BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ---NGUYỄN QUỐC TRUNG TỈ LỆ CÁC CƠN ĐỘNG KINH Ở BỆNH NHÂN NGƯỜI LỚN THEO PHÂN LOẠI CƠN ĐỘNG KINH 2017 CỦA LIÊN HỘI QUỐC
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-NGUYỄN QUỐC TRUNG
TỈ LỆ CÁC CƠN ĐỘNG KINH Ở BỆNH NHÂN NGƯỜI LỚN THEO PHÂN LOẠI CƠN ĐỘNG KINH 2017 CỦA LIÊN HỘI QUỐC TẾ
CHỐNG ĐỘNG KINH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ NỘI TRÚ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-NGUYỄN QUỐC TRUNG
TỈ LỆ CÁC CƠN ĐỘNG KINH Ở BỆNH NHÂN NGƯỜI LỚN THEO PHÂN LOẠI CƠN ĐỘNG KINH 2017 CỦA LIÊN HỘI QUỐC TẾ
CHỐNG ĐỘNG KINH
Chuyên ngành: THẦN KINH
Mã số: NT 62 72 21 40
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ NỘI TRÚ
Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ VĂN TUẤN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2018 .
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp bác sĩ Nội Trú “Tỉ lệ các cơn động kinh ở bệnhnhân người lớn theo phân loại cơn động kinh 2017 của Liên Hội Quốc Tế ChốngĐộng Kinh” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu trong luận văn là
số liệu trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TP Hồ Chí Minh, ngày…tháng…năm 2018
Người cam đoan
Nguyễn Quốc Trung
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
BẢNG ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ ANH - VIỆT vi
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC BẢNG ix
DANH MỤC BIỂU ĐỒ xii
DANH MỤC HÌNH xii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 ĐẠI CƯƠNG VỀ ĐỘNG KINH 4
1.2 PHÂN LOẠI ĐỘNG KINH 5
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của bảng phân loại cơn động kinh 5
1.2.2 Bảng phân loại cơn động kinh 1981 theo LHQTCĐK 7
1.2.3 Bảng phân loại cơn động kinh 2017 theo LHQTCĐK 11
1.3 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU PHÂN LOẠI CƠN ĐỘNG KINH TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 23
1.3.1 Một số nghiên cứu trên thế giới 23
1.3.2 Một số nghiên cứu ở Việt Nam 30
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 32
2.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 32
.
Trang 52.2.2 Dân số chọn mẫu: 32
2.2.3 Phương pháp chọn mẫu 32
2.2.4 Tiêu chuẩn chọn bệnh 32
2.2.5 Tiêu chuẩn loại trừ 34
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.3.1 Cỡ mẫu 34
2.3.2 Phân loại cơn động kinh 35
2.3.3 Thu thập số liệu 35
Hình 1: Sơ đồ nghiên cứu 42
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 44
3.1 ĐẶC ĐIỂM DÂN SỐ NGHIÊN CỨU 44
3.1.1 Giới tính 44
3.1.2 Tuổi 44
3.1.3 Nơi cư trú 45
3.1.4 Trình độ học vấn 46
3.1.5 Tình trạng gia đình 46
3.1.6 Nghề nghiệp 47
3.1.7 Đặc điểm thông tin khai báo cơn động kinh 47
3.1.8 Đặc điểm cơn động kinh 48
3.2 TỈ LỆ CÁC LOẠI CƠN ĐỘNG KINH THEO BẢNG PHÂN LOẠI CƠN ĐỘNG KINH CỦA LHQTCĐK 2017 và LHQTCĐK 1981 53
3.2.1 Tỉ lệ các loại cơn động kinh theo bảng phân loại cơn động kinh của LHQTCĐK 2017 53
3.2.2 Tỉ lệ các loại cơn động kinh theo bảng phân loại cơn động kinh của LHQTCĐK 1981 54
Trang 63.2.3 Đặc điểm điện não đồ liên quan 55
3.3 TỈ LỆ BỆNH NHÂN ĐƯỢC PHÂN LOẠI CƠN ĐỘNG KINH THEO BẢNG PHÂN LOẠI CƠN ĐỘNG KINH LHQTCĐK 2017 VÀ LHQTCĐK 1981 56
3.4 SO SÁNH TỈ LỆ PHÂN LOẠI CƠN ĐỘNG KINH CỦA BẢNG PHÂN LOẠI CƠN ĐỘNG KINH CỦA LHQTCĐK 2017 VÀ BẢNG PHÂN LOẠI CƠN ĐỘNG KINH CỦA LHQTCĐK 1981 57
3.4.1 So sánh tỉ lệ phân loại cơn động kinh theo bảng 2017 và 1981 của LHQTCĐK 57
3.4.2 Đặc điểm lâm sàng của nhóm động kinh chưa phân loại theo bảng phân loại cơn động kinh của LHQTCĐK 1981 58
3.5 KHÓ KHĂN VÀ THUẬN LỢI KHI ÁP DỤNG BẢNG PHÂN LOẠI CƠN ĐỘNG KINH CỦA LHQTCĐK 2017 59
3.5.1 Khó khăn 59
3.5.2 Thuận lợi 60
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 61
4.1 ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ CỦA DÂN SỐ NGHIÊN CỨU 61
4.2 TỈ LỆ CÁC LOẠI CƠN ĐỘNG KINH THEO BẢNG PHÂN LOẠI CƠN ĐỘNG KINH 2017 CỦA LHQTCĐK 62
4.2.1 Tỉ lệ bệnh nhân phân loại được cơn động kinh theo bảng phân loại cơn động kinh 2017 của LHQTCĐK 62
4.2.2 Tỉ lệ các loại cơn động kinh theo bảng phân loại cơn động kinh 2017 của LHQTCĐK 64
4.3 TỈ LỆ CÁC LOẠI CƠN ĐỘNG KINH THEO BẢNG PHÂN LOẠI CƠN ĐỘNG KINH 1981 CỦA LHQTCĐK 71
4.4 SO SÁNH KẾT QUẢ BẢNG PHÂN LOẠI CƠN ĐỘNG KINH THEO BẢNG PHÂN LOẠI CƠN ĐỘNG KINH 2017 VÀ BẢNG PHÂN LOẠI CƠN ĐỘNG .
Trang 74.4.1 So sánh tỉ lệ phân loại được cơn động kinh theo bảng phân loại cơn động kinh
2017 và 1981 của LHQTCĐK 74
4.4.2 So sánh tỉ lệ các loại cơn động kinh theo bảng phân loại cơn động kinh 2017 và 1981 của LHQTCĐK 75
4.5 KHÓ KHĂN VÀ THUẬN LỢI KHI ÁP DỤNG BẢNG PHÂN LOẠI CƠN ĐỘNG KINH CỦA LHQTCĐK 2017 78
4.5.1 Khó khăn 78
4.5.2 Thuận lợi 80
4.6 NHỮNG HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU CHÚNG TÔI 80
KẾT LUẬN 82
KIẾN NGHỊ 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO i
PHỤ LỤC 1 vii
PHỤ LỤC 2 xi
Trang 8BẢNG ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ ANH - VIỆT
AAN: American Academy of Neurology
Hội thần kinh Hoa Kỳ BECTS: Benign epilepsy of childhood with centrotemporal spikes
Động kinh lành tính ở trẻ với gai trung tâm thái dương EEG: Electroencephalogram
Điện não đồ ES: Epileptic seizure
Cơn động kinh EU: European Union
Liên minh châu Âu
Đồng tiền chung châu Âu FAS: Focal aware seizure
Cơn động kinh cục bộ còn ý thức FBTCS: Focal to bilateral tonic–clonic seizure
Cơn động kinh cục bộ tiến triển co cứng co giật hai bên FES: Focal epileptic spasm
Cơn co thắt động kinh cục bộ FIAS: Focal impaired awareness seizure
Cơn động kinh cục bộ rối loại ý thức .
