Đắm mình trong thiên nhiên để khám phá và suy ngẫm về lý lẽ của trời đất là một trong những cách học hỏi của người quân tử, bên cạnh đó, cũng không thể quên con đường học đạo qua sách vở
Trang 1Luận văn
Đặc điểm thơ Sijo
từ góc nhìn cảm thức thẩm mỹ
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài:
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
7 Kết cấu của đề tài:
Chương 1 Đặc điểm thơ sijo từ điểm nhìn lịch sử văn học
1.1 Vị trí sijo trong nền văn học Korea
1.2 Nguồn gốc thơ sijo
1.3 Bối cảnh ra đời và phát triển thơ sijo
1.3.1 Bối cảnh lịch sử- chính trị
1.3.2 Bối cảnh tư tưởng - văn hóa
Trang 31.4 Tiến trình thơ sijo
1.4.1 Sijo cuối thời Koryeo
1.4.2 Sijo thời Choseon
1.4.3 Sijo hiện đại
Chương 2 Đặc điểm sijo từ góc nhìn thể loại
2.1 Phân loại sijo
2.1.1 Phân loại theo độ dài của lời thơ:
2.1.2 Phân loại theo đặc điểm âm nhạc
2.2.3 Phân loại theo vùng miền
2.2 Thi luật của sijo
2.2.1 Pyeong sijo
2.3.2 Eot sijo và Saseol sijo
2.3.3 Sijo hiện đại
Chương 3 Đặc điểm thơ sijo từ góc nhìn cảm thức thẩm mỹ
3.1 “Đạo”và “Mỹ”
3.2 “Tình” và “Hận”
Trang 43.3 “Phong lưu” và “Khoái lạc”
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5Chương 3 Đặc điểm thơ sijo từ góc nhìn cảm thức thẩm mỹ
Và:
Đạo là gốc rễ của văn Văn là cành lá của đạo Gốc rễ của nó là
ở đạo, cho nên phát ra từ văn đều là đạo [6, tr.104]
Tư tưởng này đã du nhập và trở thành “kim chỉ nam” trong việc sáng tác và thưởng thức văn chương Korea từ cuối thời Koryeo đến đầu thời
Choseon
Từ thời Koryeo, mối quan hệ giữa văn và đạo và tác dụng giáo hóa của văn chương đã được chú ý nhiều Trong cuốn sách phê bình văn học thời Koryeo tên là “Bổ nhàn tập”, tác giả Thôi Tư (1188-1260) đã viết:
Trang 6Văn là cánh cửa đi vào chính đạo Vì vậy không nên viết những lời trái với đạo lý Tuy nhiên, nói một cách sinh động và khích lệ tinh thần để gây cảm tình đối với người nghe thì đôi khi cũng cần phải nói một cách cứng rắn và khác thường, huống chi đến làm thơ Thơ có phú,
tỉ, hứng làm căn bản Vì vậy, văn phong cần phải khác thường, quả quyết, ý nghĩa phải sâu sắc, lời nói phải rõ ràng mới tạo được cảm tình đối với người đọc và làm cho người đọc giác ngộ ra vấn đề Họ sẽ hiểu
ra ý nghĩa sâu sắc và đẹp đẽ của bài thơ, và cuối cùng họ sẽ trở về với chính đạo [28, tr.419]
Đến thời Choseon, vấn đề này trở thành trung tâm của việc phê bình văn học Trong lời tựa của Jeong Dojeon (Trịnh Đạo Truyền, 鄭道傳1342–
1398) ở đầu cuốn sách Mogeunjip (牧隱集- Tuyển tập các tác phẩm của Yi Saek (李穡, 1328 – 1396), tác giả đã khẳng định: “Văn là chiếc xe chở đạo”
[36, tr.317]
Cũng như Jeong Dojeon, So Kojong (Từ Cư Chính, 徐巨正
(1420-1488), Cho Wi (梅溪 曺偉, 1454-1503) và nhiều nhà nho khác cũng thống nhất rằng “Văn là phương tiện chở đạo” [36, tr.317]
Yi I (Lý Nhĩ, 1536-1584) cho rằng các kinh sách (văn) chính là cánh
cổng dẫn đến đạo [36, tr.317]
Trang 7Những tác gia kể trên cũng chính là những người trực tiếp tham gia sáng tác sijo, vì thế trong sijo, nền tảng mỹ học quan trọng nhất chính là
“đạo”
“Đào sơn thập nhị khúc” của Yi Hwang chính là tác phẩm mẫu mực trong việc dùng sijo để “tải đạo” Tác phẩm yeon-sijo này gồm tất cả 12 khúc Tiền lục khúc viết về đạo trong thiên nhiên, hậu lục khúc viết về đạo học của con người Thiên nhiên trong bài thơ mang vẻ đẹp giản dị và tự nhiên, là biểu hiện cho quy luật của tạo hóa:
Lan nở trong thung lũng
Nên thơm thật tự nhiên Trên triền núi mây bay
Nên đẹp không giả tạo Không thể nào quên nổi
Trang 8Không thể nào quên được cảnh đẹp giữa thế gian này.)
