1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đặc điểm thơ sijo từ góc nhìn cảm thức thẩm mỹ

88 835 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm thơ Sijo từ góc nhìn cảm thức thẩm mỹ
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Văn học Hàn Quốc
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 762,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đắm mình trong thiên nhiên để khám phá và suy ngẫm về lý lẽ của trời đất là một trong những cách học hỏi của người quân tử, bên cạnh đó, cũng không thể quên con đường học đạo qua sách vở

Trang 1

Luận văn

Đặc điểm thơ Sijo

từ góc nhìn cảm thức thẩm mỹ

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài:

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:

7 Kết cấu của đề tài:

Chương 1 Đặc điểm thơ sijo từ điểm nhìn lịch sử văn học

1.1 Vị trí sijo trong nền văn học Korea

1.2 Nguồn gốc thơ sijo

1.3 Bối cảnh ra đời và phát triển thơ sijo

1.3.1 Bối cảnh lịch sử- chính trị

1.3.2 Bối cảnh tư tưởng - văn hóa

Trang 3

1.4 Tiến trình thơ sijo

1.4.1 Sijo cuối thời Koryeo

1.4.2 Sijo thời Choseon

1.4.3 Sijo hiện đại

Chương 2 Đặc điểm sijo từ góc nhìn thể loại

2.1 Phân loại sijo

2.1.1 Phân loại theo độ dài của lời thơ:

2.1.2 Phân loại theo đặc điểm âm nhạc

2.2.3 Phân loại theo vùng miền

2.2 Thi luật của sijo

2.2.1 Pyeong sijo

2.3.2 Eot sijo và Saseol sijo

2.3.3 Sijo hiện đại

Chương 3 Đặc điểm thơ sijo từ góc nhìn cảm thức thẩm mỹ

3.1 “Đạo”và “Mỹ”

3.2 “Tình” và “Hận”

Trang 4

3.3 “Phong lưu” và “Khoái lạc”

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

Chương 3 Đặc điểm thơ sijo từ góc nhìn cảm thức thẩm mỹ

Và:

Đạo là gốc rễ của văn Văn là cành lá của đạo Gốc rễ của nó là

ở đạo, cho nên phát ra từ văn đều là đạo [6, tr.104]

Tư tưởng này đã du nhập và trở thành “kim chỉ nam” trong việc sáng tác và thưởng thức văn chương Korea từ cuối thời Koryeo đến đầu thời

Choseon

Từ thời Koryeo, mối quan hệ giữa văn và đạo và tác dụng giáo hóa của văn chương đã được chú ý nhiều Trong cuốn sách phê bình văn học thời Koryeo tên là “Bổ nhàn tập”, tác giả Thôi Tư (1188-1260) đã viết:

Trang 6

Văn là cánh cửa đi vào chính đạo Vì vậy không nên viết những lời trái với đạo lý Tuy nhiên, nói một cách sinh động và khích lệ tinh thần để gây cảm tình đối với người nghe thì đôi khi cũng cần phải nói một cách cứng rắn và khác thường, huống chi đến làm thơ Thơ có phú,

tỉ, hứng làm căn bản Vì vậy, văn phong cần phải khác thường, quả quyết, ý nghĩa phải sâu sắc, lời nói phải rõ ràng mới tạo được cảm tình đối với người đọc và làm cho người đọc giác ngộ ra vấn đề Họ sẽ hiểu

ra ý nghĩa sâu sắc và đẹp đẽ của bài thơ, và cuối cùng họ sẽ trở về với chính đạo [28, tr.419]

Đến thời Choseon, vấn đề này trở thành trung tâm của việc phê bình văn học Trong lời tựa của Jeong Dojeon (Trịnh Đạo Truyền, 鄭道傳1342–

1398) ở đầu cuốn sách Mogeunjip (牧隱集- Tuyển tập các tác phẩm của Yi Saek (李穡, 1328 – 1396), tác giả đã khẳng định: “Văn là chiếc xe chở đạo”

[36, tr.317]

Cũng như Jeong Dojeon, So Kojong (Từ Cư Chính, 徐巨正

(1420-1488), Cho Wi (梅溪 曺偉, 1454-1503) và nhiều nhà nho khác cũng thống nhất rằng “Văn là phương tiện chở đạo” [36, tr.317]

Yi I (Lý Nhĩ, 1536-1584) cho rằng các kinh sách (văn) chính là cánh

cổng dẫn đến đạo [36, tr.317]

Trang 7

Những tác gia kể trên cũng chính là những người trực tiếp tham gia sáng tác sijo, vì thế trong sijo, nền tảng mỹ học quan trọng nhất chính là

“đạo”

“Đào sơn thập nhị khúc” của Yi Hwang chính là tác phẩm mẫu mực trong việc dùng sijo để “tải đạo” Tác phẩm yeon-sijo này gồm tất cả 12 khúc Tiền lục khúc viết về đạo trong thiên nhiên, hậu lục khúc viết về đạo học của con người Thiên nhiên trong bài thơ mang vẻ đẹp giản dị và tự nhiên, là biểu hiện cho quy luật của tạo hóa:

Lan nở trong thung lũng

Nên thơm thật tự nhiên Trên triền núi mây bay

Nên đẹp không giả tạo Không thể nào quên nổi

Trang 8

Không thể nào quên được cảnh đẹp giữa thế gian này.)

Chương một và hai của bài thơ này sử dụng phép lặp “thơm một cách

tự nhiên”, “đẹp một cách tự nhiên” (tác giả dùng Hán tự “Tự nhiên”) Tác giả muốn nhấn mạnh tiêu chí của cái đẹp là tuân theo quy luật của tạo hóa

Nguyên nhân làm nên hương thơm của hoa lan là vì nó nở ở đúng môi trường

tự nhiên sinh ra nó: trong thung lũng, cũng như mây, nguyên nhân làm nên cái đẹp của mây là vì nó bay trên núi cao- đúng như lẽ thường tình Tác giả dùng kết cấu “vì nên”, để lý giải vẻ đẹp Tất cả những đối tượng miêu tả đều xuất hiện trong bối cảnh bình thường nhất Chính cái bình thường đó làm nên vẻ đẹp cho nó, bởi nó tuân theo quy luật của hóa công

Trong mắt nhìn của Yi Hwang, quy luật của tạo hóa thật nhiệm màu, trời đất sinh ra vạn vật tự nó đã có một sự hài hòa sâu sắc, từ thiên nhiên cho đến con người:

Gió xuân, hoa phủ núi

Đêm thu nguyệt rạng lầu

Trang 9

Hoa che phủ núi trong gió xuân, trăng chiếu sáng trên lâu đài trong đêm thu

Vẻ đẹp của bốn mùa cũng giống với con người

Sự sâu sắc của sự hòa hợp trời đất là vô thủy vô chung)

(“Đào sơn thập nhị khúc” của Yi Hwang, khúc thứ sáu)

Hai đối tượng thiên nhiên được tác giả lựa chọn miêu tả trong khúc thứ sáu này là hoa và trăng Tác giả lựa chọn thời điểm và không gian hợp lý nhất

để chiêm ngưỡng chúng: hoa trên núi giữa mùa xuân, và trăng ngắm từ lầu cao trong đêm thu Điều đó không chỉ vì tuân theo hệ thống ước lệ, tượng trưng trong thi pháp Trung Hoa, mà còn nhắm đến dụng ý truyền tải thông điệp: phải phán xét tất cả mọi đối tượng trong hoàn cảnh phù hợp nhất, theo đúng lý của vũ trụ Lấy hai mùa xuân, thu làm đại diện cho bốn mùa luân chuyển, tác giả muốn gửi gắm đến người đọc thông điệp: tự nhiên sinh ra mỗi mùa đều có vẻ đẹp riêng, vẻ đẹp đó đến từ sự hài hòa của trời đất Tự nhiên

có cái lý của nó, đạo của tự nhiên thật sâu sắc và sẽ trường tồn mãi mãi (“vô thủy và vô chung”) Lý biểu hiện trong thiên nhiên như thế nào, thì trong con người cũng như thế ấy (“Vẻ đẹp của bốn mùa cũng giống với con người”) Sự tồn sinh của con người chính là do đạo

Đắm mình trong thiên nhiên để khám phá và suy ngẫm về lý lẽ của trời đất là một trong những cách học hỏi của người quân tử, bên cạnh đó, cũng không thể quên con đường học đạo qua sách vở:

Cuộc đời cứ trôi qua

Trang 10

Thấy thật là thanh sạch Đọc bao nhiêu sách vở

Vui thú chẳng điểm dừng Nói rằng chẳng phong lưu

Còn là gì khác nhỉ?

