Chẩn đoán tâm lý là một môn khoa học nằm trong khoa học nghiên cứu về tâm lý con người, sự ra đời của chẩn đoán tâm lý đã đáp ứng nhu cầu khám phá thế giới nội tâm “tâm hồn” con người ngày càng hiệu quả. Có thể nói sự ra đời của bộ môn chẩn đoán tâm lý là rất sớm, lúc đầu nó được gắn với thuật ngữ Psychodiagnostik được Rorschach đưa ra năm 1921. Trong những năm gần đây, các từ điển tâm lý học cũng như trong các tài liệu tâm lý học ở Mỹ và nhiều nước đã không còn sử dụng thuật ngữ chẩn đoán tâm lý mà thay vào đó là trắc nghiệm tâm lý. Tại Liên Xô, chẩn đoán tâm lý được hình thành vào cuối những năm 1960. Chẩn đoán tâm lý được gắn với lâm sàng nhiều hơn. Ngoài ra còn có xu hướng nữa là gắn chẩn đoán tâm lý với sự sai biệt về tâm sinh lý.
Trang 1MỞ ĐẦU
Chẩn đoán tâm lý là một môn khoa học nằm trong khoa học nghiên cứu vềtâm lý con người, sự ra đời của chẩn đoán tâm lý đã đáp ứng nhu cầu khám phá thếgiới nội tâm “tâm hồn” con người ngày càng hiệu quả Có thể nói sự ra đời của bộmôn chẩn đoán tâm lý là rất sớm, lúc đầu nó được gắn với thuật ngữPsychodiagnostik được Rorschach đưa ra năm 1921 Trong những năm gần đây,các từ điển tâm lý học cũng như trong các tài liệu tâm lý học ở Mỹ và nhiều nước
đã không còn sử dụng thuật ngữ chẩn đoán tâm lý mà thay vào đó là trắc nghiệmtâm lý Tại Liên Xô, chẩn đoán tâm lý được hình thành vào cuối những năm 1960.Chẩn đoán tâm lý được gắn với lâm sàng nhiều hơn Ngoài ra còn có xu hướng nữa
là gắn chẩn đoán tâm lý với sự sai biệt về tâm - sinh lý
Chẩn đoán tâm lý là một lĩnh vực nghiên cứu của tâm lý học, chuyên nghiêncứu những vấn đề về lý luận, xây dựng các nguyên tắc, công cụ và thực hành chẩnđoán tâm lý Chẩn đoán tâm lý là kết quả hoạt động của nhà tâm lý hướng đến việc
mô tả và làm sáng tỏ bản chất những đặc điểm tâm lý – cá nhân nhằm mục đíchđánh giá trạng thái hiện tại, dự đoán sự phát triển trong tương lai và đưa ra những
đề xuất, kiến nghị theo nhiệm vụ, yêu cầu của chẩn đoán
Với góc độ là một lĩnh vực của tâm lý học, đối tượng nghiên cứu của chẩnđoán tâm lý là các hiện tượng tâm lý Đối tượng của đoán tâm lý trùng với đốitượng nghiên cứu với tâm lý học sai biệt: sự sai biệt tâm lý Tuy nhiên điểm khácbiệt lớn nhất giữa hai bộ môn này ở chỗ, nếu tâm lý học sai biệt hướng vào việc đolường thì chẩn đoán tâm lý hướng đến việc lý giải những sự khác biệt biệt đó nhằmgiải quyết nhiệm vụ thực tiễn Và như vậy dưới góc độ nghiên cứu về chẩn đoántâm lý, nhận thấy có rất nhiều cách thức phương pháp tiếp cận Trong phạm vi giới
hạn của tiểu luận, chỉ tập trung nghiên cứu về: “Chẩn đoán nhân cách và ý nghĩa trong hoạt động quân sự”.
