Nếu như ở thời Lý, chùa được xây dựng nhiều, rất lớn bầng tiền của nhà nước thì thời nhà Trần, sau ba lần chống quân Nguyên – Mông thắng lợi, nền kinh tế bị sa sút nhiều do chiến tranh t
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
PHẦN 1: THÔNG TIN DI TÍCH 3
1 Tên di tích 3
2 Quá trình xây dựng và các đợt trùng tu di tích 3
PHẦN 2: QUY HOẠCH VÀ KIẾN TRÚC 4
1 Thế đất và cảnh quan môi trường 4
2 Mặt bằng tổng thể chùa Phổ Minh 5
3 Trang trí kiến trúc nội ngoại thất 6
PHẦN 3: GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT 17
1 Nội dung lý lịch các pho tượng thờ chủ yếu 17
2 Hình thức thể hiện các pho tượng thờ kể trên 19
KẾT LUẬN 25
Phụ lục ảnh 26
Trang 2Từ tín ngưỡng, Phật giáo có ảnh hưởng sâu sắc tới nhiều lĩnh vực khác trong xã hội chính trị, văn học – nghệ thuật, kiến trúc,… để lại cho dân tộc nhiều công trình văn hóa có giá trị lớn Nếu như ở thời Lý, chùa được xây dựng nhiều, rất lớn bầng tiền của nhà nước thì thời nhà Trần, sau ba lần chống quân Nguyên – Mông thắng lợi, nền kinh tế bị sa sút nhiều do chiến tranh tàn phá, chùa vào thời kỳ này chủ yếu là chùa làng – do dân một làng đống góp tiền xây dựng lên Nhà nước không đủ khả năng kinh tế xây dựng chùa tháp trên cả nước mà chỉ đủ tiền xây dựng lại kinh đô Thăng Long và quê hương của dòng họ nhà Trần, như vậy thời nhà Trần bắt đầu phát triển hình thức chùa làng nhưng chùa Phổ Minh không phải chùa làng mà là chùa của Hoàng tộc, lấy tiền kho của nhà nước xây dựng vào thời nhà Trần
Trang 3PHẦN 1: THÔNG TIN DI TÍCH
1 Tên di tích
Chùa Phổ Minh ( Phổ Minh Tự) còn được gọi là chùa Tức Mặc hay chùa Tháp Chùa Phổ Minh là ngôi chùa thuộc quần thể di tích nhà Trần, nay thuộc địa phận thôn Tức Mặc, xã Lộc Vượng, cách thành phố Nam Định 5km
về phía Bắc Nơi đây vốn là quê hương của dòng họ nhà Trần.Tổ tiên các vua Trần vốn làm nghề chài lưới ở quãng sông Châu chảy qua địa phận Nam Định, sau đó tụ họp thành xóm ấp bên hữu ngạn sông, còn gọi là hương Tức Mặc (sau này được nâng lên thành phủ Thiên Trường)
2 Quá trình xây dựng và các đợt trùng tu di tích
Theo sử liệu, địa chí, bi kí,… thì chùa Phổ Minh khởi dựng từ thời nhà
Lý tại hương Tức Mặc Cho đến bắt đầu năm 1239, các vua Trần đã biến quê hương Tức Mặc của mình thành một công trường lớn Thợ thuyền được tuyển chọn cùng với phu lính đi làm việc ròng rã mấy chục năm liền để xây dựng những cung điện, đền miếu, dinh thự, lầu gác làm nơi ở cho hoàng thân quốc thích Đây là trung tâm thứ hai của đất nước bên cạnh kinh đô Thăng Long
Và để đáp ựng nhu cầu lễ Phật cho con em hoàng tộc trong vùng, năm 1262, chùa Phổ Minh được xây dựng Hơn nửa thể kỉ sau, vào đầu thế kỉ XIV, năm
1305 vua Trần tiếp tục cho xây cây tháp Phổ Minh, hoàn thiện kiến trúc chùa
Vì vậy ta có thể hiểu “ Nhà Lý xây dựng, họ Trần “ điểm tô” – chùa xây dựng