Trang 9Cơn động kinh cục bộ vận động FNMS: Focal nonmotor seizure
Cơn động kinh cục bộ không vận động GAS: Generalized absence seizure
Cơn động kinh toàn thể vắng ý thức GES: Generalized epileptic spasm
Cơn co thắt toàn thể GMS: Generalized motor seizure
Cơn động kinh toàn thể vận động GTCS: Generalized tonic–clonic seizure
Cơn động kinh toàn thể co cứng co giật ILAE: International League Against Epilepsy
Liên hội quốc tế chống động kinh PNES: Psychogenic non-epileptic seizures
Cơn tâm lý không phải động kinh WHO: World Health Organization
Tổ chức y tế thế giới
Trang 11DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Bảng phân loại cơn động kinh 1981 7
Bảng 1.2: Bảng phân loại cơn động kinh 2017 theo LHQTCĐK 11
Bảng 1.3: Thuật ngữ sử dụng mô tả hành vi trong và sau cơn động kinh 14
Bảng 1.4: Bảng chú giải thuật ngữ 16
Bảng 1.5: Phân loại cơn động kinh 1981 theo Alberto Velez (2006) 25
Bảng 1.6: Tỉ lệ các loại cơn động kinh theo bảng phân loại cơn động kinh 2017 của LHQTCĐK trong nghiên cứu của Aaberg và cs (2017), Hui Gao và cs (2018) 28
Bảng 1.7: Tỉ lệ các loại cơn động kinh theo bảng phân loại cơn động kinh 1981 của LHQTCĐK trong nghiên cứu của Aaberg và cs (2017), Hui Gao và cs (2018) 29
Bảng 1.8: Tỉ lệ các loại cơn động kinh theo bảng phân loại cơn động kinh 2017 và 1981 của LHQTCĐK trong nghiên cứu của Hui Gao và cs (2018) 30
Bảng 1.9: Tỉ lệ các loại cơn động kinh theo bảng phân loại cơn động kinh 1981 của Lê Văn Tuấn (2009) và Lê Thị Khánh Vân (2011) 31
Bảng 2.1: Các biến số nghiên cứu 35
Bảng 3.1: Tuổi trung bình và độ lệch chuẩn 45
Bảng 3.2: Tỉ lệ phần trăm theo nhóm tuổi 45
Bảng 3.3: Trình độ học vấn 46
Bảng 3.4: Tình trạng hôn nhân 46
Bảng 3.5: Thông tin khai báo cơn động kinh 47
Bảng 3.6: Độ tin cậy của thông tin khai báo 48
Bảng 3.7: Đặc điểm khởi phát cơn động kinh 48
Bảng 3.8: Đặc điểm mức độ ý thức trong cơn động kinh 49
Bảng 3.9: Hoàn cảnh khởi phát 49
Bảng 3.10: Băng hình cơn động kinh 49
Trang 12Bảng 3.11: Đặc điểm tiền căn bệnh lý 50
Bảng 3.12: Đặc điểm khám lâm sàng 51
Bảng 3.13: Thời điểm chẩn đoán động kinh 52
Bảng 3.14: Đặc điểm điện não đồ ngoài cơn và các loại cơn động kinh theo bảng phân loạicơn động kinh của LHQTCĐK 2017 55Bảng 3.15: Đặc điểm điện não đồ ngoài cơn và các loại cơn động kinh theo bảng phân loạicơn động kinh của LHQTCĐK 1981 55Bảng 3.16: Tỉ lệ bệnh nhân được phân loại cơn động kinh theo bảng phân loại cơn độngkinh của LHQTCĐK 2017 (n=98) 56
Bảng 3.17: Tỉ lệ bệnh nhân được phân loại cơn động kinh theo bảng phân loại cơn độngkinh của LHQTCĐK 1981 (n=98) 56
Bảng 3.18: Tỉ lệ phân loại được cơn động kinh theo bảng phân loại cơn động kinh củaLHQTCĐK 1981 và 2017 57Bảng 3.19: Đặc điểm dân số của nhóm cơn động kinh không phân loại 58
Bảng 4.1: Tỉ lệ cơn động kinh phân loại được và không phân loại được trong các nghiêncứu ứng dụng bảng phân loại cơn động kinh mới 2017 64
Bảng 4.2: Tỉ lệ các loại cơn động kinh theo khởi phát trong các nghiên cứu ứng dụng bảngphân loại cơn động kinh mới 2017 66
Bảng 4.3: Tỉ lệ ba loại cơn động kinh cao nhất theo các nghiên cứu ứng dụng bảng phânloại cơn động kinh mới 2017 68
Bảng 4.4: Tỉ lệ (%) các loại cơn động kinh trong các nghiên cứu sử dụng bảng phân loạicơn động kinh 2017 69Bảng 4.5: Tỉ lệ (%) các loại cơn động kinh trong các nghiên cứu sử dụng bảng phân loạicơn động kinh 1981 71Bảng 4.6: Tỉ lệ các loại cơn động kinh theo bảng phân loại cơn động kinh 2017 và 1981của LHQTCĐK trong nghiên cứu của chúng tôi 75
.
Trang 13Bảng 4.7: Tương quan đặc điểm lâm sàng và khả năng phân loại được cơn động kinh theobảng phân loại cơn động kinh 1981 76
Trang 14DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Biểu đồ phân bố giới tính 44
Biểu đồ 3.2: Biểu đồ phân bố nơi cư trú 45
Biểu đồ 3.3: Biểu đồ phân bố nghề nghiệp (n=93) 47
Biểu đồ 3.4: Đặc điểm điện não đồ (n=98) 51
Biểu đồ 3.5: Tỉ lệ phần trăm các loại cơn động kinh theo bảng phân loại cơn động kinh của LHQTCĐK 2017 (n=98) 53
Biểu đồ 3.6: Tỉ lệ phần trăm các loại cơn động kinh theo bảng phân loại cơn động kinh của LHQTCĐK 1981 (n=98) 54
DANH MỤC HÌNH Hình 1: Sơ đồ nghiên cứu 42
.