Chương một và hai của bài thơ này sử dụng phép lặp “thơm một cách
tự nhiên”, “đẹp một cách tự nhiên” (tác giả dùng Hán tự “Tự nhiên”) Tác giả muốn nhấn mạnh tiêu chí của cái đẹp là tuân theo quy luật của tạo hóa
Nguyên nhân làm nên hương thơm của hoa lan là vì nó nở ở đúng môi trường
tự nhiên sinh ra nó: trong thung lũng, cũng như mây, nguyên nhân làm nên cái đẹp của mây là vì nó bay trên núi cao- đúng như lẽ thường tình Tác giả dùng kết cấu “vì nên”, để lý giải vẻ đẹp Tất cả những đối tượng miêu tả đều xuất hiện trong bối cảnh bình thường nhất Chính cái bình thường đó làm nên vẻ đẹp cho nó, bởi nó tuân theo quy luật của hóa công
Trong mắt nhìn của Yi Hwang, quy luật của tạo hóa thật nhiệm màu, trời đất sinh ra vạn vật tự nó đã có một sự hài hòa sâu sắc, từ thiên nhiên cho đến con người:
Gió xuân, hoa phủ núi
Đêm thu nguyệt rạng lầu
Trang 9Hoa che phủ núi trong gió xuân, trăng chiếu sáng trên lâu đài trong đêm thu
Vẻ đẹp của bốn mùa cũng giống với con người
Sự sâu sắc của sự hòa hợp trời đất là vô thủy vô chung)
(“Đào sơn thập nhị khúc” của Yi Hwang, khúc thứ sáu)
Hai đối tượng thiên nhiên được tác giả lựa chọn miêu tả trong khúc thứ sáu này là hoa và trăng Tác giả lựa chọn thời điểm và không gian hợp lý nhất
để chiêm ngưỡng chúng: hoa trên núi giữa mùa xuân, và trăng ngắm từ lầu cao trong đêm thu Điều đó không chỉ vì tuân theo hệ thống ước lệ, tượng trưng trong thi pháp Trung Hoa, mà còn nhắm đến dụng ý truyền tải thông điệp: phải phán xét tất cả mọi đối tượng trong hoàn cảnh phù hợp nhất, theo đúng lý của vũ trụ Lấy hai mùa xuân, thu làm đại diện cho bốn mùa luân chuyển, tác giả muốn gửi gắm đến người đọc thông điệp: tự nhiên sinh ra mỗi mùa đều có vẻ đẹp riêng, vẻ đẹp đó đến từ sự hài hòa của trời đất Tự nhiên
có cái lý của nó, đạo của tự nhiên thật sâu sắc và sẽ trường tồn mãi mãi (“vô thủy và vô chung”) Lý biểu hiện trong thiên nhiên như thế nào, thì trong con người cũng như thế ấy (“Vẻ đẹp của bốn mùa cũng giống với con người”) Sự tồn sinh của con người chính là do đạo
Đắm mình trong thiên nhiên để khám phá và suy ngẫm về lý lẽ của trời đất là một trong những cách học hỏi của người quân tử, bên cạnh đó, cũng không thể quên con đường học đạo qua sách vở:
Cuộc đời cứ trôi qua
Trang 10Thấy thật là thanh sạch Đọc bao nhiêu sách vở
Vui thú chẳng điểm dừng Nói rằng chẳng phong lưu
Còn là gì khác nhỉ?
(Bản dịch nghĩa:
Cuộc đời trôi qua, cảm thấy thật thanh sạch Bằng cuộc sống đọc nhiều sách, việc vui vẻ không kết thúc
Nói rằng chẳng phong lưu thì đó là gì?)
(“Đào sơn thập nhị khúc” của Yi Hwang, bài thứ 7)
Con đường quan trọng nhất để tu đạo là phải thực hành, bởi như đã nói, thuyết Minh triết của Yi Hwang coi trọng kiến thức thực nghiệm Yi Hwang nhắn gửi hậu thế phải đi theo con đường cổ nhân đã vạch ra, phấn đấu không ngừng nghỉ để hoàn thiện nhân cách của mình:
Cổ nhân không thấy ta
Ta cũng không thấy người Dẫu không gặp cổ nhân
Trang 11Đã có đường người vạch Con đường ở phía trước
đương nhiên câu trả lời chỉ có một: “phải đi theo” Đó chính là thực nghiệm
Và một khi đã đi, thì suốt đời không bao giờ được ngừng lại trên hành trình
“hành đạo”:
Non xanh từ thuở xưa
Trang 12Và sẽ xanh mãi mãi Nước chảy cứ chảy hoài
Chẳng bao giờ ngưng nghỉ Chúng ta đừng ngừng lại
Hãy sống thật thanh cao!
(Bản dịch nghĩa:
Non xanh sẽ luôn xanh
và nước chảy sẽ không biết ngừng lại Chúng ta cũng đừng ngừng lại và hãy sống một cách cao đẹp! )
(“Đào sơn thập nhị khúc” của Yi Hwang, bài thứ mười một)
Với những tác phẩm của mình, Yi Hwang muốn giúp người đọc nhận
ra lý trong tự nhiên, hướng người quân tử đi theo chính đạo, suốt đời học tập,
tu dưỡng nhân cách không bao giờ ngừng nghỉ Tư tưởng của Yi Hwang trở thành nội dung trung tâm trong sijo của trường phái Yong Nam, chẳng hạn, nhà thơ Kwõn Homun (1532-1587) lặp lại tư tưởng đó trong tác phẩm “Nhàn
cư thập bát khúc”, với bài ca sau đây:
Trời làm trong không gian lộng gió
Trang 13Làm sáng tỏ trăng tròn trên cao Trong vườn tre và trên rào thông Tuyệt tinh khiết, không vương hạt bụi A! Cuộc sống! Mới tươi, nồng nhiệt Với cây đàn và sách thánh nhân
(Bản dịch nghĩa:
Tự nhiên làm trong trẻo không gian lộng gió và làm sáng tỏ trăng tròn,
Trong vườn tre, trên rào thông, không một hạt bụi
Cuộc sống của tôi mới tươi mới và nồng nhiệt làm sao, cùng với cây đàn tam thập lục và những cuốn sách.)
Trong bài thơ này, không gian trở nên lộng gió tươi mát, trăng trở nên tròn đầy sáng trong đều là nhờ nguồn lực tự nhiên (lý) Trong không gian thanh khiết ấy, chủ thể trữ tình hiện ra với khuôn mặt của một nho sĩ “nhàn cư”, đắm mình vào sách vở Ở đây, con người sống hòa hợp với thiên nhiên, nhận ra con đường của mình thông qua chiêm nghiệm quy luật tự nhiên và đọc nhiều sách thánh hiền
Một đại diện khác của Nho học Korea sống cùng thời với Yi Hwang là
Yi I (Lý Nhĩ李 珥, tự là Lật Cốc粟谷, 1536-1584) Yi I đã “tải đạo” bằng tác
Trang 14phẩm yeon-sijo “Cao sơn cửu khúc ca”- một tác phẩm phỏng theo “Vô Diệm cửu đàm” của Chu Hy
Ngay từ khúc ca đầu tiên, tác giả đã dẫn đắt người đọc vào đạo học của Nho gia:
Người đời ai biết đến Cao sơn cửu khúc ca Nên cắt cỏ làm nhà
Bạn bè ta kéo đến Nhớ tới núi Vô Diệm Học đạo Chu Hy a!
Trang 15núi, rừng thông, vách đá, hồ nước, và cũng như thiên nhiên trong “Đào sơn thập nhị khúc” của Yi Hwang, đất trời trong mắt nhìn của Yi I cũng mang trong mình nó vẻ đẹp của “đạo”:
Một năm chốn sỏi đá Cảnh đẹp bởi hài hòa
(Dịch nghĩa: Một năm đã qua ở chốn sỏi đá vô tri hài hòa nên cảnh đẹp.)