(Bản dịch nghĩa:

Cuộc đời trôi qua, cảm thấy thật thanh sạch Bằng cuộc sống đọc nhiều sách, việc vui vẻ không kết thúc

Nói rằng chẳng phong lưu thì đó là gì?)

(“Đào sơn thập nhị khúc” của Yi Hwang, bài thứ 7)

Con đường quan trọng nhất để tu đạo là phải thực hành, bởi như đã nói, thuyết Minh triết của Yi Hwang coi trọng kiến thức thực nghiệm Yi Hwang nhắn gửi hậu thế phải đi theo con đường cổ nhân đã vạch ra, phấn đấu không ngừng nghỉ để hoàn thiện nhân cách của mình:

Cổ nhân không thấy ta

Ta cũng không thấy người Dẫu không gặp cổ nhân

Trang 11

Đã có đường người vạch Con đường ở phía trước

đương nhiên câu trả lời chỉ có một: “phải đi theo” Đó chính là thực nghiệm

Và một khi đã đi, thì suốt đời không bao giờ được ngừng lại trên hành trình

“hành đạo”:

Non xanh từ thuở xưa

Trang 12

Và sẽ xanh mãi mãi Nước chảy cứ chảy hoài

Chẳng bao giờ ngưng nghỉ Chúng ta đừng ngừng lại

Hãy sống thật thanh cao!

(Bản dịch nghĩa:

Non xanh sẽ luôn xanh

và nước chảy sẽ không biết ngừng lại Chúng ta cũng đừng ngừng lại và hãy sống một cách cao đẹp! )

(“Đào sơn thập nhị khúc” của Yi Hwang, bài thứ mười một)

Với những tác phẩm của mình, Yi Hwang muốn giúp người đọc nhận

ra lý trong tự nhiên, hướng người quân tử đi theo chính đạo, suốt đời học tập,

tu dưỡng nhân cách không bao giờ ngừng nghỉ Tư tưởng của Yi Hwang trở thành nội dung trung tâm trong sijo của trường phái Yong Nam, chẳng hạn, nhà thơ Kwõn Homun (1532-1587) lặp lại tư tưởng đó trong tác phẩm “Nhàn

cư thập bát khúc”, với bài ca sau đây:

Trời làm trong không gian lộng gió

Trang 13

Làm sáng tỏ trăng tròn trên cao Trong vườn tre và trên rào thông Tuyệt tinh khiết, không vương hạt bụi A! Cuộc sống! Mới tươi, nồng nhiệt Với cây đàn và sách thánh nhân

(Bản dịch nghĩa:

Tự nhiên làm trong trẻo không gian lộng gió và làm sáng tỏ trăng tròn,

Trong vườn tre, trên rào thông, không một hạt bụi

Cuộc sống của tôi mới tươi mới và nồng nhiệt làm sao, cùng với cây đàn tam thập lục và những cuốn sách.)

Trong bài thơ này, không gian trở nên lộng gió tươi mát, trăng trở nên tròn đầy sáng trong đều là nhờ nguồn lực tự nhiên (lý) Trong không gian thanh khiết ấy, chủ thể trữ tình hiện ra với khuôn mặt của một nho sĩ “nhàn cư”, đắm mình vào sách vở Ở đây, con người sống hòa hợp với thiên nhiên, nhận ra con đường của mình thông qua chiêm nghiệm quy luật tự nhiên và đọc nhiều sách thánh hiền

Một đại diện khác của Nho học Korea sống cùng thời với Yi Hwang là

Yi I (Lý Nhĩ李 珥, tự là Lật Cốc粟谷, 1536-1584) Yi I đã “tải đạo” bằng tác

Trang 14

phẩm yeon-sijo “Cao sơn cửu khúc ca”- một tác phẩm phỏng theo “Vô Diệm cửu đàm” của Chu Hy

Ngay từ khúc ca đầu tiên, tác giả đã dẫn đắt người đọc vào đạo học của Nho gia:

Người đời ai biết đến Cao sơn cửu khúc ca Nên cắt cỏ làm nhà

Bạn bè ta kéo đến Nhớ tới núi Vô Diệm Học đạo Chu Hy a!

Trang 15

núi, rừng thông, vách đá, hồ nước, và cũng như thiên nhiên trong “Đào sơn thập nhị khúc” của Yi Hwang, đất trời trong mắt nhìn của Yi I cũng mang trong mình nó vẻ đẹp của “đạo”:

Một năm chốn sỏi đá Cảnh đẹp bởi hài hòa

(Dịch nghĩa: Một năm đã qua ở chốn sỏi đá vô tri hài hòa nên cảnh đẹp.)

(“Cao sơn cửu khúc ca” của Yi I, bài thứ mười) Tác giả nói rõ: chính sự “vô tri” mà “hài hòa” của sỏi đá đã tạo nên sức sống tươi đẹp cho nó Đó là gì nếu không phải là “đạo”? Và tác giả nhắn gửi đến người đọc thông điệp: “Hãy hưởng thú phong lưu tu học, ngâm thơ giữa nơi này” (bài thứ sáu)

Tiếp nối Yi Hwang và Yi I, các tác gia sijo từ thế kỷ XVI trở về sau luôn khắc họa trong thơ của mình khung cảnh thiên nhiên đẹp một cách hài hòa, tự nhiên, giản dị, thể hiện “cái lý” của tự nhiên Khung cảnh ấy nhắc nhở người ta rằng đất trời có đạo, và con người cũng vậy, cho nên sống phải hài hòa, phải theo quy luật của tạo hóa và quy luật hành xử của con người Bởi thế, đi liền với quan niệm “văn tải đạo” là chức năng giáo hóa của thi ca Nhà phê bình văn học thời Choseon Kim Chongjik (Kim Tông Trực) cho

rằng: “Văn là một kỹ xảo thứ yếu, thơ còn ít quan trọng hơn Nhưng để chỉ

dẫn con người tu thân, đạt được sự chuyển biến về đạo đức, và làm cho đạo truyền tới ngày nay, cũng như truyền cho các thế hệ sau mãi mãi không

Trang 16

dừng, có thể nhờ đến thơ văn.” [36, tr.317] So Kojong (Từ Cư Chính) trong

“Đông nhân thi thoại” cho rằng “Những bài thơ hay sẽ làm độc giả cảm

động, đồng thời cũng làm cho bản tính của con người trở nên thanh khiết hơn.” [36, tr.317] Cuối thời Choseon, Wi Paekkyu (1727-1798) cho rằng

văn học làm hoàn thiện nhân cách con người: “Không có văn chương, con

người không thể trở thành một người hoàn hảo được” [36, tr.317] Chong

Yagyong (1762-1836) nhấn mạnh chức năng của thơ ca : “Không ủng hộ

những người thống trị và không quan tâm đến sự thịnh vượng của một đất nước thì không phải là thơ”, “Không tán dương hay đả kích, không đề cao đức hạnh hay phê phán sự đồi bại thì không phải là thơ.” [36, tr.317]