Trang 2Chương 1 CÁCH TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU CHẨN ĐOÁN NHÂN CÁCH 1.1 Khái niệm nhân cách
Nhân cách là vấn đề luôn được quan tâm của các khoa học Theo một số tác giảnhận định, đến nay đã có thể có đến hàng trăm phát biểu định nghĩa về nhân cách NhưGruzia đã nhận xét: Mặc dù có những nỗ lực hết sức to lớn song lý luận về nhâncách vẫn là một trong những lý thuyết ít rõ ràng nhất của tâm lý học hiện đại, mộtlĩnh vực mà trong đó ít có sự thống nhất nhưng nhiều tranh cãi hơn bất kỳ lĩnh vựcnào khác của tâm lý học
W James (1842 – 1910) quan niệm nhân cách bao gồm toàn bộ những gì màcon người có thể gọi là của mình: cơ thể, tâm hồn, gia đình, bạn bè, nhà cửa, xe cộ
W Stern (1856 – 1939) lý giải nhân cách theo hai yếu tố: sự tương tác giữayếu tố bên trong với yếu tố bên ngoài (thuyết hai yếu tố)
E Kretschmer và W Sheldon lý giải nhân cách qua các đặc điểm thể tạng.Trong tâm lý học Xô viết, mặc dù có sự thống nhất chung về phương phápluận song khi đi vào quan niệm cụ thể về nhân cách thì cũng có những sự khác biệtnhất định Kovaliev xem nhân cách như là một cá thể có ý thức, có một vị thế xãhội và thực hiện một vai trò xã hội nhất định Chia sẻ quan niệm nhân cách là mộtcon người cụ thể còn có: Platonov, Bueva, Feđenko, Sorokhova
Leontiev quan niệm nhân cách là một cấu thành tâm lý, Miaxishev phân tíchnhân cách như là một tổ hợp các mối quan hệ xã hội còn Rubinstein nghiên cứunhân cách dưới góc độ là một sự thống nhất chặt chẽ các điều kiện bên trong màqua đó các tác động bên ngoài được khúc xạ
Tâm lý học quân sự (Nxb QĐND, H 2005): Nhân cách là tổng hoà các phẩmchất xã hội, được cá nhân lĩnh hội trong hoạt động và giao tiếp, phản ánh giá trị xãhội của cá nhân đó trong cộng đồng
Trang 31.2 Cách tiếp cận nghiên cứu chẩn đoán nhân cách
1.2.1 Lí thuyết và thực hành
Khía cạnh lý thuyết về nhân cách mà chúng ta cần quan tâm từ góc độ chẩnđoán tâm lý chính là các lý luận về cấu trúc nhân cách Bên cạnh đó cũng phải nóithêm rằng có rất nhiều định nghĩa về nhân cách đi theo hướng làm sáng tỏ cấu trúccủa nhân cách
Về mặt thực nghiệm, việc nghiên cứu nhân cách cũng đã được quan tâm từlâu Những nghiên cứu mang tính hệ thống chưa nhiều so với các lý thuyết Cũng
có một thực tế là phần nhiều các nghiên cứu thực nghiệm nhân cách mới chỉ triểnkhai nhằm tiếp cận một khía cạnh nào đó của tổng thể: khảo sát về khí chất hay xuhướng, “đo” hứng thú, giá trị
1.2.2 Vấn đề phương pháp
Để hiểu rõ hơn những khó khăn mà nhà nghiên cứu gặp phải khi nghiên cứu
về nhân cách, chúng ta bàn về những vấn đề mang tính phương pháp luận Trongcác thí nghiệm vật lý - hoá học cổ điển, người ta thường nghiên cứu những sự biếnđổi của biến phụ thuộc dưới góc độ là hàm số của biến độc lập được kiểm soát bởinhà nghiên cứu Trong tâm lý học, cách tiếp cận thực nghiệm như vậy cũng hết sứchiệu quả Tuy nhiên đối với tâm lý học nhân cách thì cách tiếp cận như vậy lại chưathoả đáng Vấn đề ở chỗ chúng ta có thể yêu cầu thân chủ thực hiện một bài tập trắcnghiệm hoặc trả lời một bản câu hỏi hoặc quan sát những hành vi của thân chủtrong hoàn cảnh (tình huống) đã định nhằm mục đích ghi nhận những phản ứng cánhân Biến độc lập trong các tình huống đề cập ở trên chính là cấu trúc nhân cách.Tuy nhiên nhà nghiên cứu không thể kiểm soát được chính biến số độc lập này vìbản thân nó cũng là cái chưa biết và chính thực nghiệm được thiết kế để nhằm nắmbắt được cái chưa biết đó Vòng tròn (luẩn quẩn) đã được khép kín và điều nàyphần nào cũng đã giải thích tại sao lại có sự chậm chạp trong lĩnh vực này