từ triều Lý sang thời Trần, nhờ phái Trúc Lâm mà chùa cảnh được mở khang trang lộng lẫy
Chùa Phổ Minh kể từ các đời vua Trần kính thờ đến nay hơn 700 năm, đời nào cũng có tu sửa để hoàn thiện nhưng không được ghi chép lại trong sổ sách, chỉ có ghi tại bia Lê Cảnh Trị và một số bia trong chùa Dựa trên phần công đứcở văn bia trong chùa thì có hàng trăm người thuộc đủ tầng lớp, dòng
Trang 4họ từ quý phái đến bình dân trên mọi miền đất nước, cũng như con em địa phương góp tiền tài, vật lực phục hồi tôn tạo cho chùa
Vào thế kỉ XVI, công trình xuống cấp, công chúa nhà Mạc là Mạn Ngọc Lâm cùng hội chủ Thái Bảo Đà quốc công Mạc Ngọc Liễn liên tục đóng góp 36 cây gỗ lim cực lớn để sửa chùa
Đến thế kỉ XVII, chùa cành hư hỏng, tỳ khoe Thích Hội Thông và Sa
Di Vân Thủy lại tu sửa chùa, sủa chữa, sơn thiếp tượng Phật
Đầu thế kỉ XVIII, vào năm Nhâm Thìn 1712, niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ
8 bản xã góp công sửa chữa tòa tháp trước cửa chùa
Sang thời Lê, Nguyễn công việc trùng tu tôn tạo cũng được quan tâm nhiều lần Thành phần công đức tu sửa chùa có tầng lớp quan chức, tôn thất quyền quý, … đặc biệt là vai trò của địa phương Có lần các chức sắc hàng xã đứng ra lo liệu, tu sửa tháp Phổ Minh
Năm Nhâm Tý 1912, vua nhà Nguyễn, niên hiệu Duy Tân đã phục hồi cảnh chùa như tu sủa lầu, chùa, phủ và lầm thêm hai dãy giải vũ Đông- Tây, cung đình nội ngoại cũng làm đầy đủ
Sau này, nhà nước tái khẳng định đay là di tích, di sản văn hóa tiêu biểu của dân tộc nên sớm xếp hạng và bảo vệ, đồng thời đã tiến hành tu sửa vào các năm 1961, 1987, 1994 Sửa chữa tầng trên của tháp, một số di sản như rồng đá trước cửa chùa, tôn tạo một số hạng mục để bảo toàn di tích, kiến trúc này cho hậu thế
PHẦN 2: QUY HOẠCH VÀ KIẾN TRÚC
1 Thế đất và cảnh quan môi trường
Chùa Phổ Minh là danh lam tiêu biểu đất Thiên Trường Thế đất và cảnh quan đã được ghi lại “Phổ Minh đỉnh tự”, đức năm Bính Thìn, niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 4 (1796): “Chùa phổ Minh trước đây vón là danh lam của nước Việt, xây dựng vào thời Lý, mở mang trong thời Trần cho hợp cảnh nơi
Trang 5quê vua Đất nàng bên trái có nước quanh co uốn khúc, bên phải nhấp nhô như núi cao thấp, chạy vòng, mặc bắc có sông Hoàng tụ thủy, mặt nam có dòng nước chảy mênh mang …”
Thời gian cùng với những biến thiên lịch sử đã làm cho quang cảnh nơi đây thay đổi Song sự biến dạng không nhiểu Hiện nay, chùa vẫn quay về hướng Nam mà theo quan niệm của người Việt thì hướng Nam là hướng tốt
để dựng nhà – “ Lấy vợ hiền hòa, làm nhà hướng Nam” Chùa tọa lạc trên khu đất cao ráo, rộng gần 2ha, đứng biệt lập, không bị các thổ cư lấn át, do vậy vẫn giữ được dáng vẻ thanh cao, tĩnh mịch của chống cửa chùa Điều mà ít chùa cảnh có được là 2 cây muỗm cổ thụ khoảng vài ba trăm tuổi xum xuê, xanh tốt, cùng với các cây đại, nhãn thị, cây tháp cổ không chỉ làm tăng thêm vẻ thanh u, còn đăng đối thêm vẻ đẹp cho tháp và cho chùa