Trang 15ĐẶT VẤN ĐỀ
Động kinh là một trong những bệnh gây gánh nặng cho xã hội nhiều nhất, ướctính ảnh hưởng khoảng 50 triệu người trên thế giới, gần 80% trong số này nằm ở cácnước thu nhập thấp và trung bình, và hơn 50% bệnh nhân sống ở châu Á [27],[41].Năm 1997, Jallon và cộng sự báo cáo các nghiên cứu ở châu Á, đưa ra tỉ lệ hiện mắcbệnh động kinh dao động từ 1,5/1000 người ở Nhật Bản đến 10,0/1000 người ởPakistan và ở Việt Nam là 10,7/1000 người [11] Tỉ lệ tử vong thường cao ở các nướcđang phát triển, khoảng 28,9/1000 người-năm ở nông thôn Cameroon, 31,6/1000người-năm ở trung tâm nông thôn Ethiopia, và đặc biệt 90,9/1000 người-năm ở Lào[38] Hậu quả nặng nhất của bệnh động kinh là tử vong do những nguyên nhân chính:đột tử ở bệnh nhân động kinh, trạng thái động kinh, chấn thương và tự tử [10] Đểchẩn đoán đúng, điều trị hiệu quả bệnh động kinh cần chẩn đoán và phân loại đúngcơn động kinh [14]
Hiện nay, các bác sĩ lâm sàng sử dụng bảng phân loại cơn động kinh củaLHQTCĐK (Liên Hội Quốc Tế Chống Động Kinh) 1981 và bảng phân loại hội chứngđộng kinh của LHQTCĐK 1989 trong việc chẩn đoán và điều trị bệnh Bảng phânloại cơn động kinh của LHQTCĐK 1981 còn nhiều khuyết điểm: phân loại thành hainhánh cục bộ hoặc toàn thể (tuy nhiên nhiều trường hợp không phân loại được như:cơn co thắt và cơn co cứng có khởi phát cả cục bộ và toàn thể), không đề cập đếnnhóm cơn động kinh không phân loại được, nhiều thuật ngữ còn gây khó hiểu chobệnh nhân và các đồng nghiệp chuyên khoa khác: cơn động kinh cục bộ phức tạp,cơn động kinh cục bộ đơn giản…, nhiều loại cơn động kinh đã không được đề cậptrong bảng phân loại này: cơn co thắt, cơn hành vi tự động, cơn tăng động, cơn ngưnghành vi, cơn giật cơ co cứng co giật, cơn mất trương lực giật cơ, cơn giật mi mắt giậtcơ…, những thông tin thu thập hồi cứu sau cơn thường không chính xác trong việcxác định còn ý thức hay rối loạn ý thức [6], [8] Trải qua hơn 35 năm từ khi bảngphân loại cơn động kinh 1981 ra đời, đã có nhiều sự phát triển vượt bậc đặc biệt khiphát hiện những cơn động kinh mới mà bảng phân loại cũ không đề cập, dễ dàng thu
Trang 16hình cơn động kinh bằng điện thoại thông minh, phát triển trong lĩnh vực băng hình–điện não đồ, hình ảnh học thần kinh, di truyền học, sinh học phân tử, và phẫu thuậtđộng kinh, việc đòi hỏi phải có và ứng dụng bảng phân loại mới phù hợp cho sự pháttriển trong lĩnh vực động kinh là yêu cầu khẩn thiết.
Với mong muốn sử dụng ngôn từ ngắn gọn, dễ hiểu trong giao tiếp giữa bệnhnhân động kinh và bác sĩ hay giữa bác sĩ các chuyên khoa với nhau, đồng thời cậpnhật những loại cơn động kinh mới, khắc phục những khuyết điểm của bảng phânloại cũ, Liên Hội Quốc Tế Chống Động Kinh (LHQTCĐK) đã sử dụng hệ thốngmạng để thu thập những ý kiến của các chuyên gia động kinh trên toàn thế giới, vàkết quả vào tháng 3 năm 2017, Liên Hội Quốc Tế Chống Động Kinh đã thông báocho ra đời bảng phân loại cơn động kinh 2017 [32] Bảng phân loại cơn động kinh
2017 sử dụng những ngôn từ đơn giản, thay đổi những khái niệm chẩn đoán để dễdàng sử dụng trong lâm sàng, cập nhật những loại cơn động kinh mới và phân loạiđánh giá toàn diện bệnh nhân động kinh [32]
Trên thế giới đã có những nghiên xác định tỉ lệ cơn động kinh như AlbertoVelez và cộng sự (2006) đã công bố một nghiên cứu về dịch tễ học và phân loại cơnđộng kinh, hội chứng động kinh trên tạp chí Epilepsia, nghiên cứu thu thập số liệu từbệnh nhi và bệnh nhân người lớn từ 2 đến 85 tuổi [18] Kết quả cho thấy dựa trên dữliệu lâm sàng và điện não đồ, nghiên cứu phân loại động kinh theo bảng phân loạiđộng kinh của ILAE 1981 cho kết quả: 36% động kinh toàn thể, 64% động kinh cục
bộ [18] Năm 2003, GCY Fong và cs đã tiến hành một nghiên cứu về động kinh tạiHong Kong, nghiên cứu tuyển chọn 736 bệnh nhân động kinh người lớn hơn 15 tuổi,với thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả, kết quả cho thấy loại động kinh cục bộ chiếm55.4%, động kinh toàn thể chiếm 38.7% và động kinh không phân loại chiếm 5.8%[26] Năm 2017, Aaberg và cs tiến hành phân loại cơn động kinh trên 606 bệnh nhi ở
Na Uy từ 3-13 tuổi, thiết kế cắt ngang mô tả, ghi nhận được 817 loại cơn động kinh
và phân loại các cơn động kinh này theo hai bảng phân loại 1981 và 2017 củaLHQTCĐK [29] Kết quả theo bảng phân loại cơn động kinh 1981 là: cơn động kinh .
Trang 17được chiếm 17,5% [29] Kết quả theo bảng phân loại cơn động kinh 2017 là: cơnđộng kinh cục bộ 50,9%, cơn động kinh toàn thể 31,6% và cơn động kinh không rõkhởi phát 13,2% và cơn không phân loại được 4,3% [29].
Tại Việt Nam đã có những nghiên cứu áp dụng bảng phân loại cơn động kinh
1981 của LHQTCĐK được thực hiện bởi Lê Văn Tuấn (2009) đưa ra tỉ lệ cơn độngkinh cục bộ có 132 (72,1%) các trường hợp, trong đó cơn cục bộ đơn giản có 39(21,3%) các trường hợp, cơn cục bộ phức tạp có 57 (31,2%) các trường hợp, cơn cục
bộ toàn thể hoá thứ phát có 36 (19,6%) các trường hợp, cơn toàn thể có 41 (22,4%)các trường hợp, còn lại 10 (5,5%) trường hợp không phân loại được loại cơn [4] Tuynhiên tại Việt Nam nói chung và nhất là tại bệnh viện Nhân Dân 115 chưa có nghiêncứu nào xác định tỉ lệ các loại cơn động kinh theo bảng phân loại cơn động kinh 2017của LHQTCĐK Chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài này nhằm xác định “Tỉ lệ cáccơn động kinh ở bệnh nhân người lớn theo phân loại cơn động kinh 2017 của LiênHội Quốc Tế Chống Động Kinh” tại bệnh viện Nhân Dân 115 với các mục tiêu cụthể như sau:
1 Xác định tỉ lệ các cơn động kinh ở bệnh nhân người lớn tại bệnh viện NhânDân 115 theo bảng phân loại cơn động kinh 2017 của LHQTCĐK
2 So sánh tỉ lệ phân loại được cơn động kinh theo bảng phân loại cơn động kinh
2017 của LHQTCĐK và bảng phân loại cơn động kinh 1981 của LHQTCĐK
3 Khó khăn và thuận lợi khi áp dụng bảng phân loại cơn động kinh củaLHQTCĐK 2017
Trang 18CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 ĐẠI CƯƠNG VỀ ĐỘNG KINH
Cơn động kinh là sự xuất hiện nhất thời các triệu chứng cơ năng và thực thể(gồm vận động, cảm giác, giác quan, tâm thần và thần kinh thực vật) do sự phóngđiện kịch phát quá mức và đồng bộ của các nơron trong não [1], [20] Bệnh động kinh
là một bệnh thần kinh đặc trưng bởi khuynh hướng lâu dài khởi phát các cơn độngkinh và những hậu quả trên sinh học thần kinh, nhận thức, tâm lý, xã hội của bệnhnày [3], [37] Các cơn động kinh đã được chú ý từ thời xa xưa Báo cáo đầu tiên vềbệnh động kinh được tìm thấy trong bút tích của vương quốc Assyria, phía bắcMesopotamia, vào thời điểm 2000 năm trước công nguyên Nhiều tài liệu trích dẫn
về động kinh đã được tìm thấy, nhưng quan trọng nhất là những tài liệu củaHippocrate, ông đã viết cuốn sách đầu tiên về động kinh “On Sacred Disease” [2],trong đó ông mô tả ca phẫu thuật thần kinh đầu tiên và nhận ra rằng phẫu thuật mở
sọ nên được thực hiện tại bán cầu não đối bên với cơn động kinh [23]
Động kinh là một trong những bệnh gây gánh nặng cho xã hội nhiều nhất, ướctính ảnh hưởng khoảng 50 triệu người trên thế giới, gần 80% trong số này nằm ở cácnước thu nhập thấp và trung bình và hơn 50% bệnh nhân sống ở châu Á [4], [12],[41] Năm 1997, Jallon và cs báo cáo các nghiên cứu ở châu Á, đưa ra tỉ lệ hiện mắcđộng kinh từ 1,5/1000 người ở Nhật Bản đến 10,0/1000 người ở Pakistan và đặc biệt
ở Việt Nam là 10,7/1000 người [11] Tỉ lệ tử vong thường cao ở các nước đang pháttriển, khoảng 28,9/1000 người-năm ở vùng nông thôn Cameroon, 31,6/1000 người-năm ở nông thôn Ethiopia, và đặc biệt 90,9/1000 người-năm ở Lào [38] Tất cả cácbác sĩ thần kinh cần hiểu biết kĩ càng về động kinh bởi đây là một bệnh phổ biến,biểu hiện lâm sàng đa dạng, thay đổi và sử dụng các thuốc chống động kinh hiệu quả
để điều trị các vấn đề tâm thần kinh [41]
Vào năm 2010, tại liên minh châu Âu, chi phí cho bệnh động kinh là 13,6 triệu .