Trang 41.2.3 Phương tiện nghiên cứu
Về nguyên tắc, phương tiện phù hợp nhất cho nghiên cứu nhân cách chính là
sự quan sát trực tiếp hành vi, vì những hành vi thường ngày, trong những tìnhhuống thực: trong gia đình, cơ quan công sở, trong những tình huống giao tiếp vớingười quen hay người lạ, với bạn bè hay kẻ thù đều là sự thể hiện của nhân cách
Tuy nhiên trên thực tế hầu như không thể làm được điều đó Còn nếu như lạichỉ xem xét, đánh giá nhân cách trên cơ sở một số hành vi đã được ghi nhận mộtcách phân tán thì sự đánh giá như vậy sẽ ít có giá trị, độ tin cậy không cao Vì lẽ
đó, các nhà nghiên cứu thường sử dụng những phương pháp dưới đây để nghiêncứu nhân cách
1.2.4 Các phương pháp nghiên cứu
* Nghiên cứu tiểu sử
Những tư liệu tiểu sử có quan hệ rất gần gũi với quan sát trực tiếp, bởi lẽ nóbao gồm những thời điểm quan trọng nhất trong cuộc đời của một con người Tuynhiên do mầu sắc chủ quan nên nó không thể phản ánh được đầy đủ và khách quannhững hành vi của đối tượng Để khắc phục một phần những hạn chế đó, người ta
có thể bổ sung bằng các cứ liệu quan sát trong một khoảng thời gian dài
* Sử dụng bảng hỏi
Để đánh giá một con người rõ ràng không thể dựa trên một vài quan sát lẻ tẻ
về hành vi, dù cho là những hành vi điển hình, của con người đó Do vậy người tathường viện đến phương pháp sử dụng bảng hỏi Người được hỏi có thể là chínhđối tượng hoặc là người khác như: cha mẹ, giáo viên, bạn bè Trong bảng hỏithường hỏi về những hành vi, nét tính cách, hứng thú, sở thích của đối tượng.Chúng ta có cơ sở để nhận định rằng kết quả của phương pháp này có độ tin cậycao hơn so với những quan sát dời rạc, không hệ thống Tuy nhiên nó cũng chứađựng khá nhiều hạn chế Để chẩn đoán tâm lý cá nhân, một mình phương pháp nàychưa đủ
Trang 5* Kiến tạo tình huống thực nghiệm
Một cách khác để nhằm khắc phục những hạn chế của quan sát không hệthống là kiến tạo các tình huống thực nghiệm như nhau cho tất cả mọi nghiệm thể.Phương pháp này mang tính khách quan hơn song hạn chế của nó là chỉ giới hạntrong khuôn khổ nghiên cứu Vấn đề không chỉ ở chỗ việc sử dụng nó khá phứctạp, đòi hỏi nhiều thời gian mà còn hạn chế khá lớn nữa là sự lựa chọn các tìnhhuống cũng rất hạn hẹp Ví dụ, không thể tạo ra các tình huống thực nghiệm gâynguy hiểm hoặc thất vọng cùng cực Ngoài ra cũng còn phải lưu ý một điểm rằngkhông phải những gì mà họ thể hiện trong tình huống thực nghiệm thì cũng thể hiệnnhư vậy trong các tình huống thực ngoài đời
* Sử dụng trắc nghiệm
Điển hình của các trắc nghiệm nhân cách phải kể đến các test phóng chiếu.Gọi là điển hình bởi theo quan niệm của các nhà tâm lý học phân tích thì các đặcđiểm nhân cách được phóng chiếu lên các câu trả lời
Trang 6Chương 2 CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN NHÂN CÁCH
VÀ Ý NGHĨA TRONG HOẠT ĐỘNG QUÂN SỰ 2.1 Lịch sử phát triển
2.1.1 Sự khởi đầu
