnh vực 19 1.2.2 Ảnh hưởng của tín ngưỡng, tôn giáo trong phát triển KT-XH 21 1.3 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO 22

1.3.1 Chủ thể và đối tượng quản lý 22

1.3.2 Nội dung quản lý 25

1.3.3 Phương thức quản lý 34

1.4 KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG 38

1.4.1 Kinh nghiệm quản lý hoạt động tôn giáo ở huyện Nghi Lộc 39

1.4.2 Kinh nghiệm quản lý hoạt động tôn giáo ở huyện Con Cuông 40 1.4.3 Kinh nghiệm quản lý hoạt động tôn giáo tại tỉnh Quảng Bình 41 1.4.4 Bài học cho huyện Đô Lương 44

Tiểu kết Chương 1 46

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG 47

2.1 KHÁI QUÁT TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN ĐÔ LƯƠNG 47

2.1.1 Khái quát về vị trí đị lý và điều kiện tự nhiên 47

2.1.2 Về phát triển kinh tế 49

Trang 6

2.1.3 Về xã hội 49

2.2 HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG 50

2.2.1 Công giáo 50

2.2.2 Phật giáo 52

2.3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG 55

2.3.1 Xây dựng kế hoạch quản lý đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện Đô Lương 55

2.3.2 Xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật, chính sách đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện Đô Lương 57

2.3.3 Tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện Đô Lương 58

2.3.4 Phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện Đô Lương 60

2.3.5 Tổ chức bồi dưỡng cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo trên địa bàn huyện Đô Lương 61

2.3.6 Xét duyệt một số việc thuộc hành chính đạo 62

2.3.7 Thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạm liên quan đến hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện Đô Lương 63

2.4 ĐÁNH GIÁ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG 64

2.4.1 Kết quả đạt được 64

2.4.2 Hạn chế 68

2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 71

Tiểu kết Chương 2 74

Chương 3

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN 76

3.1 QUAN ĐIỂM VÀ MỤC TIÊU CÔNG TÁC TÔN GIÁO 76

3.1.1 Quan điểm 76

3.1.2 Mục tiêu 77

Trang 7

3.2.1 Một số vấn đề đặt ra trong QLNN đối với hoạt động tôn giáo

3.2.2 Xu hướng hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện Đô Lương, tỉnh

3.3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT

ĐỘNG TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG 90

3.3.1 Xây dựng, bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, chính

sách trong quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo 90

3.3.2 Kiện toàn tổ chức bộ máy và cán bộ, công chức làm công tác tôn

giáo các cấp trên địa bàn huyện Đô Lương 91

3.3.3 Đổi mới nội dung và phương thức tuyên truyền, vận động đối với

đồng bào có đạo trên địa bàn huyện Đô Lương 93

3.3.4 Phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần

cho đồng bào có đạo trên địa bàn huyện Đô Lương 94

3.3.5 Tăng cường phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước với các cơ

quan trong hệ thống chính trị về công tác tôn giáo trên địa bàn huyện Đô

Lương 96

3.3.6 Xây dựng, củng cố hệ thống chính trị cơ sở ở vùng tôn giáo trên

địa bàn huyện Đô Lương 97

3.3.7 Thanh tra, kiểm tra trong QLNN đối với các hoạt động tôn giáo

trên địa bàn huyện Đô Lương 100

3.4.1 Với Đảng, nhà nước, với các cơ quan chức năng ở TW 101

3.4.2 Với Tỉnh ủy, UBND tỉnh Nghệ An 102

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài luận văn

Tôn giáo là một sản phẩm của lịch sử C.Mác đã nhiều lần khẳng định: Con người sáng tạo ra tôn giáo chứ tôn giáo không sáng tạo ra con người

Tôn giáo là một thực thể khách quan của loài người nhưng lại là một thực thể có nhiều quan niệm phức tạp về cả nội dung lẫn hình thức biểu hiện Tôn giáo là hình thức, là niềm tin tác động lên cá nhân, cộng đồng Tôn giáo thường đưa ra các giá trị có tính tương đối làm mục đích cho con người vươn tới cuộc sống tốt đẹp và nội dung ấy được thể hiện bằng những hình thức, nghi thức, nghi lễ, luật lệ Người ta thường nói khi con người bế tắc không

có lối thoát thường tìm đến tôn giáo để được giải thoát

Tôn giáo là văn hóa và là một bộ phận cấu thành của văn hóa mỗi quốc gia nên tôn giáo có đóng góp đầu tiên là về văn hóa Tôn giáo khi du nhập vào mỗi quốc gia, nó đã đi trước vấn đề của toàn cầu hóa ngày nay là tạo ra sự giao lưu văn hóa giữa các nước với nhau Chính nó góp phần làm phong phú văn hóa nước sở tại bằng những gì văn minh tiến bộ mà tôn giáo ấy mang theo từ bên ngoài vào đồng thời cũng giới thiệu được đất nước, con người, văn hóa của nước chủ nhà ra thế giới bên ngoài

Trong cuốn “Ảnh hưởng của các tư tưởng tôn giáo đối với con người Việt Nam hôm nay” đã có nhận xét rất chính xác rằng: Nói đến những ảnh hưởng của văn hóa, tư tưởng phương Tây ở Việt Nam thì chắc chắn đạo Thiên Chúa là nhân tố đầu tiên trong sự ảnh hưởng này Và như vậy, trong lịch sử, tôn giáo luôn đóng vai trò những sứ giả đi đầu trong những cuộc viếng thăm, tiếp xúc giao lưu văn hóa giữa các dân tộc.[1]

Tôn giáo có vai trò góp phần củng cố hòa bình

GS Han King đã từng khẳng định: Không thể có hòa bình giữa các dân

Trang 9

không có xung đột tôn giáo nhưng hiềm khích, bạo động trong quá khứ không phải là không có, nhất là dưới thời Pháp thuộc hay chế độ của Ngô Đình Diệm Còn sau này là cạnh tranh, lôi cuốn tín đồ của nhau hay mâu thuẫn giữa tôn giáo lớn và tôn giáo nhỏ, giữa tôn giáo được Nhà nước công nhận và tôn giáo chưa hợp thức…

Đạo đức tôn giáo góp phần vào ổn định xã hội

Có một thời, một số người quan niệm tôn giáo là lạc hậu, là vật cản bước tiến của xã hội Trong không ít báo cáo của địa phương vùng có đồng bào tôn giáo nhất là Công giáo đều coi đó là lý do khó khăn, cản trở sự đi lên của địa phương Nhưng có thể phản biện, các nước tiên tiến, văn minh giàu có trên thế giới đều có tôn giáo Không thấy họ nói tôn giáo kìm hãm tiến bộ quốc gia Thậm chí, một số nước còn coi tôn giáo như là một cầu nối với thế giới để phát triển đất nước Vì vậy, nhà nước cần đổi mới chính sách để đáp ứng chủ trương xã hội hóa y tế, giáo dục để huy động sự đóng góp của các tôn giáo Tuy nhiên, cũng cần phải có hướng dẫn để các tôn giáo vận hành chặt chẽ hơn, tránh để xảy ra các vụ việc tiêu cực trong việc nuôi dạy trẻ mồ côi hiện nay

Ở Nghệ An nói chung và huyện Đô Lương nói riêng, tôn giáo là một trong những nhu cầu không thể thiếu trong đời sống nhân dân Tôn giáo đã góp phần tạo nên đa dạng văn hóa của địa phương, góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân Việc phát triển tôn giáo theo đúng hướng, đúng quy định của pháp luật còn góp phần giao lưu, đoàn kết trong nhân dân, tạo điều kiện ổn định để phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo là một nhiệm vụ quan trọng và có ý nghĩa rất quan trọng trong quản lý nhà nước nói chung, đặc biệt

là trong tình hình mới Các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng đều nhấn mạnh

Trang 10

"Tăng cường công tác quản lý nhà nước về tôn giáo" là một trong những giải pháp chủ yếu của công tác tôn giáo hiện nay