Trang 19EUR, chi phí trực tiếp không phải thuốc 625 EUR và 2136 EUR cho chi phí giántiếp) [13] Ở Mỹ, chi phí cho bệnh nhân động kinh dao động từ 1022 đô la Mỹ đến
19749 đô la Mỹ [13] Mặc dù ở Việt Nam chưa có thống kê cụ thể, nhưng chắc chắnchi phí điều trị cho động kinh không phải là nhỏ Khoảng ¾ số bệnh nhân nằm ở cácnước thu nhập thấp và trung bình không được điều trị đầy đủ [40]
1.2 PHÂN LOẠI ĐỘNG KINH
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của bảng phân loại cơn động kinh
Năm 1947, Tissot thực hiện phân loại cổ điển đầu tiên dựa chủ yếu vào cănnguyên bệnh, chia thành hai loại: động kinh vô căn và động kinh triệu chứng [22],[8] Năm 1954, Penfield và Jasper chia động kinh thành hai loại chính: động kinhkhông xác định được tổn thương trên não và động kinh xác định được vị trí tổn thươngtrên não, các nghiên cứu sau này cho thấy loại thứ nhất trong phân loại của Penfield
và Jasper tương ứng với động kinh toàn thể và loại thứ hai tương ứng với động kinhcục bộ [10] Trong nửa đầu của thế kỉ 20, cơn động kinh được xếp thành cơn lớn, cơnnhỏ và cơn tâm thần vận động, những thuật ngữ này vẫn còn thông dụng cho đếnngày nay
Năm 1970, bảng phân loại động kinh được đề xuất bởi LHQTCĐK [9] Bảngphân loại này được cải tiến vài lần trong những thập kỉ kế tiếp với mục đích đề xuấtnhững thuật ngữ rõ ràng, dễ hiểu để tránh những nhầm lẫn về bệnh động kinh [23].Trong suốt hai thập kỉ sau đó, bệnh động kinh đã được đánh giá về khía cạnh tâmthần và chức năng xã hội, những thang điểm đánh giá chất lượng cuộc sống đượcphát triển
Năm 1981, LHQTCĐK đề xuất bảng phân loại cơn động kinh đầu tiên, ủy bancủa LHQTCĐK đã đánh giá hàng trăm băng hình điện não đồ cơn động kinh và đưa
ra bảng phân loại cơn động kinh 1981 (bảng phân loại cụ thể sẽ được trình bày bêndưới) [6] Bảng phân loại này vẫn còn có giá trị sử dụng trong hơn 36 năm sau đó,nhưng một lần nữa có một vài hoàn cảnh mà áp dụng bảng phân loại cơn động kinh
1981 không được tối ưu [24] Một vài loại cơn động kinh vận động như: co cứng, mất
Trang 20trương lực, co giật và giật cơ được đề cập đến trong bảng phân loại là cơn toàn thểnhưng cũng có thể xuất hiện như một cơn động kinh cục bộ Không rõ khởi phát đượcxếp vào nhóm không phân loại, mặc dù một vài bệnh nhân được quan sát thấy rõ ràng
có cơn co cứng–co giật Một vài loại cơn động kinh quan trọng không được đề cậpđến trong bảng phân loại 1981 như: cơn co thắt nhũ nhi Những thuật ngữ có thể gâynhầm lẫn khi được sử dụng ngoài cộng đồng: phức tạp, đơn giản, tâm thần, hay mất
ý thức Vì những lý do đó, một bản phân loại mới được phát triển để phù hợp với cácnhà lâm sàng, các kĩ thuật viên chẩn đoán thần kinh và những nhân viên y tế khác[20] Bảng phân loại này đã được thảo luận, chỉnh sửa tích cực vào năm 1989 [8].Bảng phân loại và thuật ngữ mô tả cơn và hội chứng động kinh được xem là công cụnền tảng cho việc chẩn đoán, tổ chức, và phân nhóm bệnh động kinh
Năm 2001, lực lượng đặc nhiệm của LHQTCĐK đề xuất một lược đồ chẩnđoán những bệnh nhân có cơn động kinh và bệnh động kinh, lược đồ này được ủng
hộ bởi những thành viên chủ chốt của LHQTCĐK vào năm 2006 Bảng phân loại cơnđộng kinh của LHQTCĐK được thảo luận sôi nổi và một bảng phân loại cơn độngkinh mới được đề nghị nhưng chưa được thực hiện Đến năm 2010, LHQTCĐK đềxuất một bảng phân loại mới [42] Tuy nhiên, bảng phân loại này vẫn còn nhiều thiếusót và chưa được áp dụng rộng rãi trong thực hành lâm sàng, đòi hỏi tiếp tục đánh giá
và cải tiến thêm
Liên Hội Quốc Tế Chống Động Kinh (LHQTCĐK) đã sử dụng hệ thống mạng
để thu thập những ý kiến của các chuyên gia động kinh trên toàn thế giới, và kết quảvào tháng 3 năm 2017, Liên Hội Quốc Tế Chống Động Kinh đã thông báo cho ra đờibảng phân loại cơn động kinh 2017 dựa trên nền tảng là bảng phân loại cơn động kinh
1981 và được phát triển tiếp từ phiên bảng 2010 Bảng phân loại cơn động kinh 2017phân biệt cơn động kinh thành cục bộ hay toàn thể (bằng triệu chứng lâm sàng hoặcđiện não đồ) trong cả hai bán cầu đại não [20] Bảng phân loại cơn động kinh củaLHQTCĐK 2017 sẽ được trình bày cụ thể bên dưới
.