Những quan niệm trên đây đã ảnh hưởng sâu sắc đến việc sáng tác sijo Sijo

là thể thơ để ca hát, nhưng không phải chỉ là ca hát mua vui, mà hầu như mỗi bài thơ đều mang trong nó một thông điệp nhắn gửi người ta sống tốt

hơn, đẹp hơn Nhà nghiên cứu Choi Seung-beom trong bài viết “The Mot of

the Choson Sonbi” đã khắc họa lại hình ảnh của một “Sonbi” (nho sĩ) biểu

hiện trong thơ sijo: Sijo hướng người ta đến một mẫu hình “Sonbi” hội tụ

đầy đủ năm nét đẹp nhân cách: Thứ nhất là lòng trung thành với triều đình,

thứ hai là tính cách chính trực, sẵn sàng từ chối những của cải có nguồn gốc không trong sạch, thứ ba là tình yêu đất nước, thứ tư là lối sống giản dị, thanh nhàn, và thứ năm là không ngừng tu thân theo đạo đức Nho gia [47]

Từ cuối thời Koryeo, nhà thơ- học giả lỗi lạc Byeon gye rang

(卞季良1369 – 1430) đã để lại bài sijo giáo huấn nhắc nhở con người sống theo đạo:

Trang 17

Hãy làm điều ta thích

Chớ làm điều chẳng ưa Dẫu người ta đưa đẩy

Đừng làm điều không hay Hãy sống đúng với mình

Như ý mệnh trời sinh!

(Bản dịch nghĩa:

Hãy làm điều ta thích, chớ làm điều không ưa

Mặc người ta xui khiến, những điều không thiện, xin đừng làm theo!

Hãy sống đúng với mình, theo ý mệnh tạo hóa sinh ra)

Thời Choseon, nhà thơ Chong Cheol đã sáng tác mười sáu bài “Huấn dân ca”với mục đích dạy dân chúng sống theo những quy tắc đạo đức giản dị, thiết thực, biết giữ cương thường đạo lý

Bài sijo sau đây nói về ân nghĩa của cha mẹ đối với con cái:

Cha sinh thành ra ta, mẹ dưỡng dục Nếu không có hai đấng sinh thành, liệu thân thể này có được ra đời?

Trang 18

Ơn dưỡng dục rộng như trời bể mênh mông, biết đến bao giờ mới đền đáp được

(“Huấn dân ca” của Chong Cheol, bài số 1) Chính vì ân nghĩa ấy, mà con cái phải biết lấy chữ “Hiếu” làm đầu:

Lúc cha mẹ còn sống, hãy cố gắng làm tròn chữ Hiếu

Đến lúc cha mẹ ra đi rồi , có đau khổ bao nhiêu cũng chẳng làm được gì

Ở đời , có một việc không bao giờ làm lại được, ấy chính là

phụng dưỡng cha mẹ

(“Huấn dân ca” của Chong Cheol, bài số 4) Tình cảm anh em được đề cập trong bài sijo:

Anh à, em à, thử chạm vào da thịt mình mà xem

Được ai sinh thành thì dáng hình sẽ giống thế

Đã cùng được uống dòng sữa mẹ mà lớn lên, thì ai ơi xin đừng thay lòng đổi dạ

(“Huấn dân ca” của Chong Cheol, bài số 2) Tình cảm vợ-chồng cũng được nhắc đến:

Ông trời sinh ra cơ thể, tạo ra từng cặp vợ chồng

Trang 19

Lúc sinh thời, cùng sống, cùng già, cùng chết ở một nơi Với mối quan hệ như thế, ai có thể ngu ngốc mà nghi ngờ

(“Huấn dân ca” của Chong Cheol, bài số 5)

Ngoài tình cảm gia đình, trong “Huấn dân ca” còn có những bài nói về nghĩa vua-tôi:

Tuy khoảng cách giữa vua và bách tính giống như trời và đất Nhưng bất cứ những việc gì dân làm, vua cũng đều biết hết Bách tính chúng ta sao có thể hưởng thụ một mình?

(“Huấn dân ca” của Chong Cheol, bài số 3)

Sijo làm công việc “khuyến thiện, trừng ác” Bài sijo sau đây khích lệ mọi người làm việc tốt:

Dân làng ơi, hãy cùng nhau làm việc tốt Người sinh ra mà không làm được việc tốt

Thì có khác gì con bò con ngựa đội “gat” lên đầu rồi ăn cơm

(“Huấn dân ca” của Chong Cheol, bài số 8)

Và dạy người ta lánh xa điều ác:

Đừng ham mê cờ bạc, trộm cắp

Trang 20

Làm cho nhà khuynh gia bại sản, sao có thể oán giận được người ngoài

Nước cũng có quốc pháp, chẳng phải thế sao?

(“Huấn dân ca” của Chong Cheol, bài số 15)

Truyền thống “tải đạo” vẫn được tiếp nối cho đến tận thế kỷ XX Sijo thời khai sáng là những bài hát đánh thức tình yêu nước, phổ cập giáo dục, khuyến khích gìn giữ đạo đức Sijo thời thuộc địa đã đi song hành cùng chính trị, là công cụ đắc lực để kêu gọi người công dân cống hiến mình cho Tổ quốc, chẳng hạn như trong bài “Hãy đứng lên” (나오라) của Yi Byeong Ki (李秉岐, 1891-1968):

Người con gái xinh đẹp lang thang buổi sớm mai Cuộc đời đã vứt bỏ, chẳng thể làm được chi!

Trước khi nở nụ cười, hãy để nước mắt rơi

Sau cái chết bất hạnh, hãy cùng nhìn lại đi!

Hãy đứng lên mạnh mẽ, đánh đuổi lũ gian tà Tay cầm lên công cụ, dứt khoát chớ chần chừ!

Trang 21

Sijo thế kỷ XX thổi vào lòng người niềm tin vào đạo, tin vào sự chiến thắng của công lý, của một dân tộc có chính nghĩa:

Ngọn cờ! Người là sức mạnh, dùng hết sức mình để giương cao

và đứng đầu Luôn luôn tin vào chiến thắng , người luôn bay cao

Cả hôm nay cũng vậy, trước sự chiến đấu hiên ngang của người,

cả địa cầu cũng run rẩy

(Ngọn cờ- Yi Ho U)

Với tư tưởng xuyên suốt là “đạo”, sijo đã tự tạo cho nó một sức sống lâu bền bởi hợp với truyền thống văn học Á Đông Nhưng nếu chỉ “tải đạo” một cách trực tiếp, khô khan, thì có lẽ sijo đã không có được sức hấp dẫn đến thế “Đạo” qua sijo thấm vào lòng người một cách rất tự nhiên, bởi sijo còn là thể thơ của “Mỹ” Trong sijo có sự hài hòa giữa vẻ đẹp hình thức với nội dung thể hiện Điều này cũng là do ảnh hưởng của tư tưởng văn học dòng Nho gia Trung Hoa Các nhà nho thời Koryeo đến Choseon luôn ghi nhớ ý

kiến của Khổng Tử: “Văn chất hài hòa thì mới đạt đến trình độ quân tử”