Khi nói đến thực nghiệm trong tâm lý thì chính Wundt (1879) là người khởiđầu Còn nói đến trắc nghiệm tâm lý thì thường người ta nhắc đến Galton Là mộtnhà sinh vật học người Anh, Ngài Francis Galton rất quan tâm đến di truyền Bằngnghiên cứu phả hệ, ông nhận thấy rằng sự thông minh mang tính di truyền trongdòng họ Để tìm kiếm câu trả lời, ông đã hoạt động không mệt mỏi theo hướngnhân trắc Galton đã thành lập nhiều cơ sở nhân trắc Năm 1884, Galton còn thànhlập Phòng thí nghiệm nhân trắc tại triển lãm quốc tế Khách hàng chỉ cần trả 3 cent
là có thể được đo một số chỉ số về thị giác, thính giác, sức cơ, thời gian phản xạcùng một số chức năng giác quan đơn giản khác Sau khi triển lãm đóng cửa, phòngthí nghiệm nhân trắc được chuyển đến viện bảo tàng Nam Kensington – London vàcòn tiếp tục hoạt động thêm 6 năm nữa Galton cũng còn là người khởi đầu áp dụngcác phương pháp thang cho điểm, bảng hỏi và kỹ thuật liên tưởng tự do Một cônglao nữa cũng đáng ghi nhận của Galton chính là việc phát triển các phương phápthống kê để phân tích các cứ liệu khác biệt cá nhân Và cũng cần phải nói thêm làchính Galton là người khởi xướng thuyết Ưu sinh học: khuyến khích những ngườithông minh kết hôn với nhau, cấm những người chậm phát triển trí tuệ có con
Đóng góp vào sự phát triển trắc nghiệm tâm lý còn có James McKeenCattell Ngay từ luận án tiến sỹ của mình, Cattell đã nghiên cứu sự khác biệt cánhân về thời gian phản xạ mặc dù Wundt, người đầu tiên thành lập phòng thựcnghiệm tâm lý trên thế giới, không ủng hộ hướng nghiên cứu này Sự quan tâm củaCattell đến khác biệt cá nhân càng được củng cố khi ông gặp Galton trong thời giangiảng bài tại Cambridge (1888) Trở về Mỹ ông đã tích cực hoạt động trong việc
Trang 7thành lập các phòng thực nghiệm tâm lý, nhân rộng và phát triển xu hướng trắcnghiệm tâm lý Thuật ngữ “Mental test ” (test trí tuệ, tâm lý ) lần đầu tiên đã đượcCattell đưa ra vào năm 1890 trong bài báo của mình Trong bài báo này Cattell đã
mô tả hàng loạt các test có thể được dùng để khảo sát mức độ trí tuệ của sinh viên
Cuối thế kỷ XIX, nhiều nhà tâm lý học Châu Âu đã quan tâm tới test.Kraepelin (1895) là nhà lâm sàng đã tìm kiếm những yếu tố cơ bản tạo nên đặcđiểm cá nhân Trước đó vài năm, học trò của Kraepelin là Oehrn (1889) đã sử dụngtest tri giác, trí nhớ, liên tưởng và vận động để tìm kiếm sự tương quan với cácchức năng tâm lý
Test trí tuệ (trí tuệ là thành phần quan trọng, thông qua test trí tuệ để người
ta nhận biết nhân cách và là phương pháp xác định nhân cách con người)
Nếu F Galton, J Cattell là những người khởi đầu thì A Binet và cộng sự củaông, bác sĩ T Simon với chính là những người thực sự mở ra thời kỳ mới của trắcnghiệm trí tuệ nói riêng và test tâm lý nói chung Năm 1905, test trí tuệ đầu tiên rađời Thang Binet - Simon (Binet - Simon Scale) Do tính hiệu quả của nó, thangBinet - Simon được phổ biến sang nhiều nước Thang này cũng còn là sự khởi đầucho hàng loạt các test trí tuệ khác Binet và các đồng nghiệp của ông đã miệt màitrong nhiều năm để tìm kiếm cách đo trí tuệ Họ đã thử rất nhiều cách: đo sọ não,
đo mặt, định dạng tay, thậm chí phân tích cả chữ viết Tuy nhiên kết quả khôngđáng kể Cơ hội đã đến khi Bộ trưởng Bộ Giáo dục phổ thông Pháp bổ nhiệm Binetvào Uỷ ban nghiên cứu các vấn đề giáo dục trẻ em chậm phát triển Với hợp tácchặt chẽ của bác sĩ Simon, năm 1905 Thang Binet – Simon nổi tiếng đã ra đời.Ban đầu, Thang Binet – Simon (1905) gồm 30 vấn đề được sắp xếp theo mức
