DANH MỤC CÁC BẢNG3.2 Tuổi và phân loại cơn động kinh của Liên Hội Quốc Tế Chống Động Kinh 45 3.3 Tuổi và phân loại cơn động kinh triệu chứng 46 3.4 Tuổi bệnh nhân và hội chứng động kinh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LÊ VĂN TUẤN
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG PHÂN LOẠI CÁC CƠN ĐỘNG KINH THEO TRIỆU CHỨNG VÀ HỘI CHỨNG ĐỘNG KINH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
TP HỒ CHÍ MINH - 2009
Trang 2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LÊ VĂN TUẤN
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG PHÂN LOẠI CÁC CƠN ĐỘNG KINH THEO TRIỆU CHỨNG VÀ HỘI CHỨNG ĐỘNG KINH
Chuyên ngành: Thần Kinh Mã số: 62 72 20 45
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS TS Vũ Anh Nhị
2 PGS TS Nguyễn Hữu Công
TP HỒ CHÍ MINH - 2009
Trang 3
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
1.3.1 Phân loại cơn động kinh của Liên Hội Quốc Tế Chống
1.3.3 Một số nghiên cứu so sánh giữa phân loại cơn động
kinh của Liên Hội Quốc Tế Chống Động Kinh và phân loại
cơn động kinh theo triệu chứng
16
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
32
3.8 Phân loại cơn động kinh theo phân loại năm 1981 của
3.9 Phân loại cơn động kinh theo đề nghị phân loại Quốc Tế 55
Trang 4
của Liên Hội Quốc Tế Chống Động Kinh năm 2001
3.15 Phân loại hội chứng động kinh theo phân loại Quốc Tế
3.16 Phân loại hội chứng động kinh theo đề nghị của Liên
4.1 Bàn luận về phân loại cơn động kinh theo Liên Hội Quốc
4.3 So sánh phân loại cơn động kinh theo triệu chứng và theoLiên Hội Quốc Tế Chống Động Kinh
83
4.6 Bàn luận phân loại hội chứng động kinh của Liên Hội
4.7 Bàn luận phân loại hội chứng động kinh theo đề nghị
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA
TÁC GIẢ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
3.2 Tuổi và phân loại cơn động kinh của Liên Hội Quốc
Tế Chống Động Kinh
45
3.3 Tuổi và phân loại cơn động kinh triệu chứng 46 3.4 Tuổi bệnh nhân và hội chứng động kinh của Liên Hội
3.5 Nguyên nhân động kinh ở những bệnh nhân đã được
chẩn đoán và mới được chẩn đoán 483.6 Phân loại cơn động kinh theo triệu chứng 49
3.8 Phân loại cơn động kinh theo triệu chứng theo nhóm
3.9 Phân loại cơn động kinh theo Liên Hội Quốc Tế
3.10 Tỉ lệ các loại cơn động kinh theo triệu chứng so với
loại cơn động kinh theo Liên Hội Quốc Tế Chống Động Kinh
53
3.11 Phân loại cơn động kinh theo đề nghị của Liên Hội
Quốc Tế Chống Động Kinh 2001
55
3.12 Hội chứng động kinh và hình ảnh học 56
3.14 Loại cơn theo phân loại của Liên Hội Quốc Tế Chống
3.15 Loại cơn theo phân loại triệu chứng và điện não đồ 60 3.16 Hội chứng động kinh và điện não đồ 62
3.19 Nguyên nhân động kinh và phân loại cơn động kinh
3.20 Nguyên nhân động kinh và phân loại hội chứng động
3.22 Phân loại hội chứng động kinh của Liên Hội Quốc Tế
Chống Động Kinh 1989
67
3.23 Hội chứng động kinh theo đề nghị của Liên Hội Quốc
Tế Chống Động Kinh 2001
Trang 7MỞ ĐẦU
Động kinh là tình trạng bệnh lý thường gặp và có thể ảnh hưởng nặngnề đến bệnh nhân [14],[16],[35],[36],[39],[66],[114] Ngay từ thời xa xưa,các nhà khoa học đã cố gắng phân loại động kinh để quản lý bệnh nhân,giao tiếp y khoa với nhau và nghiên cứu tốt hơn Có rất nhiều phân loại đãđược hình thành, nhiều phân loại mất đi và đã được thay thế bởi nhữngphân loại mới hơn Những phân loại mới hơn được hình thành nhờ vào sựtiến bộ của khoa học liên quan đến động kinh như điện não đồ, hình ảnh
[28],[33],[34],[78],[85],[87],[117] Năm 1989 Ủy Ban về Phân Loại vàThuật Ngữ Học của Liên Hội Quốc Tế Chống Động Kinh (LHQTCĐK) đãtrình bày: “thuật ngữ học được dùng để giao tiếp hàng ngày giữa các đồngnghiệp bao gồm những sự mô tả về các hội chứng động kinh Điều nàycũng đúng trong trường hợp ghi chẩn đoán vào các hồ sơ bệnh án và giaotiếp giữa các đồng sự trong các thử nghiệm lâm sàng” Tuy nhiên, phânloại động kinh đầu tiên không phân biệt giữa các cơn động kinh và hộichứng động kinh Các thuật ngữ chẳng hạn như cơn lớn (grand mal), cơnnhỏ (petit mal) và động kinh tâm thần vận động (psychomotor epilepsy)đã được dùng rộng rãi trong thực hành lâm sàng và trong các báo cáo khoahọc Thuật ngữ này vẫn được một số các nhà lâm sàng tiếp tục dùng chođến ngày hôm nay, tuy nhiên chúng thường không chính xác: động kinhcơn lớn thường được dùng để mô tả bất cứ các cơn động kinh nào mà biểuhiện toàn bộ hay một phần các cơn động kinh co cứng-co giật và động
Trang 8
kinh cơn nhỏ được dùng để mô tả bất cứ các cơn nhỏ nào (small attack) kểcả cơn động kinh cục bộ phức tạp [45].
Có nhiều cách phân loại động kinh vì lâm sàng động kinh rất phongphú, đa dạng [1] Các phương pháp phân loại động kinh hiện đang dùnggồm hai phân loại: (1) phân loại cơn động kinh của LHQTCĐK và (2)phân loại hội chứng động kinh của LHQTCĐK Phân loại cơn động kinhcủa LHQTCĐK hiện tại lần cuối cùng được cập nhật từ năm 1981 và phânloại hội chứng động kinh của LHQTCĐK lần cuối cùng được cập nhật từnăm 1989 Kể từ năm 1989 đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu,đầu tiên là xem xét khả năng ứng dụng của phân loại động kinh vào thựctế lâm sàng hàng ngày và trong các nghiên cứu dịch tễ học, sau đó lànhững nghiên cứu nhằm nhận biết những ưu điểm và khuyết điểm củaphân loại hiện tại và những nghiên cứu để tìm ra những phân loại mới hơnvà tốt hơn Hình ảnh học, di truyền học và triệu chứng học càng phát triểnthì các nhà khoa học càng nhận thấy nhiều hội chứng động kinh mới đượcphát hiện [23],[24],[25],[27],[29],[31],[43],[64],[67] và những phân loạiđộng kinh hiện tại còn có nhiều khiếm khuyết cần phải sửa đổi như phânloại thành hai nhánh chính cục bộ hay toàn thể, đôi khi gặp khó khăntrong một số trường hợp Để khắc phục một số khiếm khuyết còn tồn tạicủa phân loại động kinh hiện tại thì một số tác giả đã đề nghị một số phânloại mới mà trong đó nổi bật là phân loại cơn động kinh theo triệu chứngcủa Luders và cộng sự năm 1998 [71] và đề nghị hệ thống phân loại độngkinh của LHQTCĐK năm 2001 [44] Những đề nghị phân loại này vẫncòn mới và khả năng ứng dụng trên lâm sàng vẫn chưa được nhận biếtnhiều
Trang 9
Ơû nước ta có rất nhiều công trình nghiên cứu về động kinh như nghiêncứu dịch tễ động kinh ở một số vùng, nghiên cứu đặc điểm động kinhtrong bệnh viện, nghiên cứu nguyên nhân ký sinh trùng và động kinh,nghiên cứu quản lý động kinh…Một số nghiên cứu dùng phân loại cơnđộng kinh của LHQTCĐK, tuy nhiên chưa có nghiên cứu đề cập đến phânloại cơn động kinh của LHQTCĐK và đặc biệt chưa có các nghiên cứu vềhội chứng động kinh.