(“Cao sơn cửu khúc ca” của Yi I, bài thứ mười) Tác giả nói rõ: chính sự “vô tri” mà “hài hòa” của sỏi đá đã tạo nên sức sống tươi đẹp cho nó Đó là gì nếu không phải là “đạo”? Và tác giả nhắn gửi đến người đọc thông điệp: “Hãy hưởng thú phong lưu tu học, ngâm thơ giữa nơi này” (bài thứ sáu)
Tiếp nối Yi Hwang và Yi I, các tác gia sijo từ thế kỷ XVI trở về sau luôn khắc họa trong thơ của mình khung cảnh thiên nhiên đẹp một cách hài hòa, tự nhiên, giản dị, thể hiện “cái lý” của tự nhiên Khung cảnh ấy nhắc nhở người ta rằng đất trời có đạo, và con người cũng vậy, cho nên sống phải hài hòa, phải theo quy luật của tạo hóa và quy luật hành xử của con người Bởi thế, đi liền với quan niệm “văn tải đạo” là chức năng giáo hóa của thi ca Nhà phê bình văn học thời Choseon Kim Chongjik (Kim Tông Trực) cho
rằng: “Văn là một kỹ xảo thứ yếu, thơ còn ít quan trọng hơn Nhưng để chỉ
dẫn con người tu thân, đạt được sự chuyển biến về đạo đức, và làm cho đạo truyền tới ngày nay, cũng như truyền cho các thế hệ sau mãi mãi không
Trang 16dừng, có thể nhờ đến thơ văn.” [36, tr.317] So Kojong (Từ Cư Chính) trong
“Đông nhân thi thoại” cho rằng “Những bài thơ hay sẽ làm độc giả cảm
động, đồng thời cũng làm cho bản tính của con người trở nên thanh khiết hơn.” [36, tr.317] Cuối thời Choseon, Wi Paekkyu (1727-1798) cho rằng
văn học làm hoàn thiện nhân cách con người: “Không có văn chương, con
người không thể trở thành một người hoàn hảo được” [36, tr.317] Chong
Yagyong (1762-1836) nhấn mạnh chức năng của thơ ca : “Không ủng hộ
những người thống trị và không quan tâm đến sự thịnh vượng của một đất nước thì không phải là thơ”, “Không tán dương hay đả kích, không đề cao đức hạnh hay phê phán sự đồi bại thì không phải là thơ.” [36, tr.317]
Những quan niệm trên đây đã ảnh hưởng sâu sắc đến việc sáng tác sijo Sijo
là thể thơ để ca hát, nhưng không phải chỉ là ca hát mua vui, mà hầu như mỗi bài thơ đều mang trong nó một thông điệp nhắn gửi người ta sống tốt
hơn, đẹp hơn Nhà nghiên cứu Choi Seung-beom trong bài viết “The Mot of
the Choson Sonbi” đã khắc họa lại hình ảnh của một “Sonbi” (nho sĩ) biểu
hiện trong thơ sijo: Sijo hướng người ta đến một mẫu hình “Sonbi” hội tụ
đầy đủ năm nét đẹp nhân cách: Thứ nhất là lòng trung thành với triều đình,
thứ hai là tính cách chính trực, sẵn sàng từ chối những của cải có nguồn gốc không trong sạch, thứ ba là tình yêu đất nước, thứ tư là lối sống giản dị, thanh nhàn, và thứ năm là không ngừng tu thân theo đạo đức Nho gia [47]
Từ cuối thời Koryeo, nhà thơ- học giả lỗi lạc Byeon gye rang
(卞季良1369 – 1430) đã để lại bài sijo giáo huấn nhắc nhở con người sống theo đạo:
Trang 17Hãy làm điều ta thích
Chớ làm điều chẳng ưa Dẫu người ta đưa đẩy
Đừng làm điều không hay Hãy sống đúng với mình
Như ý mệnh trời sinh!
(Bản dịch nghĩa:
Hãy làm điều ta thích, chớ làm điều không ưa
Mặc người ta xui khiến, những điều không thiện, xin đừng làm theo!
Hãy sống đúng với mình, theo ý mệnh tạo hóa sinh ra)
Thời Choseon, nhà thơ Chong Cheol đã sáng tác mười sáu bài “Huấn dân ca”với mục đích dạy dân chúng sống theo những quy tắc đạo đức giản dị, thiết thực, biết giữ cương thường đạo lý
Bài sijo sau đây nói về ân nghĩa của cha mẹ đối với con cái:
Cha sinh thành ra ta, mẹ dưỡng dục Nếu không có hai đấng sinh thành, liệu thân thể này có được ra đời?
Trang 18Ơn dưỡng dục rộng như trời bể mênh mông, biết đến bao giờ mới đền đáp được
(“Huấn dân ca” của Chong Cheol, bài số 1) Chính vì ân nghĩa ấy, mà con cái phải biết lấy chữ “Hiếu” làm đầu:
Lúc cha mẹ còn sống, hãy cố gắng làm tròn chữ Hiếu
Đến lúc cha mẹ ra đi rồi , có đau khổ bao nhiêu cũng chẳng làm được gì
Ở đời , có một việc không bao giờ làm lại được, ấy chính là
phụng dưỡng cha mẹ
(“Huấn dân ca” của Chong Cheol, bài số 4) Tình cảm anh em được đề cập trong bài sijo:
Anh à, em à, thử chạm vào da thịt mình mà xem
Được ai sinh thành thì dáng hình sẽ giống thế
Đã cùng được uống dòng sữa mẹ mà lớn lên, thì ai ơi xin đừng thay lòng đổi dạ
(“Huấn dân ca” của Chong Cheol, bài số 2) Tình cảm vợ-chồng cũng được nhắc đến:
Ông trời sinh ra cơ thể, tạo ra từng cặp vợ chồng
Trang 19Lúc sinh thời, cùng sống, cùng già, cùng chết ở một nơi Với mối quan hệ như thế, ai có thể ngu ngốc mà nghi ngờ
(“Huấn dân ca” của Chong Cheol, bài số 5)
Ngoài tình cảm gia đình, trong “Huấn dân ca” còn có những bài nói về nghĩa vua-tôi:
Tuy khoảng cách giữa vua và bách tính giống như trời và đất Nhưng bất cứ những việc gì dân làm, vua cũng đều biết hết Bách tính chúng ta sao có thể hưởng thụ một mình?
(“Huấn dân ca” của Chong Cheol, bài số 3)
Sijo làm công việc “khuyến thiện, trừng ác” Bài sijo sau đây khích lệ mọi người làm việc tốt:
Dân làng ơi, hãy cùng nhau làm việc tốt Người sinh ra mà không làm được việc tốt
Thì có khác gì con bò con ngựa đội “gat” lên đầu rồi ăn cơm
(“Huấn dân ca” của Chong Cheol, bài số 8)
Và dạy người ta lánh xa điều ác:
Đừng ham mê cờ bạc, trộm cắp
Trang 20Làm cho nhà khuynh gia bại sản, sao có thể oán giận được người ngoài
Nước cũng có quốc pháp, chẳng phải thế sao?