độ khó Mức độ khó được xác định bằng kết quả của 50 trẻ bình thường, tuổi từ 3đến 11, một số trẻ chậm phát triển trí tuệ và người lớn Trắc nghiệm đã được thiết
kế nhằm bao phủ được nhiều chức năng, đặc biệt là những chức năng mà Binet chorằng chúng là những thành tố quan trọng trong trí tuệ: khả năng đánh giá, hiểu biết
Trang 8và khả năng suy luận Năm 1908, phiên bản thứ 2 ra đời Trong phiên bản này, cónhiều bài mới được bổ sung, những bài không phù hợp bị loại bỏ Toàn bộ testđược phân theo nhóm tuổi trên cơ sở kết quả của khoảng 300 trẻ bình thường, độtuổi từ 3 đến 13 Ví dụ, Các test của nhóm 3 tuổi gồm những bài tập mà khoảng 80– 90 % số trẻ 3 tuổi bình thường thực hiện được Tương tự, test nhóm 4 tuổi baogồm những bài mà số trẻ 4 tuổi bình thường thực hiện được Điểm trắc nghiệm củamột trẻ bất kỳ sẽ được đối chiếu và qua đó xác định được mức độ trí tuệ Trong
nhiều bản dịch, bản thích ứng sau đó, thuật ngữ Mental level (Mức độ trí tuệ), đã được một số tác giả đổi thành Mental age (tuổi trí tuệ) Bản thân Binet không thích cụm từ Mental age bởi nó không làm sáng tỏ được hàm ý phát triển và ông vẫn thích dùng thuật ngữ Mental level hơn
Phiên bản thứ 3 của Thang Binet - Simon xuất hiện năm 1911, năm Binet độtngột qua đời Trong thang này đã có những thay đổi cơ bản Ngay từ trước phiênbản năm 1908, Thang Binet - Simon đã được rất nhiều nhà tâm lý học trên thế giớiquan tâm và thang cũng được phổ biến ở nhiều nước Tại Mỹ cũng có nhiều bảnchỉnh lý khác nhau song bản của L M Terman Trường Đại học Stanford là có uytín nhất và được biết với tên thang Stanford – Binet (Terman 1916) Cũng trong
Thang này Terman đưa ra thuật ngữ Intelligence Quotient - Chỉ số trí tuệ IQ1 Năm
1939, Wechsler cho công bố test trí tuệ người lớn, mở đầu hướng đo trí tuệ theokhuynh số (deviation)
Test nhân cách
Năm 1921, H Rorschach, nhà tâm thần học Thụy Sĩ đã cho ra đời công trìnhPsychodiagnostick (Chẩn đoán tâm lý) Trong quyển sách này ông đã mô tả việcdùng các vết mực để chẩn đoán bệnh nhân tâm thần Mãi đến năm 1937, S Beck vàB.Klopfer cùng đưa ra các kỹ thuật tiến hành và tính điểm thì phương phápRorschach mới thực sự trở lên phổ biến Năm 1939, L Frank đưa ra thuật ngữ
Projective techniques (kỹ thuật phóng chiếu, xuất chiếu) để giải thích cơ chế của
Trang 9phương pháp Rorschach Kể từ đó đến nay, hàng loạt các phương pháp, công trìnhnghiên cứu, tạp chí dựa trên kỹ thuật phóng chiếu xuất hiện Năm 1935, TAT(Thematic Apperception Test) của Christiana Morgan và Henry Murray ra đời.TAT cũng là một test nhân cách dựa trên kỹ thuật phóng chiếu Mức độ thông dụngcủa nó chỉ đứng sau test Rorschach (T.Trull và E.Phares, 2001) Năm 1943 xuấthiện trắc nghiệm nhân cách MMPI (Minnesota Multiphasic Inventory) Trải quacác đợt điều chỉnh, phiên bản đang dùng phổ biến hiện nay là MMPI - II Do nhữngthành công của trắc nghiệm trí tuệ, các test nhân cách cũng phát triển mạnh Nhữngnăm 1940 - 1950 là thời kỳ bùng nổ của trắc nghiệm nhân cách, đặc biệt là các testphóng chiếu Trong thời gian giữa 2 cuộc đại chiến thế giới, chẩn đoán tâm lý vẫntiếp tục phát triển Năm 1926, Goodenough dùng kỹ thuật Draw – a - Man (vẽngười) để đo trí tuệ Như vậy cho đến giữa thế kỷ XX, chẩn đoán tâm lý đồngnghĩa với làm test, hoặc là test trí tuệ hoặc là test nhân cách, thậm chí nhà tâm lýcòn được gọi là các tester.