Luận án này được thực hiện để nghiên cứu ứng dụng phân loại các
cơn động kinh theo triệu chứng và hội chứng động kinh với các mục tiêu
sau:
1 Phân loại cơn động kinh: ứng dụng phân loại cơn động kinh theo
LHQTCĐK năm 1981, ứng dụng phân loại cơn động kinh theotriệu chứng của Luders và cộng sự So sánh kết quả của phân loạicơn động kinh theo LHQTCĐK và phân loại cơn động kinh theotriệu chứng
2 Phân loại hội chứng động kinh: ứng dụng phân loại hội chứng
động kinh của LHQTCĐK năm 1989, ứng dụng phân loại hộichứng động kinh theo đề nghị của LHQTCĐK năm 2001
Trang 10
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 LỊCH SỬ ĐỘNG KINH VÀ PHÂN LOẠI ĐỘNG KINH
1.1.1 Lịch sử động kinh
Các cơn động kinh đã được nhận biết từ xa xưa Một trong những mô tảsớm nhất là các cơn co cứng-co giật toàn thể thứ phát trên 3000 năm qua ởMesopotamia Các cơn động kinh được cho là do thần mặt trăng gây ra.Các cơn động kinh cũng đã được mô tả ở nhiều nền văn hóa khác nhau.Hippocrates đã viết cuốn sách động kinh đầu tiên gần 2500 năm qua, ôngcũng bác bỏ các tư tưởng cho rằng ma quỉ đã gây ra động kinh [32]
1.1.2 Lịch sử phân loại động kinh
Những nghiên cứu khoa học cho thấy động kinh không phải là ngànhkhoa học phát triển liên tục Ơû thời kỳ Trung Cổ, người ta biết về độngkinh ít hơn so với thời kỳ trước đó (thời kỳ mà Hippocrates đã sống vànghiên cứu) Bệnh này đã được gọi bằng hàng ngàn tên khác nhau, điềunày cho thấy con người luôn luôn bị ám ảnh về động kinh Có hai lý dolàm cho nhân loại quan tâm đến động kinh: thứ nhất là động kinh luônluôn là một bệnh thường gặp với tỉ lệ 0,5-1% dân số bị bệnh; thứ hai làcác triệu chứng do động kinh gây ra, đặc biệt trong trường hợp cơn cocứng-co giật toàn thể dễ làm cho người ra lo lắng và sợ hãi Ngoài ra, dođộng kinh có nhiều loại cơn động kinh khác nhau nên để mô tả chúngcũng cần phải có nhiều tên gọi khác nhau Ở mỗi một giai đoạn thì độngkinh cũng được đặt bằng những tên khác nhau và những cái tên này cũngnói lên nguyên nhân của động kinh Ví dụ như động kinh được gọi là
Trang 11
“bệnh vào ban đêm” (lunatism) nghĩa là bị gây ra do những giai đoạnkhác nhau của mặt trăng hay “do quỉ nhập” (daemon suffering) Người AiCập cổ gọi động kinh là “nesejet” có nghĩa là do Trời tạo ra và bệnh cựckỳ nguy hiểm.
Chẩn đoán động kinh vào thời xa xưa: đa số chẩn đoán dựa vào quansát các triệu chứng lâm sàng Các cơn động kinh đã được mô tả ở các nềnvăn hóa cổ của Trung Quốc, Ai Cập và Aán Độ [32] John HughlingsJackson đã nhận biết cơn động kinh có nhiều loại Nhiều thầy thuốc nổitiếng ngoài Jackson cũng đã cố gắng phân loại động kinh Vào năm 1861,
J Russell Reynolds đã gọi các cơn co giật liên quan đến rối loạn cấu trúccủa hệ thần kinh gọi là động kinh triệu chứng Ông ta cũng gọi các cơn cogiật liên quan đến các rối loạn cấu trúc ngoài hệ thần kinh (như suy thận)là động kinh giao cảm (sympathetic epilepsy) và gọi các cơn động kinhkhông có bất thường cấu trúc trong hay ngoài não là động kinh vô căn hayđộng kinh thật sự Vào năm 1881, Sir William Gowers đã phân loại độngkinh như grand mal, petit mal và hysteroid Một số những thuật ngữ sớmnày vẫn còn kéo dài đến nay như là danh từ chẩn đoán thường ngày.Ngoài ra, vài đặc điểm của những phân loại cũ này cũng đã tồn tại ởnhững phân loại cơn động kinh và bệnh động kinh hiện nay Vài hệ thốngphân loại trước đây dựa trên sự kết hợp đặc điểm giải phẫu, nguyên nhân,tuổi bệnh nhân và các yếu tố di truyền Một số hệ thống phân loại nàytrộn lẫn loại cơn động kinh và bệnh động kinh với các kết quả gây nhầmlẫn Sự phân biệt thêm nữa các loại động kinh bằng cách dùng các thuậtngữ chẳng hạn như động kinh thứ phát hay mắc phải và động kinh nguyênphát hay vô căn Các thuật ngữ nguyên phát hay vô căn được dùng để môtả các rối loạn cơn động kinh được đặc trưng bởi các cơn động kinh toàn
Trang 12
thể và không có nguyên nhân nào được phát hiện Những sự phân biệt nàythì có giá trị và có thể giúp giáo dục và tư vấn cho bệnh nhân Do thiếucác thuật ngữ chẩn đoán về các cơn động kinh và các hội chứng động kinhnên điều này đã ngăn cản những sự so sánh trực tiếp các biểu hiện và cácbiện pháp can thiệp và làm cản trở việc trao đổi thông tin Hans Berger(1873-1941) vào những năm 1920 đã phát minh ra điện não đồ và từ đógiúp ích rất nhiều trong việc chẩn đoán cũng như phân loại động kinh.Berger đã phát hiện rằng các tín hiệu động kinh có thể được đo lại bằngcách dùng các điện cực ở da đầu; sự phát hiện này đã cho phép dùng điệnnão đồ để nghiên cứu và phân loại các cơn động kinh Gibbs, Lennox,Penfield và Jasper đã phát triển hơn nữa những hiểu biết về động kinh vàđã hình thành hệ thống phân loại các cơn động kinh thành hai nhánh chínhmà được dùng hiện nay [32].
Bài viết đầu tiên về phân loại động kinh đăng trên tạp chí Epilepsialà của Francis McNaughton (chủ tịch của Liên Hội Quốc Tế Chống ĐộngKinh từ năm 1961-1965) Vào năm 1969, Henri Gastaut (thành viên củaBan Thực Thi của Liên Hội Quốc Tế Chống Động Kinh năm 1953, tổngthư ký từ 1957-1969 và là chủ tịch cho đến năm 1977) đã tổ chức cuộc họp
ở Marseilles với sự tham dự của 120 thành viên Liên Hội Quốc Tế ChốngĐộng Kinh ở Châu Âu và đã trình bày phân loại sơ khởi với Ủy Ban vềThuật Ngữ Học trước các đại diện từ Châu Mỹ và Châu Âu Vào năm
1969, Hội đồng chung họp ở New York đã chấp thuận “Phân loại lâmsàng và điện não các cơn động kinh” lần đầu tiên Vào năm 1981, Hộiđồng chung họp ở Kyoto đã chấp nhận đề nghị “ Phân loại lâm sàng vàđiện não các cơn động kinh đã được sửa chửa” Ơû Hamburg năm 1985
“Đề nghị phân loại động kinh và hội chứng động kinh” cũng được chấp
Trang 13
thuận bởi Hội đồng chung Bảng đề nghị này đã được xuất bản trên tạp chíEpilepsia và đã được chấp thuận bởi Hội đồng chung họp tại New Delhivào năm 1989 [79].
1.1.3 Lịch Sử Phân Loại Hội Chứng Động Kinh [45]
Phân Loại Quốc Tế về Động Kinh đầu tiên (1970)
Phân loại này chia làm ba phần chính: toàn thể, cục bộ và khôngphân loại được Động kinh toàn thể được phân chia thành: nguyên phát,thứ phát và không xác định được Tất cả các trường hợp động kinh cục bộđều được cho là triệu chứng, nghĩa là từ thương tổn hệ thần kinh trungương được biết hay được nghi ngờ Phân loại này không đề cập đến hộichứng động kinh
Phân Loại Quốc Tế về Các Bệnh Động Kinh và Các Hội Chứng Động Kinh (1985)
Phân loại này lần đầu tiên đề cập đến hội chứng động kinh Vào năm
1985, Uûy Ban đã khẳng định rằng cách tiếp cận đa dạng hơn sẽ tạo rađược phân loại có giá trị khoa học hơn Kết quả là một hệ thống bao gồmnhiều hội chứng động kinh, mỗi hội chứng được xác định như là “rối loạnđộng kinh được đặc trưng bởi một chùm các triệu chứng cơ năng và thựcthể thường kèm với nhau” Các đặc điểm này bao gồm các loại cơn độngkinh, nguyên nhân, các dấu hiệu thần kinh, các yếu tố thúc đẩy, tuổi khởibệnh, độ nặng của bệnh, thời gian bệnh, chu kỳ bệnh và tiên lượng Phânchia thành các hội chứng động kinh liên quan đến cục bộ (lateralization-related-đồng nghĩa với cục bộ, partial) và toàn thể là những điều cơ bảntrong phân loại Hai đặc điểm mới bao gồm: các bệnh động kinh và hội
Trang 14
chứng động kinh không xác định được là cục bộ hay toàn thể và các hộichứng đặc biệt.