Trên địa bàn huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An hiện nay có 02 tôn giáo chính đang tồn tại, hoạt động và được pháp luật thừa nhận là Phật giáo và Công giáo Nhìn chung tuyệt đại đa số các tín đồ tôn giáo đều là những công dân sống tốt đời đẹp đạo

Trong những năm vừa qua, công tác quản lý nhà nước về tôn giáo trên địa bàn tỉnh Nghệ An nói chung và huyện Đô Lương nói riêng đã có nhiều tiến bộ và đạt được một số kết quả nhất định Tuy nhiên, hoạt động tôn giáo trên địa bàn vẫn còn xảy ra một số vụ việc nổi cộm như vụ việc ở Yên Khê, Con Cuông; vụ việc Trại Gáo ở Nghi Lộc Bên cạnh đó là trách nhiệm chưa cao của một số công chức làm công tác tôn giáo, lực lượng cốt cán; sự phối hợp giữa các ban, ngành, đoàn thể trong công tác tôn giáo còn thiếu tập trung; khả năng giải quyết tình huống và sự việc của một số cán bộ, công chức và địa phương còn thiếu linh hoạt Hoạt động tôn giáo ngày càng lớn mạnh và thông qua nhiều hình thức, tiềm ẩn nhiều cơ hội cho các cá nhân, tổ chức lợi dụng chính sách tôn giáo của Đảng và nhà nước để trục lợi và gây mất trật tự, đoàn kết trong nhân dân

Từ thực tế đó, việc chọn và nghiên cứu đề tài: " Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo bàn huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An" là một yêu cầu

tất yếu, khách quan và có tính cấp thiết về lý luận lẫn thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Tôn giáo luôn là một vấn đề nóng, phức tạp và nhạy cảm Hoạt động tôn giáo có ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội của rất nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới trong đó có Việt Nam Đó cũng là đề tài được rất nhiều học giả, các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Ở Việt

Trang 11

phải kể từ khi có Nghị quyết số: 24/NQ/TW (năm 1990) của Bộ Chính trị thì việc nghiên cứu tôn giáo ngày càng được quan tâm nhiều hơn với nhiều góc

Một số công trình liên quan trực tiếp đến công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo như:

TS Nguyễn Hữu Khiển (2001), Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trong điều kiện xây dựng Nhà nước dân chủ, pháp quyền Việt Nam hiện nay, NXB Công an nhân dân;

PGS.TS Nguyễn Đức Lữ (2008) Lý luận về tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam, NXB Tôn giáo;

PGS.TS Cao Văn Than – TS Đậu Tuấn Nam (2011), Một số vấn đề về tôn giáo và công tác tôn giáo của Đảng, Nhà nước hiện nay;

Nguyễn Thị Bình (2015),Quản lý nhà nước đối với hoạt động quan hệ quốc tế của các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ Quản lý công;

Trần Văn Tình (2015), Quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo tỉnh Trà Vinh, Luận văn Thạc sỹ Quản lý công;

Nguyễn Hồng Hải (2009), QLNN về tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sỹ Quản lý công;

Trang 12

Trần Thị Huyền (2010), Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ công chức làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo trong giai đoạn hiện nay, Luận văn Thạc sỹ Quản lý công

Nguyễn Hữu Có (2003), Quản lý nhà nước đối với dòng tu của đạo công giáo ở Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ Quản lý công

Lê Tiến Bộ (2015), QLNN đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, Luận văn Thạc sỹ Quản lý công

Trần Thị Hà (2012), QLNN đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện Sóc Sơn, Luận văn Thạc sỹ Quản lý công

Hà Thị Xuyên (2011), Hoàn thiện QLNN đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh hiện nay, Luận văn Thạc sỹ Quản lý công

Lê Xuân Quỳnh (2013), QLNN đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh Lào Cai trong giai đoạn hiện nay, Luận văn Thạc sỹ Quản lý công

Trần Thị Minh Nga (2009), Quản lý nhà nước đối với hoạt động của giáo hội Phật giáo Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ Quản lý công

Các công trình nêu trên đã đề cập nhiều khía cạnh khác nhau của vấn đề tôn giáo cả về lý luận lẫn thực tiễn Song hầu hết các công trình nghiên cứu trên chưa toàn diện, mang tính chất chung chung về lý luận, mang tính cục bộ và cụ thể ở các địa phương, vùng miền nghiên cứu Hiện nay chưa có công trình nghiên cứu tôn giáo nào làm sáng tỏ lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước

về hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An Kế thừa một số quan điểm có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn của các công trình nghiên cứu đi trước, đề tài này hy vọng sẽ phần nào làm sáng tỏ vấn đề quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích

Trang 13

đối với hoạt động tôn giáo, áp dụng trong quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An; từ đó đề xuất các giải pháp quản lý nhà nước nhằm tiếp tục hoàn thiện QLNN đối với các hoạt động tôn giáo trên dịa bàn huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

+ Phân tích làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo

+ Nghiên cứu, phân tích đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện Đô Lương tỉnh Nghệ An

+ Phân tích phương hướng và đề xuất một số giải pháp QLNN nhằm tiếp tục hoàn thiện QLNN đối với các hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An thời gian tới

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: các nội dung QLNN đối với hoạt động tôn giáo trên địa

bàn huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An theo quy định của pháp luật

- Về không gian: huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An

- Về thời gian: từ năm 2010 đến nay

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1.Về phương pháp luận

Luận văn nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng

và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác-Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo và QLNN đối với các hoạt động tôn giáo thời kỳ đổi mới

Trang 14

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài, tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

- Phương pháp sưu tầm số liệu, tư liệu;

- Phương pháp quan sát thực tế;

- Phương pháp phân tích;

- Phương pháp thống kê;

- Phương pháp tổng hợp;

- Phương pháp chuyên gia

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1.Về lý luận

Phân tích, tổng quan làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo Vận dụng trong QLNN đối với các hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An

+ Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong học tập, giảng dạy, nghiên cứu và cho các nhà quản lý trong lĩnh vực QLNN đối với các hoạt động tôn giáo

7 Kết cấu của luận văn

Trang 15

dung của luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1 Cơ sở khoa học quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn

giáo

Chương 2 Thực trạng quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo

trên địa bàn huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An

Chương 3 Phương hướng và giải pháp hoàn thiện QLNN đối với các

hoạt động tôn giáo trên dịa bàn huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An thời gian tới

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI

CÁC HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO

1.1 NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1.1 Tín ngưỡng và hoạt động tín ngưỡng

Tín ngưỡng

Ở nước ta hiện nay, khi nói tự do tín ngưỡng, chúng ta có thể hiểu đó là

tự do về ý thức hay tự do về tín ngưỡng tôn giáo Trong Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương về công tác tôn giáo ở nước ta, cụm từ “tín ngưỡng tôn giáo không phân biệt hai phạm trù tín ngưỡng và tôn giáo” [3]

Tín ngưỡng được đặt trong văn hóa tổ chức đời sống cá nhân: “Tổ chức đời sống cá nhân là bộ phận thứ hai trong văn hóa tổ chức cộng đồng Đời sống mỗi cá nhân trong cộng đồng được tổ chức theo những tập tục được lan truyền từ đời này sang đời khác (phong tục) Khi đời sống và trình độ hiểu biết còn thấp, họ tin tưởng và ngưỡng mộ vào những thần thánh do họ tưởng tượng ra (tín ngưỡng) Tín ngưỡng cũng là một hình thức tổ chức đời sống cá nhân rất quan trọng, từ tự phát lên tự giác theo con đường quy phạm hóa thành giáo lý, có giáo chủ, thánh đường… tín ngưỡng trở thành tôn giáo Ở xã hội Việt Nam cổ truyền, các tín ngưỡng dân gian chưa chuyển được thành tôn giáo theo đúng nghĩa của nó - mới có những mầm mống của những tôn giáo như thế - đó là Ông Bà, đạo Mẫu Phải đợi khi các tôn giáo thế giới như Phật, Đạo, Kitô giáo… đã được du nhập và đến thời điểm giao lưu với phương Tây, các tôn giáo dân tộc như: Cao Đài, Hòa Hảo mới xuất hiện” [61]