2.1.2 Thời kỳ từ giữa thế kỷ XX đến nay
Mặc dù xuất hiện cũng khá sớm, ngay từ đầu thế kỷ thứ XX, song mãi đếncuối những năm 50, tâm lý học hành vi mới vào cuộc trong chẩn đoán tâm lý Như
đã biết, tâm lý học hành vi cho rằng đối tượng của tâm lý học không phải là cáchiện tượng tâm lý mà là hành vi Theo các nhà tâm lý học hành vi, chỉ có thể đođược hành vi chứ không thể đo được nhân cách hay các nét nhân cách
Do sự "tấn công" của tâm lý học hành vi, việc lượng giá, chẩn đoán nhâncách trong tâm lý học vào những năm 60 đã chuyển sang hướng hành vi nhiều hơn.Năm 1968, W Mischel cho rằng cái gọi là nét nhân cách chỉ tồn tại trong ý thứccủa nhà nghiên cứu hơn là trong hành vi của những người được quan sát Chính cáctình huống, hoàn cảnh (situation) chứ không phải là các phức bộ nét nhân cách quiđịnh hành vi của con người
Trang 10Tuy nhiên đến những năm 1980 - 1990 lượng giá nét nhân cách lại khẳngđịnh lại vị trí của mình: vẫn có những nét nhân cách ổn định trong các tình huốngkhác nhau (Epstein và Obrien, 1985; Costa và Mc Crae, 1980) Cũng trong giaiđoạn này, xu hướng của chẩn đoán tâm lý không gắn với một trắc nghiệm mà làmột tập hợp các trắc nghiệm (tổng nghiệm) và sau đó là sự kết hợp với nhiềuphương pháp khác nữa Ví dụ, lượng giá hành vi hoặc phỏng vấn chẩn đoán
Trắc nghiệm nhóm
Thang Binet và những phiên bản đều là thang đo cá nhân, có nghĩa là chỉ cóthể thực hiện với từng người riêng lẻ Do vậy thang không thể thích ứng, chuyểnđổi sang trắc nghiệm nhóm Một đặc điểm khác nữa của thang Binet – Simon là nóđòi hỏi nghiệm viên phải có kỹ năng nghề nghiệp cao, phải được đào tạo Nhữngtrắc nghiệm dạng này rất phù hợp với các nhà lâm sàng khi phải nghiên cứu từngtrường hợp Cũng như thang Binet, trắc nghiệm nhóm được xuất hiện dưới áp lựccủa thực tiễn Khi Mỹ tham chiến vào chiến tranh thế giới lần thứ I, hội tâm lý học
Mỹ đã thành lập một uỷ ban để tìm các biện pháp mà tâm lý học có thể đóng gópvào cuộc chiến Uỷ ban này nhận thấy công việc đầu tiên mà các nhà tâm lý họccần phải làm đó là phân loại nhanh mức độ trí tuệ của 1,5 triệu tân binh Thông tinnày rất cần thiết cho các quyết định: tuyển chọn học sỹ quan, bố trí vào các dạnghoạt động phù hợp hoặc thậm chí có thể là loại ngũ
Để soạn thảo trắc nghiệm nhóm, các nhà tâm lý quân đội Mỹ đã thu thập rấtnhiều những tư liệu test, đặc biệt là trắc nghiệm trí tuệ nhóm của A S Otis nhưngchưa được công bố Trắc nghiệm này do Otis soạn thảo ngay từ khi còn đang theohọc một chương trình củaTerman Điều thú vị là test của Otis được xây dựng theodạng “khách quan” và câu trả lời dưới dạng lựa chọn Cuối cùng bộ trắc nghiệm do
các nhà tâm lý quân đội Mỹ biên soạn được mang tên The Army Alpha (Alpha Quân đội) và The Army Beta (Beta Quân đội) The Army Alpha được xây dựng cho việc sử dụng chung còn The Army Beta được thiết kế theo các thang phi ngôn ngữ
Trang 11và dành cho những người mù chữ hoặc những tân binh gốc nước ngoài không thạotiếng Anh Cả 2 trắc nghiệm đều phù hợp với nhóm lớn.
