Nội dung chính 1. Tổng quan về kịch nói Việt Nam 2. Kịch nói Hải Phòng 2.1. Giới thiệu chung 2.2. Quá trình hình thành và phát triển 2.3. Các tác phẩm tiêu biểu 2.4. Những nghệ sĩ nổi bật 2.5. Hoạt động hiện nay 2.6. So sánh với kịch nói tại Hà Nội 3. Kết luận
Trang 1BÀI TẬP MÔNCÁC LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT VIỆT NAM
TÌM HIỂU VỀ KỊCH NÓI HẢI PHÒNG
2.5.Hoạt động hiện nay
2.6.So sánh với kịch nói tại Hà Nội
3 Kết luận
1 Tổng quan về kịch nói Việt Nam
Trang 2Kịch nói là một trong bộ môn nghệ thuật văn học Dù kịch nói ra đời ởphương Tây rất lâu, đặc biệt là ở Pháp, nơi sản sinh ra nhiều tác phẩm kịch vĩ đại
và những tác gia lừng lẫy, nhưng lại xuất hiện muộn ở Việt Nam Kịch nói vào ViệtNam những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XX như là kết quả của quá trình tiếp nhậnảnh hưởng trực tiếp từ nền sân khấu Pháp
Mang trong mình những ưu thế đầy quyến rũ ấy, kịch nói Pháp đến với xãhội Việt Nam đúng vào lúc luồng gió Âu hóa đang làm rung chuyển nền văn hóa
cổ truyền Cung cách sinh hoạt mới, những quan hệ mới giữa người và người nảysinh, đan xen hoặc lấn át, thay thế dần nếp sống cũ cùng với đà tăng tiến của kinh
tế hàng hóa diễn ra ở các đô thị, tất yếu hình thành thị hiếu mới, nhu cầu sáng tạo
và thưởng thức khác xưa, dẫn đến sự ra đời những loại hình văn học, nghệ thuậttheo mô hình văn hóa phương Tây như thơ mới, tiểu thuyết, kịch nói, đi cùng vớinhững phương thức truyền bá văn hóa chưa từng có như mạng lưới trường họcPháp-Việt, việc phổ cập chữ Quốc ngữ, sự lan tràn của báo chí, ấn loát, xuất bảnphẩm, rạp hát cố định ở đô thị
Buổi diễn kịch đầu tiên đánh dấu sự xuất hiện của một thể loại dân khấu mới
ở Việt Nam, đã được ra mắt công chúng ngày 25 tháng 4 năm 1920 tại Nhà hátthành phố Hà Nội Đó là vở kịch “Người bệnh tưởng” của Molie do một nhóm sânkhấu nghiệp dư dàn dựng
Vào tháng 9 năm 1921, trong tạp chí “Hữu thanh” đã công bố vở kịch “Chénthuốc độc” của Vũ Đình Long, còn ngày 22 tháng 11 năm 1921, vở kịch này đượccông diễn lần đầu tiên trên sân khấu Nhà hát thành phố Hà Nội Sự kiện này đánhdấu sự ra đời của kịch nói – một nghệ thuật sân khấu mới ở Việt Nam
Trong lịch sử kịch nói trước năm 1945 có thể phân định hai thời kỳ: (1) 1921– 1930 và (2) 1930 – 1945 Sự khác biệt cơ bản giữa hai thời kỳ này là tính chấthoạt động của những nhóm sân khấu, nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuậtcủa những tác phẩm văn học kịch
Trang 3(1)Trong giai đoạn thứ nhất (1921 – 1930), kịch nói và văn học kịch đã hình
thành dưới ảnh hưởng trực tiếp của sân khấu Pháp và chưa tách hẳn ra khỏi sânkhấu âm nhạc dân tộc Nhiều nhà soạn kịch thường hay sáng tác đồng thời chokịch nói cũng như sân khấu âm nhạc Đó là Vũ Đình Long, Nguyễn Hữu Kim vànhững tác giả khác