Hoặc nói theo Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO): Mỗi dân tộc, mỗi quốc gia cần có tự hào về quá khứ của mình để bảo vệ và phát triển văn hóa của mình vào kho tàng văn hóa nhân loại Sự đa

Trang 17

xuyên qua không gian và thời gian, phụ thuộc hoàn cảnh địa lý - lịch sử của từng quốc gia, từng dân tộc

Có một định nghĩa khác là: “Tín ngưỡng là không phải là niềm tin nói chung, mà nó là niềm tin đặc biệt Tín ngưỡng là gốc của tôn giáo Mọi tín ngưỡng, tôn giáo đều có một cái chung là thế giới bên kia khác với thế giới hiện thực mà con người đang sống” [23:9]

Hoạt động tín ngưỡng

Theo Pháp lệnh số: 21/2004/PL-UBTVQH11 của Ủy ban Thường vụ

Quốc hội: Về tín ngưỡng tôn giáo quy định: "Hoạt động tín ngưỡng là hoạt động thể hiện sự tôn thờ tổ tiên; tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng; thờ cúng thần, thánh, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội"(Điều 3)

1.1.2 Tôn giáo và hoạt động tôn giáo

Tôn giáo

Theo quan điểm của các nhà triết học duy tâm thì, tôn giáo - một hình thái ý thức xã hội, đã ra đời và vẫn có cơ sở để phát triển trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại, từ cuối thời kỳ công xã nguyên thuỷ cho đến tận bây giờ Còn một số nhà duy vật lại có quan điểm khác, trong tác phẩm Chống Duyhrinh, Ăngghen đã đưa ra những nhận định quan tôn giáo là sự phản ánh

hư ảo - vào trong đầu óc của con người - của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế

C.Mác đã khẳng định rằng: "con người sáng tạo ra tôn giáo”, "Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống

Trang 18

như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân"[30]

Trong quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, thì: Tôn giáo là một tổ chức, đại diện cho một cộng đồng người có chung một đức tin, theo một giáo lý hay một giáo chủ và có một kết cấu là tổ chức giáo hội [23:11]

Hoạt động tôn giáo

Theo Pháp lệnh số: 21/2004/PL-UBTVQH11 của Ủy ban Thường vụ

Quốc hội: Về tín ngưỡng tôn giáo quy định: “Hoạt động tôn giáo là việc truyền bá, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi, quản lý tổ chức của tôn giáo”

(Điều 3)

1.1.3 Mê tín,dị đoan

“Mê tín, dị đoan là tin vào những điều mơ hồ, nhảm nhí, không phù hợp với lẽ tự nhiên (tin vào bói toán, chữa bệnh bằng phù phép ) dẫn tới hậu quả xấu cho cá nhân, gia đình, cộng đồng về sức khoẻ, thời gian, tài sản, tính mạng.”[27]

Dưới giác độ quản lý nhà nước, “mê tín, dị đoan là khái niệm kép dùng

để chỉ một niềm tin mù quáng như: bói toán, gọi hồn,… và coi đó là những hiện tượng xã hội tiêu cực, khác với các chuẩn mực xã hội; là những gì trái với lợi ích xã hội, nó gây thiệt hại cho chính những người tin theo mê muội”.[23]

1.1.4 Quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo

Quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước về tôn giáo nói riêng

là hoạt động chức năng của nhà nước

Theo nghĩa rộng: quản lý nhà nước về tôn giáo là quá trình dùng quyền

lực nhà nước (cả lập pháp, hành pháp và tư pháp) theo quy định của pháp luật

để tác động điều chỉnh, hướng dẫn các hoạt động tôn giáo diễn ra phù hợp với

Trang 19

Theo nghĩa hẹp: là quá trình chấp hành và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp để điều chỉnh, hướng dẫn hoạt động các tôn giáo trong quy định của pháp luật

Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo là chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, hướng các hoạt động tôn giáo phục vụ lợi ích chính đáng của các tín đồ và phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Nhà nước quy định bằng pháp luật các hoạt động tôn giáo nhằm bảo đảm quyền bình đẳng giữa các công dân, các tổ chức xã hội trước pháp luật, hình thành khung pháp lý, làm cơ sở để các tôngiáo thực hiện hoạt động của mình trong khuôn khổ pháp luật

Các nguyên tắc quản lý nhà nước về tôn giáo:

Một là, nhà nước đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do

không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân; nghiêm cấm sự phân biệt đối xử vì

lý do tín ngưỡng, tôn giáo

Hai là, công dân có tín ngưỡng, tôn giáo hoặc không có tín ngưỡng, tôn

giáo đều bình đẳng trước pháp luật, được hưởng mọi quyền công dân và có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ công dân

Ba là, các hoạt động tôn giáo phải tuân thủ pháp luật của nhà nước

Cộng hoà XHCN Việt Nam

Bốn là, mọi hành vi vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mọi

hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chống lại nhà nước Việt Nam, ngăn cản tín đồ thực hiện nghĩa vụ công dân, phá hoại sự nghiệp đoàn kết toàn dân, làm tổn hại đến nền văn hoá lành mạnh của dân tộc và hoạt động mê tín

dị đoan đều bị xử lý theo pháp luật

Trang 20

Như vậy, quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo là quá trình tác động, điều hành, điều chỉnh các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo diễn ra theo dung quy định của pháp luật

1.2 SỰ CẦN THIẾT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO

1.2.1 Thực hiện vai trò của nhà nước trong quản lý ngành, lĩnh vực

“Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người

để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của nhà nước trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN”.[27]

Quản lý nhà nước là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội Quản lý nhà nước được hiểu theo hai nghĩa

Nhà nước có vai trò quan trọng nhất trong quản lý kinh tế - xã hội

Nhà nước và kinh tế: Nhà nước được quy định bởi kinh tế, do điều kiện

kinh tế quyết định Từ sự xuất hiện của nhà nước, bản chất, chức năng, hình thức, bộ máy nhà nước đều phụ thuộc vào đòi hỏi khách quan của cơ sở kinh

tế, không phụ thuộc tuyệt đối, chỉ tương đối thể hiện ở 2 phương diện:

- Nhà nước cùng các bộ phận khác của kinh tế tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế, thúc đẩy phát triển nhanh thông qua các chính sách kinh tế

có căn cứ khoa học và phù hợp với quy luật tiến hóa của nhân loại trong chừng mực nó phù hợp với lợi ích giai cấp thống trị

- Nhà nước có thể đóng vai trò tiêu cực, cản trở sự phát triển kinh tế Thể hiện chính sách kinh tế lỗi thời, không còn phù hợp với sự phát triển chung của thế giới, kìm hãm sự phát triển của quan hệ sản xuất tiến bộ

Trang 21

Trong một thời kỳ lịch sử nhất định, nhà nước đồng thời có tác động tích cực hoặc tiêu cực đối với kinh tế phụ thuộc vào khả năng nhận thức và nắm bắt kịp thời hoặc không kịp thời các phương diện khác nhau của quy luật vận động của kinh tế cũng như phụ thuộc vào lợi ích của giai cấp thống trị

Nhà nước và tổ chức chính trị- xã hội: Các tổ chức chính trị của xã hội

là những hình thức và phương diện bảo đảm thực hiện quyền lực chính trị trong xã hội có giai cấp

