1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

tài liệu – page 3 – tâm lý học vb2k04

45 14 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 2,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Không có gì nghi ngờ là ảnh hưởng này là thật Những ám thị của người làm thí nghiệm có thể ảnh hưởng báo cáo của người tham gia trong các thí nghiệm về trí nhớ. Có những bằng chứng cho[r]

Trang 1

Chương 6

TRÍ NHỚ HẰNG NGÀY &

LỖI TRÍ NHỚ

Trang 2

I MỞ ĐẦU

Trí nhớ tự thuật

(autobiographical memory)

Nhớ tự thuật (autobiographical memory):

chúng ta nhớ ngày tháng sự kiện trong cuộc

sống mà chúng ta đã trãi qua

Những sự kiện câu chuyện cuộc sống được cho

là chính yếu của trí nhớ tình tiết

Nhớ tự thuật là một loại của nhớ tình tiết

Trang 3

Điều gì quyết định sự kiện nào đó trong cuộc

sống mà chúng ta sẽ nhớ nhiều năm về sau?

Những cột mốc như là: tốt nghiệp đại học, nhận

giấy đăng ký kết hôm, cảm xúc cao khi sống sót

qua một tai nạn (Pillemer, 1998)

Những sự kiện được nhớ tốt hơn khi nó trở

nên phần quan trọng của cuộc đời một người

Trí nhớ trong cuộc sống mỗi ngày

Những điểm chuyển tiếp trong cuộc đời con

người được nhớ rất nhiều

* Nghiên cứu của Pillemer và cs, 1996

Cao đẳng Wellesley, sinh viên năm 3 và năm cuối

khi được hỏi nhớ lại sự kiện ảnh hưởng nhất đã

xảy ra trong năm I

Hầu hết trả lời là mô tả những sự kiện xuất hiện

trong tháng 9 và kết thúc năm 4

Trí nhớ trong cuộc sống mỗi ngày

Trang 4

Những người ở tuổi 40 khi được hỏi nhớ lại

những sự kiện trong cuộc đời họ

Họ nhớ nhiều những sự kiện gần đây và những

sự kiện đã qua khi còn thiếu niên và đầu tuổi

trưởng thành (10 – 30 tuổi)

 gọi là Sự hồi tưởng (reminiscence bump)

Trí nhớ trong cuộc sống mỗi ngày

Trí nhớ trong cuộc sống mỗi ngày

Tỉ lệ nhớ lại ở độ tuổi khác nhau của một người 55 tuổi,cho thấy hiện tượng hồi tưởng (reminiscence bump) (Conway, 1996;

Rubin và cs, 1998)

Trang 5

Theo Giả thuyết tường thuật cuộc sống (The life

narrative hypothesis)

Con người cố gắng nhận dạng cuộc sống của

mình trong khoảng thời gian đó

Đó là khoảng thời gian của tuổi trẻ, thời gian

của “chúng ta”

Con người trở lại khi họ thấy luyến tiếc cho

khoảng thời gian tốt đẹp nhất trong cuộc đời

Trí nhớ trong cuộc sống mỗi ngày

Theo giả thuyết nhận thức (Cognitive hypothesis)

Chúng ta mã hóa tốt hơn trong giai đoạn có sự

thay đổi nhanh, theo sau là sự ổn định

Tuổi thiếu niên và đầu tuổi trưởng thành phù

hợp với quan điểm vì có sự thanh đổi nhanh

chóng, sau đó là sự ổn định của cuộc sống

trưởng thành

Trí nhớ trong cuộc sống mỗi ngày

Trang 6

Để chứng minh cho quan điểm này  tìm

những người có sự thay đổi nhanh chóng trong

cuộc đời xuất hiện khoảng thời gian thanh thiếu

niên hoặc đầu tuổi trưởng thành

Robert Schrauf và David Rubin (1998) đã xác

định sự nhớ lại của những người nhập cư vào

Mỹ những năm 20 tuổi và giữa 30 tuổi

Trí nhớ trong cuộc sống mỗi ngày

Đường cong trí nhớ của 2 nhóm nhập cư cho thấy sự hồi tưởng thông thường ở

những người nhập cư sớm và dời 15 sau với những người nhập cư trễ hơn.