(Văn chất bân bân nhiên hậu quân tử) Họ coi trọng việc “tải đạo”, nhưng để

đạo thấm vào lòng người, thì trước hết phương tiện tải đạo- tức văn- cũng phải đẹp, hấp dẫn và thống nhất với “đạo” Giữa thời Choseon, nhà phê bình văn học Ho Kyun (1569-1618) cùng với Yi Sugwang (1563-1628) cho rằng phải giữ gìn tính thống nhất về nội dung và hình thức Họ đề cao một loại văn chương đạt được sự hài hòa cả về “khí”, “cốt” và kỹ thuật viết Ho Kyun và

Trang 22

Yi Sugwang đánh giá cao sự uyên bác, trí thông minh và sự chuyên cần của một nhà thơ Họ nhấn mạnh những khó khăn trong việc sáng tạo ra một tác phẩm văn chương nghệ thuật Văn chương không còn bị xem là một “kỹ năng nhỏ”, mà là một môn nghệ thuật đòi hỏi cố gắng suốt đời [36, tr.319] Một

nhà phê bình khác là Chang Yu (Trương Duy, 1587-1638) ví “tu từ giống

như hoa, nội dung giống như quả.” [16, tr.196] Ông cho rằng “điều quan trọng là cần phải có quả còn hơn chỉ có hoa Nhưng để có thể truyền đạt đầy

đủ đạo chứa đựng trong nội dung thì cần phải tu từ.” [16, tr.196]

Các nhà thơ chú ý đến hình thức biểu hiện không chỉ do theo quan niệm “văn chất bân bân” của Trung Hoa, mà còn do chính truyền thống mỹ học của Korea Người Korea được cả thế giới thừa nhận là có năng khiếu thẩm mỹ cao Họ cũng tự nhận mình là một dân tộc thích cái đẹp Sống giữa một thiên nhiên đa dạng, phong phú, thay đổi theo từng mùa, người Korea có một tâm hồn tinh tế, mẫn cảm Vẻ đẹp trong thiên nhiên Korea là vẻ đẹp tươi tắn, duyên dáng và hài hòa, cho nên nghệ thuật Korea luôn tràn đầy màu sắc

và những đường nét tỉ mỉ, mềm mại

Người Korea có một khái niệm chỉ cái đẹp là “meot” “Meot” là một từ thuần Hàn Chúng tôi tạm dùng từ “mỹ” để thay thế “meot”, mặc dù “mỹ” không diễn tả đúng hoàn toàn ý nghĩa của từ “meot” Các tiêu chí của “meot”

đã được tích lũy dần trong kinh nghiệm thẩm mỹ của người Hàn qua hàng ngàn năm, cho nên chỉ người Hàn mới có thể hiểu rõ ý nghĩa của từ này

“Meot” có gốc từ từ “mat” (hương vị), nên có thể so sánh “meot” với “rasa” trong văn học Ấn Độ Có thể tạm diễn tả rằng “meot” là hương vị người ta

có được khi tiếp xúc với những đối tượng tao nhã, duyên dáng, hài hòa, hấp

Trang 23

dẫn, gợi cảm, và còn phải cao quý nữa Sự cảm nhận “meot” liên quan đến thế giới tâm hồn một cách sâu sắc Meot đến từ cái hồn của sự vật hơn là từ

dáng vẻ bên ngoài Với thiên nhiên, chẳng hạn một bông hoa, khi cảm nhận

vẻ đẹp của hoa, người Korea không nhìn nhận nó như một đối tượng riêng lẻ,

mà tìm kiếm và cảm nhận trong nó sự kỳ diệu, nhiệm màu của tạo hóa [48]

Với con người, một người được gọi là “có meot” khi đẹp cả hình thức lẫn tâm hồn Bởi thế “meot” gắn liền với “đạo” không thể tách rời- “đạo” của tự

nhiên và “đạo” của người quân tử

Là thể thơ của một dân tộc có truyền thống mỹ học như thế, lại là lời bài hát để trình diễn bởi những nghệ nhân chuyên nghiệp cho đối tượng là tầng lớp Yangban có nhãn quan tinh tế, nên sijo (ngoại trừ saseol sijo) phải đáp ứng các tiêu chí của “meot” Đây là thể thơ sử dụng ngôn ngữ tao nhã, thế giới hình tượng cao đẹp, duyên dáng cùng nhiều phép tu từ đặc sắc,

nhưng quan trọng nhất là tất cả những yếu tố đó phải làm toát lên vẻ đẹp bên trong- cái hồn của bài thơ- là “đạo” Sijo thể hiện meot qua sự tìm kiếm vẻ đẹp trong thiên nhiên, sự tu dưỡng, trau chuốt vẻ đẹp tâm hồn cùng ngôn ngữ tinh tế với nhiều phép tu từ và hệ thống biểu tượng (núi, sông hồ, cây thông, diệc bạch, quạ đen…)

Các nhà thơ thời Choseon xem một bài thơ đẹp là một bài thơ súc tích -

sử dụng thật ít từ để diễn đạt ý nghĩa Ho Kyun cho rằng “Ý nghĩa nên được

tiếp tục, thậm chí khi từ đã hết.” [36, tr.319] Muốn như vậy, thì phải dùng

biểu tượng Phần lớn các biểu tượng trong sijo đều là hình ảnh thiên nhiên, một phần là vì sijo theo phương pháp ước lệ, tượng trưng của thơ ca Trung Hoa, phần nữa là do thiên nhiên không chỉ là chủ đề bao trùm, mà còn là

Trang 24

thước đo thẩm mỹ trong sijo Các nhà tư tưởng thời Choseon cho rằng nhà

thơ là người sáng tạo và kết nối những điều huyền bí của tự nhiên [36,

tr.321] Theo đó, một bài thơ hay, có ý nghĩa phải thể hiện được những điều bí

ẩn từ sông núi Học giả Kim Ch’anghyop (1651-1708) cho rằng “Thi ca và

thiên nhiên hòa quyện vào nhau về bản chất và tinh hoa.” “Gần gũi với thiên nhiên sẽ giúp nhà thơ ghi lại được hồn của thiên nhiên và truyền vào trong thơ ca.” [36, tr.321] Một số nhà thơ thời kỳ này nhấn mạnh vào yếu tố

hình tượng trong thơ như một yếu tố thúc đẩy sự chân thật của bài thơ, một

bài thơ phải vừa nói bằng hình tượng, vừa cụ thể, vừa tự nhiên [36, tr.321]

Như vậy, một bài thơ đẹp phải là bài thơ giàu hình tượng, và các hình tượng này đều phải gắn với thiên nhiên để thể hiện những điều huyền bí của tạo hóa Nhưng như thế vẫn chưa đủ, thiên nhiên ở đây còn phải là thiên nhiên của chính đất nước mình, bởi càng về cuối thời Choseon, các nhà thơ càng ý thức về tính dân tộc trong thơ Học giả thời Choseon Chong Yagyong đã nói:

“Tôi là một người Hàn Quốc Tôi sẽ vui vẻ viết một bài thơ thể hiện thực tế của nước Hàn” [36, tr.326]

Theo tiêu chí thẩm mỹ như vậy, sijo là thể thơ nói bằng hình tượng thiên nhiên Những hình tượng xuất hiện thường xuyên nhất trong sijo là núi,

đá, sông hồ, cây thông, chim diệc bạch

Núi chiếm tới hai phần ba diện tích Korea, nên trong các yếu tố thiên nhiên thì núi xuất hiện trong sijo nhiều nhất Núi thường gợi hứng cho thi nhân sáng tác Có rất nhiều bài sijo mở đầu bằng cảnh núi:

Mây nghỉ ngơi chốc lát

Trang 25

Ở trên đỉnh non cao

(Chương mở đầu bài sijo của Yi Hang Bok)

Hỡi cúc cu đang hót

Giọng buồn trên Không sơn

(Chương mở đầu bài sijo của Jung Choong Shin)