Phân loại quốc tế về các bệnh động kinh và các hội chứng động kinh (1989)
Lần phân loại này chủ yếu là sửa lại những phân loại của lần trước Dođược đưa vào năm 1985, nên thuật ngữ vô căn đã trở nên đồng nghĩa với
“nguyên nhân không được biết” và vì vậy một thuật ngữ mới “ẩn” đượcđưa vào Thuật ngữ này liên quan đến các trường hợp động kinh được cholà triệu chứng nhưng không có bằng chứng hiện tại cho thấy có nguyênnhân Một trở ngại của thuật ngữ này là nó không phân biệt được nhữngtrường hợp đã được khảo sát tối ưu và những trường hợp không được khảosát tối ưu Từ năm 1989, thuật ngữ “vô căn” chỉ dành cho những trườnghợp động kinh với các đặc điểm điện-lâm sàng điển hình và được chứngminh hay nghi ngờ nguyên nhân cơ bản là di truyền
1.2 DỊCH TỄ HỌC ĐỘNG KINH
Động kinh là bệnh thần kinh thường gặp đứng hàng thứ hai sau taibiến mạch máu não ở các nước phát triển [48] Ít nhất 50 triệu người trênthế giới ngày nay bị động kinh Khoảng 80-90% bệnh nhân động kinhsống ở các nước đang phát triển [55] Ít nhất 100 triệu người trên thế giớisẽ bị động kinh ở một thời điểm nào đó trong cuộc đời [99] Tỉ lệ phânloại được các cơn động kinh và hội chứng động kinh cũng thay đổi nhiềutùy theo nghiên cứu [57],[59],[74],[96],[103],[104]
Trang 15
Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy một số tổn thương sau sinh-chấnthương não, nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương, bệnh mạch máu não và
u não làm tăng đáng kể tỉ lệ mới mắc của động kinh Các thiếu sót thầnkinh từ lúc sinh, chẳng hạn như chậm phát triển tâm thần hay bại nãothường kèm với tỉ lệ động kinh tăng, nhưng có lẽ qua cơ chế thông thườnghơn là qua cơ chế nguyên nhân trực tiếp Mặc dầu có vài bằng chứng quicho các nguyên nhân đặc hiệu ở một số trường hợp nhưng nguyên nhâncủa khoảng 70% các trường hợp động kinh không thể được nhận biết[14],[15]
1.3 PHÂN LOẠI ĐỘNG KINH
1.3.1 PHÂN LOẠI CƠN ĐỘNG KINH CỦA LHQTCĐK
Năm 1981, Liên Hội Quốc Tế Chống Động Kinh đã đưa ra phân loạicác cơn động kinh Phân loại này bao gồm các cơn động kinh cục bộ xuấtphát từ một phần của não và các cơn động kinh toàn thể xuất phát cùnglúc cả hai bán cầu đại não Một số cơn động kinh nếu khó phân loại vàomột trong hai nhóm trên thì xếp vào nhóm không phân loại được
Các cơn động kinh cục bộ
Các cơn động kinh cục bộ được phân chia thêm nữa thành các cơnđộng kinh cục bộ đơn giản, các cơn động kinh cục bộ phức tạp và các cơnđộng kinh cục bộ toàn thể hóa thứ phát
Yếu tố quan trọng để chẩn đoán phân biệt giữa cơn động kinh cục bộđơn giản và cơn động kinh cục bộ phức tạp là ý thức Trong cơn động kinhcục bộ đơn giản thì ý thức bình thường, ngược lại trong cơn động kinh cụcbộ phức tạp thì ý thức bị rối loạn Nhiều bệnh nhân với cơn động kinh cụcbộ phức tạp có cơn thoáng báo trước cơn Cơn thoáng báo này là cơn độngkinh cục bộ đơn giản Cơn động kinh cục bộ đơn giản có thể biểu hiện
Trang 16
bằng nhiều loại như cảm giác, vận động, thần kinh thực vật hay tâm thầntùy theo vùng não bị ảnh hưởng Cơn động kinh cục bộ đơn giản có thểkéo dài vài giây hay vài phút.
Cơn động kinh cục bộ phức tạp có thể bị rối loạn ý thức ngay từ đầuhay là được khởi phát bằng cơn động kinh cục bộ đơn giản (cơn thoángbáo) Trong thực hành để đánh giá ý thức bệnh nhân trong cơn động kinhcó thể gặp một số khó khăn Cách thông dụng nhất để đánh giá ý thức củabệnh nhân là hỏi họ xem có nhớ những gì đã xảy ra hay không Bệnh nhânthường có thể nhớ cơn thoáng báo của họ tuy nhiên họ không biết những
gì xảy ra trong giai đoạn mất ý thức Bệnh nhân với cơn động kinh cục bộphức tạp thường có những vận động tự động và lú lẫn sau cơn Các vậnđộng tự động thường biểu hiện bằng nhai, mấp máy môi, xoa tay Tư thếrối loạn trương lực cơ của chi trên đối bên thường gặp khi cơn động kinhcục bộ phức tạp xuất phát từ thùy thái dương trong Một cơn động kinh cụcbộ phức tạp điển hình kéo dài khoảng 60-90 giây và theo sau là giai đoạnlú lẫn ngắn Tuy nhiên, bệnh nhân có thể bị yếu, mệt mỏi trong vài ngày.Các cơn động kinh cục bộ toàn thể hóa thứ phát thường bắt đầu bằngcơn động kinh cục bộ đơn giản sau đó thành cơn động kinh cục bộ phứctạp và rồi thì toàn thể hóa thứ phát thành cơn co cứng-co giật toàn thể.Tuy nhiên, cơn động kinh cục bộ phức tạp có thể thành cơn động kinh cụcbộ toàn thể hóa thứ phát Về mặt lâm sàng khi phân loại cơn động kinhcục bộ toàn thể hóa thứ phát với cơn động kinh cục bộ toàn thể hóanguyên phát thường gặp khó khăn nếu chỉ dựa vào bệnh sử Trong đa sốcác trường hợp nếu ghi nhận được cơn thoáng báo sẽ giúp ích rất nhiều khiphân loại hai cơn trên
Các cơn động kinh toàn thể
Trang 17
Các cơn động kinh toàn thể được phân thành 6 loại chính: cơn vắng ýthức, cơn co cứng-co giật toàn thể, cơn co cứng, cơn co giật, cơn mấttrương lực và cơn giật cơ.
Cơn vắng ý thức có thể chia nhỏ thành cơn vắng ý thức điển hình vàcơn vắng ý thức không điển hình Trong cơn vắng ý thức điển hình bệnhnhân bị rối loạn ý thức ngắn, đột ngột, không có cơn thoáng báo và hồiphục ý thức ngay sau cơn Ngược lại trong cơn vắng ý thức không điểnhình người bệnh thường có cơn kéo dài hơn và lú lẫn sau cơn Cơn vắng ýthức có thể có những vận động tự động như nháy mắt lập lại Cơn nàythường xảy ra ở trẻ em và có thể bị kích thích khi tăng thông khí hay kíchthích ánh sáng Thường cơn này biểu hiện không rầm rộ nên ít khi đượcchẩn đoán ngay cho đến khi bệnh nhân có biểu hiện của cơn động kinhkhác như cơn co cứng-co giật toàn thể và khi đó cơn mới được chẩn đoánkhi hỏi lại bệnh sử và làm điện não đồ Điện não đồ của cơn vắng phứctạp điển hình bao gồm các phức hợp gai-sóng toàn thể với tần số 3,5 Hz.Đối với cơn vắng ý thức không điển hình thì phức hợp gai-sóng có tần sốthấp hơn 2,5 Hz Các cơn vắng ý thức điển hình gặp trong các hội chứngđộng kinh toàn thể vô căn và các cơn vắng ý thức không điển hình gặptrong hội chứng Lennox-Gastaut
Cơn giật cơ là các cơn với biểu hiện vận động ngắn, không có nhịp,giật cục thường dưới một giây Các cơn này thường xảy ra thành cụm trongvài phút Biểu hiện điện não đồ của cơn giật cơ thường là phức hợp đa gai-sóng chậm toàn thể
Các cơn co giật toàn thể biểu hiện co giật có nhịp xảy ra cùng lúc ở tứchi với ý thức bị suy giảm Biểu hiện điện não đồ trong cơn là các sóngdạng động kinh có nhịp đồng bộ hai bán cầu
Trang 18
Các cơn co cứng biểu hiện như duỗi hay gấp đầu, thân và tứ chi trongvài giây Các cơn này thường xảy ra khi bệnh nhân buồn ngủ hay sau khivừa thức dậy Các cơn này thường kèm với các bất thường thần kinh khác.Điện não đồ trong cơn có thể thấy đáp ứng giảm điện thế (sóng tần sốbeta nhưng điện thế thấp so với sóng cơ bản).