Trí nhớ trong cuộc sống mỗi ngày

Trang 7

Trí nhớ đèn chớp

(Flashbuld Memories)

Con người có thể nhớ lại nơi mà họ đang ở và

họ đang làm gì khi nghe về những sự kiện gây

sốc và cảm xúc mạnh gây nên

Trí nhớ đèn chớp (Flashbuld Memories)

Roger Brown và James Kulick (1977)

Brown và Kulick cho rằng có một cơ chế đặc biệt

chịu trách nhiệm cho trí nhớ đèn chớp

Nó được nhớ sau thời gian dài không chỉ nhờ

vào tình huống có cảm xúc mạnh, nhưng đặc

biệt mạnh mẽ và chi tiết

Đặc tính của sự kiện gây nên trí nhớ đèn chớp là

nó mang lại kết quả mạnh mẽ  có ảnh hưởng

mạnh mẽ đến cuộc sống của người đó

Quan điểm về cơ chế đặc biệt

Trang 8

Nghiên cứu của Martin

Mỹ (Conway và

cs, 1994)

Quan điểm về cơ chế đặc biệt

Trang 9

Trí nhớ đèn chớp không phải lúc nào cũng liên

quan đến cảm xúc mạnh (Talarico & Rubin,

2003)

Nhưng cảm xúc mạnh là thành tố tạo thành trí

nhớ đèn chớp

Những nghiên cứu sinh lý học cho thấy có sự

liên hệ giữa cảm xúc, trí nhớ và cấu trúc não

dưới vỏ gọi là hạch hạnh nhân

Cảm xúc mạnh có thể làm tăng trí nhớ

Stephen Harmann và cs (1999) nghiên cứu mối liên

hệ giữa cảm xúc và sinh lý bằng cách đo hoạt động

não bằng PET.

Họ đưa ra những bức tranh thay đổi cảm xúc của con

người như tranh vui vẻ hoặc không vui và tranh trung

lập như cảnh gia đình.

Cảm xúc mạnh có thể làm tăng trí nhớ

Trang 10

Stephen Harmann và cs (1999) cho thấy những

bức tranh làm thay đổi cảm xúc gây nên hoạt

động mạnh hơn ở hạch hạch nhân hơn ở khu

khác

Những bức tranh gây nên hoạt động mạnh ở

hạch hạnh nhân thì có khả năng được nhớ hơn

về sau (Cahill & cs, 1996)

Cảm xúc mạnh có thể làm tăng trí nhớ

Quan điểm cũng được chứng minh khi kiểm tra một

bệnh nhân B.P., có hạch hạnh nhân bị phá hủy.

Những người không có tổn thương não và B.P được

xem nhanh những hình về đứa bé trai bị mẹ đánh, làm

tổn thương  tăng trí nhớ về phần cảm xúc trong câu

chuyện.

Cảm xúc mạnh có thể làm tăng trí nhớ

Trang 11

Kết quả: Những người không có não tổn thương

và B.P nhớ phần đầu câu chuyện như nhau

Nhưng B.P thì không nhớ nhiều hơn ở phần cảm

Ulric Neisser (2000) cho rằng chúng ta có thể

nhớ những sự kiện giống như sự kiện 11/9

nhưng không phải do cơ chế đặc biệt

Bởi vì chúng ta cứ nhắc lại sau khi nó xuất hiện

Giả thuyết nhắc lại tường thuật (narrative

Trang 12

Nhớ sự kiện đặc biệt mạnh mẽ, nhưng nhớ lại

thường không chính xác

Neisser hỏi nhiều người là họ đã nghe tin về vụ

nổ tàu không gian Challenger năm 1986 như thế

nào (Neisser & Harsch, 1992)

Người tham gia điền vào bảng hỏi sau vụ nổ 1

ngày, sau đó thì 2,5 – 3 năm sau

Một người cho biết lần 1 nghe tin đó trong lớp,

nhưng 2,5 năm thì họ cho là nghe tin đó khi

ngồi cùng bạn xem TV

Chống lại quan điểm cơ chế đặc biệt

Ngay sau vụ nổ: 21% cho biết họ nghe tin trên

Trang 13

Nghiên cứu của Schmolck và cs, 2000 về vụ giết

người O.J.Simpson

So sánh câu trả lời gần và sau một thời gian xa

hơn  nhiều trả lời vào 32 tháng sau là không

chính xác

 Từ những nghiên cứu cho thấy trí nhớ đèn

chớp có thể suy yếu giống như trí nhớ bình

thường (Schmolck và cs, 2004)

Chống lại quan điểm cơ chế đặc biệt

Nghiên cứu trên nhóm SV trường ĐH về sự kiện

ngày 11/9, hỏi vào ngày 12/9 (Talarico & Rubin,

2003)

“Bạn nghe tin đó lần đầu tiên khi nào?” và những

câu hỏi tương tự về sự kiện hằng ngày trong cuộc

sống trước ngày tấn công 1 ngày

Họ được kiểm tra lại sau 1 tuần, 6 tuần và số khác

là 32 tuần

Người tham gia ít nhớ chi tiết và mắc sai lầm vào

thời gian dài hơn sau sự kiện

Chống lại quan điểm cơ chế đặc biệt

Trang 14

Ít có sự khác biệt kết quả của trí nhớ đèn chớp và trí nhớ hằng ngày

 Không có một cơ chế đặc biệt nào cho trí nhớ đèn chớp.