(“Huấn dân ca” của Chong Cheol, bài số 15)
Truyền thống “tải đạo” vẫn được tiếp nối cho đến tận thế kỷ XX Sijo thời khai sáng là những bài hát đánh thức tình yêu nước, phổ cập giáo dục, khuyến khích gìn giữ đạo đức Sijo thời thuộc địa đã đi song hành cùng chính trị, là công cụ đắc lực để kêu gọi người công dân cống hiến mình cho Tổ quốc, chẳng hạn như trong bài “Hãy đứng lên” (나오라) của Yi Byeong Ki (李秉岐, 1891-1968):
Người con gái xinh đẹp lang thang buổi sớm mai Cuộc đời đã vứt bỏ, chẳng thể làm được chi!
Trước khi nở nụ cười, hãy để nước mắt rơi
Sau cái chết bất hạnh, hãy cùng nhìn lại đi!
Hãy đứng lên mạnh mẽ, đánh đuổi lũ gian tà Tay cầm lên công cụ, dứt khoát chớ chần chừ!
Trang 21Sijo thế kỷ XX thổi vào lòng người niềm tin vào đạo, tin vào sự chiến thắng của công lý, của một dân tộc có chính nghĩa:
Ngọn cờ! Người là sức mạnh, dùng hết sức mình để giương cao
và đứng đầu Luôn luôn tin vào chiến thắng , người luôn bay cao
Cả hôm nay cũng vậy, trước sự chiến đấu hiên ngang của người,
cả địa cầu cũng run rẩy
(Ngọn cờ- Yi Ho U)
Với tư tưởng xuyên suốt là “đạo”, sijo đã tự tạo cho nó một sức sống lâu bền bởi hợp với truyền thống văn học Á Đông Nhưng nếu chỉ “tải đạo” một cách trực tiếp, khô khan, thì có lẽ sijo đã không có được sức hấp dẫn đến thế “Đạo” qua sijo thấm vào lòng người một cách rất tự nhiên, bởi sijo còn là thể thơ của “Mỹ” Trong sijo có sự hài hòa giữa vẻ đẹp hình thức với nội dung thể hiện Điều này cũng là do ảnh hưởng của tư tưởng văn học dòng Nho gia Trung Hoa Các nhà nho thời Koryeo đến Choseon luôn ghi nhớ ý
kiến của Khổng Tử: “Văn chất hài hòa thì mới đạt đến trình độ quân tử”
(Văn chất bân bân nhiên hậu quân tử) Họ coi trọng việc “tải đạo”, nhưng để
đạo thấm vào lòng người, thì trước hết phương tiện tải đạo- tức văn- cũng phải đẹp, hấp dẫn và thống nhất với “đạo” Giữa thời Choseon, nhà phê bình văn học Ho Kyun (1569-1618) cùng với Yi Sugwang (1563-1628) cho rằng phải giữ gìn tính thống nhất về nội dung và hình thức Họ đề cao một loại văn chương đạt được sự hài hòa cả về “khí”, “cốt” và kỹ thuật viết Ho Kyun và
Trang 22Yi Sugwang đánh giá cao sự uyên bác, trí thông minh và sự chuyên cần của một nhà thơ Họ nhấn mạnh những khó khăn trong việc sáng tạo ra một tác phẩm văn chương nghệ thuật Văn chương không còn bị xem là một “kỹ năng nhỏ”, mà là một môn nghệ thuật đòi hỏi cố gắng suốt đời [36, tr.319] Một
nhà phê bình khác là Chang Yu (Trương Duy, 1587-1638) ví “tu từ giống
như hoa, nội dung giống như quả.” [16, tr.196] Ông cho rằng “điều quan trọng là cần phải có quả còn hơn chỉ có hoa Nhưng để có thể truyền đạt đầy
đủ đạo chứa đựng trong nội dung thì cần phải tu từ.” [16, tr.196]
Các nhà thơ chú ý đến hình thức biểu hiện không chỉ do theo quan niệm “văn chất bân bân” của Trung Hoa, mà còn do chính truyền thống mỹ học của Korea Người Korea được cả thế giới thừa nhận là có năng khiếu thẩm mỹ cao Họ cũng tự nhận mình là một dân tộc thích cái đẹp Sống giữa một thiên nhiên đa dạng, phong phú, thay đổi theo từng mùa, người Korea có một tâm hồn tinh tế, mẫn cảm Vẻ đẹp trong thiên nhiên Korea là vẻ đẹp tươi tắn, duyên dáng và hài hòa, cho nên nghệ thuật Korea luôn tràn đầy màu sắc
và những đường nét tỉ mỉ, mềm mại
Người Korea có một khái niệm chỉ cái đẹp là “meot” “Meot” là một từ thuần Hàn Chúng tôi tạm dùng từ “mỹ” để thay thế “meot”, mặc dù “mỹ” không diễn tả đúng hoàn toàn ý nghĩa của từ “meot” Các tiêu chí của “meot”
đã được tích lũy dần trong kinh nghiệm thẩm mỹ của người Hàn qua hàng ngàn năm, cho nên chỉ người Hàn mới có thể hiểu rõ ý nghĩa của từ này
“Meot” có gốc từ từ “mat” (hương vị), nên có thể so sánh “meot” với “rasa” trong văn học Ấn Độ Có thể tạm diễn tả rằng “meot” là hương vị người ta
có được khi tiếp xúc với những đối tượng tao nhã, duyên dáng, hài hòa, hấp
Trang 23dẫn, gợi cảm, và còn phải cao quý nữa Sự cảm nhận “meot” liên quan đến thế giới tâm hồn một cách sâu sắc Meot đến từ cái hồn của sự vật hơn là từ
dáng vẻ bên ngoài Với thiên nhiên, chẳng hạn một bông hoa, khi cảm nhận
vẻ đẹp của hoa, người Korea không nhìn nhận nó như một đối tượng riêng lẻ,
mà tìm kiếm và cảm nhận trong nó sự kỳ diệu, nhiệm màu của tạo hóa [48]
Với con người, một người được gọi là “có meot” khi đẹp cả hình thức lẫn tâm hồn Bởi thế “meot” gắn liền với “đạo” không thể tách rời- “đạo” của tự
nhiên và “đạo” của người quân tử
Là thể thơ của một dân tộc có truyền thống mỹ học như thế, lại là lời bài hát để trình diễn bởi những nghệ nhân chuyên nghiệp cho đối tượng là tầng lớp Yangban có nhãn quan tinh tế, nên sijo (ngoại trừ saseol sijo) phải đáp ứng các tiêu chí của “meot” Đây là thể thơ sử dụng ngôn ngữ tao nhã, thế giới hình tượng cao đẹp, duyên dáng cùng nhiều phép tu từ đặc sắc,
nhưng quan trọng nhất là tất cả những yếu tố đó phải làm toát lên vẻ đẹp bên trong- cái hồn của bài thơ- là “đạo” Sijo thể hiện meot qua sự tìm kiếm vẻ đẹp trong thiên nhiên, sự tu dưỡng, trau chuốt vẻ đẹp tâm hồn cùng ngôn ngữ tinh tế với nhiều phép tu từ và hệ thống biểu tượng (núi, sông hồ, cây thông, diệc bạch, quạ đen…)
Các nhà thơ thời Choseon xem một bài thơ đẹp là một bài thơ súc tích -