Trong các tổ chức chính trị xã hội, nhà nước là trung tâm vì: nhà nước

là tổ chức quyền lực chính trị công cộng đặc biệt, là tổ chức mà quyền lực của

nó bắt buộc đối với mọi người trong quốc gia thông qua pháp luật

Trong các tổ chức chính trị, Đảng chính trị có vai trò đặc biệt, là lực lượng có vai trò lãnh đạo, định hướng sự phát triển xã hội Các đảng chính trị

là tổ chức của các giai cấp, thể hiện lợi ích giai cấp và gồm những đại biểu tích cực nhất đấu tranh cho lợi ích giai cấp mình Đảng chính trị cầm quyền vạch ra chính sách lớn định hướng cho hoạt động của nhà nước, kiểm tra hoạt động Đảng viên trong việc thực hiện chính sách Đảng, các đảng viên giữ chức

vụ lãnh đạo trong bộ máy nhà nước

Nhà nước và tổ chức xã hội: Tổ chức xã hội có vai trò quan trọng tùy

thuộc vào quy mô, tính chất của tổ chức đó Quan trọng nhất: Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện chức năng nhiệm vụ khác nhau dưới sự lãnh đạo của đảng Chúng

có vai trò khác nhau trong đời sống chính trị Nhà nước và tổ chức xã hội có quan hệ chặt chẽ theo nguyên tắc hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau

Nhà nước và chính trị: Chính trị với tư cách hiện tượng phổ biến xác

định quan hệ giai cấp, tương quan lực lượng giai cấp, là sự biểu hiện tập trung của kinh tế trong xã hội có giai cấp Trong xã hội, nó là sợi dây liên kết giữa

Trang 22

nhà nước với cơ sở hạ tầng kinh tế với các bộ phận khác trong kiến trúc thượng tầng

Các tổ chức chính trị đều thông qua chính trị để tác động lẫn nhau, đồng thời tác động đến các bộ phận khác của kiến trúc thượng tầng cũng như tác động đến cơ sở kinh tế của xã hội

Nhà nước và pháp luật: Pháp luật là công cụ để nhà nước duy trì sự

thống trị, thực hiện chức năng, nhiệm vụ

Quyền lực của nhà nước dựa trên cơ sở pháp luật, được thực hiện thông qua pháp luật và bị hạn chế bởi pháp luật

1.2.2 Ảnh hưởng của tín ngưỡng, tôn giáo trong phát triển kinh

tế-xã hội

Ảnh hưởng tích cực

Tín ngưỡng - tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, cũng là một nhu cầu của xã hội Và một khi những nhu cầu ấy chưa được những hình thái khác của ý thức xã hội hoàn toàn thỏa mãn thì đối với một số tầng lớp xã hội thì tín ngưỡng - tôn giáo vẫn là nguồn gốc của giá trị đạo đức, niềm an ủi, sự nâng

đỡ về tâm lý

Đó là một hình thái ý thức xã hội và nhu cầu xã hội quan trọng không thể thiếu trong đời sống xã hội, một khi nhu cầu này được thỏa mãn thì nó là động lực góp phần thúc đẩy phát triển các nhu cầu khác, trong đó có phát triển kinh tế - xã hội

Tôn giáo không chỉ chuyên về các vấn đề tinh thần, đạo đức mà còn trực tiếp can dự vào các hoạt động kinh tế, kinh doanh của con người Dùng

uy tín, ảnh hưởng của mình để quyết định các quan hệ sở hữu, ủng hộ dạng hoạt động kinh tế này, phủ nhận dạng hoạt động kinh tế khác

Trang 23

Tôn giáo đã gắn cho quá trình kinh tế những cơ sở tư tưởng thích ứng với từng thời đại, tạo ra những kích thích về tinh thần cho hoạt động kinh tế

và những tiêu chí đạo đức cho hành vi kinh tế trong xã hội

Đạo đức tôn giáo góp phần tạo niềm tin và tâm lý cho xã hội nói chung

và tín đồ tôn giáo nói riêng để ổn định và phát triển kinh tế - xã hội

Tín ngưỡng, tôn giáo giúp con người đoàn kết, gắn bó, chia sẻ và giúp

đỡ lẫn nhau trong cuộc sống, trong xây dựng kinh tế, xã hội

bị hiểu sai lệch

Một số phần tử lợi dụng lòng tin tôn giáo tín ngưỡng của tín đồ, làm mê hoặc các tín đồ nhằm phục vụ mục đích cá nhân hòng trục lợi về kinh tế hoặc mưu đồ bất chính về chính trị gây mất ổn định tình hình chính trị, xã hội, ảnh hưởng không tốt đến phát triển kinh tế

1.3 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO

1.3.1 Chủ thể và đối tượng quản lý

Theo nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước, cơ quan trong hệ thống chính quyền có trách nhiệm quản lý tất cả các mặt của đời sống xã hội, trong

đó có cả hoạt động tôn giáo

Chủ thể quản lý: Chủ thể quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo

bao gồm các cơ quan nhà nước thuộc hệ thống hành pháp gồm: Chính phủ,

Trang 24

UBND các cấp ngoài ra có các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân được nhà nước trao quyền quản lý như Bộ Công an, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và môi trường, Ban Tôn giáo Chính phủ

Theo Luật tổ chức Chính phủ và Luật tổ chức Chính quyền địa phương

2015 hiện nay quy định thì chủ thể tham gia quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo hiện nay bao gồm:

Bảng 1.1 Chủ thể quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo

Cấp tỉnh

UBND Tỉnh (Phó Chủ tịch phụ trách văn -

xã)

Sở Nội vụ (Ban Tôn giáo)

(Chủ tịch UBND huyện)

Phòng Nội vụ (Phó Trưởng phòng phụ trách) Hoặc Phòng Tôn giáo

Trang 25

Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo là quá trình tác động, điều hành, điều chỉnh để các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo diễn ra theo đúng quy định của pháp luật Bao gồm:

- Tín đồ tôn giáo

Họ là những người tin theo một tôn giáo và được tổ chức tôn giáo thừa nhận Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo, với số lượng tín đồ tôn giáo chiếm 20% dân số cả nước Vì vậy quản lý nhà nước phải thể hiện sự tôn trọng và bảo đảm cho nhân dân thực hiện nhu cầu đó

Ở nước ta đa số tín đồ tôn giáo là nông dân và nhân dân lao động Họ là những con người cần cù, sáng tạo trong lao động, anh hùng, gan dạ trong chiến đấu Trong thời kỳ đổi mới, đồng bào có đạo luôn gắn bó với Đảng, Nhà nước, thực hiện “sống tốt đời đẹp đạo”, cùng đoàn kết xây dựng mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

- Nhà tu hành, chức sắc, chức việc tôn giáo

Nhà tu hành là tín đồ tôn giáo tự nguyện thực hiện thường xuyên nếp

sống riêng mà giáo lý, giáo luật của tôn giáo đó quy định

Chức sắc tôn giáo là những tín đồ tôn giáo có chức vụ, phẩm sắc trong

tôn giáo, được các tổ chức giáo hội đào tạo, bổ nhiệm, tấn phong vào các chức vụ, chức vị có thẩm quyền trong tổ chức tôn giáo Họ là những người lãnh đạo, hướng dẫn cho các tín đồ tôn giáo hành đạo theo pháp luật và giáo

lý, giáo luật

Chức việc tôn giáo là những tín đồ tôn giáo được chỉ định hoặc tập thể

tín đồ bầu vào các chức vị trong tổ chức cơ sở

Tất cả những người này đều là công dân, có quyền và nghĩa vụ như nhau trước pháp luật Thực hiện tốt pháp luật và hành đạo theo giáo lý, giáo luật của tôn giáo một cách hợp pháp

- Nơi thờ tự

Trang 26

Là nơi tôn thờ thần tượng, nơi giảng bài kinh, thuyết pháp, sinh hoạt của các tôn giáo Nơi thờ tự có sự thống nhất giữa: vật chất, sự tôn nghiêm, trụ sở và sinh hoạt tôn giáo