Các cơn co cứng-co giật toàn thể thường bắt đầu bằng duỗi tứ chitrong vài giây sau đó co giật có nhịp, rối loạn ý thức trong cơn Điện nãođồ trong cơn có thể thấy các sóng gai toàn thể hay đa gai-sóng chậm toànthể
Các cơn mất trương lực cơ biểu hiện bằng mất trương lực tư thế ngắnvà thường làm cho bệnh nhân té và bị chấn thương Cơn này thường xảy ra
ở người với bất thường thần kinh nặng Điện não đồ trong cơn có thể thấynhững bất thường như trong cơn co cứng toàn thể
Các cơn không phân loại được
Chẩn đoán các cơn này khi cả dữ liệu lâm sàng cũng như điện não đồkhông thể phân biệt được cơn toàn thể hay cục bộ
1.3.2 PHÂN LOẠI CƠN ĐỘNG KINH THEO TRIỆU CHỨNG [70], [71]
Phân loại cơn động kinh theo triệu chứng
Phân loại cơn động kinh theo triệu chứng nhấn mạnh sự khác biệtgiữa các cơn động kinh và hội chứng động kinh và cung cấp các thuật ngữchung cho các triệu chứng và các loại cơn đặc hiệu mà độc lập với mẫuđiện não cơ bản cũng như với các thông tin cận lâm sàng khác Các tác giảđã đề nghị một hệ thống phân loại mà đã được dùng trên 10 năm ở một sốtrung tâm động kinh
Trang 19
Phân loại cơn động kinh theo triệu chứng chỉ dựa vào triệu chứng họccủa cơn động kinh trong khi có cơn, sự mô tả từ bệnh nhân hay từ nhữngngười quan sát hay có thể được phân tích trực tiếp từ video theo dõi.Không có các biểu hiện điện não hay các kết quả lâm sàng khác ảnhhưởng đến phân loại.
Các triệu chứng của cơn động kinh có thể từ một trong bốn “cầu não”sau:
a Cầu não cảm giác
b Cầu não tri giác
c Cầu não hệ thần kinh thực vật
d Cầu não vận độngCác cơn động kinh ảnh hưởng đến cầu não cảm giác thì không tạo racác triệu chứng thực thể khách quan nào ngoài hành vi thỉnh thoảng có thểthay đổi do bệnh nhân có các triệu chứng cảm giác Chúng ta biết sự xuấthiện của cơn động kinh chỉ khi bệnh nhân nói với chúng ta về các triệuchứng cảm giác Các triệu chứng này được xem như là cơn thoáng báo(aura) trong các thuật ngữ cổ điển
Các cơn động kinh ảnh hưởng đến ý thức được gọi bằng những tênkhác nhau tùy theo mối liên quan với điện não hay với các hội chứng đặchiệu mà gây ra chúng Ví dụ như một giai đoạn thay đổi ý thức kèm vớihoạt động điện não gai-sóng chậm 3 Hz được biết như là cơn vắng ý thức,ngược lại nếu nó kèm với những thay đổi dạng động kinh khu trú hay ởmột bệnh nhân với hội chứng động kinh cục bộ (thậm chí không có mốiliên quan dạng động kinh khu trú) thì được xem như là cơn động kinh cụcbộ phức tạp Để tránh nhầm lẫn giữa các thuật ngữ dựa vào những phứchợp lâm sàng-điện não và những thuật ngữ dựa vào các triệu chứng cơ
Trang 20
năng hay thực thể đơn thuần trong cơn, các tác giả gọi là cơn động kinhthay đổi ý thức (dialeptic seizure) trong đó biểu hiện chính là sự thay đổi ýthức trong cơn Thuật ngữ “dialeptic” từ chữ Hy Lạp “dialeipein” có nghĩalà đứng yên.
Các cơn động kinh biểu hiện là các triệu chứng thần kinh thực vậtnguyên phát thì hiếm Thường thường chúng được chẩn đoán khi bệnhnhân mô tả triệu chứng thứ phát với những thay đổi hệ thần kinh thực vật,
ví dụ như “trống ngực” hay “mặt đỏ” Thỉnh thoảng, chúng có thể đượcchẩn đoán qua theo dõi bằng máy (như Holter monitor) Các tác giả phânloại các giai đoạn như cơn thoáng báo thần kinh thực vật (autonomicauras) khi bệnh nhân có các triệu chứng cơ năng nhưng không phải cáctriệu chứng thực thể do thay đổi hệ thần kinh thực vật, ngược lại cơn độngkinh thần kinh thực vật (autonomic seizures) khi có những bằng chứngkhách quan về sự thay đổi của hệ thần kinh thực vật và bệnh nhân có thểbiết được sự thay đổi này hay không
Các cơn động kinh trong đó biểu hiện chính là vận động thì được gọilà các cơn động kinh vận động (motor seizures)
Các cơn động kinh mà không thể được phân loại theo bất cứ loại nàotrong bốn nhóm trên được xếp vào nhóm các cơn đặc biệt Đặc điểm nàybao gồm các cơn động kinh được đặc trưng bởi các dấu hiệu vận động “âmtính” (cơn mất trương lực, cơn không vận động, cơn “giảm vận động”…).Các cơn động kinh thường có triệu chứng từ hai hay nhiều hơn báncầu Trong những trường hợp như vậy, cơn động kinh được phân loại theocác biểu hiện lâm sàng ưu thế Ví dụ: bệnh nhân thay đổi ý thức với nhấpnháy mắt nhẹ gọi là cơn thay đổi ý thức chứ không phải cơn vận động
Trang 21
Điện não đồ (trong hay ngoài cơn) không được dùng để phân loại cơnđộng kinh, tuy nhiên điện não có thể được dùng để phân biệt các biến cốđộng kinh hay không động kinh.
Để đánh giá tiền phẫu động kinh thì cần phải xác định các vùng vỏnão liên quan Có 6 vùng vỏ não liên quan: vùng sinh triệu chứng, vùngkích thích, vùng khởi phát cơn động kinh, sang thương sinh động kinh,vùng sinh động kinh và vùng vỏ não có chức năng quan trọng Vùng sinhtriệu chứng là vùng vỏ não mà khi được hoạt hóa bởi sự phóng điện dođộng kinh sẽ tạo ra triệu chứng cơn động kinh Vùng này được xác địnhbằng cách phân tích cẩn thận triệu chứng cơn động kinh bằng cách hỏibệnh sử đầy đủ hay phân tích triệu cứng cơn động kinh qua bản ghi củavideo Sự chính xác khi xác định vị trí và phạm vi của vùng sinh triệuchứng phụ thuộc vào các triệu chứng cơn động kinh đặc hiệu Ví dụ nhưcơn thoáng báo cảm giác bản thể được định vị cao như dị cảm ngón 2, 3khi khởi đầu cơn động kinh giúp định vị vùng sinh triệu chứng tương ứngvới vùng cảm giác nguyên phát Tuy nhiên, cũng có các triệu chứng cơnđộng kinh khác không giúp nhiều trong việc định vị vùng sinh triệu chứng[100] Phân loại cơn động kinh theo triệu chứng được hình thành với mụcđích định vị vùng sinh triệu chứng Vùng sinh triệu chứng không có nghĩalà vùng sinh động kinh
1.3.3 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU SO SÁNH GIỮA PHÂN LOẠI CƠN ĐỘNG KINH CỦA LIÊN HỘI QUỐC TẾ CHỐNG ĐỘNG KINH VÀ PHÂN LOẠI CƠN ĐỘNG KINH THEO TRIỆU CHỨNG
Trang 22
Parra và cộng sự [93] đã thực hiện một nghiên cứu nhằm so sánh giátrị lâm sàng và độ tin cậy giữa phân loại cơn động kinh của Liên Hội QuốcTế Chống Động Kinh và phân loại cơn động kinh triệu chứng trong trungtâm động kinh chuyên sâu nhằm trả lời các câu hỏi sau:
Phân loại cơn động kinh triệu chứng có dễ dùng trong các trung tâmđộng kinh chuyên sâu hay không?
Làm thế nào so sánh độ tin cậy giữa phân loại này với phân loại cơnđộng kinh của Liên Hội Quốc Tế Chống Động Kinh?
Đặc điểm của phân loại cơn động kinh triệu chứng có chuyển tảiđược thông tin cho phép xác định vị trí giải phẫu của vùng khởi phátđộng kinh hay không trong khi mà phân loại cơn động kinh của LiênHội Quốc Tế Chống Động Kinh không giúp xác định vị trí này?