Một mình ta nâng rượu

Đắm đuối nhìn núi xa

(Chương mở đầu bài sijo của Yoon Seon Do)

Núi ở Korea là núi đá cứng Trên địa hình như thế, rất ít loài cây sống được, hầu như chỉ có thông, Rừng trên núi của Korea không phải là rừng rậm kiểu như trong thơ ca Ấn Độ, ngược lại là phong cảnh thoáng đãng, càng làm tôn thêm dáng đứng kiêu hãnh của thông Bởi thế, núi trong thơ ca Korea tuy có gắn với yếu tố tâm linh, nhưng không đậm nét như trong thơ

ca Ấn Độ bởi nó không có cái vẻ kỳ bí để gợi nhiều suy tư Núi Korea

thường là chốn tu thân, học đạo Hai tác phẩm yeon-sijo nói về đạo học đạt đến mức mẫu mực là “Cao sơn cửu khúc ca”, “Đào sơn thập nhị khúc” của của Yi I và Yi Hwang đều lấy bối cảnh là núi non (như đã đề cập khi nói về

Trang 26

“đạo” trong sijo) Với cây thông, núi là nơi gởi gắm ước vọng sống hiên ngang bất khuất của người quân tử:

Ta chết đi sau này

Hóa thân thành gì đây ?

Thành cây thông vĩ đại

Trên đỉnh núi Bồng Lai

Khi thế gian tuyết đầy

Một mình ta đứng đấy !

(Seong Sang Mun)

Cảnh núi trong sijo chính là phong cảnh núi non đặc trưng của Korea chứ không giống núi trong những nền văn hóa khác Núi của Korea có địa hình nhấp nhô với những mỏm, những vực, những vách đá dựng đứng Vì thế, đá cũng là một biểu tượng thường xuyên xuất hiện trong sijo Trong bài yeon-sijo “Đá dựng” của Pak Illo (1561-1643), trước cảnh đá vững chãi và thẳng đứng, nhà thơ thể hiện sự trầm ngâm suy tưởng của mình Tảng đá như bay vút lên thiên đường (bài thơ thứ 20) và chạm vào những thiên thể sáng chói trong vũ trụ rộng lớn; nó “giúp ta đứng dậy” (bài thơ thứ 18) và có thể làm thanh khiết “tâm hồn đang xáo trộn” của mình Nhà thơ ví vách đá như một “vĩ nhân” (bài thơ thứ 8), lại cũng như một người vô danh không được kể công đức (bài thơ thứ 9) Trong lời thoại với đá, nhà thơ hy vọng

Trang 27

rằng ông cũng sẽ “già đi” cùng với đá (bài thơ thứ 15), nhưng đồng thời đá cũng đã nhắc nhở ông về tính tương đối của thời gian (“đá có thể tồn tại mãi nhưng con người thì không”- bài thơ thứ 16) Con đường cheo leo lên đến đỉnh đá được so sánh với những giai đoạn của việc tu thân theo đạo (bài thơ thứ 11) [36, tr.168-189]

Một yếu tố thiên nhiên khác nữa thường xuất hiện trong sijo là sông

hồ Đó là bởi trên lãnh thổ Korea có một hệ thống sông hồ dày đặc Sông bắt nguồn từ núi, hồ cũng nằm ngay trên đỉnh núi, thế nên có một sự hài hòa tuyệt vời giữa yếu tố núi và sông hồ “Cao sơn cửu khúc ca” lấy bối cảnh trên núi, mà cũng vẫn tràn đầy yếu tố nước: “Chim núi liệng quanh trên sóng xanh ca hát”, “Bóng núi in mặt nước, chìm trong ánh nắng tà / Suối càng sâu càng mát, hứng thú khó cưỡng a!” Sống trong không gian đầy sông hồ ấy, câu cá trở thành một nghề nuôi sống người Korea, đồng thời cũng là một thú vui di dưỡng tinh thần Cảnh sông hồ, thuyền câu vang giọng ca của người ngư phủ xuất hiện trong “Giang hồ tứ thời ca” của Maeng Sa Seong, “Ngư phủ ca” của Yi Hyeon Bo, và tuyệt vời hơn cả là trong “Ngư phủ tứ thời ca” của Yun Seon Do:

Đâu đây trong rừng thẳm

Vang tiếng chim cúc cu Chèo đi, chèo nhanh nữa!

Những làng ngư ẩn hiện

Trong sương mù giăng giăng

Trang 28

Tiếng hò ta vang vọng

Hò hò ơ, hò ơ

Dưới hồ sâu trong vắt

Đàn cá lội tung tăng

(Yun Seon Do - Ngư phủ tứ thời ca- bài số 4)

Thiên nhiên trong sijo phong phú như vậy một phần là do triết lý Tống Nho du nhập từ Trung Hoa, đề cao cái lý của tự nhiên, nhưng mặt khác chính là sự thể hiện tư duy mỹ học của người Korea- dân tộc có tâm hồn lãng lãng mạn, nhạy cảm, hòa mình với thiên nhiên và yêu cái đẹp Các hình

tượng thiên nhiên thể hiện sự hài hòa giữa “đạo” và “mỹ” đến độ mẫu mực trong sijo

Không chỉ đẹp ở thế giới hình tượng, sijo còn đẹp ngay ở bề mặt ngôn

từ Các nhà phê bình đầu triều đại Choseon khuyên các thi gia nên đánh bóng, chau chuốt tác phẩm của mình truớc khi cho ra mắt công chúng Học giả So Kojong kể về cách mà các nhà thơ xưa đưa tác phẩm của mình cho sư phụ và bạn bè đánh giá, rồi không ngừng “thôi xao” để hoàn thiện tác phẩm

của mình Theo quan điểm của So Kojong, “sự kỳ diệu của thơ ca chỉ nằm ở

một từ.” [36, tr.316-335] Các nhà thơ thời Choseon thích thú và luôn ghi nhớ

câu chuyện nhà thơ Yi Saek đã thay thế từ ngữ trong bài thơ của mình theo góp ý của con trai để bài thơ đẹp hơn [36, tr.316-335] Theo quan niệm như vậy nên từ dùng trong sijo thường được chọn lọc và trau chuốt kỹ lưỡng Trong sijo thường có những Hán tự giàu chất thơ xen vào trong câu thơ tiếng

Trang 29

Hàn như “lê hoa”, “nguyệt bạch”, “xuân sơn”, “thu phong” tạo nên sự sang trọng, cổ điển Các phép tu từ cũng được sử dụng với tần suất cao Các biện pháp tu từ phổ biến trong sijo là điệp ngữ, điệp cấu trúc (trong yeon-sijo), liệt

kê, tăng tiến, đột giáng (trong saseol-sijo), điệp từ, chơi chữ, sử dụng từ láy

và điệp âm (trong cả pyeong sijo, yeon-sijo và saseol-sijo) Hwang Chin-I, Cheong Ch’ol và Yun Seon Do là những “nghệ nhân luyện vàng” trong ngôn ngữ Korea Những bài sijo của họ được đánh giá là đạt đến đỉnh cao trong nghệ thuật dùng từ

Tóm lại, với việc sử dụng ngôn ngữ tinh tế, các phép tu từ và hệ thống biểu tượng gắn với thiên nhiên, sijo đã thể hiện tính thẩm mỹ cao Là thể thơ của “đạo”nhưng sijo không hề khô khan, đó là nhờ yếu tố “mỹ” luôn được đề cao trong sáng tác và thưởng thức sijo

3.2 “Tình” và “Hận”