Chống lại quan điểm cơ chế đặc biệt

Có sự khác biệt giữa trí nhớ đèn chớp và trí nhớ hằng ngày.

Niềm tin về sự chính xác của trí nhớ đèn chớp sau

32 tuần giảm so với niềm tin về sự chính xác của trí nhớ hằng ngày.

Chống lại quan điểm cơ chế đặc biệt

Trang 15

người trả lời dựa trên

kinh nghiệm của họ

trong quá khứ trong

việc nghe những tin

tức quan trọng.

Lý do con người thường nhớ không chính xác

II TRÍ NHỚ ĐƯỢC TẠO NÊN

NHƯ THẾ NÀO?

Trang 16

Trí nhớ = thực tế những gì đang diễn ra + nhân

tố khác (sự hiểu biết, kinh nghiệm, mong đợi)

 cách tiếp cận kiến tạo (constructive)

Trí óc tạo nên trí nhớ dựa trên các nguồn thông

tin

Thí nghiệm Cuộc chiến của các linh hồn của

Bartlett

Cách tiếp cận kiến tạo về trí nhớ

(Constructive approach to memory)

Thí nghiệm “Cuộc chiến của các linh hồn” của Bartlett

Nhà TLH người Anh Fredrick Bartlett chỉ đạo nghiên

cứu cổ điển chứng minh bản chất kiến tạo của trí

nhớ.

Xuất bản năm 1932.

Người tham gia được đọc 1 câu chuyện văn học dân

gian của người Canada gốc Ấn.

Sau đó họ được yêu cầu nhớ lại câu chuyện.

Cách tiếp cận kiến tạo về trí nhớ

(Constructive approach to memory)

Trang 17

Thí nghiệm “Cuộc chiến của các linh hồn” của Bartlett

Kết quả:

▪ Người tham gia quên nhiều thông tin trong câu

chuyện.

▪ Sự tái tạo của họ ngắn hơn so với nguyên bản và bỏ

sót nhiều chi tiết, không chính xác.

Những kiểu thay đổi xuất hiện có xu hướng phản

ánh văn hóa của chính người tham gia.

Cách tiếp cận kiến tạo về trí nhớ

(Constructive approach to memory)

Thí nghiệm ở sinh viên khi được yêu cầu nhớ lại điểm

thời trung học (Bahrick và cs, 1996)

Kiểm tra báo cáo của sv và bảng điểm thời trung học 

SV nhớ chính xác điểm A (89%), điểm D (29%).

79/99 sinh viên thổi phồng điểm hơn điểm thực.

Nguyên nhân:

• Con người có xu hướng nhớ những sự kiện tích cực dễ

hơn nhớ sự kiện tiêu cực (Loftus, 1982)

• SV tốt nhớ điểm dựa trên dự đoán là hầu hết điểm của

họ là A và B  quan điểm kiến tạo về trí nhớ

Cách tiếp cận kiến tạo về trí nhớ

(Constructive approach to memory)

Trang 18

Nguồn kiểm tra là quá trình chúng ta xác định

trí nhớ gốc, kiến thức và niềm tin (M.K.Johnson

và cs, 1993)

Ví dụ: Mai bất ngờ gặp một người mà cô gặp

gần đây Cô nhớ tên anh ta mà Minh, nhưng

không thể nhớ lần đầu tiên gặp anh ta là khi

nào

 Mai đã tìm lời giải từ nguồn kiểm tra bằng

cách xác định gặp anh ta lần đầu tiên khi nào

Nguồn kiểm tra và nguồn quy kết

(Source Monitoring and Source Misattribution)

Nguồn kiểm tra  chứng minh về bản chất kiến

tạo của trí nhớ

Chúng ta thường khôi phục trí nhớ đầu tiên và

sau đó sử dụng quá trình quyết định để xác

định trí nhớ đến từ đâu (Mitchell & Johnson,

2000)

Đôi lúc chúng ta mắc sai lầm dẫn đến nguồn

quy kết

Nguồn kiểm tra và nguồn quy kết

(Source Monitoring and Source Misattribution)

Trang 19

Thí nghiệm của Larry Jacoby và cs (1989)

Phần thu nhận: người tham gia đọc một số tên

không nổi tiếng (Sebastian Weissdorf, Valerie

Marsh)

Kiểm tra tức thì: phân biệt danh sách gồm:

(1) Tên người không nổi tiếng mà họ đã đọc

(2) Tên mới của người không nổi tiếng mà họ chưa

thấy trước đó

(3) Tên của người nổi tiếng (hầu hết đều biết vào

1988)

Nguồn kiểm tra và nguồn quy kết

(Source Monitoring and Source Misattribution)

Nguồn kiểm tra và nguồn quy kết

(Source Monitoring and Source Misattribution)

Thí nghiệm của Larry Jacoby và cs (1989)

Kiểm tra tức thì:

họ nhận diện chính xác hầu hết những tên không

nổi tiếng cũ

Trang 20

Thí nghiệm của Larry Jacoby và cs (1989)

Kiểm tra trì hoãn: thực hiện sau 24h.

Kiểm tra với những tên tương tự  người tham gia có

khả năng nhận ra những tên cũ không nổi tiếng thành

nổi tiếng.

Ví dụ: Tên Sebastian Weissdorf là tên không nổi tiếng ở

phần kiểm tra tức thì  nổi tiếng trong kiểm tra trì

hoãn.

 “Trở nên nổi tiếng chỉ sau 1 đêm”

 Tên nghe quen thuộc vì họ đã thấy 24h trước hoặc

đó là người nổi tiếng.

Nguồn kiểm tra và nguồn quy kết

(Source Monitoring and Source Misattribution)

III SỰ HIỂU BIẾT VỀ NHỮNG KINH

NGHIỆM TRONG QUÁ KHỨ GÂY RA LỖI

TRÍ NHỚ

Trang 21

Thí nghiệm của John Bransford và Marcia Johnson (1973)

▪ Người tham gia đọc một số câu chỉ hành động

Nhóm thí nghiệm: John đang cố sửa cái nhà chim câu Anh

ta đập vào móng tay khi cha anh đến xem và giúp anh ta

làm việc(John was trying to fix the birdhouse He was pounding the

nail when his father came out to watch him and help him do the

work)

Nhóm đối chứng: John đang cố sửa cái nhà chim câu Anh

tìm cái đinh khi cha anh ta đến xem và giúp anh làm việc

(John was trying to fix the birdhouse He was looking for the nail

when his father came out to watch him and help him do the work)

3.1 Tạo ra suy luận

Thí nghiệm của John Bransford và Marcia Johnson

(1973)

Kiểm tra: Đưa ra một số câu mà họ chưa từng thấy

trước đó, yêu cầu họ cho biết liệu họ đã từng đọc nó

trước đây chưa.

Ví dụ: Nhóm thí nghiệm và nhóm đối chứng đều xem

câu sau:

John dùng búa sửa nhà của chim câu khi cha anh đến

xem và giúp anh làm việc.

John was using a hammer to fix the birdhouse when his father

came out to watch him and help him do the work

3.1 Tạo ra suy luận

Trang 22

Thí nghiệm của John Bransford và Marcia

Johnson (1973)

Kết quả:

+ Nhóm thí nghiệm có khả năng bị sai hơn so với

nhóm đối chứng

+ Câu nguyên thủy không có từ “búa” nhưng chúng

ta thường nghĩ rằng đập móng tay là do búa

suy luận của người tham gianhớ sai

3.1 Tạo ra suy luận

Nghiên cứu chỉ ra rằng trí nhớ bị ảnh hưởng bởi

giản đồ.

Giản đồ là sự hiểu biết của 1 người về những

khía cạnh của môi trường

Người tham gia được ngồi trong 1 phòng chờ

trước khi làm thí nghiệm

3.2 Giản đồ và kịch bản

(Schemas and Scripts)

Trang 23

Sau đó họ được gọi vào một phòng khác, họ

được cho biết là thí nghiệm trí nhớ

Yêu cầu họ viết xuống những gì họ thấy trong

khi họ ngồi trong văn phòng (Brewer & Treyens,

1981)

Họ viết xuống những gì họ nhớ đã thấy, nhưng

cũng gồm những gì không có trong phòng

nhưng phù hợp với “giản đồ văn phòng”

Ví dụ: sách Có 30% người tham gia cho viết họ

có thấy sách

3.2 Giản đồ và kịch bản

(Schemas and Scripts)

Kịch bản là một loại giản đồ.

Là quan niệm của chúng ta về những kinh nghiệm thông

thường, là chuỗi những hành động mô tả cho một hành

động nào đó.

Ví dụ: kịch bản của bạn về việc đến trường gồm

(1) đến lớp trước 10 phút khi buổi học bắt đầu (2)Bước vào

lớp và tìm một chỗ ngồi (3) Ghi bài của giảng viên (4) Rời

lớp khi giảng viên kết thức buổi học

 Kịch bản có thể ảnh hưởng đến trí nhớ của chúng ta do

việc đưa ra những mong đợi về những gì xảy ra trong một

tình huống thông thường

3.2 Giản đồ và kịch bản

(Schemas and Scripts)

Trang 24

Thí nghiệm của Gordon Bower và cs (1979)

Người tham gia nhớ một đoạn văn ngắn sau:

Nha sĩ

Bill có một cái răng bị đau Nó dường như không ngừng

đau cho đến khi anh ta quyết định đến nha khoa Bill nhìn

xung quanh vào những áp pích sức khỏe trên tường Cuối

cùng y tá kiểm tra và chụp X quang cho răng của anh Anh

ngạc nhiên về những gì nha sĩ làm Nha sĩ nói với Bill có

một số hốc trong răng Ngay khi anh đặt một cuộc hẹn

khác, anh rời phòng nha khoa.

3.2 Giản đồ và kịch bản

(Schemas and Scripts)

Thí nghiệm của Gordon Bower và cs (1979)

Người tham gia được đọc 1 số đoạn văn giống

như vậy (đi gặp nha sĩ, đi bơi, đi dự tiệc)

Sau thời gian trì hoãn  họ được yêu cầu đặt

tựa đề cho câu chuyện họ đã đọc, viết xuống

những gì họ nhớ về mỗi câu chuyện

Kết quả: họ tạo nên những câu chuyện có

những chi tiết hợp với câu chuyện ban đầu,

nhưng những chi tiết không có nhưng là một

phần của kịch bản cho hành động được mô tả

3.2 Giản đồ và kịch bản

(Schemas and Scripts)

Trang 25

Kết quả của những thí nghiệm còn chỉ ra kiến

thức có thể ảnh hưởng đến trí nhớ, trí nhớ ngữ

nghĩa ảnh hưởng đến nhớ tình tiết

Nhớ ngữ nghĩa: sự hiểu biết về những gì thường

có trong văn phòng làm việc, búa thì làm giập

ngón tay, liên quan đến khi đi gặp nha sĩ

Nhớ tình tiết: nhớ 1 câu chuyện hoặc nhớ cái gì

có trong văn phòng mà bạn đã thấy gần đây

3.2 Giản đồ và kịch bản

(Schemas and Scripts)

Thí nghiệm sau cho thấy kiến thức con người về

thế giới gây ra lỗi trí nhớ tình tiết, sự tương tác

giữa trí nhớ tình tiết và nhớ ngữ nghĩa

Người tham gia đọc 1 danh sách từ, 1từ/ giây,

viết xuống những từ họ nhớ

3.2 Giản đồ và kịch bản

(Schemas and Scripts)

Trang 26

Những người tham gia cho biết họ nhớ có từ

“ngủ”

Nhớ từ “ngủ” là lỗi trí nhớ  xuất hiện bởi vì

chúng ta liên hệ từ “ngủ” trong danh sách từ

trên (Deese, 1959; Roediger & McDermott,

1995)

 quá trình kiến tạo về trí nhớ

3.2 Giản đồ và kịch bản

(Schemas and Scripts)

BẰNG GHI HÌNH

Trang 27

Trí nhớ không phải là cuộn băng phát lại những

gì chúng ta đã trãi qua

Trí nhớ thường không “copy” đầy đủ tất cả

những gì đang diễn ra

Trí nhớ = thông tin đi vào + những nhân tố khác

 trí nhớ bị bóp méo

Trí nhớ không phải là cuộn băng ghi hình

Chúng ta sẽ ra sao nếu có hệ thống trí nhớ luôn

“ghi” và “phát lại” mọi thứ?

Một người tên Shereshvskii (S) có trí nhớ có thể

nhớ chính xác những từ trong 1 cuộc đối thoại

mà anh thực hiện trước đây

Nhà TLH người Nga, A.R.Luria (1975) kết luận S

có một trí nhớ “hầu như vô hạn”

Trí nhớ của S gây cho cuộc sống của anh có

nhiều khó khăn

Tại sao nó làm việc như vậy?

Ngày đăng: 06/04/2021, 13:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w