sử dụng thật ít từ để diễn đạt ý nghĩa Ho Kyun cho rằng “Ý nghĩa nên được
tiếp tục, thậm chí khi từ đã hết.” [36, tr.319] Muốn như vậy, thì phải dùng
biểu tượng Phần lớn các biểu tượng trong sijo đều là hình ảnh thiên nhiên, một phần là vì sijo theo phương pháp ước lệ, tượng trưng của thơ ca Trung Hoa, phần nữa là do thiên nhiên không chỉ là chủ đề bao trùm, mà còn là
Trang 24thước đo thẩm mỹ trong sijo Các nhà tư tưởng thời Choseon cho rằng nhà
thơ là người sáng tạo và kết nối những điều huyền bí của tự nhiên [36,
tr.321] Theo đó, một bài thơ hay, có ý nghĩa phải thể hiện được những điều bí
ẩn từ sông núi Học giả Kim Ch’anghyop (1651-1708) cho rằng “Thi ca và
thiên nhiên hòa quyện vào nhau về bản chất và tinh hoa.” “Gần gũi với thiên nhiên sẽ giúp nhà thơ ghi lại được hồn của thiên nhiên và truyền vào trong thơ ca.” [36, tr.321] Một số nhà thơ thời kỳ này nhấn mạnh vào yếu tố
hình tượng trong thơ như một yếu tố thúc đẩy sự chân thật của bài thơ, một
bài thơ phải vừa nói bằng hình tượng, vừa cụ thể, vừa tự nhiên [36, tr.321]
Như vậy, một bài thơ đẹp phải là bài thơ giàu hình tượng, và các hình tượng này đều phải gắn với thiên nhiên để thể hiện những điều huyền bí của tạo hóa Nhưng như thế vẫn chưa đủ, thiên nhiên ở đây còn phải là thiên nhiên của chính đất nước mình, bởi càng về cuối thời Choseon, các nhà thơ càng ý thức về tính dân tộc trong thơ Học giả thời Choseon Chong Yagyong đã nói:
“Tôi là một người Hàn Quốc Tôi sẽ vui vẻ viết một bài thơ thể hiện thực tế của nước Hàn” [36, tr.326]
Theo tiêu chí thẩm mỹ như vậy, sijo là thể thơ nói bằng hình tượng thiên nhiên Những hình tượng xuất hiện thường xuyên nhất trong sijo là núi,
đá, sông hồ, cây thông, chim diệc bạch
Núi chiếm tới hai phần ba diện tích Korea, nên trong các yếu tố thiên nhiên thì núi xuất hiện trong sijo nhiều nhất Núi thường gợi hứng cho thi nhân sáng tác Có rất nhiều bài sijo mở đầu bằng cảnh núi:
Mây nghỉ ngơi chốc lát
Trang 25Ở trên đỉnh non cao
(Chương mở đầu bài sijo của Yi Hang Bok)
Hỡi cúc cu đang hót
Giọng buồn trên Không sơn
(Chương mở đầu bài sijo của Jung Choong Shin)
Một mình ta nâng rượu
Đắm đuối nhìn núi xa
(Chương mở đầu bài sijo của Yoon Seon Do)
Núi ở Korea là núi đá cứng Trên địa hình như thế, rất ít loài cây sống được, hầu như chỉ có thông, Rừng trên núi của Korea không phải là rừng rậm kiểu như trong thơ ca Ấn Độ, ngược lại là phong cảnh thoáng đãng, càng làm tôn thêm dáng đứng kiêu hãnh của thông Bởi thế, núi trong thơ ca Korea tuy có gắn với yếu tố tâm linh, nhưng không đậm nét như trong thơ
ca Ấn Độ bởi nó không có cái vẻ kỳ bí để gợi nhiều suy tư Núi Korea
thường là chốn tu thân, học đạo Hai tác phẩm yeon-sijo nói về đạo học đạt đến mức mẫu mực là “Cao sơn cửu khúc ca”, “Đào sơn thập nhị khúc” của của Yi I và Yi Hwang đều lấy bối cảnh là núi non (như đã đề cập khi nói về
Trang 26“đạo” trong sijo) Với cây thông, núi là nơi gởi gắm ước vọng sống hiên ngang bất khuất của người quân tử:
Ta chết đi sau này
Hóa thân thành gì đây ?
Thành cây thông vĩ đại
Trên đỉnh núi Bồng Lai
Khi thế gian tuyết đầy
Một mình ta đứng đấy !
(Seong Sang Mun)
Cảnh núi trong sijo chính là phong cảnh núi non đặc trưng của Korea chứ không giống núi trong những nền văn hóa khác Núi của Korea có địa hình nhấp nhô với những mỏm, những vực, những vách đá dựng đứng Vì thế, đá cũng là một biểu tượng thường xuyên xuất hiện trong sijo Trong bài yeon-sijo “Đá dựng” của Pak Illo (1561-1643), trước cảnh đá vững chãi và thẳng đứng, nhà thơ thể hiện sự trầm ngâm suy tưởng của mình Tảng đá như bay vút lên thiên đường (bài thơ thứ 20) và chạm vào những thiên thể sáng chói trong vũ trụ rộng lớn; nó “giúp ta đứng dậy” (bài thơ thứ 18) và có thể làm thanh khiết “tâm hồn đang xáo trộn” của mình Nhà thơ ví vách đá như một “vĩ nhân” (bài thơ thứ 8), lại cũng như một người vô danh không được kể công đức (bài thơ thứ 9) Trong lời thoại với đá, nhà thơ hy vọng
Trang 27rằng ông cũng sẽ “già đi” cùng với đá (bài thơ thứ 15), nhưng đồng thời đá cũng đã nhắc nhở ông về tính tương đối của thời gian (“đá có thể tồn tại mãi nhưng con người thì không”- bài thơ thứ 16) Con đường cheo leo lên đến đỉnh đá được so sánh với những giai đoạn của việc tu thân theo đạo (bài thơ thứ 11) [36, tr.168-189]
Một yếu tố thiên nhiên khác nữa thường xuất hiện trong sijo là sông
hồ Đó là bởi trên lãnh thổ Korea có một hệ thống sông hồ dày đặc Sông bắt nguồn từ núi, hồ cũng nằm ngay trên đỉnh núi, thế nên có một sự hài hòa tuyệt vời giữa yếu tố núi và sông hồ “Cao sơn cửu khúc ca” lấy bối cảnh trên núi, mà cũng vẫn tràn đầy yếu tố nước: “Chim núi liệng quanh trên sóng xanh ca hát”, “Bóng núi in mặt nước, chìm trong ánh nắng tà / Suối càng sâu càng mát, hứng thú khó cưỡng a!” Sống trong không gian đầy sông hồ ấy, câu cá trở thành một nghề nuôi sống người Korea, đồng thời cũng là một thú vui di dưỡng tinh thần Cảnh sông hồ, thuyền câu vang giọng ca của người ngư phủ xuất hiện trong “Giang hồ tứ thời ca” của Maeng Sa Seong, “Ngư phủ ca” của Yi Hyeon Bo, và tuyệt vời hơn cả là trong “Ngư phủ tứ thời ca” của Yun Seon Do:
Đâu đây trong rừng thẳm
Vang tiếng chim cúc cu Chèo đi, chèo nhanh nữa!