Phương pháp
Các tác giả đã xem lại các băng ghi hình chỉ có hình ảnh và âm thanhmà không có điện não kèm theo của từ 20 bệnh nhân động kinh được chọnngẫu nhiên từ hồ sơ của Đơn Vị Theo Dõi Về Động Kinh Mỗi băng đượcxem độc lập bởi mỗi tác giả nghiên cứu mà mù về dữ liệu lâm sàng, điệnnão gốc và chẩn đoán lâm sàng cuối cùng Trong nhiều biến cố, chỉ babiến cố đầu tiên của mỗi bệnh nhân được ghi nhận, cho phép phân tíchnhiều loại cơn động kinh của mỗi bệnh nhân Các cơn động kinh chấtlượng kém hay các cơn khi bệnh nhân được nhập viện lại không được đưavào nghiên cứu
Kết quả
Có tổng số 138 cơn động kinh từ 60 bệnh nhân được phân tích (tối đa
3 cơn/bệnh nhân) Tuổi của bệnh nhân thay đổi từ 2-59 (trung bình 26
Trang 23
tuổi) Mười bảy (27,5%) nhỏ hơn 10 tuổi Chín mươi cơn động kinh tươngứng 39 bệnh nhân với động kinh cục bộ, 35 cơn của 14 bệnh nhân độngkinh toàn thể (vô căn hay triệu chứng), 3 cơn động kinh của một bệnhnhân có cả hai loại động kinh này và 10 cơn của 6 bệnh nhân với chẩnđoán động kinh không phân loại được Năm mươi lăm cơn động kinh của
20 bệnh nhân được ghi nhận khi đánh giá tiền phẫu; trong số này thì 16cơn động kinh từ 6 bệnh nhân được ghi nhận với các điện cực trong sọ.Tám mươi ba cơn động kinh khác được ghi như là một phần của việc đánhgiá chẩn đoán chung (40 bệnh nhân)
Tỉ lệ đồng thuận trong chẩn đoán của ba cặp những người nghiên cứutrong phân loại cơn động kinh triệu chứng (63,3%, = 0,56) thì tốt hơntrong phân loại cơn động kinh của Liên Hội Quốc Tế Chống Động Kinh(38,6%, = 0,41) Với phân loại cơn động kinh triệu chứng thì mức độđồng thuận trong chẩn đoán những bệnh nhân bị động kinh cục bộ thìtương tự như những bệnh nhân động kinh toàn thể hay không phân loạiđược (tỉ lệ theo thứ tự là 62,5% và 64,6%) Khi áp dụng phân loại cơnđộng kinh của Liên Hội Quốc Tế Chống Động Kinh thì mức độ đồngthuận trong chẩn đoán ở những bệnh nhân động kinh cục bộ thì thật sựthấp hơn những bệnh nhân động kinh toàn thể hay không phân loại được(tỉ lệ theo thứ tự là 31,1% và 50,7%)
Trong phân loại cơn động kinh triệu chứng thì các cơn chẳng hạn nhưcơn tăng vận động hay cơn vận động tự động có sự đồng thuận trong chẩnđoán tốt nhất Các loại cơn này cũng có mối liên hệ tốt với vị trí giải phẫucủa cơn động kinh (thùy trán và thùy thái dương, theo thứ tự) Mặc dầumột số cơn động kinh trong phân loại cơn động kinh của Liên Hội QuốcTế Chống Động Kinh cũng có mối liên hệ tốt với chẩn đoán hội chứng
Trang 24
động kinh cuối cùng, sự đồng thuận trong chẩn đoán thường thấp hơntrong phân loại cơn động kinh triệu chứng với ngoại lệ là các cơn vắng ýthức và các hội chứng động kinh vắng ý thức Có tổng số 38 cơn được gọilà các cơn không phân loại được theo phân loại cơn động kinh của LiênHội Quốc Tế Chống Động Kinh Đa số các cơn này (86,6%) tương ứng vớicác cơn động kinh ngoài thùy thái dương, chủ yếu có nguồn gốc từ thùytrán (71,1%) Khi áp dụng phân loại cơn động kinh triệu chứng thì các cơnnày thường có tỉ lệ đồng thuận trong chẩn đoán cao (61%; 76,3% và60,5%), thường được chẩn đoán là các cơn tăng vận động (chiếm 60-65,9% các loại cơn này).
Nói chung tất cả những người nghiên cứu đều đồng ý rằng phân loạicơn động kinh triệu chứng cung cấp sự mô tả các cơn động kinh tốt hơn sựmô tả các cơn động kinh trong phân loại cơn động kinh của Liên Hội QuốcTế Chống Động Kinh (theo thứ tự của các cặp nghiên cứu là 57, 60 và56%) Các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy phân loại cơn động kinh triệuchứng cung cấp nhiều thông tin hơn phân loại cơn động kinh của Liên HộiQuốc Tế Chống Động Kinh khi áp dụng cho những bệnh nhân động kinhcục bộ hơn là ở những bệnh nhân động kinh toàn thể Vài loại cơn như cơntăng vận động được xem như cung cấp thông tin đặc biệt, ngược lại cơnnhư cơn vận động tự động được xem như chuyển tải nhiều thông tin hơncác cơn tương đương trong phân loại cơn động kinh của Liên Hội Quốc TếChống Động Kinh chỉ trong một số ít các trường hợp
Phân loại cơn theo phân loại cơn động kinh triệu chứng cho kết quảtốt hơn có thể do trong phân loại này chỉ xét đến mô tả triệu chứng cơn màkhông xét đến các yếu tố khác như điện não đồ Thực tế hàng ngày, ngườithầy thuốc khi tiếp cận bệnh nhân thường phân loại cơn động kinh dựa chủ
Trang 25
yếu vào các triệu chứng cơn qua mô tả của bệnh nhân hay qua quan sátcơn động kinh
Trong phân loại cơn theo phân loại cơn động kinh của Liên Hội QuốcTế Chống Động Kinh thì thường tỉ lệ phân loại được không cao lắm
Một trong những điểm yếu và cũng là lý do chính tạo nên sự không đồngthuận trong chẩn đoán của phân loại cũ là do cấu trúc nội tại của nó quánhấn mạnh trên sự thay đổi ý thức của cơn động kinh Mặc dầu ý thức vẫnlà một đặc điểm lâm sàng của phân loại cơn động kinh triệu chứng, nhưnggiá trị của nó cũng chỉ tương đương với các triệu chứng khác
Trong phân loại của phân loại cơn động kinh triệu chứng thì ý thứcvẫn được mô tả đặc biệt trong loại cơn rối loạn ý thức và cơn giảm vậnđộng
Trong phân loại cơn động kinh của Liên Hội Quốc Tế Chống ĐộngKinh đề cập đến cơn động kinh không phân loại được và điều này cũngcho thấy sự không đồng thuận cao khi so sánh với phân loại cơn động kinhtriệu chứng trong đó không có đặc điểm này và buộc nhà lâm sàng phảiđưa ra một chẩn đoán cụ thể
Phân loại cơn động kinh triệu chứng không những mô tả tốt các triệuchứng của cơn động kinh mà còn cho thấy tiến triển của nó
Các tác giả ở Hàn Quốc [62] đã nghiên cứu 133 bệnh nhân động kinhtại Bệnh Viện Nhi Đại Học Quốc Gia Seoul (Seoul National UniversityChildren’s Hospital) từ năm 1995 đến 1999 bằng cách xem lại các videoghi các cơn động kinh Tuổi bệnh nhân từ 1 tháng đến 17 tuổi (trung bình7,7 tuổi) Bảy mươi tám bệnh nhân là nam và 55 là nữ
Các băng video đầu tiên được xem bởi một người nghiên cứu (tác giảK.J.K) mà không biết bệnh sử, hình ảnh học, các dữ liệu điện não đồ trong
Trang 26
và ngoài cơn; sau đó các băng video được xem bởi nhà nghiên cứu khác(Y.S.H) mà không biết một phần do có liên quan đến việc khám lâm sàngbệnh nhân Các nhà nghiên cứu có biết nhau Triệu chứng trong cơn đượcphân loại theo đề nghị của Luders và cs.
Kết quả: trong số 133 bệnh nhân, 114 có chỉ một loại cơn động kinhvà 19 có hai loại cơn khác nhau Trong số 152 loại cơn khác nhau này thì
67 có chỉ một triệu chứng cơn và 53 cơn có 2 triệu chứng khác nhau, 24cơn có 3 triệu chứng khác nhau và 8 cơn có 4 triệu chứng 24 cơn có cơnthoáng báo (15,8%) trong đó 3,9% là cảm giác bản thể, 1,3% triệu chứngbụng, 1,3% triệu chứng thị giác, 5,3% triệu chứng tâm thần và 3,9% triệuchứng không đặc hiệu Triệu chứng thay đổi ý thức gặp trong 35,5% trongđó 72,2% lúc khởi phát cơn và 25,9% sau cơn thoáng báo 132 (86,8%)cơn là các cơn vận động đơn giản: 11 cơn giật cơ, 2 cơn co thắt động kinh,
26 co cứng-co giật, 33 co cứng, 31 co giật, 29 cơn xoay (versive) 46(30,3%) cơn cục bộ phức tạp: 24 cơn tăng vận động và 22 cơn vận động tựđộng Có 5 (3,3%) cơn mất trương lực và 16 (10,5%) cơn giảm vận động
90 trong 152 (59,2%) cơn có thể được phân loại như là loại cơn đơn theophân loại cơn triệu chứng: 3 cơn thoáng báo, 19 cơn thay đổi ý thức, 3 giật
cơ, 1 co thắt động kinh, 9 co cứng-co giật, 17 co cứng, 8 co giật, 3 cơnxoay, 10 cơn giảm vận động Trong số 53 cơn có 2 triệu chứng thì 34(64,2%) không thể được phân loại như một loại cơn Trong số 32 cơn có 3triệu chứng trở lên thì 28 (87,5%) không thể được phân loại một loại cơn.Các tác giả đã nhận xét là phân loại cơn theo triệu chứng thì có tínhhiệu quả cao, tuy nhiên nó thật sự là thuật ngữ học mô tả hơn là một hệthống phân loại
Trang 27
Benbadis và cs [19] đã thực hiện nghiên cứu tại ba trung tâm (2 ở BắcMỹ và 1 ở Châu Aâu) trong 78 bệnh nhân Các bệnh nhân được đánh giáqua thăm khám lâm sàng và qua theo dõi băng ghi hình-điện não đồ sauđó Mỗi lần như vậy, mỗi bệnh nhân được phân loại theo phân loại cơnđộng kinh của Liên Hội Quốc Tế Chống Động Kinh và phân loại cơn độngkinh theo triệu chứng Kết quả là 66 (87%) bệnh nhân được phân loại làcơn động kinh cục bộ phức tạp theo Phân Loại Quốc Tế và những bệnhnhân này khi được phân loại theo triệu chứng thì 34 có cơn vận động tựđộng, 17 có cơn thay đổi ý thức đơn độc, 13 có cơn tăng vận động và 2 cócơn giảm vận động Phân loại cơn động kinh đã thay đổi theo dữ liệudựavào lâm sàng đầu tiên và theo băng ghi hình-điện não đồ trong 27trường hợp được phân loại theo Liên Hội Quốc Tế Chống Động Kinh sovới 6 trường hợp theo phân loại cơn theo triệu chứng Các tác giả côngnhận là phân loại theo triệu chứng thì ít thay đổi hơn và thích hợp hơntrong thực hành hàng ngày.
1.3.4 HỘI CHỨNG ĐỘNG KINH
Rối loạn động kinh là một tình trạng thần kinh mãn tính được đặctrưng bởi các cơn động kinh tái phát Các rối loạn động kinh bao gồm cáchội chứng động kinh và các bệnh động kinh
Hội chứng trong y khoa có đặc điểm sau : nó bao gồm các triệu chứng
cơ năng và thực thể mà xuất hiện cùng với nhau chứ không phải do ngẫunhiên và nó thường cho biết định vị về giải phẫu hay hệ thống của các yếutố bệnh sinh cơ bản được nhận biết hay nghi ngờ Các thành phần lâmsàng của hội chứng động kinh chủ yếu bao gồm các biểu hiện của cơnđộng kinh, các yếu tố thúc đẩy, tuổi khởi bệnh, các triệu chứng cơ năng vàthực thể của hệ thần kinh trung ương liên quan, độ trầm trọng của bệnh và
Trang 28
diễn tiến Các biểu hiện của điện não đồ chẳng hạn như các sóng gai-sóngchậm và các sóng gai vùng Rolando thì cần để chẩn đoán một số hộichứng Môt ví dụ là hội chứng Lennox-Gastaut với các cơn động kinh : cocứng, mất trương lực cơ hai bên, các cơn mất ý thức không điển hình vớibiểu hiện điện não đồ ngoài cơn là các gai-sóng chậm lan tỏa Dreifuss đã
so sánh cơn động kinh như là màu sắc đặc hiệu của bản vẽ và hội chứngđộng kinh là bức tranh
Vì vậy, một hội chứng động kinh hay bệnh động kinh có thể đượcđịnh nghĩa là một rối loạn của hệ thần kinh trung ương trong đó các cơnđộng kinh và trong vài trường hợp, các biểu hiện điện não đồ của chúng,là những thành phần thiết yếu Hiểu biết về các hội chứng động kinh làmột trong những tiến bộ quan trọng trong động kinh học hiện đại Nhữngtiến bộ này đã làm thay đổi nhiều về quan điểm trong phân loại hội chứngđộng kinh và trong thực hành hàng ngày [92]
Avanzini va cs [17] đã nghiên cứu 10342 bệnh nhân từ tháng 6-1990đến 6-1994 tại 14 trung tâm động kinh ở vùng Lombardy (Osservatorioregionale per l’epilepssia, OREp), miền Bắc Ý Thu thập dữ liệu: chỉnghiên cứu những bệnh nhân được khám trong ít nhất hai lần khác nhaubởi các bác sĩ chuyên khoa thần kinh Chẩn đoán động kinh khi bệnh nhâncó ít nhất hai cơn động kinh không triệu chứng cấp và chẩn đoán hộichứng theo phân loại của Liên Hội Quốc Tế Chống Động Kinh đã sửa đổinăm 1989 Kết quả: 8570 được chẩn đoán động kinh tham gia nghiên cứu.Chẩn đoán hội chứng được làm trong 85,5% các trường hợp Các đặc điểmkhông điển hình gặp trong 11,6% các trường hợp và được phân loại làkhông chắc chắn; 2,3% các trường hợp không phân loại được và 0,6% các
Trang 29
trường hợp thì chẩn đoán hội chứng không được mã hóa thích hợp Nhữnghội chứng động kinh được phân loại rõ ràng (7332 trường hợp):
Các hội chứng động kinh vô căn:
Các hội chứng động kinh cục bộ vô căn ở trẻ em: 339 trường hợp.Nhóm này tương ứng với 3,9% toàn bộ mẫu và 20,5% ở trẻ được chẩnđoán từ 5-15 tuổi; 81,1% bị hội chứng động kinh lành tính với sóng gaitrung tâm-thái dương, 14,7% bị động kinh lành tính với các sóng kịch phátthùy chẩm Những bệnh nhân còn lại (4,2%) bị các dạng động kinh lànhtính khác ở trẻ em Tỉ lệ cao những bệnh nhân có tiền căn gia đình bị độngkinh (20,9%) hay co giật do sốt (11,2%) Thiếu sót thần kinh nhẹ gặptrong 2,3% các trường hợp
Các hội chứng động kinh toàn thể vô căn: 1494 các trường hợp Cáchội chứng được chẩn đoán rõ ràng trong 70,1% các trường hợp, ngược lại19,9% các trường hợp chỉ có thể được phân loại như “các hội chứng độngkinh co giật vô căn khác” Khiếm khuyết thần kinh nhẹ gặp trong 4,4%các trường hợp
Các hội chứng động kinh triệu chứng hay ẩn:
Các hội chứng động kinh cục bộ triệu chứng hay ẩn: 4413 trường hợp.Động kinh cục bộ triệu chứng gặp trong 2822 trường hợp và ẩn trong 1589trường hợp Tuổi khởi phát dưới 15 tuổi chiếm nhiều hơn một nửa trong cảhai nhóm
Động kinh cục bộ triệu chứng: yếu tố nguyên nhân được nhận biếttrong 66,3% các trường hợp; yếu tố nguy cơ được cho là nguyên nhân gặptrong 11,2% các trường hợp Tổn thương chu sinh và nhiễm trùng hệ thầnkinh trung ương thường gặp ở trẻ em hơn người lớn (p<0,0001); các bấtthường về gien và dị dạng não cũng gặp ở gặp ở trẻ em hơn người lớn
Trang 30
(p<0,016 gặp ở trẻ em hơn người lớn (p<0,0001); ngược lại dị dạng mạchmáu, u, chấn thương, tai biến mạch máu não thường gặp ở bệnh nhân lớnhơn 15 tuổi (p<0,0001)) Chụp cắt lớp điện toán được làm trong 89,7% cáctrường hợp và đã phát hiện các bất thường trong 69,8% các trường hợp;Chụp cộng hưởng từ khi chụp cắt lớp điện toán bình thường, phát hiện cácbất thường trong 49,2% Trong 12,8% các trường hợp, chẩn đoán độngkinh triệu chứng dựa và chụp cắt lớp điện toán và chụp cộng hưởng từ bấtthường.
Động kinh cục bộ ẩn: chụp cắt lớp điện toán được làm trong 84,3%các trường hợp trong đó 24,9% các trường hợp được làm thêm chụp cộnghưởng từ Chụp cộng hưởng từ không có chụp cắt lớp điện toán trong 3,9%các trường hợp Biểu hiện hình ảnh học thần kinh bình thường trong 93,1%các trường hợp; các bất thường giới hạn hay không chắc chắn trong 6,9%các trường hợp
Động kinh toàn thể triệu chứng hay ẩn: 547 trường hợp
Nhóm này đại diện 6,4% dân số và 15,4% bệnh nhân nhi trongnghiên cứu Các đặc điểm điển hình được chẩn đoán trong 56,1% cáctrường hợp Những bệnh nhân còn lại (240 bệnh nhân) được xếp vào nhóm
“động kinh toàn thể triệu chứng khác”; những bệnh nhân nhóm này có cáccơn động kinh toàn thể, bất thường điện não động kinh hai bên toàn thểhay lan tỏa, chậm phát triển tâm thần vận động hay các triệu chứng tổnthương não nhưng các đặc điểm điện-lâm sàng không phù hợp với các hộichứng đã được mã hóa
Nguyên nhân được chẩn đoán xác định trong 59,8% các trường hợpvà được giả định trong 8,6% các trường hợp Tổn thương chu sinh lànguyên nhân được xác định chính (50,5%), các yếu tố trước sinh và di
Trang 31
truyền (dị dạng não hay các bất thường nhiễm sắc thể) cũng thường đượctìm thấy (9,9% và 6,2%).
Động kinh toàn thể triệu chứng với nguyên nhân đặc hiệu: 33 trườnghợp bị các bệnh lý tiến triển của hệ thần kinh trung ương chẳng hạn nhưđộng kinh giật cơ tiến triển hay các rối loạn chuyển hóa di truyền với cáccơn động kinh là triệu chứng nổi bật Cơn động kinh ở trẻ dưới 3 tuổi gặptrong 48,4% các trường hợp và từ 3-15 tuổi trong 33,3% các trường hợp.Các hội chứng động kinh không được xác định là cục bộ hay toàn thể:
506 trường hợp Đa số các trường hợp trong nhóm này có các cơn co
cứng-co giật khi ngủ, không cứng-có bất cứ bằng chứng lâm sàng hay điện não chothấy cơn động kinh khu trú (483 bệnh nhân) Khám thần kinh và hình ảnhhọc đa số bình thường trong nhóm này
Các hội chứng động kinh “không chắc chắn”: 995 trường hợpCác hội chứng động kinh vô căn không chắc chắn: trong số nhữngtrường hợp động kinh vô căn thì tỉ lệ những trường hợp không điển hình thìcao, đặc biệt ở dạng cục bộ lành tính (26,6%) Loại cơn động kinh khôngđiển hình chiếm 23,1% trong các hội chứng động kinh cục bộ vô cănkhông chắc chắn ở trẻ em Dấu hiệu hình ảnh và lâm sàng của tổn thươngnão thì không điển hình trong 9,1% của các hội chứng động kinh cục bộ vôcăn không chắc chắn và 17,2% của các hội chứng động kinh toàn thể vôcăn không chắc chắn
Các hội chứng động kinh ẩn hay triệu chứng không chắc chắn: tỉ lệnày không cao (8,9%) Không chắc chắn là triệu chứng hay ẩn chiếm đasố trong nhóm này (48,1%), ngược lại các đặc điểm không điển hình trongmột phần ba những trường hợp này là sự xuất hiện các cơn toàn thể màkhông rõ có khởi phát cục bộ trước đó
Trang 32
Các hội chứng động kinh triệu chứng hay ẩn toàn thể không chắcchắn chiếm 17,6% Loại điện não đồ không điển hình (25,6%) và hiệntượng cơn động kinh không điển hình (16,2%) chiếm tỉ lệ cao hơn trongnhững trường hợp không chắc chắn.
Với các kết quả trên các tác giả cho rằng các hội chứng động kinhtheo Liên Hội Quốc Tế Chống Động Kinh có thể được áp dụng đối với đasố các trường hợp tại trung tâm động kinh chuyên sâu Chẩn đoán tốt trongnhững trường hợp hình ảnh lâm sàng-điện não phù hợp tốt và kém khinhững đặc điểm chẩn đoán lỏng lẻo không chắc chắn Giới hạn chính là dođặc điểm chẩn đoán quá rộng theo nhóm động kinh cục bộ ẩn hay triệuchứng
Manford và cộng sự [73] đã thực hiện nghiên cứu tiền cứu, dựa vàodân số trong 594 các trường hợp động kinh mới được chẩn đoán, tỉ lệ theophân loại hội chứng động kinh của Liên Hội Quốc Tế Chống Động Kinh:(1) các hội chứng động kinh cục bộ: vô căn 1,2%; triệu chứng 16,2%; vàẩn 2,6%; (2) các hội chứng động kinh toàn thể: vô căn- động kinh vắng ýthức 2,2%; động kinh giật cơ thiếu niên 1,5%; và vô căn không đặc hiệu5,6%; triệu chứng 1,5%; các hội chứng đặc hiệu với động kinh toàn thể0,3%; (3) động kinh không rõ triệu chứng cơn động kinh cục bộ hay toànthể 32%
Một nghiên cứu ở Estonia [18] được thực hiện trên 560 bệnh nhân nhi ghinhận 256 trường hợp có bằng chứng khởi phát cơn động kinh cục bộ rõràng trên điện não đồ; 21 trường hợp điện não đồ không rõ nhưng có bằngchứng cục bộ rõ ràng trên lâm sàng và/hay trên hình ảnh học thần kinh.Các hội chứng động kinh cục bộ vô căn được chẩn đoán trong 36 bệnhnhân với 33 (5,9%) là động kinh trẻ em lành tính với sóng gai trung tâm
Trang 33
thái dương và 3 (0,5%) là động kinh trẻ em với sóng kịch phát ở thùychẩm Các hội chứng động kinh cục bộ triệu chứng được chẩn đoán trong
106 (18,9%) và ẩn trong 135 (24,1%); 98 động kinh cục bộ triệu chứng cóđiện não đồ bất thường khu trú, 8 bệnh nhân còn lại có biểu hiện thần kinhcục bộ dựa vào lâm sàng và/hay hình ảnh học thần kinh nhưng điện nãođồ không thấy bất thường Có 271 (48,4%) hội chứng động kinh toàn thểtrong đó hội chứng động kinh toàn thể vô căn chiếm 28,8% Trong nhómhội chứng động kinh toàn thể vô căn thì 6,4% là động kinh vắng ý thức ởtrẻ nhỏ, 2% là động kinh vắng ý thức ở trẻ thiếu niên, 0,9% là động kinhgiật cơ lành tính ở trẻ nhũ nhi và 0,7% là động kinh giật cơ ở thiếu niên.Động kinh nhạy cảm với kích thích ánh sáng chiếm 1,1% Thường nhất làđộng kinh với các cơn co cứng-co giật khi thức (17,7%) Có 271 trườnghợp động kinh toàn thể trong đó 144 trường hợp động kinh toàn thể vô cănvới biểu hiện điện não đồ ngoài cơn bất thường; 17 với điện não đồ bìnhthường tuy nhiên bệnh sử rõ ràng là hội chứng động kinh toàn thể vô căn.Chụp cộng hưởng từ được làm trong 67 trường hợp động kinh toàn thể vôcăn và chỉ 9 bệnh nhân có biểu hiện bệnh lý nhẹ Trong nhóm động kinhtoàn thể ẩn hay triệu chứng thì 1,4% là hội chứng West, 2,9% là hội chứngLennox-Gastaut, 0,7% là động kinh vắng ý thức giật cơ và 0,7% là độngkinh với các cơn giật cơ mất thăng bằng tư thế Động kinh toàn thể triệuchứng do bệnh thần kinh đặc hiệu chiếm 5% Bệnh não giật cơ sớm chỉ có
1 trường hợp (0,2%) Có 49 (8,8%) là động kinh toàn thể triệu chứng khác(không được xác định ở trên) trong đó bằng chứng lâm sàng và/hay điệnnão đồ là các cơn động kinh toàn thể nhưng không phù hợp với các đặcđiểm khác của phân loại quốc tế; loại cơn thường nhất là cơn co cứng-cogiật toàn thể (65,3%), kế là cơn co cứng toàn thể (26,5%) và cơn co giật
Trang 34
toàn thể (8,1%) Chỉ có 2 (0,4%) trường hợp động kinh không được xácđịnh là cục bộ hay toàn thể trong đó 1 là động kinh với gai sóng liên tụctrong giấc ngủ sóng chậm và 1 là hội chứng Landau-Kleffner Có 10(1,8%) các trường hợp là không thể phân loại được trong đó đều có cơnvận động toàn thể nguyên phát và/hay cơn mất trương lực cơ và điện nãongoài cơn cho thấy các bất thường cục bộ trong 9 trường hợp, trong 10trường hợp này không có trường hợp nào có bất thường về thần kinh Cáctác giả cho rằng phân loại hội chứng động kinh của Liên Hội Quốc TếChống Động Kinh có thể được áp dụng trong đa số các trường hợp.
Tỉ lệ phân loại hội chứng động kinh của Liên Hội Quốc Tế ChốngĐộng Kinh khi được dùng trong các nghiên cứu dựa vào bệnh viện khácvới các nghiên cứu trong dân số vì do nghiên cứu ở các nhóm bệnh nhânkhác nhau
Tại bệnh viện Cleveland, một số tác giả [61] đã đề nghị phân loạiđộng kinh theo bệnh nhân với 5 phần: (a) vị trí và phạm vi vùng sinh độngkinh; (b) loại cơn động kinh theo triệu chứng; (c) nguyên nhân; (d) tần sốcơn động kinh; (e) các tình trạng nội khoa liên quan
Đề nghị hệ thống chẩn đoán cho bệnh nhân với các cơn động kinh và các hội chứng động kinh của Liên Hội Quốc Tế Chống Động Kinh [44] : là đề
nghị mới nhằm đưa ra cách phân loại động kinh mới đầy đủ hơn
Các phân loại động kinh khác
Chương động kinh của Phân Loại Quốc Tế Về Các Bệnh lần thứ 10
(ICD-10): cũng dựa vào phân loại hội chứng động kinh của Liên Hội QuốcTế Chống Động Kinh, nhưng hơi lạ là cấu trúc của nó thêm vào phân loạicơn động kinh của Liên Hội Quốc Tế Chống Động Kinh Phân loại độngkinh theo ICD có lẽ là phân loại được dùng nhiều nhất trên thế giới do nó
Trang 35
được sử dụng trong nhiều hệ thống lưu trữ dữ liệu về sức khỏe Tuy nhiên,dù có những cải thiện so với các phiên bản trước đây, ICD-10 vẫn tiếp tụcdùng các thuật ngữ mơ hồ như cơn nhỏ (petit mal), cơn lớn (grand mal) và
do cố gắng bao gồm tất cả nên nó chứa quá nhiều các đặc điểm nhỏ màphức tạp khi nghiên cứu dịch tễ học hay ứng dụng lâm sàng
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu tiến cứu, cắt ngang
2.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Dân số nghiên cứu
Những bệnh nhân bị động kinh tại khoa Thần Kinh, bệnh viện ChợRẫy và phòng khám động kinh, bệnh viện Đại Học Y Dược TPHCM từtháng 1 năm 2005 đến tháng 8 năm 2006
Trang 36
Tiêu chuẩn chọn bệnh
Tất cả bệnh nhân phải có ít nhất hai cơn động kinh cách nhau tốithiểu 24 giờ Các cơn động kinh là những cơn tự phát không do cácnguyên nhân cấp gây ra
Tiêu chuẩn loại trừ
Những bệnh nhân sau không được đưa vào nghiên cứu:
Bệnh nhân chỉ có một cơn động kinh hay bệnh nhân có nhiều cơnđộng kinh nhưng các cơn cách xa nhau ít hơn 24 giờ
Các cơn động kinh do sốt
Các cơn động kinh ở trẻ sơ sinh
Các cơn động kinh triệu chứng cấp như hạ đường huyết, tăng đườnghuyết, hạ natri máu, giai đoạn cấp của tai biến mạch máu não, giaiđoạn cấp của viêm não, giai đoạn cấp của chấn thương sọ não…
Các cơn không phải động kinh (giả động kinh) như: ngất, cơnthoáng thiếu máu não, migraine, rối loạn lo âu, hysterie, giả vờbệnh
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
CỠ MẪU
Cỡ mẫu được tính theo công thức
n≥(1,96/m) 2 p(1-p)
với m=10%=0,1 (tỉ lệ chênh lệch là 10% giữa các nghiên cứu)
p=80%=0,8 (khả năng phân loại được khoảng 80%)
tính ra thì n≥(1,96/0,1)20,8(0,2) suy ra cỡ mẫu tối thiểu là 62 bệnh nhân.
CÁC YẾU TỐ KHẢO SÁT
Trang 37
Các đặc điểm chung: tuổi, giới.
Tiền căn động kinh
Số cơn động kinh
Động kinh mới hay đã được chẩn đoán
Phân loại các cơn động kinh
Phân loại cơn động kinh theo LHQTCĐK năm 1981
1 Cơn động kinh cục bộ:
Cơn dộng kinh cục bộ đơn giản (ý thức không bị rối loạn)
Cơn động kinh cục bộ phức tạp (ý thức bị rối loạn trong cơn)
Cơn động kinh cục bộ toàn thể thứ phát
2 Cơn động kinh toàn thể:
Cơn vắng ý thức
Cơn giật cơ
Cơn co cứng
Cơn co giật
Cơn co cứng–co giật
Cơn mất trương lực
3 Các cơn không phân loại được
Phân loại này sử dụng các dữ liệu lâm sàng và điện não đồ Trongtrường hợp điện não đồ và lâm sàng không phù hợp thì chúng tôi dùng dữliệu lâm sàng để phân loại nếu các dữ liệu lâm sàng mô tả rõ cơn độngkinh Trong trường hợp điện não đồ và lâm sàng không phù hợp nhưngđiện não đồ cho thấy đặc hiệu cho loại cơn động kinh thì dùng các dữ liệuđiện não đồ để phân loại Nếu cả hai dữ liệu lâm sàng và điện não đồ
Trang 38
không phù hợp và các dữ liệu riêng biệt của điện não đồ hay lâm sàngkhông thể phân loại được cơn động kinh thì cơn động kinh được phân loại
ở mục thứ 3 là “các cơn không phân loại được” Như vậy, trong nhóm nàycó thể bao gồm các cơn động kinh toàn thể nhưng không xác định được cụthể là loại cơn động kinh nào
Trong trường hợp các cơn cục bộ toàn thể hóa nếu không xác địnhđược toàn thể hóa từ cục bộ đơn giản hay từ cục bộ phức tạp thì chúng tôixếp vào cơn toàn thể hóa nhưng không xác định được
Phân loại cơn động kinh theo triệu chứng theo Luders và cộng sự [71]
(phân loại chỉ dựa vào thông tin lâm sàng)
Cơn động kinh
Cơn thoáng báo
Cơn thoáng báo cảm giác cơ thể a
Cơn thoáng báo thính giác a
Cơn thoáng báo thị giác a
Cơn thoáng báo vị giác
Cơn thoáng báo khứu giác
Cơn thoáng báo thần kinh thực vật a
Cơn thoáng báo tâm thầnCơn động kinh thần kinh thực vật aCơn động kinh thay đổi ý thức riêng biệt b
Cơn thay đổi ý thức riêng biệt điển hình bCơn động kinh vận động a
Cơn vận động đơn giản a
Cơn giật cơ a
Cơn co cứng a
Trang 39
Cơn co giật a
Cơn co cứng-co giật
Cơn quay a
Co thắt động kinh a
Cơn vận động phức tạp b
Cơn tăng vận động b
Cơn vận động tự động b
Cơn cườiCơn động kinh đặc biệt
Cơn mất trương lực a
Cơn mất thăng bằng tư thế
Cơn giảm vận động b
Cơn không vận động a
Cơn giật cơ âm tính a
Cơn mất ngôn ngữ bBiến cố kịch phát
a trái/phải/trục/toàn thể/hai bên không cân xứng
b bán cầu trái/bán cầu phải
Trong mỗi nhóm nếu các cơn vẫn không xác định từng loại nào thìchúng tôi xếp vào cơn không xác định được trong nhóm đó
Phân loại cơn động kinh theo đề nghị của LHQTCĐK năm 2001
Phân loại hội chứng động kinh của LHQTCĐK 1989 (loại bỏ các hội
chứng đặc biệt)
1 Các bệnh và các hội chứng động kinh cục bộ
1.1 Vô căn (với khởi phát liên quan đến tuổi)
Trang 40
Động kinh lành tính ở trẻ em với các sóng gai trung tâm thái dươngĐộng kinh ở trẻ em với các sóng kịch phát thùy chẩm
Động kinh nguyên phát do đọc1.2 Triệu chứng
Động kinh cục bộ liên tục tiến triển mãn tính ở trẻ em (hội chứngKojewnikow)
Các hội chứng được đặc trưng bởi các cơn động kinh với các kích thíchđặc hiệu (ví dụ, động kinh phản xạ)
Các hội chứng động kinh thùy thái dươngCác hội chứng động kinh thùy trán
Các hội chứng động kinh thùy đỉnhCác hội chứng động kinh thùy chẩm1.3 Ẩn
2 Các bệnh và các hội chứng động kinh toàn thể
2.1 Vô căn (với khởi phát liên quan đến tuổi)
Các cơn co giật sơ sinh có tính gia đình lành tínhCác cơn co giật sơ sinh lành tính
Động kinh giật cơ lành tính ở trẻ nhũ nhiĐộng kinh vắng ý thức ở trẻ nhỏ
Động kinh vắng ý thức ở thiếu niênĐộng kinh giật cơ ở thiếu niênĐộng kinh với các cơn co cứng-co giật toàn thể khi thứcCác hội chứng động kinh toàn thể vô căn khác không được nhắc đến ởtrên
Các hội chứng động kinh với các cơn được khởi phát do các cách thứchoạt hóa đặc hiệu