- Đồ dùng việc đạo, bao gồm: kinh, sách, tượng, bài vị, tranh ảnh, cờ,

đồ tế khí…mỗi đồ dùng có vai trò và vị trí khác nhau, sử dụng trong từng nghi lễ khác nhau trong sinh hoạt tôn giáo Trong đó, kinh, sách, tượng, bài

vị, đồ tế khí là quan trọng nhất

- Các cơ sở vật chất khác, bao gồm khuôn viên khu thờ tự, nhà cửa,

ruộng đất, cơ sở từ thiện, trường học…được các tổ chức tôn giáo sử dụng lâu dài và được pháp luật bảo hộ tính hợp pháp Đó được coi là tài sản của các tôn giáo, của các giáo hội cơ sở, nơi thực hiện các chức năng như: lao động sản xuất, sinh hoạt tôn giáo, từ thiện, và đây cũng là nơi diễn ra các hoạt động của các tôn giáo, tổ chức giáo hội cơ sở Những cơ sở vật chất này được Giáo hội giao trách nhiệm quản lý hay sử dụng cho chức sắc bản quyền

- Sinh hoạt tôn giáo là phạm trù rất rộng, bao gồm nhiều mặt trong các

hoạt động tôn giáo Nhìn chung mọi hoạt động tôn giáo đều có hai đặc điểm chính là về chủ thể có thể các thể nhân tôn giáo thực hiện đơn lẻ như đọc kinh, cầu nguyện hay do tổ chức tôn giáo thực hiện như Ban hành giáo, Ban

Hộ tự, Ban Chấp sự…Về diễn biến, các sinh hoạt tôn giáo tuân theo lề luật và nghi lễ nhất định như lễ đường, lễ trọng, các phép bí tích, các khóa hạ, giới đàn, bồi linh…Lề luật và lễ nghi của các tôn giáo chứa đựng trong các văn tự,

nó chỉ thể hiện ra thành các hành vi có thể đo đếm được thông qua các sinh hoạt tôn giáo

1.3.2 Nội dung quản lý

1.3.2.1 Xây dựng chiến lược, kế hoạch quản lý đối với hoạt động tôn giáo

Trang 27

Ngay từ buổi đầu thành lập, nhà nước rất quan tâm đến vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hoà trong phiên họp đầu tiên đã tuyên bố: Tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết, và nguyên tắc đó đã trở thành chính sách nhất quán xuyên suốt qua mọi thời kỳ của cách mạng Việt Nam

Chính sách tôn trọng và bảo đảm tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi công dân được xác định ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và được bổ sung, hoàn thiện qua các bản Hiến pháp năm

1959, năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, chính sách tôn giáo của Việt Nam tiếp tục được khẳng định và ngày càng được cụ thể hoá, tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động tôn giáo nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, bảo đảm sự đoàn kết, hòa hợp giữa cộng đồng những người có tín ngưỡng, tôn giáo và những người không có tín ngưỡng, tôn giáo; giữa cộng đồng những người có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau

Từ những năm 90 của thế kỷ XX trở lại đây, trước sự phát triển của đất nước, tình hình tôn giáo ở Việt Nam cũng có nhiều thay đổi Nhiều quan điểm, chủ trương về công tác tôn giáo thể hiện trong các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng Cộng sản Việt Nam trực tiếp chỉ đạo giải quyết vấn đề tôn giáo trong thời kỳ này đã được ban hành Thể chế các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, Pháp luật về tôn giáo không ngừng được xây dựng, sửa đổi bổ sung và hoàn thiện

Văn bản quy phạm pháp luật có điều chỉnh lĩnh vực tôn giáo không những tăng nhanh về số lượng, mà còn phong phú và đa dạng hơn về hình thức Nếu trước đây văn bản pháp luật tôn giáo được ban hành dưới hình thức

Trang 28

Sắc lệnh, Nghị quyết, Sắc luật, Nghị định thì giai đoạn này nhiều Bộ luật, Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Quyết định, Thông tư, Chỉ thị đã đựơc ban hành Nội dung các văn bản quy phạm pháp luật luôn được chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với tình hình thực tiễn

1.3.2.2 Xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật, chính sách đối với hoạt động tôn giáo

Dựa trên cơ sở các chiến lược, kế hoạch quản lý đối với hoạt động tôn giáo, nhà nước đã xây dựng và ban hành hành các văn bản pháp luật để quản

lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo

Nghị định số: 69/1991NĐ-HĐBT, ngày 21/3/1991 về các hoạt động tôn giáo của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) là văn bản đầu tiên đã đề cập tương đối toàn diện các lĩnh vực hoạt động tôn giáo Ngoài nội dung kế thừa các văn bản quy phạm pháp luật trước đó (Sắc lệnh 234/SL của Chính phủ ngày 14/6/1955 về vấn đề tôn giáo, Nghị quyết số: 297/NQ của Chính phủ ngày 11/11/1977 về một số chính sách đối với tôn giáo, Nghị quyết số: 25-NQ/TW ngày 12/3/2003 ), Nghị định còn chỉnh sửa, bổ sung một số nội dung mới

Trước yêu cầu của tình hình mới, ngày 19/4/1999, Chính phủ ban hành Nghị định số: 26/1999/NĐ - CP về các hoạtđộng tôn giáo, thay thế Nghị định số: 69/HĐBT

Trong thời gian qua, pháp luật về tôn giáo của Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể Trong mỗi giai đoạn, pháp luật về tôn giáo đã kịp thời thể chế hoá những chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước Việt Nam đối với tôn giáo Nội dung pháp luật về tôn giáo khẳng định chính sách nhất quán tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân; nghiêm cấm mọi hành vi lợi dụng tôn giáo để phá hoại khối đại đoàn kết

Trang 29

mới đất nước, pháp luật về tôn giáo đã có những đóng góp quan trọng trong việc củng cố sự đoàn kết, phát huy sức mạnh nội lực của toàn dân tộc trong phát triển kinh tế và giữ vững ổn định chính trị - xã hội

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm

1992 và thể chế hoá những quan điểm của Đảng trong Nghị quyết về công tác

tôn giáo, ngày 18/6/2004, Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (từ đây xin được

viết tắt là Pháp lệnh) đã được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Khoá XI thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 15/11/2004 Sự kiện quan trọng này đánh một dấu mốc lịch sử trên con đường hoàn thiện pháp luật điều chỉnh lĩnh vực hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam

Pháp lệnh có 6 chương, 41 điều, đã xác định rõ quyền và nghĩa vụ của các cá nhân, tổ chức tôn giáo, trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động tôn giáo; tôn trọng và bảo đảm nguyên tắc những việc nội bộ của các tổ chức tôn giáo do các tôn giáo tự giải quyết theo Hiến chương, Điều lệ của các tôn giáo đã được nhà nước công nhận Đồng thời xác định, Chính phủ Việt Nam tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc gia nhập khi có sự khác nhau giữa quy định của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo

và các điều ước đã được Việt Nam kí kết hoặc tham gia

Công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật về tôn giáo được nhà nước quan tâm thực hiện và ngày càng hoàn thiện khung pháp

lý Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo – Pháp lệnh số: 21/2004/PL-UBTVQH11 ngày 18/6/2004; Chính phủ ban hành Nghị định số: 22/NĐ-CP ngày 01/3/2005 hướng dẫn thi hành một số điều Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo; Chỉ thị số: 01/2005/CT-TTg ngày 04/02/2005 của Thủ tướng Chính phủ về một số công tác đối với đạo Tin lành; Nghị định

Trang 30

số: 92/2012/NĐ-CP ngày 08/11/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (Thay thế Nghị định số: 22/NĐ-

CP ngày 01/3/2005)

Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam quy định:

“1 Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật

2 Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

3 Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật” (Điều 24)

Ngày 18/11/2016, Quốc hội khóa 14 đã ban hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo số 21/2004/UBTVQH11 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này

có hiệu lực thi hành

Ngoài bản Hiến pháp thì các văn bản luật, văn bản quy phạm pháp luật nêu trên là cơ sở và công cụ pháp lý quan trọng để đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không theo tín ngưỡng, tôn giáo của công dân Đồng thời đây cũng là cơ sở pháp lý để cơ quan nhà nước đảm bảo hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng Bên cạnh đó hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật trên còn đảm bảo được tính tương thích của pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế (những điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia) về điều chỉnh quyền con người trong đó có quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo

1.3.2.3 Tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo

Chính phủ thống nhất quản lý các lĩnh vực kinh tế - chính trị - văn hóa – xã hội, trong đó có hoạt động tôn giáo

Trang 31

Bộ Nội vụ - Cơ quan của Chính phủ, tham mưu, giúp Chính phủ quản

lý nhà nước trong lĩnh vực hoạt động tôn giáo như: tham gia đóng góp xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về tôn giáo Ban Tôn giáo Chính phủ - Cơ quan của Bộ Nội vụ, tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Nội vụ quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo

Các Bộ, ngành khác có liên quan phối hợp với Bộ Nội vụ trong quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo (Bộ Công an, Bộ Văn hóa, Thể thao và

Du lịch, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam…)

Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở địa phương (Trong đó: Ban Tôn giáo - Sở Nội vụ là cơ quan chuyên môn thực hiện chức năng tham mưu giúp UBND tỉnh, thành phố quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo; Phòng Nội vụ là phòng chuyên môn thực hiện chức năng tham mưu giúp UBND huyện, quận, thị xã trong quản lý công chức, viên chức, xây dựng chính quyền, thi đua khen thưởng, quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở địa phương; còn ở UBND xã, thị trấn

có các công chức chuyên trách giúp Chủ tịch UBND quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo)

1.3.2.4 Phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo

Mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan nhà nước với UBMTTQ và các

tổ chức đoàn thể có liên quan, UBND các tỉnh (thành phố), huyện (quận, thị xã), xã (phường, thị trấn) về công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo trên địa bàn phải tuân thủ các chủ trương của Đảng, pháp luật, chính sách nhà nước về công tác tôn giáo nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo nói riêng

Trang 32

Hoạt động phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức dựa trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước và các tổ chức đó nhằm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ nhà nước giao; đồng thời phát huy tính chủ động, sáng tạo và thống nhất cao trong quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo

Các chủ trương, đề án, chương trình, kế hoạch, nội dung thực hiện về công tác tôn giáo và phương hướng giải quyết các vấn đề, vụ việc liên quan đến tôn giáo cần phải có ý kiến thống nhất của cơ quan chủ trì với cơ quan quản lý nhà nước và UBMTTQ, chính quyền địa phương trước khi tham mưu,

đề xuất phương án, xin ý kiến chỉ đạo của cơ quan cấp trên

Đảm bảo chế độ bảo mật thông tin về hồ sơ, tài liệu và các thông tin lien quan theo quy định

Tổ chức công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo

Tổ chức công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ làm công tác tôn giáo phải thường xuyên và đặc biệt chú trọng cán bộ cơ sở Đội ngũ nhân sự làm công tác tôn giáo là những người có bản lĩnh chính trị vững vàng, có chuyên môn nghiệp vụ đồng thời phải hiểu biết về tôn giáo và có kiến thức toàn diện

Công tác đào tạo, bồi dưỡng được thực hiện bằng nhiều hình thức như cung cấp tài liệu, tập huấn, tham gia các lớp học ngắn hạn, dài hạn về quản lý nhà nước nói chung và quản lý hoạt động tôn giáo nói riêng

1.3.2.5 Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm liên quan đến hoạt động tôn giáo

Hoạt động tín ngưỡng tôn giáo không chỉ thuần túy nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của các tín đồ, chức sắc, nhà tu hành mà còn liên quan đến các lĩnh vực đời sống xã hội Mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội và mọi công dân trong đời sống xã hội đều phải tuân

Trang 33

thủ các quy định của pháp luật Tôn giáo và tất cả các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng ở bất kỳ quốc gia nào cũng không thể đứng ngoài hệ thống pháp luật

Đại hội Đại biều toàn quốc khóa XI của Đảng khẳng định: tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng trong giai đoạn mới của đất nước, động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc tín đồ sống tốt đời đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Quan tâm, tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được nhà nước công nhận, đúng quy định của pháp luật Chủ động phòng ngừa, đấu tranh với hành vi lợi dụng tôn giáo, để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toán dân tộc

Báo cáo chính trị khóa XI tại Đại hội Đại biểu lần thứ XII nhấn mạnh: tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo Quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được nhà nước công nhận, theo quy định của pháp luật, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Đồng thời chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc hoặc những hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trái quy định của pháp luật

Để thực hiện tốt chủ trương, chính sách tôn giáo theo tinh thần của Nghị quyết Đại hội khóa XII, trong thời gian tới, cả hệ thống chính trị cần thực hiện đồng bộ và có hiệu quả các giải pháp cụ thể, trong đó có công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạm có liên quan đến tôn giáo

Thanh tra, kiểm tra đối với hoạt động tôn giáo nhằm đảm bảo được quyền tự do tín ngưỡng của công dân, đảm bảo cho các hoạt động tôn giáo diễn ra bình thường theo đúng quy định của pháp luật; tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng nhân dân, tín đồ, chức sắc, nhà tu hành để biết, hiểu rõ các

Trang 34

quan điểm, chính sách, pháp luật về tín ngưỡng tôn giáo của Đảng, nhà nước; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các tôn giáo

Qua thanh tra, kiểm tra để phát hiện và kịp thời xử lý những sai phạm trong hoạt động tôn giáo cũng như trong công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo nhằm nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả trong chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và nhà nước đã quy định

1.3.2.6 Xét duyệt một số việc thuộc hành chính đạo

Hàng năm, cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành xét duyệt các chương trình hành đạo thường xuyên và đột xuất của các tôn giáo Định kỳ hàng năm các tôn giáo đăng ký chương trình hoạt động trong năm của tôn giáo, tổ chức tôn giáo cho cơ quan chính quyền địa phương Chương trình hoạt động phải nêu rõ: thời gian, địa điểm, thành phần tham gia, nội dung, mục đích của chương trình hoạt động

Ngoài ra còn có việc đăng ký con dấu; làm con dấu mới; tách, lập, nhập

họ đạo; phong chức sắc, phẩm hàm, điều chuyển chức sắc trung, cao cấp; các hội đoàn tôn giáo… đều phải tuân thủ theo quy định của pháp luật

- Xét duyệt chương trình hành đạo thường xuyên và đột xuất

Những văn bản quy phạm pháp luật hiện hành quy định: những hoạt động tôn giáo, vì lợi ích chính đáng và hợp pháp của tín đồ được nhà nước đảm bảo, những hoạt động tôn giáo vì lợi ích Tổ quốc và nhân dân được khuyến khích Tín đồ có quyền tiến hành các nghi thức thờ cúng, cầu nguyện tại gia đình và tham gia các hoạt động tôn giáo tại nơi thờ tự

Tuy nhiên, trên thực tế một số hoạt động trái pháp luật với tập quán nhiều lúc còn diễn ra, “lồng” vào các nghi thức tôn giáo, cần phải nhắc nhở, ngăn chặn hoặc giải quyết bằng những phương pháp hành chính

Những hoạt động có tính tập quán, tôn giáo nhưng bỏ qua các thủ tục

Trang 35

hôn, không li dị theo luật… thì các tôn giáo cũng như các chức sắc, tín đồ phải đảm bảo tuân thủ luật pháp, vì tôn trọng luật pháp là đảm bảo quyền, lợi ích của toàn dân Ngoài những sinh hoạt tôn giáo thông thường, tôn giáo còn

có những hoạt động bất thường, đột xuất Đó là những hoạt động không có trong danh sách chương trình đăng ký hằng năm, hoặc có nhưng quy mô lớn hơn so với thường lệ thì phải thông báo với chính quyền, khi chính quyền cho phép mới được tổ chức

- Xét duyệt quá trình xây dựng và sửa chữa, cơi nới cơ sở thờ tự tôn giáo

Cơ sở thờ tự tôn giáo của các tổ chức được nhà nước thừa nhận là sở hữu chung của cộng đồng tín đồ tôn giáo được nhà nước bảo hộ