Những làng ngư ẩn hiện
Trong sương mù giăng giăng
Trang 28Tiếng hò ta vang vọng
Hò hò ơ, hò ơ
Dưới hồ sâu trong vắt
Đàn cá lội tung tăng
(Yun Seon Do - Ngư phủ tứ thời ca- bài số 4)
Thiên nhiên trong sijo phong phú như vậy một phần là do triết lý Tống Nho du nhập từ Trung Hoa, đề cao cái lý của tự nhiên, nhưng mặt khác chính là sự thể hiện tư duy mỹ học của người Korea- dân tộc có tâm hồn lãng lãng mạn, nhạy cảm, hòa mình với thiên nhiên và yêu cái đẹp Các hình
tượng thiên nhiên thể hiện sự hài hòa giữa “đạo” và “mỹ” đến độ mẫu mực trong sijo
Không chỉ đẹp ở thế giới hình tượng, sijo còn đẹp ngay ở bề mặt ngôn
từ Các nhà phê bình đầu triều đại Choseon khuyên các thi gia nên đánh bóng, chau chuốt tác phẩm của mình truớc khi cho ra mắt công chúng Học giả So Kojong kể về cách mà các nhà thơ xưa đưa tác phẩm của mình cho sư phụ và bạn bè đánh giá, rồi không ngừng “thôi xao” để hoàn thiện tác phẩm
của mình Theo quan điểm của So Kojong, “sự kỳ diệu của thơ ca chỉ nằm ở
một từ.” [36, tr.316-335] Các nhà thơ thời Choseon thích thú và luôn ghi nhớ
câu chuyện nhà thơ Yi Saek đã thay thế từ ngữ trong bài thơ của mình theo góp ý của con trai để bài thơ đẹp hơn [36, tr.316-335] Theo quan niệm như vậy nên từ dùng trong sijo thường được chọn lọc và trau chuốt kỹ lưỡng Trong sijo thường có những Hán tự giàu chất thơ xen vào trong câu thơ tiếng
Trang 29Hàn như “lê hoa”, “nguyệt bạch”, “xuân sơn”, “thu phong” tạo nên sự sang trọng, cổ điển Các phép tu từ cũng được sử dụng với tần suất cao Các biện pháp tu từ phổ biến trong sijo là điệp ngữ, điệp cấu trúc (trong yeon-sijo), liệt
kê, tăng tiến, đột giáng (trong saseol-sijo), điệp từ, chơi chữ, sử dụng từ láy
và điệp âm (trong cả pyeong sijo, yeon-sijo và saseol-sijo) Hwang Chin-I, Cheong Ch’ol và Yun Seon Do là những “nghệ nhân luyện vàng” trong ngôn ngữ Korea Những bài sijo của họ được đánh giá là đạt đến đỉnh cao trong nghệ thuật dùng từ
Tóm lại, với việc sử dụng ngôn ngữ tinh tế, các phép tu từ và hệ thống biểu tượng gắn với thiên nhiên, sijo đã thể hiện tính thẩm mỹ cao Là thể thơ của “đạo”nhưng sijo không hề khô khan, đó là nhờ yếu tố “mỹ” luôn được đề cao trong sáng tác và thưởng thức sijo
3.2 “Tình” và “Hận”
Người Hàn khi nói về tính cách dân tộc mình thường nhấn mạnh
“Tình” (Jeong정, 情) và “Hận” (Han한, 恨) Điều đó không có nghĩa là chỉ người Korea mới cảm nhận được “tình” và “hận”, thực chất bất cứ một con người nào trên thế gian cũng đều nhiều lần trải qua những cảm giác này trong đời Có điều là chúng ta không thường “gọi tên” những cảm giác đó ra, và những cảm giác này- đặc biệt là “hận”- cũng chỉ là tình cảm cá nhân, không phổ biến và đậm nét đến mức có ở tất cả mọi người, mọi thời đại, vừa âm ỉ vừa dữ dội như ở người Korea
Trang 30Nói về “tình” của người Hàn, đó không đơn thuần là tình yêu Người phương Tây có thể hơi lúng túng trước ý nghĩa của “tình”, nhưng người Á Đông chúng ta rất dễ dàng thấu hiểu nó “Tình” của người Hàn hoàn toàn giống với “tình nghĩa”/ “nghĩa” của người Việt chúng ta Đó là cảm giác gắn kết một cách sâu sắc với một người, một vật, hay một nơi chốn nào đó, đến mức thấy nó như một phần của ta, ta luôn muốn có nó, kề bên nó, và khi mất
đi thì đau đớn tiếc nuối khôn nguôi Cảm giác ấy dường như ta không điều khiển được Người Hàn thường nói “tình bao trùm lên tôi”/ “tình đã thấm vào tôi” như thể tình là cái ở ngoài chiếm hữu lấy ta, chứ không phải là thứ tự ta sinh ra, tự ta sở hữu Thế nên, đôi khi sợi dây gắn kết đó luôn nối ta với
những người, những vật, nhưng địa điểm tưởng chừng không còn chút hấp
dẫn nào đối với ta Trong bài viết “Jeong and Han, a look at the Korean
psyche”, tác giả Yujinishuge đã cho chúng ta những ví dụ như thế này để
hình dung về “tình”: một cặp vợ chồng sống lâu bên nhau, bây giờ không
còn yêu nhau nữa, thậm chí luôn cãi vã, thấy ghét nhau, nhưng họ lại không thể xa rời nhau được, thứ gắn kết họ chính là “tình”; hoặc một căn nhà cũ
kỹ, ta sống ở đó đã lâu, nó tồi tàn và bất tiện, bây giờ ta chuyển sang một căn nhà khác tiện nghi khang trang hơn, thế mà trong lòng vẫn luôn nhớ tiếc, đó chính là “tình” [53]
Người Hàn là một dân tộc trọng tình, bởi họ vốn là những cư dân nông nghiệp lúa nước Loại hình kinh tế này đòi hỏi sự lao động tập thể, gắn kết cộng đồng cao Môi trường sống của người Hàn lại rất khắc nghiệt, nên phải tương trợ lẫn nhau Thêm nữa, người Hàn chịu ảnh hưởng của Nho giáo