Vào khu sân ngoài của chùa, hai bên đường chính đạo là 2 hồ sen nhỏ Xưa kia đây là 2 giếng nhỏ mà dân gian gọi là “ mắt rồng”, sau này được mở rộng thành hồng sen
Phái sau chùa là vườn bia, được bao bọc bởi vườn cây xanh mát và có
ao Tuy nhiên, diện tích ao ngày càng bị thu hẹp lại
2 Mặt bằng tổng thể chùa Phổ Minh
Ở chùa Phổ Minh, các nghệ nhân kiến trúc sư thời xưa không những biết sử dụng địa hình, địa vật của thiên nhiên để sáng tạo ra không gian cảnh quan tươi đẹp cho kiến trúc mà ngay trong việc bố trí mặt bằng cũng thể hiện
sự hiểu biết khoa học của cha ông ta
Đầu tiên phải kể đến là tam quan của chùa, đi qua cổng tam quan là tới một con đường mà trong thuật ngữ kiến trúc cổ gọi là “thần đạo” Con đường này chạy thẳng tới một bình phong kiểu cuốn thư ở phía trước chân tháp và tách làm đôi rồi đi thẳng tới tòa tiền đường hai bên đường ở vị trí đối xứng là hai hồ nước hình tròn có trồng hoa sen Ba tòa tiền đường, thiêu hương,
Trang 6thượng điện của chùa kết cấu theo kiểu hình chữ công với hai dãy hành lang chạy hai bên, sau tòa thượng điện cách một sân gạch là tới nhà Tổ, hai bên nhà Tổ là tăng phòng và điện Mẫu Toàn bộ ba tòa tiền đường, thiêu hương, thượng điện cùng với hai dãy hành lang hai bên và nhà Tổ, tăng phòng, điện Mẫu tạo thành một kiểu kết cấu mặt bằng kiến trúc “ Nội công ngoại quốc” Ngay phía sau nhà
Tổ có ba ngôi tháp nhỏ một tăng trong đó ngôi ở giữa có niên đại từ thời Mạc đã từng tu ở chùa Cách khu tháp mộ này khoảng 15m là khu mộ tháp của các nhà sư
đã từng trụ trì ở chùa Một điều cần chú ý tới trong mặt bằng tổng thể chùa Phổ Minh là hai ao sen phía trước sân chùa, sau tam quan Việc đào hai ao tròn này ngoài yếu tố phong thủy ra còn làm tăng thêm vẻ đẹp vốn có của chùa “kiến trúc chùa cổ Việt Nam hình như không tìm sự đồ sộ về chiều cao, rộng trong không gian mà nhân đôi mình lên khi soi bóng trong trên mặt nước … Bố cục kiến trúc rất quan tâm đến mặt nước phẳng lặng phía trước hay hai bên công trình kiến trúc” Hoa sen trồng trong hồ tạo lên dáng vẻ thiên nhiên cho kiến trúc và qua đó thể hiện ý nghĩa Phật triết
Điều cuối cùng khi đề cập đến tổng thể mặt bằng kiến trúc của chùa Phổ Minh là vị trí của ngọn tháp chính Không như những ngọn tháp được làm sau này được đặt ở sau nhà Tổ, ngọn tháp này được đặt trước sân chùa
3 Trang trí kiến trúc nội ngoại thất
Chùa Phổ Minh là ngôi chùa Đại Thừa, Bắc Tông, có quy mô lớn, là nơi tu hành tụng niệm của các quan lại, quý tộc cao cấp nhà Trần được bố trí theo kiểu nội công ngoại quốc và thể hiện rất rõ dấu ấn sự hòa đồng ba tôn giáo (Nho – Phật – Lão)