Việc xây mới, cơi nới, sửa chữa các công trình thờ tự tôn giáo tùy thuộc vào quy mô công trình được các cấp có thẩm quyền phê duyệt Việc tu bổ và sửa chữa nhỏ không ảnh hưởng đến kết cấu công trình các nhà lân cận và bộ mặt đường giao thông thì được miễn giấy phép xây dựng Tuy nhiên trước khi sửa chữa phải thông báo cho chính quyền địa phương sở tại biết

Việc sửa chữa lớn làm thay đổi cấu trúc, kiến trúc công trình tại cơ sở thờ tự, khôi phục công trình thờ tự bị hoang phế, bị chiến tranh hủy hoại, do thiên tai; việc tạo lập cơ sở thờ tự, xây dựng mới công trình thờ tự phải xin phép cấp có thẩm quyền cấp phép

1.3.3 Phương thức quản lý

1.3.3.1 Quản lý bằng công cụ pháp luật, chính sách

Trong quá trình phát triển lịch sử nhân loại, cùng với nhà nước, pháp luật ra đời nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, pháp luật là phương tiện, công cụ quan trọng để duy trì, bảo vệ trật tự xã hội, tạo điều kiện và định hướng cho sự phát triển xã hội Bên cạnh tập quán, đạo đức, tín điều tôn giáo, các quy định của tổ chức xã hội, dư luận xã hội, các quy ước của cộng đồng

Trang 36

dân cư thì pháp luật là công cụ quản lý xã hội chủ yếu của nhà nước, giữa nhà nước và pháp luật luôn có mối quan hệ qua lại, tác động tương hỗ lẫn nhau

Từ khi xuất hiện, pháp luật luôn gắn với giai cấp cầm quyền Đối với xã hội có phân chia và đối kháng giai cấp, mọi hoạt động của đời sống xã hội được đưa vào trong khuôn khổ pháp luật nhằm mang lại lợi ích cho giai cấp thống trị Trên thực tế, pháp luật của những nhà nước gắn với giai cấp tiên tiến của thời đại thì thường phù hợp với xu hướng phát triển tiến bộ, vì nó bao hàm những chuẩn mực, những quy định nhằm bảo vệ lợi ích chân chính và phẩm giá con người

Ngược lại, nếu pháp luật của nhà nước gắn với giai cấp đang suy tàn, không còn vai trò lịch sử thì thường chứa đựng yếu tố trì trệ, bảo thủ, đi ngược lại lợi ích chân chính Trong trường hợp như vậy, pháp luật sẽ không phản ánh được những yêu cầu đạo đức tiến bộ, phù hợp với xu hướng phát triển khách quan của thời đại

Hiện nay, nhà nước quản lý các hoạt động của đời sống xã hội bằng Hiến pháp, bộ luật, luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác

Trong công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo hiện nay, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sử dụng như:

- Hiến pháp 2013;

- Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo số: 21/2004/PL-UBTVQH/QH11 ngày 18/6/2004 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về hoạt động tín ngưỡng tôn giáo

- Nghị định số: 92/2012/NĐ-CP ngày 08/11/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo

- Thông tư số: 01/2013/TT-BNV ngày 25/3/2013 của Bộ Nội vụ ban hành và hướng dẫn sử dụng biểu mẫu về thủ tục hành chính trong lĩnh vực tín

Trang 37

- Quyết định số: 1119/QĐ-BNV ngày 10/10/2013 của Bộ Nội vụ về việc công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo

- Chỉ thị số: 01/2005/CT-TTg ngày 04/2/2005 của Thủ tướng Chính phủ về một số công tác đối với đạo Tin lành

- Chỉ thị số: 1940/2008/CT-TTg ngày 31/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về nhà, đất liên quan đến tôn giáo

- Nghị quyết số: 25-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác tôn giáo;

- Văn kiện Đại hội Đảng qua các kỳ Đại hội VI, VII, VIII IX, X, XI, XII và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan để quản lý hoạt động tôn giáo

Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 18/11/2016, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2018

1.3.3.2 Quản lý bằng tuyên truyền, giáo dục

Để xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định: nhà nước quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật Nhiệm vụ đầu tiên là phải ban hành pháp luật, tiếp đến là tổ chức thực hiện pháp luật, trong đó, nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) được xem là cầu nối giữa đưa các chủ trương, chính sách, pháp luật của nhà nước đến với các tầng lớp nhân dân Mục đích của nhiệm

vụ tuyên truyền, PBGDPL là nhằm xây dựng ý thức pháp luật, làm cho nhân dân, cán bộ, công chức có lòng tin vào pháp luật, có thói quen, động cơ tích cực trong thực hiện pháp luật

Sinh thời, V.I.Lênin từng chỉ rõ: Tuyên truyền là cần thiết và chúng ta không nên sợ phải lặp đi lặp lại… Và nếu chúng ta nghĩ rằng chúng ta đã quá chú ý nhiều đến việc tuyên truyền, thì cần nói rằng chúng ta còn phải làm việc

đó nhiều hơn gấp trăm lần nữa Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã đặc biệt coi

Trang 38

trọng công tác giáo dục pháp luật, ngay từ Đại hội VI Đảng ta đã nhấn mạnh: phải coi trọng công tác giáo dục, tuyên truyền, giải thích pháp luật Đưa việc giáo dục pháp luật vào hệ thống các trường của Đảng, của nhà nước (kể cả các trường phổ thông, đại học), của các đoàn thể nhân dân Cán bộ quản lý các cấp từ trung ương đến đơn vị cơ sở phải có kiến thức về quản lý hành chính và hiểu biết pháp luật

Ngày 17/01/2003, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số: 13/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 2003 – 2007 Để tiếp tục đưa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật lên một tầm cao mới, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, ngày 09/12/2003, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Chỉ thị số: 32-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân Chỉ thị đã tạo một bước phát triển mới về nhận thức và lãnh đạo công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, thể hiện quyết tâm của Đảng

và nhà nước, toàn dân ta trong việc nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân Để triển khai thực hiện Chỉ thị này, Chính phủ ban hành Quyết định số: 212/2004/QĐ-TTg ngày 16/12/2004 phê duyệt Chương trình hành động quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2010

Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo còn được thực hiện thông qua các biện pháp tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân như lồng ghép trong các chương trình dạy học, đào tạo ở các trường lớp ở nhiều bậc học khác nhau, thông qua các hoạt động văn hóa xã hội…

Trang 39

Sự phối hợp hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước với các tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức xã hội trong công tác tuyên truyền phổ biến chính sách pháp luật

Thăm hỏi, gặp gỡ, trao đổi trực tiếp các chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ tôn giáo để nắm bắt tâm tư nguyện vọng và nhu cầu chính đáng của đồng bào có đạo đồng thời tuyên truyền, phổ biến, giáo dục chính sách pháp luật của Đảng, nhà nước tới đồng bào có đạo

1.3.3.3 Quản lý bằng công cụ hành chính - kinh tế

Nhà nước sử dụng phương thức quản lý hành chính đó là tác nhà nước tác động trực tiếp đến các cá nhân, tổ chức thuộc đối tượng quản lý bằng quy định trực tiếp nghĩa vụ của họ qua những mệnh lệnh dựa trên quyền lực nhà nước và sự phục tùng

Công cụ kinh tế được nhà nước sử dụng một cách gián tiếp tác động lên đối tượng quản lý thông qua các đòn bẩy kinh tế Nó được thể hiện dưới hai dạng: thưởng hoặc phạt liên quan trực tiếp đến lợi ích kinh tế

Các cơ quan nhà nước nhà có thẩm quyền trong phạm vi quyền hạn của mình có thể áp dụng hình thức thưởng đối với các tổ chức tôn giáo, các cá nhân liên quan có thành tích tốt trong hoạt động tôn giáo theo quy định của pháp luật Hình thức thưởng mà các cơ quan nhà nước thưởng sử dụng có thể bằng tiền hiện vật quy đổi…