Trang 211.2.2 Bảng phân loại cơn động kinh 1981 theo LHQTCĐK
Bảng phân loại cơn động kinh 1981 dựa trên 2 tiêu chí chính: đặc điểm lâmsàng trong cơn và đặc điểm điện não đồ trong cơn và ngoài cơn (Bảng 1.1) [6] Cơnđộng kinh được chia thành 2 nhóm chính: khởi phát cục bộ và khởi phát toàn thể.Cơn động kinh được gọi là khởi phát cục bộ khi đặc điểm lâm sàng lúc mới bắt đầucơn động kinh và điện não đồ cho thấy ổ sinh động kinh giới hạn ở một phần của mộtbên bán cầu [6] Cơn động kinh được gọi là khởi phát toàn thể khi đặc điểm lâm sàng
và điện não đồ cho thấy cơn động kinh khởi phát cùng lúc ở hai bên bán cầu Sự phânchia cơn động kinh cục bộ thành “đơn giản” và “phức tạp” dựa trên thay đổi về ýthức Ý thức được bảo tồn trong cơn động kinh cục bộ đơn giản và bị suy giảm trongcơn động kinh cục bộ phức tạp Khái niệm cơn động kinh có thể tiến triển theo thờigian ở cùng một bệnh nhân (cơn động kinh cục bộ phức tạp toàn thể hóa thứ phát)được nhấn mạnh
Bảng 1.1: Bảng phân loại cơn động kinh 1981
Loại cơn lâm sàng Điện não đồ trong cơn Điện não đồ
Tư thếPhát âm-nói líu ríu hoặcngừng nói
Thay đổi cục bộ đối bêntrên vùng vỏ não tươngxứng (không luôn luônghi được trên điện cực
da đầu)
Thay đổi cục
bộ đối bên
Trang 222 Với triệu chứng cảm giác hoặc
giác quan (ảo giác thô sơ):
Cảm giác cơ thểThị giác
Thính giácKhứu giác
Vị giácChóng mặt
3 Với dấu hiệu hoặc triệu chứng
thực vật (cồn cào dạ dày, xanh
xao, vã mồ hôi, đỏ ửng, nổi da gà,
giãn đồng tử)
4 Với triệu chứng tâm thần:
Rối loạn nóiRối loạn trí nhớNhận thứcCảm xúc (sợ hãi, giận dữ, )
Ảo tưởng (ví dụ thấy to ra)
Ảo giác có cấu trúc (ví dụ
âm nhạc, cảnh tượng)
B Cơn cục bộ phức tạp
1 Khởi phát cục bộ đơn giản tiếp
theo là rối loạn ý thức và/hoặc
các biểu hiện hành vi tự động
Thay đổi một bên hoặcthường hơn là thay đổihai bên, lan toả hoặc cục
bộ ở vùng thái dươnghoặc trán thái dương
Toàn thể khôngđồng bộ mộtbên/hai bên,thường ở vùngthái dương .
Trang 232 Khởi phát là rối loạn ý thức
có/không có các biểu hiện hành
3 Cơn cục bộ đơn giản tiến triển
sang cơn cục bộ phức tạp rồitoàn thể hoá thứ phát
Thay đổi như trên trởthành toàn thể hoánhanh chóng và thứ phát
hoặc trán–tháidương
II Cơn toàn thể
A 1 Cơn vắng ý thức: Cơn vắng
ý thức điển hình
(a) Rối loạn ý thức đơn thuần
(b) Kèm theo yếu tố co giật
và đối xứng 3 Hz nhưng
có thể 2–4 Hz và cóphức hợp đa gai–sóngchậm Bất thường haibên
Hoạt động nềnthường bìnhthường dù hoạtđộng kịch phát(như đa gaihoặc phức hợp
đa gai–sóngchậm) có thểxảy ra Hoạtđộng nàythường đều vàđối xứng
Trang 24B Cơn giật cơ (myoclonic).
C Cơn co giật (clonic).
D Cơn co cứng (tonic).
EEG thường khôngđồng nhất, có thể baogồm phức hợp đa
gai-sóng chậm khôngđều, hoạt động nhanhhoặc những hoạt độngkịch phát khác Bấtthường hai bên nhưngthường không đều vàkhông đối xứng
Đa gai và sóng, hoặcthỉnh thoảng gai và sónghoặc nhọn và sóngchậm
Hoạt động nhanh (10chu kì/giây hoặc hơn)
và sóng chậm, thỉnhthoảng dạng gai – sóng
Điện thế thấp, hoạt độngnhanh hoặc nhịp nhanh
>= 9-10 chu kì/giâyhoặc giảm tần số và tăngbiên độ
Hoạt động nềnthường bấtthường, hoạtđộng kịch phát(như đa gaihoặc phức hợp
đa gai–sóngchậm) thườngkhông đều vàkhông đốixứng
Tương tự trongcơn
Gai–sóng hoặcthay đổi đagai-sóng
Thay đổi nhiềuhoặc ít nhịpnhàng hơn củanhọn và sóngchậm, thỉnhthoảng khôngđối xứng Hoạt .
Trang 25E Cơn co cứng–co giật
(tonic-clonic).
F Cơn mất trương lực
(atonic).
Nhịp >= 10 chu kì/giâygiảm về tần số và tăng
về biên động trong suốtpha co cứng, gián đoạnbởi sóng chậm trongsuốt pha co giật
Đa gai và sóng hoặcphẳng hoặc hoạt độngnhanh biên động thấp
động nềnthường bấtthường theotuổi
Đa gai và đasóng hoặc gai
và sóng hoặc,thỉnh thoảng,nhọn và thayđổi sóng chậm
Đa gai và sóngchậm
III Cơn không phân loại được: tất cả các cơn không phân loại được bởi vì
thiếu hoặc không đầy đủ dữ liệu và một vài cơn không có phân loại trong dữliệu trên Bao gồm: cơn động kinh sơ sinh, cử động mắt thành nhịp, nhai, cửđộng bơi lội
1.2.3 Bảng phân loại cơn động kinh 2017 theo LHQTCĐK
Bảng 1.2: Bảng phân loại cơn động kinh 2017 theo LHQTCĐK
Khởi phát cục bộ Khởi phát toàn thể Không rõ khởi phát
Trang 262
Mất trương lực
Co giật
Co thắt động kinhTăng động
Giật cơ
Co cứng
Không vận động
Thực vậtNgưng hành viNhận thứcCảm xúcCảm giác
Giật cơ
Co cứng-co giật-giật cơ
Mất trương lực-giật cơ
Mất trương lực
Co thắt động kinh
Không vận động
(vắng ý thức)Điển hìnhKhông điển hìnhGiật cơ
1.2.3.1 Cách sử dụng bảng phân loại cơn động kinh và bệnh động kinh của LHQTCĐK 2017
Khung chẩn đoán theo bảng phân loại cơn động kinh và bệnh động kinh 2017gồm bốn mức độ Mức độ 1: chẩn đoán cơn động kinh, mức độ 2: chẩn đoán bệnhđộng kinh dựa vào cơn động kinh, mức độ 3: hội chứng động kinh, mức độ 4: nguyênnhân bệnh động kinh [7], [35] Có thể bỏ qua mức độ 3 khi chẩn đoán ở một số bệnhnhân Mức độ chi tiết của chẩn đoán phụ thuộc nguồn thông tin khai báo và nguồnlực hiện có của ngành y tế địa phương Chẩn đoán cơn động kinh là bước cơ bản và .
Trang 27LHQTCĐK đề xuất bảng phân loại cơn động kinh cơ bản và mở rộng được chỉnhsửa, với bước đầu tiên trong phân loại là khởi phát cục bộ, khởi phát toàn thể haykhởi phát không biết [36] Cơn động kinh cục bộ được phân chia nhỏ hơn thành cơnđộng kinh cục bộ ý thức và rối loạn ý thức Cơn động kinh khởi phát toàn thể vậnđộng: co cứng–co giật, co giật, co cứng, giật cơ, co cứng–co giật–giật cơ, mất trươnglực–giật cơ, mất trương lực, và cơn động kinh co thắt Cơn động kinh khởi phát toànthể không vận động (cơn vắng): cơn vắng điển hình, cơn vắng không điển hình, cơnvắng ý thức giật cơ, hoặc cơn vắng với giật cơ mi mắt Mô tả thêm vào phần viếtthêm được khuyến khích để mô tả đặc điểm cơn động kinh [36].