Ngay sau khi chiến tranh kết thúc, các trắc nghiệm đã được sử dụng rộng rãitrong lĩnh vực dân sự Không chỉ có Alpha Quân đội mà cả Beta Quân đội cũng đềuđược phát triển và xuất hiện nhiều phiên bản mới Một trào lưu và gần như mốt thờithượng đó là trắc nghiệm trí tuệ, đặc biệt sau khi người ta đã soạn thảo được testtập thể cho mọi lứa tuổi Do trắc nghiệm tập thể được thiết kế để sử dụng rộng rãinên hầu như ai cũng có thể trở thành nhà làm test (tester) và ai cũng có thể được đo
IQ Anastasi A gọi đó là Tinh thần IQ Việc sử dụng một cách bừa bãi trắc nghiệm
tâm lý nói chung, trí tuệ nói riêng đã gây ra những hậu quả xấu: về xã hội gây ra sựphân biệt đối xử, còn về khoa học, nó không những không làm cho trắc nghiệmphát triển thêm mà ngược lại
Trắc nghiệm năng lực:năng lực là bộ phận hợp thành nhân cách và thông qua phương pháp trắc nghiệm năng lực người ta cũng có thêm cơ sở xác định được nhân cách con người
Dần dần các nhà tâm lý nhận ra rằng trí tuệ là một cấu trúc phức tạp, trong đó
có nhiều thành tố Những test được gọi là test trí tuệ đã không đo được toàn bộ cácthành tố đó mà chỉ chủ yếu đo được những khả năng có sử dụng ngôn ngữ Mặt khác,
có nhiều test trong số đó chỉ là trắc nghiệm năng lực học tập Bên cạnh việc hoàn thiệncác test trí tuệ, thực tiễn tư vấn nghề, công tác nhân sự cũng đòi hỏi các nhà tâm lýphải xây dựng những trắc nghiệm năng lực riêng biệt Và như vậy đã có hàng loạt trắcnghiệm năng lực ra đời, trong đó đáng kể nhất là những trắc nghiệm năng lực cơ khí,năng lực văn phòng, năng lực âm nhạc, năng lực biểu diễn nghệ thuật
Khuynh hướng chẩn đoán phân biệt năng lực rất được các nhà lâm sàng quantâm Thậm chí họ còn bóc tách một số bài tập trong các trắc nghiệm trí tuệ để làmcông cụ khảo sát năng lực Cùng với khuynh hướng phân tách nhỏ này lại xuất hiênmột khuynh hướng ngược lại Trong quá trình nghiên cứu bản chất của trí tuệ người
Trang 12ta nhận thấy ở rất nhiều người sau khi thực hiện nhiều trắc nghiệm khác nhau thì cónhững mối tương quan bên trong Đi đầu trong các nghiên cứu này là nhà tâm lýhọc người Anh Charler Spearman (1904) Dựa trên kết quả của các tác giả như: T.