Phạt đối với các cá nhân, tổ chức tôn giáo có những hành vi, hoạt động liên quan đến hoạt động tôn giáo trái với quy định của Hiến pháp, pháp luật Tùy vào mức độ và hậu quả gây ra, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể áp dụng biện pháp xử phạt hành chính, cưỡng chế hoặc khởi tố hình sự

1.4 KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG

Trang 40

1.4.1 Kinh nghiệm quản lý hoạt động tôn giáo ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An

Nghi Lộc là huyện tiếp giáp phía Đông Nam của huyện Đô Lương, là huyện có đông tín đồ tôn giáo theo đạo Công giáo, tình hình hoạt động tôn giáo tại huyện Nghi Lộc diễn ra khá phức tạp Là địa phương có nhiều giáo

xứ, giáo hạt lớn, lại là nơi đặt trụ sở của Tòa giám mục giáo phận Vinh nên hoạt động tôn giáo, đặc biệt là đạo Công giáo diễn ra rất đa dạng, phức tạp, tiềm ẩn nhiều hoạt động trái pháp luật Vụ việc gần nhất diễn ra tại giáo xứ Trại Gáo xã Nghi Phương, Nghi Lộc, Nghệ An là một điển hình cho những tiềm ẩn trong quản lý và hoạt động tôn giáo trên địa bàn Từ thực tiễn quản lý nhà nước về tôn giáo và tình hình hoạt động tôn giáo ở Nghi Lộc, một số kinh

nghiệm bước đầu có thể rút ra là:

Một là, các cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể cần tiếp

tục chỉ đạo thực hiện tốt các chỉ thị, nghị quyết về Công tác tôn giáo; Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo; Tuyên truyền cho nhân dân nói chung và đồng bào

có đạo nói riêng hiểu rõ và thực hiện đúng quan điểm, tư tưởng, chính sách tôn giáo của Đảng và nhà nước ta hiện nay, góp phần tăng cường khối đại đoàn kết thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội địa phương

Hai là, nhìn nhận tôn giáo là nhu cầu tinh thần chính đáng của đồng

bào có đạo, sinh hoạt bình thường trong khuôn khổ pháp luật Hướng dẫn, tạo điều kiện để các tôn giáo hoạt động hợp pháp; động viên, khuyến khích chức sắc, tín đồ các tôn giáo thực hiện tốt phương châm sống “Tốt đời, đẹp đạo”

“Kính chúa yêu nước”, tham gia có hiệu quả các phong trào ở địa phương

Ba là, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, xử lý nghiêm các hoạt động tín

ngưỡng, tôn giáo vi phạm pháp luật, các phần tử lợi dụng tôn giáo để chống phá chính quyền làm mất ổn định tình hình an ninh, trật tự, gây chia rẽ khối

Ngày đăng: 30/03/2017, 20:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Bộ Nội vụ (2011), Thông tƣ số: 07/2011/TT-BNV ngày 01/4/2011 Hướng dẫn xét tặng kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp quản lý nhà nước về tôn giáo”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vì sự nghiệp quản lý nhà nước về tôn giáo
Tác giả: Bộ Nội vụ
Năm: 2011
32. Nguyễn Tất Đạt (2014), Một số góp ý sửa đổi Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004, Tạp chí nghiên cứu tôn giáo , số 5-2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số góp ý sửa đổi Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo
Tác giả: Nguyễn Tất Đạt
Năm: 2014
35. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Trung tâm khoa học về tín ngƣỡng và tôn giáo (2005), những đặc điểm cơ bản của một số tôn giáo lớn ở Việt Nam, NXB Tôn giáo, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: những đặc điểm cơ bản của một số tôn giáo lớn ở Việt Nam
Tác giả: Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Trung tâm khoa học về tín ngƣỡng và tôn giáo
Nhà XB: NXB Tôn giáo
Năm: 2005
36. Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Viện chủ nghĩa xã hội khoa học Viện nghiên cứu Tôn giáo và tín ngƣỡng (2011),Lý luận về Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam, NXB chính trị - hành chính, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận về Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam
Tác giả: Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Viện chủ nghĩa xã hội khoa học Viện nghiên cứu Tôn giáo và tín ngƣỡng
Nhà XB: NXB chính trị - hành chính
Năm: 2011
43. Nguyễn Hữu Khiển (2001), Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trong điều kiện xây dựng Nhà nước dân chủ, pháp quyền Việt Nam hiện nay, NXB Công an nhân dân, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trong điều kiện xây dựng Nhà nước dân chủ, pháp quyền Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Hữu Khiển
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2001
45. Nguyễn Đức Lữ (2011), Tìm hiểu về tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay, NXB Chính trị - Hành chính, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu về tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Đức Lữ
Nhà XB: NXB Chính trị - Hành chính
Năm: 2011
1. Minh Anh, Pháp luật về tín ngƣỡng, tôn giáo hiện hành và những định hướng trong xây dựng Luật tín ngưỡng, tôn giáo, bài đăng trên http://btcp.gov.vn/Plus.aspx/vi/News Link
22. Cổng thông tin điện tử huyện Đô Lương, Điều kiện tự nhiên và xã hội, bài đăng trên http http://nghean.gov.vn:10040/wps/portal/huyendoluong23.Hoàng Văn Chức (2009), Giáo trình QLNN về tôn giáo và dân tộc,NXB KH&KT, Hà Nội Link
2. Đào Duy Anh (1938), Việt Nam văn hóa sử cương,Nxb Thuận Hóa, Huế Khác
3. Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng lần thứ 7 khóa IX (2003), Nghị quyết số: 25-NQ/TW về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới, Hà Nội Khác
4. Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng (2004), Quy định số: 123-QĐ/TW Về một số điểm kết nạp đảng viên đối với người có đạo và đảng viên có đạo tham gia sinh hoạt tôn giáo, HN Khác
5. Ban Tôn giáo Chính phủ (2014), Ban Tôn giáo Chính phủ báo cáo về việc xây dựng Dự án Luật tín ngƣỡng, tôn giáo với Ủy ban văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội Khác
6. Ban Tôn giáo Sở Nội vụ tỉnh Nghệ An (2014), Báo cáo tổng kết công tác tôn giáo năm 2014, Nghệ An Khác
7. Ban Tôn giáo Sở Nội vụ tỉnh Nghệ An (2015), Báo cáo tổng kết công tác tôn giáo năm 2015, Nghệ An Khác
9. Bộ Nội vụ (2004), Thông tƣ số: 25/2004/TT-BNV ngày 20/5/2010 Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tô chức và biên chế của Ban Tôn giáo thuộc Sở Nội vụ Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng, Hà Nội Khác
10. Bộ Nội vụ (2010), Thông tư số: 04/2010/TT-BNV Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tô chức cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân quản lý nhà nước về công tác tôn giáo địa phương, Hà Khác
12. Bộ Nội vụ (2013), Thông tƣ số: 01/2013/TT-BNV ngày 25/3/2013 Hướng dẫn sử sụng biểu mẫu về thủ tục hành chính trong lĩnh vực tín ngƣỡng, tôn giáo, Hà Nội Khác
13. Bộ Nội vụ (2013), Quyết định số: 1119/2013/QĐ-BNV ngày 10/10/2013 về việc công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực tín ngƣỡng, tôn giáo, Hà Nội Khác
14. Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch – Bộ Nội vụ (2014), Thông tƣ liên tịch số: 04/2014/TTLT-BVTTDL-BNV ngày 30/5/2014 Hướng dẫn việc thực hiện nếp sống văn minh tại các cơ sở tín ngƣỡng, cơ sở tôn giáo, Hà Nôi Khác
15. Chính phủ (2005), Nghị định số: 22/2005/NĐ-CP ngày 01/3/2005 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Chủ thể quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo - Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An (LV thạc sĩ)
Bảng 1.1. Chủ thể quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo (Trang 24)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w