Phạm vi hoạt động của các nhóm kịch nói vào thời kỳ này rất hạn chế.Phong trào kịch nói chủ yếu tập trung ở hai thành phố chính của miền Bắc ViệtNam là Hà Nội và Hải Phòng, sau đó có thể kể tới những tỉnh lỵ như Thanh Hoá,Nam Định… Còn ở miền Nam, trên thực tế kịch nói không phát triển nhiều
Vào thời kỳ đó, công chúng thích xem nhiều nhất những vở kịch của các tácgiả như: Vũ Đình Long (“Tây sương tấn kịch”, “Toà án lương tâm”), Nguyễn HữuKim (“Bạn và vợ”, “Một người thừa”, “Toà án âm phủ”), Vi Huyền Đắc (“Uyênương”, “Hoàng Mộng Điệp”, “Hai tối hôn nhân”), Nam Xương (“Chàng ngốc,
“Ông Tây An Nam”), Tương Huyền (“Nặng nghĩa tớ thầy”)…
Vào cuối những năm 1920, phong trào kịch nói phát triển ồ ạt, nhiều nhóm
và ban kịch (kể cả không chuyên nghiệp) đã được thành lập
(2)Giai đoạn thứ hai trong lịch sử phát triển kịch nói (1930 – 1945) diễn ra
trong điều kiện hình thành bối cảnh văn hoá, gắn với cải cách kịch nói và sự trưởngthành của văn học kịch dân tộc ở Việt Nam
Nhằm đáp ứng những đòi hỏi của thời kỳ mới để tiếp tục tồn tại, sân khấuViệt Nam buộc phải thay đổi cả hình thức lẫn nội dung Bước đầu theo hướng đó lànhững tác phẩm văn học mới của các nhà văn Việt Nam, trước hết là nhà văn lãngmạn Những tiểu thuyết như “Đoạn tuyệt” của Nhất Linh và “Nửa chừng xuân” củaKhái Hưng được phóng tác thành kịch để diễn trên sân khấu Công chúng ViệtNam hồ hởi đón nhận vở kịch đó
Trang 4Đồng thời nên nhấn mạnh ảnh hưởng lớn của nhà hát pháp đối với nhà soạnkịch Việt Nam vào thời kỳ ấy.Trước hết phải đề cập đến những ý tưởng của Jean-Jacques Bernard và Sacha Guitry về kết cấu vở kịch và cách thể hiện cốt truyện.Những ví dụ tiêu biểu của sự tiếp thu và nhận thức những ý tưởng nói trên lànhững vở kịch của hai nhà soạn kịch Vi Huyền Đắc (“Nghệ sĩ hồn”) và Đoàn Phú
Tứ (“Mơ hoa”, “Cuối mùa”)
Trong giai đoạn từ 1945-1975, các tác phẩm kịch nước ta chủ yếu đều mang
cảm hứng rưngrưng trước cái đẹp, cái cao cả cái hào hùng.Bên cạnh các nhà soạnkịch nổi tiếng trước cách mạng như Nguyễn Huy Tưởng, Thế Lữ, Đoàn Phú Tứ nay còn bổ sung thêm nhiều nhà soạn kịch chuyên nghiệp có tên tuổi như ĐàoHồng Cẩm, Xuân Trình, Trần Hữu Trang Một số vở kịch gây sự chú ý như BắcSơn, Những người ở lại của Nguyễn Huy Tưởng,…
Giai đoạn từ 1975-1986, kịch nói nước ta có sự đột phá và phát triển mạnh
mẽ chưa từng thấy.Các tác phẩm kịch phản ánh rất rõ hiện trạng của đời sống sảnxuất lao động của nước ta thời kì bao cấp Nổi lên trong giai đoạn này chính là nhàviết kịch Lưu Quang Vũ với những tác phẩm được dàn dựng rất thành công củaông như Sống mãi tuổi 17, Nàng Sita, Hẹn ngày trở lại, Nếu anh không đốt lửa,Hồn Trương Ba da hàng thịt, Lời thề thứ 9, Khoảnh khắc và vô tận, Bệnh sĩ, Tôi vàchúng ta,…
Từ 1986 đến nay, kịch nói nước ta bước vào giai đoạn mới.Số lượng tácphẩm sân khấu từ năm 1975 trở lại đây thật lớn.Nhiều vở diễn đã được dàn dựng ramắt công chúng vào những thời điểm lịch sử quan trọng.Từ sau ngày Thống nhấtđất nước, sân khấu đã “vào trận” với khí thế sôi nổi.Nhạy bén với thời cuộc, HồngPhi viết hai vở liền Những người bốc đá (Nhà hát kịch) và Kỷ niệm những ngày
Trang 5nghiệt ngã (Đoàn kịch nói Hà Nội) Cả hai vở đều đi vào đề tài công nghiệp , đặt ranhiều vấn đề về bản chất người lao động mới Kich bản viết chắc tay, diễn xuất tốt,song chưa thoát ra khỏi những ‘mô-típ” đã cũ, tính cách nhân vật kịch chưa có gìđặc sắc Hai vở đi thẳng vào những vấn đề mới của cuộc sống như vận động tổchức lại sản xuất và cơ giới hóa nông nghiệp là Sao Thần nông (của Vũ ĐìnhPhòng, Đoàn kịch nói Quảng Ninh ) và Đất chuyển (của Đăng Thành, Đoàn Kịchnói Ninh Bình) được công diễn ở sân khấu Thủ đô trong dịp Đại hội Đảng, nhưngđều yếu Trăn trở với những vấn đề của cuộc sống ở nông thôn, với tình trạngnghèo nàn, lạc hậu của đất nước, Xuân Trình đã thu hút được công chúng bằng vởXóm vắng (học viên trường Điên ảnh dàn dựng) Song, thành công của vở kịchmới ở mức độ nêu vấn đề, tác giả mới “rung chuông đánh động”, chứ chưa “xắntay áo” vào giải quyết vấn đề, chưa sáng tạo được hình tượng nhân vật nổi bậttrong cuộc đấu tranh chống nghèo nàn lạc hậu.
Trong khoảng 10 năm trở lại đây, sân khấu kịch nước ta có những bướcthăng trầm.Có giai đoạn khán giả gần như không còn mặn mà với sân khấu, các tácphẩm kịch Với sự đổi mới về nội dung, dàn diễn viên tâm huyết, sân khấu kịchcũng đã khởi sắc với những vở kịch thu hút được nhiều khan giả, đặc biệt là sựphát triển của nhà hát kịch tuổi trẻ và nhà hát kịch Việt Nam
Những vở diễn như “Lu – Ba”, Khúc thứ ba bi tráng”, “Bài ca Điện Biên”,
“Hồn Trương Ba – da hàng thịt”, “Nghêu, sò, ốc, hến” … là những vở diễn tiêubiểu, được khán giả trong nước cũng như công chúng nước ngoài đón nhận nồngnhiệt Đây cũng là những vở diễn gây được tiếng vang lớn trong những kỳ liênhoan sân khấu quốc tế các nghệ sĩ tiêu biểu trong giai đoạn mới như NSND LanHương, NSƯT Anh Tú, NSƯT Tuấn Hải, NSƯT Trung Anh, NSƯT Quốc Khánh
2 Đoàn kịch Hải Phòng
Trang 62.1 Giới thiệu chung
Đoàn kịch Hải Phòng ngày nay là 1 đơn vị nghệ thuật thuộc sở văn hóa, thểthao và du lịch Hải Phòng, có địa chỉ tại 65 Đinh Tiên Hoàng, Phố Đinh TiênHoàng, Phường Hoàng Văn Thụ, Quận Hồng Bàng, Thành Phố Hải Phòng
Các buổi biểu diễn của đoàn kịch thường được tổ chức ở rạp Tháng Tám
Đoàn kịch Hải Phòng có tiền thân là đội kịch trong đoàn văn công tổng hợp HảiPhòng
Đoàn kịch nói Hải Phòng là 1 trong những đơn vị nghệ thuật có chất lượng củasân khấu kịch miền bắc Mặc dù có lúc thăng lúc trầm, nhưng những vở diễn, diễnviên của đoàn kịch cũng đã có những dấu ấn nhất định trong lòng công chúng
2.2 Các giai đoạn hình thành phát triển
2.2.1 Giai đoạn 1960-1964: giai đoạn sơ khai
Đây là giai đoạn hình thành , tuyển lựa diễn viên từ những người yêu sânkhấu ở Hải Phòng, sau đó được bổ sung từ những diễn viên tốt nghiệp trường Sânkhấu Việt Nam( nay là ĐH sân khấu điện ảnh )
Những diễn viên ở thời kì này: Ngọc Hiền, Phan Phúc, Bích Lân, Anh Biên,Học Hải…
Vở kịch đầu tiên: “Gia đình cách mạng” đạo diễn Lê Tú Ân, vở kịch đượcthực hiện sau khi các thành viên đoàn kịch tham dự lớp thực nghiệm về phươngpháp sân khấu của vụ nghệ thuật bộ văn hóa Vở được công diễn ngày 3/2/1961 đểchào mừng đại hội Đảng thành phố Hải Phòng
Một số vở kịch ngắn có kịch bản từ nước ngoài :“Chiếc ba lô”, “cảnh giác”của Liên Xô, “Bao phốt phát” của Trung Quốc…
2.2.2 Giai đoạn từ 1964-1986
Trang 7Mở đầu giai đoạn này, 1 sự kiện có tính quan trọng là tiếp nhận công tác củađạo diễn Dương Ngọc Đức( từ Leningrat trở về) với vai trò trưởng đoàn kịch Bảynăm ở đó, Dương Ngọc Đức đã tạo dựng được một đoàn kịch mạnh với những vởdiễn đặc sắc: Lưới thép, Chiều cuối, Anh còn sống mãi, Lật đất, Ma sa Cùng vớicác vở diễn đó là một tập thể tên tuổi nghệ sĩ được đông đảo công chúng yêu mến:Ngọc Hiền, Anh Đào, Vân Thìn, Lệ Thu, Ngọc Thủy, Lưu Thao, Thăng Long, TrầnVinh, Lê Chức, Hoàng Long…
Trong giai đoạn chống Mỹ ác liệt, đoàn kịch đi phục vụ ở nhiều trận địamiền bắc bằng những vở kịch ngắn như “ 6 phát trung liên”, “ Mùa Xuân”, “Trongphòng trực chiến của Tào Mạt”,…mang lại nguồn cổ vũ tinh thần cho anh emchiến sĩ, các vị lãnh đạo Đảng và nhà nước
Đầu 1969, đoàn kịch được lệnh đi tuyến lửa đã mang nhiều tác phẩm kịchdài, ngắn đi phục vụ cán bộ, nhân dân ở Bố Trạch- Quảng Bình
Năm 1970, Phản ánh cuộc tổng tiến công miền nam, đoàn kịch tham dự hộidiễn sân khấu toàn quốc với tác phẩm “Xuân Vĩ Dạ”( kịch bản Lưu Trọng Lư, VũĐình Phòng; đạo diễn Minh Quân)
Cuối 1970, đoàn kịch dàn dựng và công diễn vở “Masa” do NSND DươngNgọc Đức làm đạo diễn Sau sự thành công của vở kịch này, đoàn được ban thốngnhất TW điều động đi chiến trường.Cũng như các chiến sĩ, các diễn viên trongđoàn đều được phát quân trang quân dụng, đò hộp thước y tế cá nhân Nhưng đúnglúc đó, chiến dịch Hồ Chí Minh giành thắng lợi, nên đoàn đã được biểu diễn vớikhông khí của những ngày đầu giải phóng ở Đà Nẵng, Hội An, Sài Gòn…
Cuối tháng 8/1975 , đoàn trở lại miền bắc Những năm tháng sau hòa bình,kinh tế xã hội gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên, những năm này đoàn kịch HảiPhòng lại gặt hái được nhiều thành công vang dội với nhiều vở diễn xuất sắc, đỉnhcao như “Hình bóng”- kịch bản Hoàng Yến ,Thùy Linh, đạo diễn Huỳnh Nghi; “Biên bản một cuộc họp đảng ủy”-đạo diễn Vũ Đình Phòng, kịch bản của Liên Xô;
Trang 8“Cưới trên biển động”- kịch bản Trần Vượng, đạo diễn Đoàn Bá; “Âm mưu và tìnhyêu”- đạo diễn Đức Đọc
Năm 1980, đoàn kịch tham dự hội diễn sân khấu toàn quốc với vở “ Dòngsông ám ảnh”- kịch bản Hồng Phi, đạo diễn Đoàn Anh Thắng tạo ra dấu son tronglịch sử sân khấu Việt Nam
Năm 1985, đoàn kịch dựng vở “ Lịch sử và nhân chứng”- kịch bản HoàiDao, đạo diễn Vũ Ninh, tham dự hội diễn toàn quốc
Kết thúc giai đoạn này, năm 1986, vở “ Đi đến mùa xuân” do đòn kịch HảiPhòng dàn dựng đã được chọn báo cáo và phục vụ đại hội Đảng cộng sản ViệtNam toàn quốc lần thứ 6 tại Hà Nội
2.2.3 Giai đoạn từ 1986 đến đầu những năm 1990
Đây là giai đoạn hoạt động rất khó khăn của đoàn kịch bởi sự trì trệ của xãhội và của hoạt động sân khấu Bằng tất cả sự cố gắng và nỗ lực của tập thể anh chị
em nghệ sĩ, đoàn cũng tham gia các hội diễn ở địa phương với các vở “ Rồi saonữa”, “Phong tỏa”…
2.2.4 Từ giữa những năm 90 đến nay
Kịch nói Hải Phòng vẫn tiếp tục gặp nhiều khó khăn trong hoạt động bởi lúcnày, đất nước ta đang trên đà phát triển, có nhiều phương tiện giải trí hơn, sân khấukịch phải cạnh tranh với các loại kình nghệ thuật khác, phương tiện thông tin ffajichúng như tivi, nhà hát ảo…Cá phương tiện đó đã cho phép khán giả xem được bất
cứ ở đâu, ngay cả trong phòng ngủ
Kinh phí cho các hoạt động, thị hiếu của khán giả… ngày càng trở nên khókhăn, khó tiếp cận Duy chỉ có các phương tiện kỹ thuật thì ngày càng được nângcao chất lượng, trình độ diễn xuát của diễn viên được nâng cao, đội ngũ diễn viêngạo cội vẫn rất tâm huyết với đoàn kịch
Trang 9Đoàn kịch áp dụng những quy tắc biểu diễn: giản dị, chân thực, tiết kiệm,dung dị, hiện đại, hài hòa
Một số vở diễn mới được dựng gần đây : “Ân ái với kẻ giết người”, “Linhhồn Việt cộng”, “Người mang án tử hình”, “Hoa hậu Sida”, “Đánh mất ước mơ”,…
2.3 Một số tác phẩm kịch tiêu biểu
2.3.1 Vở kịch ngắn đầu tiên và vở dài đầu tiên của đạo diễn Dương Ngọc Đức
Vở kịch ngắn đầu tiên“ Chiều cuối”- vở diễn thành công lẫy lừng, nói về
những số phận bi thương của Mỹ Ngụy trong 1 lần bị quân giải phóng bao vây
Vở kịch dài đầu tay“ Lưới thép”- kịch bản Nguyễn Vượng gây được tiếng
vang lớn ở cả Hải Phòng, Hà Nội… và được giải thưởng của bộ công an nói vềhoạt động cảnh giác chống biệt kích phá hoại
Liên minh Dân tộc Dân chủ và Hoà bình xem cùng với 3800 người xem tạiNhà hát nhân dân Hà Nội (Cung Văn Hoa Hữu nghị hiện nay)tối 22/4/1971 Pháiđoàn Chính phủ Lào&Đ/c Xuphanuvông xem tối 3/8/1971,
Trang 10Đoàn Văn hoá Liên Xô đã yêu cầu Bộ Ngoại giao điều chỉnh chương trình
để được về xem MASA tại Nam Định tối 31/3/1972 Tháng 5/1971 Đoàn MASAđang diễn tại Quảng Ninh đã phải kết thúc sớm đợt diễn để trở về biểu diễn tại HNtheo điện yêu cầu của Chủ tịch Tôn Đức Thắng (với vị trí Chủ tịch Uỷ ban Thiếuniên Nhi đồng TW)
Sự thành công quá lớn của Đoàn Kịch HP qua vở MASA đã tạo sự thúc đẩycho hàng loạt vở diễn mới nối tiếp xuấthiện và sự ra đời của Đoàn Kịch Nam Hà
Vở Masa là vở kịch khai trương cho nhà văn hóa hữu nghị Việt Nhật Khiđoàn trở về Hải Phòng, đoàn cán bộ văn hóa nghệ thuật sân khấu Liên Xô đã mờicùng tọa đàm , khen ngợi thành công đoàn kịch đã tạo nên 1 vở kịch rất Nga nhưngcũng đậm nét Việt trong nó
Khi diễn ở Sapa, có nhiều đồng bào vùng cao, và nhiều cán bộ vẫn hào hứngxem vở kịch dù lúc đó sân khấu kịch ở ngoài trời với cái lạnh thấu xương
Có thể nói, Masa chính là vở kịch tạo nên bước ngoặt cho kịch nói HảiPhòng, tạo được vị thế cho đoàn kịch
Đây là vở nổi tiếng của Kịch Hải Phòng và cũng là một vở quá " Tai tiếng ,Oan ức " vì " QUAN CÁCH MẠNG" - Tư duy bảo thủ , lầm lỗi !?
Trang 112.3.4 Vở kịch Biên bản một cuộc họp đảng ủy
Vở kịch này kịch bản của Liên Xô, do đạo diễn Vũ Đình Phòng dàn dựng
Vở kịch xoay quanh 1 cuộc họp Đảng ủy kéo dài 2h đồng hồ Vở kịch đã nêu rađược giá trị đích thực của lao động của mỗi người thông qua cái được gọi là tiềnthưởng
”Biên bản một cuộc họp Đảng uỷ”còn được thuthanh , phát trên sóng Đàitruyền hình Việt Nam nhiều lần.Kết cấu củavở kịch và hình tượng nhân vật độitrưởng Potapop đã tác động tới người xem,lãnhđạo và người làm nghề nhiều tưtưởng,tình cảm , tư duy,thẩm mỹ ,kỹ thuật biên kịch và biểu diễn mới mẻ
2.3.5 Vở Âm mưu và tình yêu
Kịch bản của Shiler, đạo diễn Đức Đọc
Đây là vở kịch lớn không chỉ cho sân khấu cổ điển Đức mà còn là tác phẩmlớn, tiêu biểu cho lớp kịch hiện đại của nhiều sân khấu ngày nay
Cuộc thử sức của đoàn kịch đối với tác phẩm này là rất lớn, do nhiều đoànnghệ thuật khác đã có nhiều thành công và quen với việc dàn dựng, diễn các tácphẩm lớn của nước ngoài Đoàn kịch đã phải biến, phục dựng 1 sân khấu cổ điểnĐức trong tác phẩm để nó trở nên hiện đại về tư tưởng và nghệ thuật
Khi vở diễn này được công diễn ở Hải Phòng thì đoàn kịch Hà Nội cũng bắtđầu dàn dựng vở này.Nhà thơ Thế Lữ và đạo diễn Đình Nghi đã đến Hải Phòngnhiều lần để xem vở diễn, để rút kinh nghiệm khi dàn dựng ở Hà Nội Về mặt nghệ
sĩ, ở đoàn kịch Hải Phòng, nhân vật luize do nghệ sĩ Anh Đào thể hiện đã đượcLưu Trọng Lư ví như thiên thần, rất nhiều báo chí ca ngợi, nhân vật Fecbinang donghệ sĩ Ngọc Thủy đảm nhận, nhân vật phu nhân Minyo do nghệ sĩ Ngọc Hiền thểhiện cũng đã được báo chí ca ngợi hết lời
2.3.6 Vở Báo Hiếu