Trang 31Trung Hoa quy định về ngũ luân Tất cả những yếu tố đó khiến chữ tình trở nên sâu đậm trong tính cách dân tộc Hàn
Nói về tính trọng tình của người Hàn như vậy, chúng ta sẽ cảm thấy mâu thuẫn trước nhận định rằng “hận” cũng là một nét tính cách đậm nét của dân tộc Hàn, nhưng thực ra chúng hoàn toàn không mâu thuẫn, mà lại thống nhất với nhau “Hận” chính là từ “tình” mà sinh ra Người ta không thể cảm thấy “hận” một đối tượng nếu không hề có “tình” với đối tượng ấy Tác giả
Yujinishuge đã cho ví dụ như thế này: Nếu một tên trộm đột nhập vào nhà
lấy hết của cải của bạn, bạn sẽ thấy tức giận, căm ghét tên trộm ấy, nhưng cảm giác ấy không gọi là “hận”, bởi bạn không hề quen biết, chưa từng có tình cảm gì với tên trộm ấy Nhưng khi một người thân lừa dối bạn, khiến bạn đau đớn, thì cảm giác ấy chính là “hận” [53] Bởi gắn liền với “tình”, nên
“hận” trong văn hóa Hàn không mang ý nghĩa tiêu cực như chúng ta thường nghĩ Đối với người Hàn, “hận” không có nghĩa là chấm hết, mà luôn đi cùng với hy vọng: luôn mong đối tượng thay đổi, và luôn nỗ lực để giải hận Do
đó, với người Hàn không chỉ có con đường đi từ “tình” đến “hận”, mà còn có
từ “hận” đến “tình” Hai trạng thái này như hai cực âm dương đắp đổi lẫn nhau Thêm nữa, từ “hận” thường chỉ dùng cho người dưới đối với người trên, bởi vì nếu là người bề trên, thì những khúc mắc hoàn toàn có thể giải quyết, những mối giận dữ dễ dàng được giải tỏa, thì sẽ không còn phải ôm
“hận” trong lòng nữa Nhưng người dưới, địa vị thấp hơn, quyền lực không
có thì làm sao có thể giải “hận” được
Và đây chính là mấu chốt vấn đề Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra vì sao người Hàn có tính ôm hận, nuốt hận đặc trưng, còn những dân tộc khác
Trang 32thì không như vậy Đó là bởi người Hàn chịu ảnh hưởng của Tống Nho quá đậm nét, đậm nét hơn Nhật Bản và Việt Nam Người Hàn có hệ thống tôn ti
rõ ràng, cho nên việc người dưới thường phải im lặng nhẫn nhịn là chuyện bình thường Nếu người Việt chúng ta do môi trường sống khá thuận hòa nên nghiêng về âm tính, có tính khoan dung, thì ngược lại môi trường sống của người Hàn vốn khắc nghiệt, thêm nữa họ vốn có nguồn gốc siberia mạnh mẽ, dương tính, nên cứng nhắc và không dễ thứ tha Tất cả những yếu tố đó cộng với tính trọng tình đã sinh ra lòng “hận” như là tính cách đặc trưng của cả dân tộc
Văn học thể hiện tâm hồn dân tộc, thế nên từ khởi thủy văn học Hàn đã đậm tình và hận Nhà nghiên cứu Seo De Seok đã chỉ ra cảm thức “hận” có từ
trong văn học dân gian Korea: “Truyền thuyết của Hàn Quốc là văn học của
cái hận được tạo nên bởi cái hận của dân tộc Hàn bị dồn nén trong lịch sử của Hàn Quốc” [5, 68] Nhưng nếu nhìn trong suốt lịch sử văn học, thì các
tác phẩm cuối thời Koryeo- đầu thời Choseon là thể hiện rõ tình- hận hơn hết, bởi vì đây là thời kỳ Tống Nho ảnh hưởng mạnh mẽ nhất, lại có nhiều biến động chính trị tạo nên nỗi đau cho những người ưu quốc Sijo nở rộ trong thời kỳ đó, nên sijo chính là thể thơ của tình và hận
Về phương diện bày tỏ tình-hận, sijo có ưu điểm hơn thơ Đường luật, bởi thi luật của sijo tự do hơn thơ Đường rất nhiều nên nhà thơ không phải gò
ép mình, cảm xúc có thể tự do tuôn trào, và sijo được sáng tác để hát lên nên
dễ dàng thể hiện những cung bậc tình cảm hơn Sijo cũng có thế mạnh bày tỏ tình- hận hơn thể thơ phổ biến thời Koryeo là “cảnh ky thể ca”, bởi “cảnh ky thể ca” là những bài ca thể hiện niềm “tự hào cuồn cuộn” về cuộc sống của sĩ
Trang 33phu, không cho phép nói lên nỗi hờn oán Có thể nói, trong bối cảnh thơ Đường và “cảnh ky thể ca” đang được ưa chuộng, sijo ra đời ban đầu nhằm mục đích để giới sĩ phu có nơi chốn gửi gắm tình- hận của mình
Trong sijo từ khởi thủy đến hiện đại, có rất nhiều bài thơ là lời thì thầm gửi gắm tình cảm đến “người” (nim):
Thân này dù có chết
Chết, chết đến trăm lần
Dù xương dần hóa bụi
Dù linh hồn biến tan Vẫn nồng nàn tha thiết
Hướng về người biết chăng ?
(Bản dịch nghĩa:
Thân thể này dù có chết và chết đến trăm lần
Dù xương trắng hóa thành cát bụi, dù linh hồn còn hay không Vẫn chân thành hướng về người, người ở phương nao.)
(Jeong Mong Ju)
Trang 34Quạ đen dầm mưa tuyết
Màu lông hóa trắng ngần
Đêm mấy lần nguyệt rạng
Rồi sẽ thành đêm đen
Lòng này gửi người thương
Tấm chân tình có đổi?
(Bản dịch nghĩa:
Con quạ dầm mưa tuyết, sắc đen hóa trắng
Đêm trăng sáng ngần cũng sẽ trở thành đêm tối
Là tấm chân tình hướng về phía người thương, liệu có đổi thay.)
(Bak Paeng Nyon)
Muốn gạt nỗi lòng
Thành trăng rong chơi
Hài hòa vời vợi
Giữa trời bao la
Trang 35Mộng thương nhớ người yêu
Trang 36Ghé qua phòng người thương trong một đêm thu dài Đánh thức người đã quên ta ra khỏi giấc ngủ sâu.)
(Park Hyo Gwan)
Từ “người” trong tất cả các bài thơ trên trong nguyên tác đều là “nim” đại từ chỉ người ở ngôi thứ ba Nếu hiểu “nim” là người yêu, thì tất cả những bài thơ trên đây đều là những bản tình ca nồng nàn: Jeong Mong Ju khẳng định dù có chết đến trăm ngàn lần vẫn mãi mãi thủy chung; Bak Paeng Nyon nói với người tình rằng dù vạn vật trên thế gian đổi dời, đen thành trắng, ngày thành đêm chăng nữa thì tình anh cho em vẫn luôn nồng nàn không hề đổi khác; Jeong Cheol thể hiện ước mơ được hóa thân thành mặt trăng để đến soi sáng phòng của người thương; và Park Hyo Gwan có ước muốn thật đáng yêu: biến thành một chú dế chui vào phòng người yêu trong đêm đông dài, để nếu người quá vô tâm, ngủ say chẳng hề nhung nhớ, thì chú dế sẽ ca hát để đánh thức người, khiến người luôn nhớ ta
Nhưng tất cả những bài thơ trên đây đều có một tầng nghĩa khác
“Nim” là đại từ chỉ ngôi thứ ba, không xác định rõ ngôi thứ, nên không chỉ là người yêu mà còn có thể hiểu theo nghĩa trang trọng hơn, nhất là khi dựa vào
tư cách là những trung thần vĩ đại của những nhà thơ trên đây, thì hoàn toàn
có thể hiểu “nim” là “Quân vương”
Jeong Mong Ju (鄭夢周, 1337– 1392) là một vị quan đại thần quyết không thay lòng đổi dạ thờ hai chủ Khi vương triều Koryeo sụp đổ, ông cự tuyệt không làm quan cho vương triều Lý và đã bị sát hại Jeong Mong Ju đã
Trang 37thấy cái chết của mình từ trước khi tai họa ập đến, nhưng ông không trốn tránh Hai chương đầu của bài thơ nhắc đi nhắc lại về cái chết tiên cảm ấy bằng điệp từ “chết” được lặp lại hai lần liên tiếp và những từ cùng trường nghĩa với “chết”: “xương trắng”, “linh hồn” Trợ từ “cho dù”/ “cũng” đi cùng những cụm từ chỉ sự tiêu vong: “xương trắng hóa thành cát bụi”, “linh hồn còn hay không” đã nhấn mạnh dù bất cứ hoàn cảnh nào, dù trải qua bao nhiêu lần chết, tan biến thì tấm lòng hướng về nhà vua cùng vương triều Koryeo vẫn luôn luôn tồn tại
Bak Paeng Nyon (朴彭年, 1417 – 1456) là một trong “ Tử lục thần” (sáu vị đại thần bị tử hình vì nổi loạn thời Sejo) Căn nguyên việc nổi loạn của Bak Paeng Nyon chính là vì lòng trung với vua Dan-jong: Khi Dan-jong
bị chú mình cướp ngôi, ông cùng những vị đại thần lỗi lạc khác đã chống đối nhằm khôi phục vương vị cho Dan-jong “Quạ đen hóa trắng”, “đêm trăng sáng thành đêm đen” chính là những hình ảnh ẩn dụ chỉ thời cuộc biến đổi, trong triều nhiều kẻ đổi trắng thay đen, chân lý không còn, chỉ có toàn dối trá Nhưng cho dù cả thế gian dối trá thì tấm lòng tác giả vẫn nhất định kiên
trung, dù biến thiên dâu bể thế nào vẫn kiên quyết hướng về vua Dan-jong- người duy nhất chính đáng ở trên ngai vàng Tác giả khẳng định tấm chân tình của mình sẽ mãi mãi không đổi dời, và ông đã dùng cái chết để chứng minh điều ấy
Trường hợp của Jeong Cheol và Park Hyo Gwan cũng vậy, họ đều là những trung thần thời Choseon, và “người thương” của họ không ai khác chính là nhà vua
Trang 38Truyền thống dâng hiến lòng trung và những khúc ca thiết tha của mình cho “nim” vẫn được tiếp nối cho đến tận thế kỷ XX, lên đến đỉnh cao tư
tưởng và nghệ thuật ở nhà thơ Choi Nam Seon, bút danh là Yuk-dang Thơ Choi Nam Seon là những khúc tụng ca gửi đến “người” với tất cả niềm sùng kính:
Dù cơn mưa lạnh lẽo
Có tình yêu của Người
Thấm vào trong từ trước
Ai người thất bại đâu!
ÔM CHẶT (1)
Trang 39
Vì người, trăng cũng tỏa sáng
Vì người, hoa cũng nở tươi
Thật sự, nếu không phải vì người
Cớ sao mật ong lại ngọt, ngải lại đắng?
Sự cô đơn và bóng tối
Nếu có thể cũng nhanh chóng đi qua
Trang 40Myung Hee đã làm rõ ý nghĩa của từ “Người”: “Ngài/ Người của Yuk Dang
thật ra là ai? Tôi chỉ phỏng đoán mà thôi Tên của ngài có lẽ là Choseon”
[42, tr.25] Yi Kwang Soo cũng nói về thơ của Yuk Dang như sau “Dáng vẻ
như là thơ tình ái, nhưng nếu ngẫm kỹ thì lại thể hiện lòng yêu nước, nếu xem xét tường tận thì cũng giống với thơ của nhà thơ Kabir ở Ấn Độ” [42, tr.25]
Từ “người” là nhà vua trong sijo trung đại đến “người” là đất nước trong thơ Choi Nam Seon đã có một bước tiến dài về tư tưởng, nhưng về căn bản vẫn
có cùng bản chất là “tình” đối với đất nước Sijo là thể thơ trữ tình cá nhân, nhưng nó không dừng lại ở tình cảm riêng tư nhỏ hẹp, mà mang vẻ đẹp cao quý của tình yêu đất nước
Vì tình quá sâu đậm, nên trong sijo cũng tràn đầy nỗi “hận” mất nước, nỗi “hận” vương triều sụp đổ, và nỗi “hận” khi quân vương đi sai đường
Sijo dòng “Huekoka” đầu thời Choseon là tiếng lòng của những cựu thần xót xa trước thời cuộc Mang “tình” sâu đậm với vương triều Koryeo, khi triều Choseon thành lập, họ không thể thay đổi được thời cuộc nên không thể giải mối “hận” mất nước, chỉ có thể gửi nỗi “hận” ấy vào thi ca