Người Hàn khi nói về tính cách dân tộc mình thường nhấn mạnh

“Tình” (Jeong정, 情) và “Hận” (Han한, 恨) Điều đó không có nghĩa là chỉ người Korea mới cảm nhận được “tình” và “hận”, thực chất bất cứ một con người nào trên thế gian cũng đều nhiều lần trải qua những cảm giác này trong đời Có điều là chúng ta không thường “gọi tên” những cảm giác đó ra, và những cảm giác này- đặc biệt là “hận”- cũng chỉ là tình cảm cá nhân, không phổ biến và đậm nét đến mức có ở tất cả mọi người, mọi thời đại, vừa âm ỉ vừa dữ dội như ở người Korea

Trang 30

Nói về “tình” của người Hàn, đó không đơn thuần là tình yêu Người phương Tây có thể hơi lúng túng trước ý nghĩa của “tình”, nhưng người Á Đông chúng ta rất dễ dàng thấu hiểu nó “Tình” của người Hàn hoàn toàn giống với “tình nghĩa”/ “nghĩa” của người Việt chúng ta Đó là cảm giác gắn kết một cách sâu sắc với một người, một vật, hay một nơi chốn nào đó, đến mức thấy nó như một phần của ta, ta luôn muốn có nó, kề bên nó, và khi mất

đi thì đau đớn tiếc nuối khôn nguôi Cảm giác ấy dường như ta không điều khiển được Người Hàn thường nói “tình bao trùm lên tôi”/ “tình đã thấm vào tôi” như thể tình là cái ở ngoài chiếm hữu lấy ta, chứ không phải là thứ tự ta sinh ra, tự ta sở hữu Thế nên, đôi khi sợi dây gắn kết đó luôn nối ta với

những người, những vật, nhưng địa điểm tưởng chừng không còn chút hấp

dẫn nào đối với ta Trong bài viết “Jeong and Han, a look at the Korean

psyche”, tác giả Yujinishuge đã cho chúng ta những ví dụ như thế này để

hình dung về “tình”: một cặp vợ chồng sống lâu bên nhau, bây giờ không

còn yêu nhau nữa, thậm chí luôn cãi vã, thấy ghét nhau, nhưng họ lại không thể xa rời nhau được, thứ gắn kết họ chính là “tình”; hoặc một căn nhà cũ

kỹ, ta sống ở đó đã lâu, nó tồi tàn và bất tiện, bây giờ ta chuyển sang một căn nhà khác tiện nghi khang trang hơn, thế mà trong lòng vẫn luôn nhớ tiếc, đó chính là “tình” [53]

Người Hàn là một dân tộc trọng tình, bởi họ vốn là những cư dân nông nghiệp lúa nước Loại hình kinh tế này đòi hỏi sự lao động tập thể, gắn kết cộng đồng cao Môi trường sống của người Hàn lại rất khắc nghiệt, nên phải tương trợ lẫn nhau Thêm nữa, người Hàn chịu ảnh hưởng của Nho giáo

Trang 31

Trung Hoa quy định về ngũ luân Tất cả những yếu tố đó khiến chữ tình trở nên sâu đậm trong tính cách dân tộc Hàn

Nói về tính trọng tình của người Hàn như vậy, chúng ta sẽ cảm thấy mâu thuẫn trước nhận định rằng “hận” cũng là một nét tính cách đậm nét của dân tộc Hàn, nhưng thực ra chúng hoàn toàn không mâu thuẫn, mà lại thống nhất với nhau “Hận” chính là từ “tình” mà sinh ra Người ta không thể cảm thấy “hận” một đối tượng nếu không hề có “tình” với đối tượng ấy Tác giả

Yujinishuge đã cho ví dụ như thế này: Nếu một tên trộm đột nhập vào nhà

lấy hết của cải của bạn, bạn sẽ thấy tức giận, căm ghét tên trộm ấy, nhưng cảm giác ấy không gọi là “hận”, bởi bạn không hề quen biết, chưa từng có tình cảm gì với tên trộm ấy Nhưng khi một người thân lừa dối bạn, khiến bạn đau đớn, thì cảm giác ấy chính là “hận” [53] Bởi gắn liền với “tình”, nên

“hận” trong văn hóa Hàn không mang ý nghĩa tiêu cực như chúng ta thường nghĩ Đối với người Hàn, “hận” không có nghĩa là chấm hết, mà luôn đi cùng với hy vọng: luôn mong đối tượng thay đổi, và luôn nỗ lực để giải hận Do

đó, với người Hàn không chỉ có con đường đi từ “tình” đến “hận”, mà còn có

từ “hận” đến “tình” Hai trạng thái này như hai cực âm dương đắp đổi lẫn nhau Thêm nữa, từ “hận” thường chỉ dùng cho người dưới đối với người trên, bởi vì nếu là người bề trên, thì những khúc mắc hoàn toàn có thể giải quyết, những mối giận dữ dễ dàng được giải tỏa, thì sẽ không còn phải ôm

“hận” trong lòng nữa Nhưng người dưới, địa vị thấp hơn, quyền lực không

có thì làm sao có thể giải “hận” được

Và đây chính là mấu chốt vấn đề Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra vì sao người Hàn có tính ôm hận, nuốt hận đặc trưng, còn những dân tộc khác

Trang 32

thì không như vậy Đó là bởi người Hàn chịu ảnh hưởng của Tống Nho quá đậm nét, đậm nét hơn Nhật Bản và Việt Nam Người Hàn có hệ thống tôn ti

rõ ràng, cho nên việc người dưới thường phải im lặng nhẫn nhịn là chuyện bình thường Nếu người Việt chúng ta do môi trường sống khá thuận hòa nên nghiêng về âm tính, có tính khoan dung, thì ngược lại môi trường sống của người Hàn vốn khắc nghiệt, thêm nữa họ vốn có nguồn gốc siberia mạnh mẽ, dương tính, nên cứng nhắc và không dễ thứ tha Tất cả những yếu tố đó cộng với tính trọng tình đã sinh ra lòng “hận” như là tính cách đặc trưng của cả dân tộc

Văn học thể hiện tâm hồn dân tộc, thế nên từ khởi thủy văn học Hàn đã đậm tình và hận Nhà nghiên cứu Seo De Seok đã chỉ ra cảm thức “hận” có từ

trong văn học dân gian Korea: “Truyền thuyết của Hàn Quốc là văn học của

cái hận được tạo nên bởi cái hận của dân tộc Hàn bị dồn nén trong lịch sử của Hàn Quốc” [5, 68] Nhưng nếu nhìn trong suốt lịch sử văn học, thì các

tác phẩm cuối thời Koryeo- đầu thời Choseon là thể hiện rõ tình- hận hơn hết, bởi vì đây là thời kỳ Tống Nho ảnh hưởng mạnh mẽ nhất, lại có nhiều biến động chính trị tạo nên nỗi đau cho những người ưu quốc Sijo nở rộ trong thời kỳ đó, nên sijo chính là thể thơ của tình và hận

Về phương diện bày tỏ tình-hận, sijo có ưu điểm hơn thơ Đường luật, bởi thi luật của sijo tự do hơn thơ Đường rất nhiều nên nhà thơ không phải gò

ép mình, cảm xúc có thể tự do tuôn trào, và sijo được sáng tác để hát lên nên

dễ dàng thể hiện những cung bậc tình cảm hơn Sijo cũng có thế mạnh bày tỏ tình- hận hơn thể thơ phổ biến thời Koryeo là “cảnh ky thể ca”, bởi “cảnh ky thể ca” là những bài ca thể hiện niềm “tự hào cuồn cuộn” về cuộc sống của sĩ

Trang 33

phu, không cho phép nói lên nỗi hờn oán Có thể nói, trong bối cảnh thơ Đường và “cảnh ky thể ca” đang được ưa chuộng, sijo ra đời ban đầu nhằm mục đích để giới sĩ phu có nơi chốn gửi gắm tình- hận của mình

Trong sijo từ khởi thủy đến hiện đại, có rất nhiều bài thơ là lời thì thầm gửi gắm tình cảm đến “người” (nim):

Thân này dù có chết

Chết, chết đến trăm lần

Dù xương dần hóa bụi

Dù linh hồn biến tan Vẫn nồng nàn tha thiết

Hướng về người biết chăng ?

(Bản dịch nghĩa:

Thân thể này dù có chết và chết đến trăm lần

Dù xương trắng hóa thành cát bụi, dù linh hồn còn hay không Vẫn chân thành hướng về người, người ở phương nao.)

(Jeong Mong Ju)

Trang 34

Quạ đen dầm mưa tuyết

Màu lông hóa trắng ngần

Đêm mấy lần nguyệt rạng

Rồi sẽ thành đêm đen

Lòng này gửi người thương

Tấm chân tình có đổi?

(Bản dịch nghĩa:

Con quạ dầm mưa tuyết, sắc đen hóa trắng

Đêm trăng sáng ngần cũng sẽ trở thành đêm tối

Là tấm chân tình hướng về phía người thương, liệu có đổi thay.)

(Bak Paeng Nyon)

Muốn gạt nỗi lòng

Thành trăng rong chơi

Hài hòa vời vợi

Giữa trời bao la

Trang 35

Mộng thương nhớ người yêu

Trang 36

Ghé qua phòng người thương trong một đêm thu dài Đánh thức người đã quên ta ra khỏi giấc ngủ sâu.)

(Park Hyo Gwan)

Từ “người” trong tất cả các bài thơ trên trong nguyên tác đều là “nim” đại từ chỉ người ở ngôi thứ ba Nếu hiểu “nim” là người yêu, thì tất cả những bài thơ trên đây đều là những bản tình ca nồng nàn: Jeong Mong Ju khẳng định dù có chết đến trăm ngàn lần vẫn mãi mãi thủy chung; Bak Paeng Nyon nói với người tình rằng dù vạn vật trên thế gian đổi dời, đen thành trắng, ngày thành đêm chăng nữa thì tình anh cho em vẫn luôn nồng nàn không hề đổi khác; Jeong Cheol thể hiện ước mơ được hóa thân thành mặt trăng để đến soi sáng phòng của người thương; và Park Hyo Gwan có ước muốn thật đáng yêu: biến thành một chú dế chui vào phòng người yêu trong đêm đông dài, để nếu người quá vô tâm, ngủ say chẳng hề nhung nhớ, thì chú dế sẽ ca hát để đánh thức người, khiến người luôn nhớ ta

Nhưng tất cả những bài thơ trên đây đều có một tầng nghĩa khác

“Nim” là đại từ chỉ ngôi thứ ba, không xác định rõ ngôi thứ, nên không chỉ là người yêu mà còn có thể hiểu theo nghĩa trang trọng hơn, nhất là khi dựa vào

tư cách là những trung thần vĩ đại của những nhà thơ trên đây, thì hoàn toàn

có thể hiểu “nim” là “Quân vương”

Jeong Mong Ju (鄭夢周, 1337– 1392) là một vị quan đại thần quyết không thay lòng đổi dạ thờ hai chủ Khi vương triều Koryeo sụp đổ, ông cự tuyệt không làm quan cho vương triều Lý và đã bị sát hại Jeong Mong Ju đã

Trang 37

thấy cái chết của mình từ trước khi tai họa ập đến, nhưng ông không trốn tránh Hai chương đầu của bài thơ nhắc đi nhắc lại về cái chết tiên cảm ấy bằng điệp từ “chết” được lặp lại hai lần liên tiếp và những từ cùng trường nghĩa với “chết”: “xương trắng”, “linh hồn” Trợ từ “cho dù”/ “cũng” đi cùng những cụm từ chỉ sự tiêu vong: “xương trắng hóa thành cát bụi”, “linh hồn còn hay không” đã nhấn mạnh dù bất cứ hoàn cảnh nào, dù trải qua bao nhiêu lần chết, tan biến thì tấm lòng hướng về nhà vua cùng vương triều Koryeo vẫn luôn luôn tồn tại

Bak Paeng Nyon (朴彭年, 1417 – 1456) là một trong “ Tử lục thần” (sáu vị đại thần bị tử hình vì nổi loạn thời Sejo) Căn nguyên việc nổi loạn của Bak Paeng Nyon chính là vì lòng trung với vua Dan-jong: Khi Dan-jong

bị chú mình cướp ngôi, ông cùng những vị đại thần lỗi lạc khác đã chống đối nhằm khôi phục vương vị cho Dan-jong “Quạ đen hóa trắng”, “đêm trăng sáng thành đêm đen” chính là những hình ảnh ẩn dụ chỉ thời cuộc biến đổi, trong triều nhiều kẻ đổi trắng thay đen, chân lý không còn, chỉ có toàn dối trá Nhưng cho dù cả thế gian dối trá thì tấm lòng tác giả vẫn nhất định kiên

trung, dù biến thiên dâu bể thế nào vẫn kiên quyết hướng về vua Dan-jong- người duy nhất chính đáng ở trên ngai vàng Tác giả khẳng định tấm chân tình của mình sẽ mãi mãi không đổi dời, và ông đã dùng cái chết để chứng minh điều ấy

Trường hợp của Jeong Cheol và Park Hyo Gwan cũng vậy, họ đều là những trung thần thời Choseon, và “người thương” của họ không ai khác chính là nhà vua

Trang 38

Truyền thống dâng hiến lòng trung và những khúc ca thiết tha của mình cho “nim” vẫn được tiếp nối cho đến tận thế kỷ XX, lên đến đỉnh cao tư

tưởng và nghệ thuật ở nhà thơ Choi Nam Seon, bút danh là Yuk-dang Thơ Choi Nam Seon là những khúc tụng ca gửi đến “người” với tất cả niềm sùng kính:

Dù cơn mưa lạnh lẽo

Có tình yêu của Người

Thấm vào trong từ trước

Ai người thất bại đâu!

ÔM CHẶT (1)

Trang 39

Vì người, trăng cũng tỏa sáng

Vì người, hoa cũng nở tươi

Thật sự, nếu không phải vì người

Cớ sao mật ong lại ngọt, ngải lại đắng?

Sự cô đơn và bóng tối

Nếu có thể cũng nhanh chóng đi qua

Trang 40

Myung Hee đã làm rõ ý nghĩa của từ “Người”: “Ngài/ Người của Yuk Dang

thật ra là ai? Tôi chỉ phỏng đoán mà thôi Tên của ngài có lẽ là Choseon”

[42, tr.25] Yi Kwang Soo cũng nói về thơ của Yuk Dang như sau “Dáng vẻ

như là thơ tình ái, nhưng nếu ngẫm kỹ thì lại thể hiện lòng yêu nước, nếu xem xét tường tận thì cũng giống với thơ của nhà thơ Kabir ở Ấn Độ” [42, tr.25]

Từ “người” là nhà vua trong sijo trung đại đến “người” là đất nước trong thơ Choi Nam Seon đã có một bước tiến dài về tư tưởng, nhưng về căn bản vẫn

có cùng bản chất là “tình” đối với đất nước Sijo là thể thơ trữ tình cá nhân, nhưng nó không dừng lại ở tình cảm riêng tư nhỏ hẹp, mà mang vẻ đẹp cao quý của tình yêu đất nước

Vì tình quá sâu đậm, nên trong sijo cũng tràn đầy nỗi “hận” mất nước, nỗi “hận” vương triều sụp đổ, và nỗi “hận” khi quân vương đi sai đường