Công trình bố cục theo trục đối xứng Bắc – Nam, các hạng mục từ to tới nhỏ xây dựng cân đối khiến tổng thể trải dài, rộng, tạo khung cảnh hài hòa quy mô mà vẫn khép kín, không làm mất đi vẻ hoành tráng của chùa
Trang 7a Tam quan
Vào chùa trước hết phải qua một cổng tam quan ba gian bằng gỗ, mái ngói, tường gạch có đề bốn chữ rất lớn “Đại hùng bảo điện” ở phía trên, còn ở phía dưới có bậc tam cấp, với đôi sấu làm thành bậc ở gian giữa Hai bên tường ở phía trong thuộc phần dằng trước của tam quan có đắp nổi hai phù điêu mang tư cách như hai ông hộ pháp và hai con hổ bằng vữa phía trước tam quan có hai cây cột hoa biểu đứng ở hai bên Về kiến trúc tam quan có kiểu kết cấu chồng diêm và đầu hồi bít đốc Qua kiểu kết cấu này ta biết rằng tam quan có niên đại khá muộn vào khoảng thời Nguyễn cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, khi nhìn vào công trình kiến trúc có kết cấu này, mới đầu ta có thẻ lầm tưởng công trình có hai tầng và có thể đi lên tầng hai được Song đây là kiểu kết cấu “ Diêm thức” nên không có cầu thang để đi lên tầng hai được, các tầng không được chia rõ ràng mà đây chỉ là một cách tạo dáng
Cổng tam quan làm kiểu chồng diêm ba gian mái thẳng, bít đốc Đầu hồi mặt tiền có hai trụ hoa biểu, trên có đôi nghê chầu dáng vẻ tự nhiên Bậc tam quan có đôi sóc đá chàu đăng đối, đây là ranh giới phân tam quan thành
ba cửa cửa giữa là “ trung quan”, còn hai bên là cửa “giả quan” và “vô quan” Bước qua cổng tam quan là vào chùa Vào chùa là vào cõi không, sạch vương vấn để giải thoát mọi khổ não, để có tâm trong sáng – đó là tâm Phật Hệ thống tường rào có hoa văn trang trí, không quá cao nên khu nhà bia sân tháp không bị che khuất
Từ tam quan theo đường chính đạo vào khu sân ngoài của chùa, hay có thể coi là khu sân tháp bởi cách cửa chùa khoảng 6m là cây báo tháp Phổ Minh Hai bên tháp là hai nhà bia thời Lê làm kiểu chồng diêm mái cong, nhà bia ghi lại quá trình xây dựng những nét kiến trúc và những lần trùng tu chùa Bia quá to nên nhà nhà bia không thể xây nhỏ
Trang 8Đáng lưu ý là trên sân chùa đặt hai hàng chân tảng bằng đá, đục bông sen nở rộ Giữa hai hàng chân tảng còn có 4 tảng hoa sen đặt theo hình vuông
mà theo lời kể thì cho thấy đây là vị trí kê vạc Phổ Minh Vạc Phổ Minh được coi là một trong An Nam Tứ Đại Khí
Tại khu sân chùa còn có 2 cây hương đá cao khoảng 1.60m, tạo hình bát giác, mỗi cạnh khắc hàng chữ tở ý kính trọng các đức Phật và chư vị Bồ Tát Phía trong 2 cây hương, có hai cột kinh đá cũng tạc theo kiểu bát giác cao gần 4m Phần giữa 2 cây hương còn có bát hương cổ bằng đá khá lớn, được trạm mây tản, mặt nguyệt
b Tháp Phổ Minh
Khi đã nói đến chùa Phổ Minh chắc chắn phải nói đến cây tháp ở phía trước sân chùa Cây tháp này cho đến ngày nay là một thành phần kiến trúc quan trọng nhất của chùa Phổ Minh và là một trong những cây tháp cổ nhất của nước ta còn tồn tại và giữ được khá nguyên vