1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU THAM KHẢO tâm lý học NGHIÊN cứu một số vấn đề về HÀNH VI TRONG tác PHẨM HÀNH VI và HOẠT ĐỘNG của PHẠM MINH hạc

15 581 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 146,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi, cả nước bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, các ngành khoa học phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc bắt đầu phát triển, một trong những ngành khoa học phát triển mạnh là khoa học tâm lý học. Trong sự phát triển của khoa học tâm lý học có công đóng góp rất lớn của Giáo sư viện sĩ Phạm Minh Hạc,

Trang 1

Nghiên cứu một số vấn đề về hành vi trong tác phẩm “hành vi và hoạt động” của phạm minh hạc

Sau cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi, cả nước bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, các ngành khoa học phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc bắt đầu phát triển, một trong những ngành khoa học phát triển mạnh là khoa học tâm lý học Trong sự phát triển của khoa học tâm lý học có công đóng góp rất lớn của Giáo sư- viện sĩ Phạm Minh Hạc, ông là một trong những “cây đại thụ” của nền tâm lý học Việt Nam, đã viết và thực hiện nhiều công trình khoa học, trong các công trình đó

có tác phẩm “hành vi và hoạt động” Đây là luận án tiến sĩ của ông được bảo

vệ thành công tại Hội đồng khoa học Khoa Tâm lý học, Trường Đại học quốc gia Lômônôxốp, Mátxcơva ngày 10 tháng 6 năm 1977 luận án này được Nhà xuất bản Smưxl, Mátxcơva xuất bản toàn văn bằng tiếng Nga, được tác giả dịch ra tiếng việt và in tại nhà xuất bản Viện khoa học xã hội nhân văn, Hà Nội, năm 1983 Tác phẩm gồm lời tác giả, nhập đề, hai phần (8 chương):

Phần I: Số phận của thuyết hành vi.

Phần II: phạm trù hoạt động trong tâm lý học Mác xít

Trong khuôn khổ bản thu hoạch này học viên chỉ phân tích những luận điểm cơ bản của thuyết hành vi được đề cập trong tác phẩm Qua đó đánh giá công lao và những hạn chế của tác giả đối với sự phát triển của khoa học tâm

lý học trong lịch sử và trong thời đại ngày nay

Để hiểu rõ và nhận thức đầy đủ về sự ra đời phát triển và những hạn chế của tâm lý học hành vi, cần xem xét hoàn cảnh xuất hiện của thuyết này Theo Phạm Minh Hạc thì tâm lý học hành vi ra đời vào năm 1913 ở Mỹ từ một bài báo có tính chất cương lĩnh do J.Watson (1878- 1958) viết với tiêu đề: “Tâm lý học dưới con mắt của nhà hành vi” Vào thời điểm chủ nghĩa tư bản đang phát triển mạnh mẽ, nhiều thành tựu khoa học ra đời được áp dụng

Trang 2

vào lĩnh vực sản xuất vật chất, đũi hỏi cụng tỏc tổ chức phõn cụng lao động xó hội phải bố trớ một cỏch hợp lý để kớch thớch hành vi lao động của con người nhằm nõng cao hiệu quả sản xuất Vỡ vậy, nú đặt ra vấn đề cấp thiết cho cỏc ngành khoa học trong đú cú khoa học tõm lý là phải nghiờn cứu để điều khiển hành vi của con người tõm lý học phải trở thành phũng thớ nghiệm của xó hội, tức là phải đỏp ứng được yờu cầu xó hội Đõy là những ý tưởng rất tiến bộ của J.Watson thời kỳ đú, cantor đỏnh giỏ: thuyết hành vi ra đời “rừ ràng là một trong những sự kiện đỏng kể nhất trong tõm lý học hiện đại núi chung Tất nhiờn, khụng một sự kiện nào khỏc trong lịch sử tõm lý học suốt từ thời kỳ

Hy Lạp là sự kiện cỏch mạng tớch cực như thuyết hành vi”1

Trước khi thuyết hành vi của J.Watson ra đời khoa học tõm lý đó cú sự phỏt triển nhất định, nhưng chủ yếu là tõm lý học duy tõm nội quan ở thời kỳ này tõm lý học chịu ảnh hưởng bởi cỏc tư tưởng triết học duy tõm thần thỏnh, tụn giỏo Tuy nhiờn, cũng đó xuất hiện một số trường phỏi tõm lý học khỏch quan như tõm lý học Gestalt với ba đại biểu tiờu biểu là: Wertheime (1840-1943); Koller (1887- 1967); Koffka (1886- 1941)… Thành tựu nổi bật của cỏc tỏc giả này là nghiờn cứu về tri giỏc, tư duy, những thành tựu này đến nay vẫn

cú giỏ trị Cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu của cỏc ụng khụng phải là tự biện mà là nghiờn cứu khỏch quan thụng qua thực nghiệm khoa học Song hạn chế lớn nhất của tõm lý học Gestalt là chưa thoỏt khỏi duy tõm, nhất là cỏc thuyết về Tõm vật lý, Tõm sinh lý…như vậy, tõm lý học thời kỳ này được đỏnh giỏ là khủng hoảng, bế tắc Trước yờu cầu đũi hỏi của cuộc sống và sự vận động của bản thõn khoa học này, ngày càng thấy rừ sự bất lực của cỏc nhà tõm lý học theo con đường của tõm lý học duy tõm nội quan Đó đến lỳc cần tỡm ra con đường mới về nguyờn tắc, phương phỏp luận để xõy dựng khoa học tõm lý phỏt trển

1 Phạm Minh Hạc, Hành vi và hoạt động, Viện khoa học giao dục, Hà Nội 1983 tr

Trang 3

Đáp ứng với đòi hỏi đó tâm lý học hành vi đã ra đời, đại biểu cho trường phái này là J.Watson (1878- 1958), ông sinh ra ở miền nam nước Mỹ Cuộc đời và công danh của J Watson là do ông tự lập, ít được thừa hưởng trực tiếp từ di sản trí tuệ của bố mẹ Khi còn nhỏ J.Watson hay quậy phá và lười nhác nên học không giỏi, nhưng J.Watson đã được nhận vào trường Đại học Furman năm 15 tuổi Tại trường Đại học, J.Watson học vào loại giỏi nhưng không xuất sắc Tuy nhiên, J Watson đã mau chóng được các giáo sư

có tên tuổi chú ý, đặc biệt là Gordon B Mooer Năm 25 tuổi J.Watson đã bảo

vệ thành công luận án tiến sỹ tại Trường Đại học Tổng hợp Chicago, với đề

tài: “Dạy loài vật: Phát triển tâm lý nơi Chuột Bạch” Do nổi tiếng trên cả

nước về tâm lý học loài vật, ông được mời giảng dạy tại Trường Đại học Baltimore

Sự ra đời của tâm lý học hành vi được bắt đầu vào năm 1913 bằng bài

viết với tiêu đề “Tâm lý học dưới con mắt của nhà hành vi” và được in trên

“Tập san tâm lý học” của Mỹ Các quan điểm trong bài báo sau này được

J.Watson trình bày trong một loạt công trình về sau như: Nhập môn tâm lý

học so sánh (1914); Tâm lý học từ quan điểm nhà hành vi” (1919); Thuyết hành vi (1925); Sự chăm sóc tâm lý đối với trẻ thơ và trẻ vị thành niên (1928)

tâm lý học hành vi ra đời chịu ảnh hưởng của nhiều ngành khoa học như tâm lý học thực nghiệm, tâm lý học động vật, nhất là triết học thực chứng luận và chủ nghĩa thực dụng Đầu tiên phải kể đến là chủ nghĩa thực dụng mà đại biểu mà đại biểu cho trường phái này là Pierce (1836 - 1914) và W.James (1841 - 1910) Trường phái này cho rằng triết học không nghiên cứu các vấn

đề triết học chung chung, mà cần phải nghiên cứu các vấn đề của cuộc đời Pierce cho rằng: “con người ta suy nghĩ như thế nào và để làm gì ? Đó là để thoả mãn những giá trị của chân lý Chân lý thực sự được coi là chân lý là ở tính có ích của nó, là cái đưa người ta đến mục đích nhất định nào đó” Điều

Trang 4

này đã phù hợp với quan niệm của các nhà hành vi, chỉ cần quan tâm đến kết quả cụ thể của hành vi mà không cần hiểu hành vi đó diễn ra như thế nào, không cần biết đến suy nghĩ bên trong, đến những biến đổi của thái độ ý thức Cùng với chủ nghĩa thực dụng, tâm lý học hành vi còn chịu ảnh hưởng bởi phương pháp luận của chủ nghĩa thực chứng, mà đại biểu cho trường phái triết học này là Augste Comte, nhà triết học Pháp (1789- 1857) Trường phái triết học này chỉ coi trọng các khoa học cụ thể, khoa học kinh nghiệm Dựa trên tư tưởng này, các nhà hành vi chủ nghĩa đã tập chung nghiên cứu mô tả các hành vi của con người trước tác động của các kích thích bên ngoài, và khoa học tâm lý phải được xây dựng lại như thế mới trở thành khoa học thực

sự và có khả năng thoát khỏi khủng hoảng về phương pháp luận trong tâm lý học Những tiền đề phân tích trên đây là cơ sở cho sự ra đời của tâm lý học hành vi

Theo giáo sư- viện sĩ Phạm Minh Hạc những luận điểm cơ bản trong bài báo có tính chất cương lĩnh của J.watson: “Tâm lý học dưới con mắt của nhà hành vi” gồm những nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, “tâm lý học dưới mắt nhà hành vi phải là một ngành thực nghiệm khách quan của các khoa học tự nhiên” 2 tâm lý học này đối cực với

tâm lý học cấu trúc của watson- titchener và tâm lý học chức năng của đewey-angeld, vì tâm lý học hành vi ra đời là một quá trình đấu tranh chống lại các trường phái tâm lý học duy tâm nội quan và hai trường phái tâm lý học nêu trên tâm lý học hành vi không phủ nhận tâm lý ý thức, nhưng họ không quan tâm tới việc mô tả trạng thái ý thức mà chỉ quan tâm tới hành vi của con người, quan tâm tới những biểu hiện bề ngoài Theo các nhà hành vi tâm lý học phải nghiên cứu hành vi người, nghĩa là đưa cuộc sống hàng ngày vào đối tượng nghiên cứu của tâm lý học, vì hành vi của con người là biểu hiện tâm lý bên trong của họ, đây là điểm khác biệt cơ bản giữa tâm lý học hành vi của

2 S®d tr 46,47

Trang 5

J.Watson với tâm lý học “duy linh” trước đó Tâm lý học duy linh coi đối tượng nghiên cứu là “hồn”, “tâm hồn” như là sản phẩm được rút ra từ đầu óc của “người lớn bình thường” tức là từ một con người trìu tượng Như vậy, việc lấy hành vi làm đối tượng nghiên cứu của tâm lý học thực sự là một đóng góp tích cực, là hướng nghiên cứu táo bạo, là cơ sở đầu tiên khuyến khích các nhà khoa học, các nhà tâm lý học đi sâu khám phá thế giới tâm lý con người với những quan điểm phù hợp hơn phương pháp luận trong nghiên cứu về con người của tâm lý học hành vi đã phủ nhận phương pháp duy tâm nội quan, coi “thế giới ý thức với tư cách là một thế giới huyền bí khép kín trong

“hồn” Việc các nhà hành vi chỉ quan tâm nghiên cứu hành vi là cái có thể quan sát được đã làm cho tâm lý học hành vi trở thành một khoa học khách quan và chuyển sang lập trường của chủ nghĩa duy vật Theo lập trường của thuyết hành vi thì “toàn bộ cuộc sống của con người được xem là lịch sử của tính tích cực, lịch sử của tính tích cực được hiểu là tổng hoà của các phản ứng”3, từ quan niệm này có thể hiểu “dòng hành vi” là tổ hợp các phản ứng của cơ thể trước các kích thích của môi trường bên ngoài Lập trường này của J.Watson cho thấy quan điểm của ông đã được tiếp thu quan điểm quyết định luận duy vật về hành vi người từ tâm lý học động vật khách quan và tâm lý học thực nghiệm thế kỷ trước Điều này cũng cho thấy ông đã đồng nhất hành

vi của động vật với hành vi con người Thực chất sự đồng nhất này đã loại trừ các hiện tượng của ý thức, tư tưởng, tình cảm, các quá trình sinh lý thần kinh,

… ra khỏi các quá trình kích thích – phản ứng nhưng thực tế hành vi của con người có sự khác biệt lớn về chất so với hành vi của động vật, C.Mác đã có nhận xét nổi tiếng về sự khác nhau căn bản giữa hành vi xây tổ của con ong giỏi nhất và hành vi xây nhà của người kiến trúc sư tồi nhất Như vậy, tác giả của “Hành vi và hoạt động” đã khẳng định: “nhờ đưa phạm trù hành vi vào tâm lý học, thuyết Watson trong một mức độ nhất định đã giúp tâm lý học

3 S®d 55

Trang 6

thoát được thần bí “ý thức”, “hồn”, “tâm hồn” và khởi đầu trào lưu mang tinh thần duy vật máy móc, nhằm khẳng định phương pháp tiếp cận khách quan dùng vào nghiên cứu các hiện tượng tâm lý Đó chính là ý nghĩa tuyệt vời của

lý thuyết tâm lý học hành vi”2

Thứ hai, ý thức(tâm lý) con người không tự khép kín mà được biểu hiện bằng hành vi do đó hãy lấy hành vi là đối tượng của tâm lý học Theo ông

Phạm Minh Hạc thì J.Watson quan niệm khi quan sát cũng như giảng giải hành vi đều phải tuân theo nguyên tắc: có một kích thích nào đó tác động vào

cơ thể và cơ thể trả lời bằng một phản ứng nào đó, nguyên tắc này được ông biểu diễn bằng một công thức nổi tiếng S  R trong đó: S là kích thích; R là phản ứng, J.Watson cho rằng công thức này áp dụng cho cả người và động vật, theo đó ở bất kỳ cơ thể nào cứ có kích thích là sẽ có phản ứng tương ứng hoặc là nhìn vào phản ứng người ta có thể tìm được kích thích trước đó Vì vậy, dựa vào công thức này các nhà nghiên cứu có thể hiểu được tâm lý người, qua đó có thể điều khiển được hành vi của họ bằng cách tác động vào

họ những kích thích tương ứng Công thức về thuyết hành vi của J.Watson đã được các nhà tư sản, giai cấp thống trị tận dụng, khai thác triệt để nhằm mục đích chuyên môn hoá các khâu trong quá trình tổ chức sản xuất, khai thác tối

đa sức lao động của công nhân, mang lại lợi nhuận khổng lồ cho giới chủ tư bản Cách nghiên cứu của J.Watson giúp cho tâm lý học có điều kiện trở thành một ngành khoa học khách quan như các ngành khoa học tự nhiên khác, tránh khỏi tình trạng mô tả nội quan, giải thích một cách tư biện, các trạng thái tâm lý, ý thức người từ đó gắn tâm lý với đời sống thực tiễn

Thứ ba, tâm lý học hành vi phải gắn với tâm lý học của động vật phải

đi từ tâm lý học của động vật Theo tác giả “Hành vi và hoạt động” thì sự phát

triển của tâm lý học Mỹ luôn gắn liền với tên tuổi của J.Watson, Darwin, L.Morgan, Thorndike là những người đặt nền móng cho tâm lý học động vật

2 S®d, tr.63.

Trang 7

khách quan dựa trên phương pháp “thử và sai” để điều khiển hành vi Qua quá trình nghiên cứu lâu dài các nhà tâm lý học hành vi đã đi đến kết luận “phải xem xét cả hành vi người lẫn hành vi động vật trên cùng một bình diện- cả bình diện tồn tại lẫn bình diện tìm hiểu”4 Kết quả nghiên cứu của các ông đã dựa vào những công trình đã có trước đó đặc biệt là thuyết phản xạ có điều kiện của I.P.Palov, nhưng khi nghiên cứu các ông đã loại bỏ một yếu tố cực

kỳ quan trọng trong học thuyết này là vai trò của các quá trình thần kinh, hoạt động thần kinh trong điều chỉnh hành vi Do đó, các ông đã cho rằng kinh nghiệm tập nhiễm được ở động vật và ở con người là như nhau Tuy nhiên, khi sử dụng công thức S  R vào nghiên cứu các hiện tượng tâm lý ở người và động vật các nhà hành vi chỉ chú ý tới những kích thích tác động lên cơ thể và những phản ứng đáp lại, chứ chưa đề cập tới những yếu tố tâm, sinh lý khác tham gia vào quá trình đó Đây là hạn chế lớn nhất của thuyết hành vi cổ điển mà sau này các môn đệ của J.Watson đã khắc phục bằng cách đưa ra thuyết hành vi mới

Bốn là, mục đích của tâm lý học hành vi là điều khiển hành vi của con người với công thức S R Từ quan niệm của J.Watson về hành vi và phương

pháp nghiên cứu hành vi ông cho rằng : muốn điều khiển hành vi phải dựa vào kích thích, tức là dựa vào yếu tố thứ nhất trong công thức Theo đó, cứ biết yếu tố đầu trong công thức thì nhất định đoán được yếu tố thứ hai, nói cách khác khi biết được kích thích nhất định sẽ biết được phản ứng Cách nghiên cứu này của ông không chỉ giúp khoa học tâm lý thoát khỏi tình trạng nghiên cứu bằng phương pháp nội quan, tư biện các trạng thái ý thức mà còn đưa khoa học tâm lý vào phục vụ cuộc sống thực tiễn của con người Tuy nhiên, đây cũng là quan điểm thể hiện rất rõ sự hạn chế trong nhận thức khoa học của J.Watson và cộng sự của ông ta ở thời kỳ đó Hạn chế đó có thể coi là một tất yếu do điều kiện xã hội lịch sử qui định Bởi luận điểm này có thể chỉ

4 S®d tr 48

Trang 8

đúng đối với những thí nghiệm trên động vật, còn ở người không phải lúc nào cũng đúng như vậy Khi tâm lý con người đã phát triển đến mức ổn định, đã

có nhiều kinh nghiệm sống thì nhiều lúc đưa kích thích(S) tác động vào con người, nhà nghiên cứu sẽ quan sát thấy phản ứng không phải là(R) mà là(R1)

R và R1 có khi còn trái ngược nhau Kết quả này đã dẫn đến sự khủng hoảng trong tâm lý học Để khắc phục tình trạng này các học trò của J.Watson đã đưa thêm vào công thức S  R của ông một biến số trung gian 0, đó chính là thuyết hành vi mới

Thứ năm, phạm trù S  R phải là phạm trù trung tâm của tâm lý học mà các phạm trù khác phải xoay quanh nó Khi tâm lý học hành vi ra đời nó phủ

nhận tất cả các dữ liệu, các kết quả đã có của tâm lý học cấu trúc và tâm lý học chức năng như ý thức, trạng thái, lý trí, hình ảnh…theo J.Watson tất cả các dữ kiện của khoa học hành vi đều được biểu đạt bằng công thức S  R Với quan niệm này tâm lý học hành vi của ông đã được xã hội Mỹ đón nhận,

vì thuyết hành vi của ông được xây dựng trên lập trường, thế giới quan của triết học thực dụng, nó chỉ quan tâm đến hiệu quả của hành vi mà không cần quan tâm đến bất kỳ yếu tố nào khác, do đó nó phù hợp với yêu cầu phát triển nền kinh tế Mỹ như vậy, các nhà hành vi đã có sự “lầm lẫn ý thức với khách thể vật lý, và lẫn tri thức với phản ứng cơ thể trả lời khách thể”5 Đây chính là quan điểm làm cho tâm lý học hành vi quan niệm về con người và đời sống tâm lý của con người một cách cơ học, máy móc giống như tâm lý động vật Việc ứng dụng tâm lý học hành vi vào các lĩnh vực của đời sống xã hội đã tạo

ra trong xã hội tư bản những quan niệm sống thực dụng, đề cao giá trị vật chất

và coi nhẹ những giá trị tinh thần, giá trị nhân văn nhân đạo của con người, nó phủ nhận vai trò to lớn của ý thức con người, hạ con người xuống ngang hàng động vật

5 S®d tr 55

Trang 9

Có thể khẳng định rằng với cương lĩnh đầu tiên của mình, thuyết hành

vi của J.Watson đã thực sự tạo ra “một không khí khoa học hoàn toàn mới”, khác hẳn với các trường phái tâm lý học duy tâm nội quan và các trường phái tâm lý học khách quan trước đó Nó đã mở ra một cách suy nghĩ khác với cách suy nghĩ lâu nay trong tâm lý học truyền thống, về đối tượng và phương pháp nghiên cứu tâm lý học Những nội dung cơ bản trong tâm lý học hành vi của J.Watson đã trở thành phương hướng chỉ đạo cho sự phát triển của tâm lý học Mỹ và có ảnh hưởng nhất định tới các ngành khoa học khác khi nghiên cứu về con người, vì thế người ta gọi bài báo “Tâm lý học dưới con mắt của nhà hành vi” là tuyên ngôn của J.Watson Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của tâm lý học hành vi là quan niệm về con người và đời sống tâm lý con người một cách cơ học, máy móc giống như tâm lý động vật

Những hạn chế trong trong tâm lý học hành vi của J.Watson đã không thoả mãn với thực tiễn cuộc sống, Tolman cho rằng công thức S R mà J.Watson đưa ra không phải là tâm lý học hành vi mà chỉ là sinh lý học về hành vi Chúng ta có thể nhận thấy cùng một kích thích giống nhau nhưng phản ứng đáp lại ở mỗi người là khác nhau hoặc ở cùng một người nhưng kích thích ở những điều kiện hoàn cảnh khác nhau thì phản ứng cũng khác nhau, điều này cho thấy hành vi của chủ thể còn phụ thuộc vào những yếu tố khác từ những năm 30 của thế kỷ XX những người kế tiếp trường phái này như E.Tolman (1886-1959); E.Garơđi (1886-1959)…đã nhìn ra đúng lúc sự cần thiết phải điều chỉnh, thay đổi và họ đã cố gắng bổ xung vào công thức S

R một biến số trung gian 0 để trở thành công thức mới S °R, trong đó 0 là yếu tố trung gian liên quan đến điều kiện môi trường Có nghĩa là khi kích thích S tác động lên cơ thể, thì môi trường tại thời điểm đó diễn ra như thế

nào? Như vậy, tư tưởng này có liên quan đến tư tưởng quyết định luận vật lý.

Mặt khác, biến số O có liên quan đến việc tại thời điểm kích thích (S) phát

Trang 10

huy tác dụng thì trạng thái, nhu cầu cơ thể diễn ra như thế nào? Tư tưởng này

lại liên quan đến tư tưởng quyết định luận sinh vật Như vậy, E.Tolman,

E.Garơđi và các cộng sự của ông được gọi là những nhà hành vi mới Thuyết hành vi mới xuất hiện trong lúc tâm lý học đang lâm vào cuộc khủng hoảng thứ hai , vì những mâu thuẫn mới giữa các sự kiện thu thập được trong khoa học này và phương pháp luận của nó Sự khủng hoảng này biểu hiện ở chỗ sau mỗi lần thử nghiệm lại cho kết quả đáng nghi ngờ về tính khách quan của

“cương lĩnh J.Watson” “Các nhà hành vi gọi cuộc khủng hoảng này là cuộc khủng hoảng về mặt lý giải”6 Cuộc khủng hoảng này đã đưa đến vô số cuộc tranh luận làm cho tâm lý học như trải qua một cơn bệnh Thực chất đây là cuộc khủng hoảng về phương pháp luận trong các nhà tâm lý học hành vi

Mặc dù các nhà tâm lý học hành vi mới đã có nhiều cố gắng để bổ xung vào công thức S R của J.Watson biến số trung gian, nhưng sự bổ sung của các ông không làm thay đổi và khắc phục được những thiếu sót căn bản của tâm lý học hành vi J.Watson là phủ nhận ý thức, xem hành vi với tư cách

là tổng các phản ứng của cơ thể trước các kích thích bên ngoài là đối tượng nghiên cứu của tâm lý học Đây là một sai lầm về phương pháp luận có tính nguyên tắc của các nhà tâm lý học hành vi, vì họ không có luận điểm thật sự khoa học về con người, sai lầm này đã dẫn đến sự tan rã của tâm lý học hành

vi

Nguyên nhân tan rã của tâm lý học hành vi:

Giáo sư- viện sĩ Phạm Minh Hạc Tác giả của “Hành vi và hoạt động”

đã đứng trên lập trường của tâm lý học Mác xít để xem xét tính lịch sử khoa học và phát hiện ra nguyên nhân chủ yếu ngăn cản không cho thuyết hành vi phát triển thành một hệ thống tâm lý học thực sự khách quan là:

6 S®d tr 81

Ngày đăng: 18/05/2017, 21:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w