L Kelley (1928); L.L Thurstone (1935), ông đã cho ra đời phương pháp mới,phương pháp phân tích yếu tố
Một trong những kết quả ứng dụng thực tiễn chính của phân tích yếu tốchính là việc xây dựng các bộ tổng nghiệm đa năng lực Các tổng nghiệm đa nănglực này đã được các nhà tâm lý học quân đội Mỹ sử dụng nhiều trong thời gianChiến tranh Thế giới lần II Ví dụ: như trong Lực lượng Không quân Mỹ, người ta
đã xây dựng các tổng nghiệm cho phi công, chuyên gia ném bom, sỹ quan thông tinliên lạc, biệt kích Sau chiến tranh, bên cạnh sự tiếp tục phát triển trong quân đội
Mỹ, các tổng nghiệm đa năng lực cũng được soạn thảo và ứng dụng trong lĩnh vựcdân sự: trong tư vấn nghề nghiệp, tư vấn giáo dục, lựa chọn nhân sự
Trắc nghiệm thành tựu chẩn hoá
Trong khi các nhà tâm lý bận rộn với việc phát triển các test trí tuệ, test nănglực thì cách thức kiểm tra truyền thống trong trường học cũng đã có những cải tiến
kỹ thuật đáng kể Bước đi quan trọng đầu tiên thuộc hướng này do các trường phổthông ở Boston (Mỹ) thực hiện từ năm 1845 Khi đó người ta đã thay kiểm tra viếtbằng vấn đáp Tuy nhiên phải sang đầu thế kỷ XX, sau khi xuất hiện công trìnhnghiên cứu của E L Thorndike các trắc nghiệm kết quả chuẩn mới thực sự đượcquan tâm Ví dụ các thang đo của trắc nghiệm này: thang cho điểm chất lượng bàiluận cũng như chữ viết, các test đánh vần, tính toán, suy luận số học Năm 1923xuất hiện Tổng nghiệm kết quả Stanford của nhóm tác giả T L Kelley, G M Ruch
và L M Terman Test đã đưa ra các phép đo quả các môn học khác nhau và sosánh với nhóm chuẩn.Trắc nghiệm thành tựu rất phát triển ở Mỹ Vào những năm
30 của thế kỷ vừa qua, khuynh hướng này đã lan rộng toàn liên bang, thậm chí còn
có các chương trình về trắc nghiệm Năm 1947 người ta đã thành lập Dịch vụ Trắc
Trang 13nghiệm Giáo dục Không chỉ trong lĩnh vực giáo dục, trắc nghiệm kết quả còn lansang cả các lĩnh vực khác: tuyển chọn nghề nghiệp, tuyển chọn công chức Chođến nay, khuynh hướng này vẫn đang trên đà phát triển.
Trắc nghiệm nhân cách
Một lĩnh vực khác được nhiều nhà trắc nghiệm quan tâm, đó là lĩnh vực phitrí tuệ: cảm xúc Tuy nhiên sau này tất cả các trắc nghiệm đó đều được xếp chungvào nhóm trắc nghiệm nhân cách Bước đi ban đầu của test nhân cách là test liêntưởng tự do dành cho bệnh nhân dị thường của Kraepelin Nội dung chính của trắcnghiệm là: người bệnh được nghe lần lượt từng từ (cụm từ) đã được lựa chọn trước
và trả lời thật nhanh mỗi từ nghe được bằng từ đầu tiên xuất hiện trong đầu.Sommer (1894) cũng đã cho rằng phương pháp này còn có thể được sử dụng đểchẩn đoán phân biệt các rối loạn tâm thần với nhau Cho đến nay, kỹ thuật liêntưởng tự do vẫn được sử dụng nhiều trong lâm sàng
Một biến thể của anket nhân cách hoặc bộ câu hỏi tự thuật là tờ tư liệu cá nhân
do Woodworth soạn thảo từ hồi đại chiến Thế giới lần thứ nhất Test được thiết kế như
là một thiết bị sàng lọc nhằm phát hiện những người bị suy nhược thần kinh nặng (tâmcăn) và không có đủ khả năng phục vụ quân đội Bộ câu hỏi bao gồm những câu hỏichung về các triệu chứng tâm căn và chủ thể trả lời những vấn đề liên quan đến bảnthân Điểm tổng được tính theo tổng điểm các triệu chứng đã được tự thuật Mặc dù cónhững điểm chưa hoàn thiện song tờ tư liệu cá nhân được nhiều tác giả khác lấy làmmẫu để soạn thảo các bộ câu hỏi thích ứng cảm xúc Thậm chí còn có những anketđược thiết kế chuyên biệt hơn như: thích ứng trong gia đình, thích ứng trường học,thích ứng nghề nghiệp Một hướng tiếp cận khác là test thực thi hoặc test tình huống.Trong những test này, chủ thể phải thực thi một việc gì đó nhưng lại không rõ ràng.Hầu hết các test này đều mô phỏng những tình huống của cuộc sống Hướng tiếp cậnthứ 3 trong test nhân cách chính là các kỹ thuật phóng chiếu Trong những test này,đối tượng phải thực hiện những nhiệm vụ không có cấu trúc rõ ràng và phạm vi giải