Sijo dòng “Huekoka” đầu thời Choseon là tiếng lòng của những cựu thần xót xa trước thời cuộc Mang “tình” sâu đậm với vương triều Koryeo, khi triều Choseon thành lập, họ không thể thay đổi được thời cuộc nên không thể giải mối “hận” mất nước, chỉ có thể gửi nỗi “hận” ấy vào thi ca

Ngày đăng: 24/02/2014, 11:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Long Châu, 1997: Nhập môn văn học Hàn Quốc, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn văn học Hàn Quốc
Nhà XB: NXB Giáo dục
3. Nguyễn Long Châu, 2000: Tìm hiểu văn hóa Hàn Quốc, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu văn hóa Hàn Quốc
Nhà XB: NXB Giáo dục
4. Phan Nhật Chiêu, 2010: “Hàn Long Vân và Hàn Mặc Tử: Thơ ca của niềm im lặng”, in trong sách Văn học cận đại Đông Á – từ góc nhìn so sánh, NXB Tổng Hợp TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàn Long Vân và Hàn Mặc Tử: Thơ ca của niềm im lặng”, in trong sách "Văn học cận đại Đông Á – từ góc nhìn so sánh
Nhà XB: NXB Tổng Hợp TP.HCM
1. Cho Dong Il, Seo Dae Seok, Lee Hai Soon, Kim Dae Haeng, Park Hee- Byoung, Oh Sae Young, Cho Nam Hyon, (Trần Thị Bích Phượng dịch), 2010: Những bài giảng văn học Hàn Quốc, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài giảng văn học Hàn Quốc
Nhà XB: Nxb Văn học
2. Đoàn Lê Giang: Tư tưởng lý luận văn học Trung Quốc cổ điển (chuyên luận dùng cho học viên cao học), Khoa Văn học và Ngôn ngữ, ĐHQG T.P. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng lý luận văn học Trung Quốc cổ điển
3. Đoàn Lê Giang, 2011: “Con đường hiện đại hoá văn học của các nước Khu vực văn hoá chữ Hán”, in trong sách Văn học cận đại Đông Á – từ góc nhìn so sánh, NXB Tổng Hợp TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường hiện đại hoá văn học của các nước Khu vực văn hoá chữ Hán”, in trong sách "Văn học cận đại Đông Á – từ góc nhìn so sánh
Nhà XB: NXB Tổng Hợp TP.HCM
4. Gina L. Barnes, Huỳnh Văn Thanh dịch, 2004: Trung Quốc, Triều Tiên và Nhật Bản, đỉnh cao văn minh Đông Á, NXB Tổng Hợp T.P. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc, Triều Tiên và Nhật Bản, đỉnh cao văn minh Đông Á
Nhà XB: NXB Tổng Hợp T.P. Hồ Chí Minh
5. Phan Thu Hiền (viết chung với Lê Chí Quế), 2004: “Huyền thoại lập quốc Korea và Việt Nam” - Tạp chí Vietnam Studies, Seoul, Korea, 5 / 2004; Tạp chí Văn hoá dân gian, 12 / 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huyền thoại lập quốc Korea và Việt Nam” - Tạp chí "Vietnam Studies", Seoul, Korea, 5 / 2004; Tạp chí "Văn hoá dân gian
6. Phan Thu Hiền, 2011: “Yếu tố nội sinh và ngoại sinh trong sự hình thành, phát triển “Văn học mới” Korea từ những phối cảnh nghiên cứu”, in trong sách Văn học cận đại Đông Á – từ góc nhìn so sánh, NXB Tổng Hợp TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yếu tố nội sinh và ngoại sinh trong sự hình thành, phát triển “Văn học mới” Korea từ những phối cảnh nghiên cứu”, in trong sách "Văn học cận đại Đông Á – từ góc nhìn so sánh
Nhà XB: NXB Tổng Hợp TP.HCM
7. Phan Thị Thu Hiền, 2012: “Sự hình thành bản sắc Korea qua hương ca (hyangga)”, Kỷ yếu hội thảo khoa học Hoàng thúc Lý Long Tường và mối quan hệ hợp tác Việt Nam – Korea từ quá khứ đến hiện tại, Đại học Ngoại ngữ- Tin học TP. HCM , tháng 5- 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự hình thành bản sắc Korea qua hương ca (hyangga)”, Kỷ yếu hội thảo khoa học "Hoàng thúc Lý Long Tường và mối quan hệ hợp tác Việt Nam – Korea từ quá khứ đến hiện tại
8. Lê Đăng Hoan, 2011: “Dịch tập thơ "Sự im lặng của tình yêu" và một vài cảm nhận về tình yêu nhân dân và yêu tổ quốc của Han Yong-un”, in trong sách Văn học cận đại Đông Á – từ góc nhìn so sánh, NXB Tổng Hợp TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học cận đại Đông Á – từ góc nhìn so sánh
Tác giả: Lê Đăng Hoan
Nhà XB: NXB Tổng Hợp TP.HCM
Năm: 2011
9. Hwang Gwi Yeon- Trịnh Cẩm Lan, 2002: Tra cứu văn hoá Hàn Quốc, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tra cứu văn hoá Hàn Quốc
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
10. Han Yong Un, Lê Đăng Hoan dịch, 2006: Sự im lặng của tình yêu (tuyển tập thơ), NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự im lặng của tình yêu
Nhà XB: NXB Văn học
11. KimYoung Rang, Lê Đăng Hoan dịch, 2007: Đến khi hoa mẫu đơn nở (tuyển tập thơ), NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đến khi hoa mẫu đơn nở
Nhà XB: NXB Văn học
12. Komisook- Jungmin- Jung Byung Sul, Jeon Hye Kyung- Lý Xuân Chung dịch 2006: Văn học sử Hàn Quốc từ cổ đại đến cuối thế kỷ XIX, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học sử Hàn Quốc từ cổ đại đến cuối thế kỷ XIX
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
13. Thanh Liêm, 2001: Triều Tiên ( trong bộ sách Đối thoại với các nền văn hóa), NXB Trẻ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triều Tiên ( "trong bộ sách" Đối thoại với các nền văn hóa)
Nhà XB: NXB Trẻ
14. Đặng Văn Lung (chủ biên), 2002: Tiếp cận văn hoá hàn Quốc, NXB Văn hoá- Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận văn hoá hàn Quốc
Nhà XB: NXB Văn hoá- Thông tin
1. Hà Văn Lưỡng, 2009: “Những nét tương đồng và dị biệt của thơ sijo (Hàn Quốc) và thơ haiku (Nhật Bản)- nhìn từ đặc trưng thể loại”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á , Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nét tương đồng và dị biệt của thơ sijo (Hàn Quốc) và thơ haiku (Nhật Bản)- nhìn từ đặc trưng thể loại”, Tạp chí "Nghiên cứu Đông Bắc Á
2. Đặng Đức Siêu, 2007: Tinh hoa văn hóa Phương Đông : Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản , NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh hoa văn hóa Phương Đông : Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản
Nhà XB: NXB Giáo dục
3. Vũ Thị Thanh Tâm, 2010: “Những đóng góp của Yi Kwang-su cho văn học Triều Tiên đầu thế kỷ XX”, in trong sách Văn học cận đại Đông Á – từ góc nhìn so sánh, NXB Tổng Hợp TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đóng góp của Yi Kwang-su cho văn học Triều Tiên đầu thế kỷ XX”, in trong sách "Văn học cận đại Đông Á – từ góc nhìn so sánh
Nhà XB: NXB Tổng Hợp TP.HCM

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w