Bước phân loại đầu tiên là khởi phát Cơn động kinh khởi phát cục bộ được địnhnghĩa “bắt nguồn giới hạn trong một bán cầu Chúng có thể nằm riêng rẽ hoặc phân
bố rộng Cơn động kinh cục bộ có thể bắt nguồn trong những cấu trúc dưới vỏ Cơnđộng kinh khởi phát toàn thể được định nghĩa là “bắt nguồn tại một vài điểm và nhanhchóng lan ra mạng lưới hai bên bán cầu” Một cơn động kinh không rõ khởi phát vẫn
có bằng chứng chắc chắn là vận động (như, cơn co cứng–co giật) hoặc không vậnđộng (như, ngưng hành vi) Vì vậy, “không rõ khởi phát” không là đặc trưng của cơnđộng kinh, nó được xem như là thuật ngữ tương ứng với sự thiếu thông tin của chúng
ta về cơn động kinh Khi một cơn động kinh bắt đầu với từ “cục bộ”, “toàn thể” hoặc
“cơn vắng”, thì đặc điểm “khởi phát” có thể được hiểu ngầm [15]
Bước tiếp theo để phân loại cơn động kinh cục bộ là mức độ ý thức Ý thức làmột định nghĩa thực hành: sự ý thức về bản thân và môi trường Trong cơn động kinhcục bộ còn ý thức, ý thức vẫn được duy trì Nếu mức độ ý thức bị rối loạn tại bất cứphần nào của cơn động kinh, thì cơn động kinh được phân loại là cơn động kinh cục
bộ với rối loạn ý thức [36]
Trang 28Lo âuKhóc (cơn độngkinh khóc)Hoang tưởngHài lòngThực vật
Vô tâm thuNhịp chậmCương
Đỏ ửngTiêu hóa–ruộtTăng/giảmthông khí
Buồn nônhoặc nôn óiXanh xaoĐánh trốngngựcNổi da gà(dựng tócgáy)Thay đổi hôhấpNhịp timnhanhHành vi tựđộngGây hấnNhắm mắtGật đầu
Cử động tayMiệng–mặtĐạp chân
Đẩy xương chậu
Tư duy kiên địnhChạyTình dụcCởi đồPhát ra âmthanh/lời nói
Đi lạiVận độngNói ngượng ngịuRối loạn ngữ địu
Tư thế FancerKhông phối hợpvận động
JacksonianLiệtYếuQuayCảm giácThính giác
Vị giácCảm giácnóng–lạnhKhứu giácCảm giácthân thểTiền đìnhThị giácTay thuận .
Trang 291.2.3.2 Tóm tắt một vài quy luật để phân loại cơn động kinh theo bảng phân loại cơn động kinh 2017
- Khởi phát: quyết định cơn động kinh khởi phát cục bộ hay toàn thể bằng cách
sử dụng 80% mức độ tin cậy của thông tin được cung cấp (tương đương mức thườngđược chấp nhận âm tính thật trong các thống kê lâm sàng) mức độ tin cậy này có mộtchút tùy ý chủ quan của người phân loại [36] Nếu ngược lại, thông tin được cungcấp có mức độ tin cậy dưới 80% sẽ được xếp vào nhóm khởi phát không rõ
- Ý thức: với cơn động kinh cục bộ, quyết định có phân loại dựa vào mức độ ýthức hay bỏ qua mức độ ý thức
- Rối loạn ý thức: cơn động kinh cục bộ rối loạn ý thức nếu ý thức bị rối loạn tạibất cứ thời điểm nào trong cơn
- Ưu thế khởi phát: phân loại cơn động kinh cục bộ bởi triệu chứng ưu thế đầutiên Không bao gồm cơn ngưng hành vi thoáng qua
- Ngưng hành vi: một cơn động kinh ngưng hành vi cục bộ biểu hiện ngưng hành
vi như là đặc trưng ưu thế của toàn bộ cơn động kinh
- Vận động/không vận động: một cơn động kinh cục bộ hay cơn động kinh rốiloạn ý thức có thể được phân loại tiếp bởi đặc tính vận động hay không vận động.Ngoài ra, một cơn động kinh cục bộ có thể đặc trưng biểu đặc tính vận động haykhông vận động, bất kể mức độ chính xác của ý thức Ví dụ: cơn động kinh co cứngcục bộ
- Thuật ngữ không bắt buộc: những thuật ngữ như vận động hay không vận động
có thể lờ đi khi loại cơn động kinh là rõ ràng
- Mô tả kèm theo: sau khi phân loại cơn động kinh dựa trên biểu hiện ban đầu,khuyến khích mô tả thêm những triệu chứng khác vào phần mô tả thêm Những điều
Trang 30này không làm thay đổi cơn động kinh Ví dụ: cơ động kinh cục bộ cảm xúc với vậnđộng co cứng tay phải và tăng thông khí
- Hai bên và toàn thể: sử dụng thuật ngữ “hai bên” cho cơn động kinh co
cứng-co giật lan truyền trong hai bán cầu và “toàn thể” cho cơn động kinh xuất hiện nguyênphát kích thích cả hai bán cầu
- Cơn vắng không điển hình: cơn vắng là không điển hình nếu nó có khởi phát vàkết thúc chậm, ghi nhận thay đổi trong trương lực cơ, hoặc điện não gai–sóng<3 chukì–giây
- Co giật và giật cơ: co giật giống như giật liên tục thành nhịp và giật cơ giốngnhư giật đều không liên tục
- Giật cơ mi mắt: cơn vắng với giật cơ mi mắt giống như giật kéo mi mắt lêntrong suốt cơn vắng ý thức
Trang 31Mất trương
lực
Đột ngột mất hoặc giảm trương lực cơ mà không có cơn co cứng hoặcgiật cơ đi trước, kéo dài 1-2 giây, liên quan đầu, thân mình, hàm, hoặc cơchi
Hành vi tự
động
Nhiều hoặc ít hoạt động vận động phối hợp xảy ra khi rối loạn ý thức và
vì bệnh nhân thường (nhưng không luôn luôn) quên sau cơn Điều nàythường giống một cử động tự ý và có thể bao gồm một cử động vận độngtrước cơn liên tục không phối hợp
Tiền triệu Một hiện tượng trong cơn chủ quan, được khai báo bởi bệnh nhân, có thể
đi trước khi cơn động kinh xảy ra
Ý thức Sự ý thức về bản thân và môi trường
Hai bên Cả hai bên phải và trái, dù biểu hiện của cơn động kinh hai bên có thể đối
xứng hoặc không đối xứng
Co giật Giật, có thể đối xứng hoặc không, lặp lại đều đặn và liên quan với những
nhóm cơ tương tự
Nhận thức Đi kèm với suy nghĩ và những chức năng thần kinh cao cấp, như ngôn
ngữ, nhận thức không gian, trí nhớ, và hành động Thuật ngữ trước đâyvới mục đích sử dụng tương tự như một loại cơn động kinh là tâm thần
Ý thức Một trạng thái của tinh thần với cả biểu hiện chủ quan và khách quan, bao
gồm cảm nhận về bản thân, ý thức, đáp ứng và trí nhớ
Cơn khóc Khóc bùng nổ, chúng có thể có hoặc không liên quan với trạng thái buồn
Trang 32Một sự gập, duỗi, hoặc hỗn hợp gập–duỗi đột ngột chiếm ưu thế ở gốc chi
và trục thân, thường kéo dài hơn cử động giật cơ nhưng không kéo dàinhư cơn co cứng Dạng giới hạn có thể xảy ra: nhăn mặt, gục đầu, hoặcnhững cử động mắt tinh tế Cơn động kinh co thắt thường xảy ra thànhcụm Co thắt nhũ nhi là dạng được biết rõ nhất, nhưng cơn co thắt có thểxảy ra ở mọi lứa tuổi
Động kinh Được định nghĩa như sau: (1) Ít nhất hai cơn động kinh không yếu tố kích
gợi (hoặc phản xạ) xảy ra cách nhau >24h, (2) một cơn động kinh khôngyếu tố kích gợi (hoặc phản xạ) và khả năng nguy cơ tái phát cơn độngkinh tương tự trong 10 năm tới >60%, (3) chẩn đoán hội chứng động kinh.Bệnh động kinh được coi là hồi phục khi một người trải qua quá lứa tuổimắc hội chứng động kinh phụ thuộc tuổi hoặc bệnh nhân hết cơn độngkinh trong 10 năm, với không sử dụng thuốc chống động kinh trong 5năm cuối
Một loại cơn động kinh cục bộ với duỗi một cánh tay và gấp tại khuỷu và
cổ tay đối bên, một dạng giống đấu kiếm với giáp thời trung cổ Chúngcũng có thể được gọi là cơn động kinh vùng vận động bổ sung
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
Trang 33Cục bộ Bắt nguồn trong mạng lưới giới hạn trong một bán cầu Chúng có thể cục
bộ riêng biệt hoặc phân bố lớn Cơn động kinh cục bộ có thể bắt nguồn từnhững cấu trúc dưới vỏ
Cục bộ tiến
triển co
cứng co
giật hai bên
Loại cơn động kinh với khởi phát cục bộ, còn hoặc rối loạn ý thức, có thểbiểu hiện vận động hoặc không vận động, tiến triển thành co cứng–co giậthai bên Thuật ngữ trước đây là cơn động kinh khởi phát một phần toànthể hóa thứ phát
Cơn cười Bùng phát cười hoặc cười khúc khích, thường không có một trương lực
Co cứng đối xứng hai bên hoặc thỉnh thoảng không đối xứng và sau đó
co giật hai bên, thường liên quan với thay đổi triệu chứng thần kinh thựcvật và mất ý thức Cơn động kinh này kích hoạt mạng lưới cả hai bán cầutại thời điểm khởi phát cơn động kinh
Ảo giác Tri giác các sự vật hiện tượng mà không tương xứng với các kích thích
bên ngoài như: thị giác, thính giác, cảm giác thân thể, khứu giác, và/hoặc
Trang 34Vận động Liên quan đến hệ thống cơ Hiện tượng vận động có thể bao gồm một sự
tăng (dương tính) hoặc giảm (âm tính) co cơ để gây ra cử động
Giật cơ Đột ngột, ngắn (<100 ms), một hoặc nhiều cơn giật một cơ hoặc một nhóm
cơ ở các vị trí đa dạng (trục thân, gốc chi hoặc ngọn chi) không chủ ý.Giật cơ thì lặp lại không đều và ngắn hơn co giật
Không vận
động
Loại cơn động kinh cục bộ hoặc toàn thể mà triệu chứng vận động khôngchiếm ưu thế
Lan truyền Lan truyền của hoạt động động kinh từ một vị trí trên não bộ đến nơi khác,
hoặc tác động lên mạng lưới não bộ
Đáp ứng Khả năng phản ứng thích hợp bằng cử động hoặc lời nói khi xuất hiện
một kích thích
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
Trang 35Cơn động
kinh
Sự xuất hiện nhất thời các triệu chứng cơ năng và thực thể (gồm vận động,cảm giác, giác quan, tâm thần và thần kinh thực vật) do sự phóng điệnkịch phát quá mức và đồng bộ của các nơron trong não
Một sự duy trì, liên hợp mắt, đầu, và/hoặc xoay thân mình hoặc nghiêng
về một bên so với đường giữa
1.2.3.3 Thông tin khai báo
Dựa theo kiến thức từ bảng đề nghị phân loại cơn động kinh 2017 của LHQTCĐK,mức độ thông tin khai báo <80% được xem là không đáng tin cậy và xếp vào nhóm khởiphát không biết, mức 80% độ tin cậy này được lựa chọn dựa vào tỉ lệ sai lầm loại 2 cóthể chấp nhận được trong các nghiên cứu lâm sàng là 20% và mức độ tin cậy này có
Trang 36co giật không giống động kinh, W Curt LaFrance Jr và cs đã đưa ra bốn mức độ tin cậycủa chẩn đoán gồm: có thể, rất có thể, chẩn đoán lâm sàng, và chẩn đoán trên băng hình–điện não đồ [19] Theo tác giả, mức độ thấp nhất của chẩn đoán cơn co giật không giốngđộng kinh là “có thể” dựa vào bằng chứng khai báo của chính người bệnh hoặc củangười chứng kiến trực tiếp cơn co giật kèm theo không ghi nhận hoạt động dạng độngkinh trên điện não đồ thường quy hoặc điện não đồ giữa cơn với nghiệm pháp gây mấtngủ [19] Trong nghiên cứu này, chúng tôi chọn mức độ tin cậy >80% của thông tin khaibáo là: người chứng kiến trực tiếp hoặc/và bệnh nhân, người thu thập số liệu chứng kiến,băng hình cơn động kinh Thông tin khai báo không đáng tin cậy là người gián tiếp vàbệnh nhân (rối loạn ý thức trong cơn), hoặc đặc điểm cơn co giật được mô tả bởi ngườichứng kiến trực tiếp và/hoặc bệnh nhân nhưng không phù hợp với triệu chứng học củacơn động kinh Vì thế, trong khi phân tích kết quả nghiên cứu chúng tôi chia thông tinkhai báo thành hai nhóm: đáng tin cậy và không đáng tin cậy
1.2.3.4 Những phản biện về bảng phân loại cơn động kinh 2017 của
LHQTCĐK
Theo Linn và cs, trên từng bệnh nhân có cơn động kinh, chúng tôi không thể nàothu được chính xác bệnh sử từ những nguồn thông tin thu được vì nhiều lí do, vì vậymột vài loại cơn động kinh là không chính xác so với bảng phân loại 1981 [39] Bảngphân loại cơn động kinh theo LHQTCĐK 2017 có ý nghĩa thực hành, hệ thống và tổngthể nhất [39] Ý thức là một hiện tượng phức tạp, với cả những thành phần chủ quan vàkhác quan, nhưng bằng chứng cho ý thức thường xuất phát từ nhận biết, khả năng đápứng, trí nhớ và mất ý thức về bản thân Thông tin thu thập hồi cứu về trạng thái ý thứctrong cơn là rất khó khăn Thay đổi định nghĩa là ý thức và rối loạn ý thức là một bằngchứng đơn giản cho mức độ ý thức, tuy nhiên, ông cũng không cảm thấy thỏa mãn khi
áp dụng định nghĩa này trên bệnh nhi và cho rằng cần tìm một thuật ngữ hay cách đánhgiá nào phù hợp hơn với đối tượng bệnh nhi Cuối cùng ông kết luận, “chúng tôi, đứngtrên phương diện bác sĩ thần kinh Nhi, đặc biệt đến từ các nước có thu nhập thấp, rấtsẵn lòng đón nhận bảng phân loại mới này” [39]
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
Trang 37Falco – Walter và cs cho rằng: bảng phân loại cơn động kinh 1981 đã trải qua bathập kỉ mà không có sự thay đổi nào và việc có bảng phân loại cơn động kinh mới làcực kì quan trọng cho bác sĩ lâm sàng, nhân viên y tế, bệnh nhân, gia đình bệnh nhân,
và các nhà nghiên cứu [21] Xét về phương diện bệnh nhân, bảng phân loại mới cungcấp chính xác tên loại cơn động kinh, nguyên nhân và tăng mức độ hiểu biết Đối vớinhà lâm sàng và nhân viên y tế chăm sóc bệnh nhân, bảng phân loại mới thúc đẩy thảoluận và trao đổi về cơn động kinh Đối với nhà nghiên cứu, có bảng phân loại mới thúcđẩy nghiên cứu thuốc hoặc liệu pháp phẫu thuật, đáp ứng và diễn tiến lâm sàng đặc trưngcho từng loại động kinh khác nhau Ông cho rằng “rối loạn ý thức và mất ý thức là khôngđồng nghĩa với nhau” Đối với cơn động kinh không rõ khởi phát co cứng co giật, ôngđặt tên là “cơn động kinh không biết khởi phát co cứng co giật hai bên” Mức độ tin cậycủa lời khai cho khởi phát cục bộ hay toàn thể là tương đương độ tin cậy 80% (tươngđương tỉ lệ âm thật chấp nhận được trong các thống kê lâm sàng) Ông cũng đề nghịchia các loại cơn động kinh thành: (1) cục bộ, (2) toàn thể, (3) phối hợp cục bộ và toànthể, (4) không biết khởi phát Fisher cũng đề cập rằng bảng phân loại cơn động kinhtheo LHQTCĐK 2017 không phải là bảng phân loại cuối cùng, sự chấp nhận phụ thuộcvào thời gian [20] Hiệu quả của bảng cập nhật sẽ giúp phân loại cơn động kinh dễ dànghơn và không phụ thuộc vào bất cứ phân loại nào trước đó Beghi cho rằng bảng phânloại mới nên được kiểm tra chuẩn trong thực hành, kiểm tra mức độ tin cậy, giá trị và
áp dụng trước khi sử dụng trong thực hành lâm sàng [16]
1.3 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU PHÂN LOẠI CƠN ĐỘNG KINH TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
1.3.1 Một số nghiên cứu trên thế giới
Năm 1999, Chong Tin Tan và cs đã báo cáo 165 trường hợp mới được chẩn đoánđộng kinh ở bệnh nhân lớn hơn 1 tháng tuổi tại Malaysia, phân loại động kinh toàn thể42,4%, động kinh cục bộ 57,6% [17] Trong nhóm động kinh toàn thể thì động kinh toànthể vô căn chiếm 28.5%, động kinh giật cơ thiếu niên 5.5%, động kinh vắng ý thức trẻnhỏ 3,6%, hội chứng West 3%, hội chứng Lennox Gastaut 1,2% Trong nhóm động kinhcục bộ, động kinh toàn thể hoá thứ phát chiếm 32,7%, động kinh cục bộ phức tạp toàn
Trang 38thể hoá thứ phát 6,7%, động kinh cục bộ phức tạp 3%, động kinh cục bộ đơn giản toànthể hoá thứ phát 9,1%, động kinh cục bộ đơn giản 6,1%, động kinh lành tính rãnhrolandic 3% Kết luận của nghiên cứu này là động kinh tại Malaysia là tương đồng vớinhững báo cáo trước đó và yếu tố gen có thể đóng một vai trò nhỏ trong nguyên nhângây động kinh ở cộng đồng
Năm 2003, GCY Fong và cs đã tiến hành một nghiên cứu về động kinh tại HongKong, nghiên cứu tuyển chọn 736 bệnh nhân động kinh người lớn hơn 15 tuổi, với thiết
kế nghiên cứu cắt ngang mô tả, kết quả cho thấy loại động kinh cục bộ là 408 (55,4%),động kinh toàn thể là 285 (38,7%) và động kinh không phân loại là 43 (5,8%) [26].Trong đó loại cơn động kinh co cứng co giật toàn thể và động kinh cục bộ toàn thể hoáthứ phát chiếm nhiều nhất
Năm 2006, Alberto Velez và cs đã công bố một nghiên cứu về dịch tễ học và phânloại cơn động kinh, hội chứng động kinh trên tạp chí Epilepsia, nghiên cứu thu thập sốliệu bệnh nhi và bệnh nhân người lớn từ 2 đến 85 tuổi với mục tiêu “xác định tỉ lệ hiệnmắc động kinh tại Colombia, đặc điểm lâm sàng, loại cơn và hội chứng động kinh” [18].Thiết kế nghiên cứu: đoàn hệ tiến cứu Nhóm nghiên cứu đã khảo sát 8910 người trongdân số, ghi nhận 130 bệnh nhân có cơn động kinh khi tầm soát, loại 38 bệnh nhân khitiến hành chẩn đoán, 92 bệnh nhân được chẩn đoán động kinh và tiến hành phân loại,trên 92 bệnh nhân này ghi nhận 101 loại cơn động kinh Kết quả cho thấy dựa trên dữliệu lâm sàng và điện não đồ, nghiên cứu phân loại động kinh theo bảng phân loại độngkinh của LHQTCĐK 1981 cho kết quả: 36% động kinh toàn thể, 64% động kinh cục bộ
Tỉ lệ từng loại cơn động kinh được trình bày trong bảng 1.5
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
Trang 39Bảng 1.5: Phân loại cơn động kinh 1981 theo Alberto Velez (2006)
lượng
Tỉ lệ (%)
36%9%3%4%1%18%64%11%3%1%2%4%1%13%1%1%3%9%40%
Trang 40Vận động toàn thể hoá thứ phát
Tâm thần toàn thể hoá thứ phát
Cảm giác thân thể toàn thể hoá thứ phát
Thực vật toàn thể hoá thứ phát
Cơn quay đầu mắt toàn thể hoá thứ phát
Cơn quay toàn thể hoá thứ phát
Cục bộ phức tạp toàn thể hoá thứ phát
Cục bộ đơn giản – phức tạp toàn thể hoá thứ phát
Cục bộ đơn giản phức tạp tâm thần toàn thể hoá thứ phát
Cục bộ đơn giản phức cảm giác thân thể thần toàn thể
hoá thứ phát
Tổng
54752418
11
117
4%3%6%4%2%3%15%
1%1%
100%
Năm 2006, Duc–Si Tran và cs đã tiến hành một nghiên cứu lớn về dịch tễ học độngkinh tại Lào Mục đích là xác định tỉ lệ hiện mắc bệnh động kinh tại Lào, phương phápphỏng vấn từng nhà [30] Tổng cộng có 4310 người được phỏng vấn, xác nhận bị bệnhđộng kinh ở 33 bệnh nhân, trong đó động kinh toàn thể là 21 bệnh nhân (63,6%), độngkinh cục bộ là 9 bệnh nhân (27,3%) và không phân loại là 3 bệnh nhân (9,1%)
Năm 2017, Aaberg và cs tiến hành phân loại cơn động kinh trên 606 bệnh nhi ở
Na Uy từ 3–13 tuổi, thiết kế cắt ngang mô tả, ghi nhận được 817 loại cơn động kinh,phân loại theo hai bảng phân loại 1981 và 2017 của LHQTCĐK [29] Trong nghiên cứunày, khi phân tích số liệu của từng nhóm cơn động kinh, tác giả chọn đối tượng nghiêncứu là cơn động kinh nhưng khi tính tỉ lệ trong dân số nghiên cứu thì lại tính toán dựatrên mẫu số là số bệnh nhân, điều này gây ra sai lệch rất lớn vì số lượng bệnh nhân là
606 người, trong khi tổng số cơn động kinh là 817 loại cơn Tính toán theo tác giả côngBản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.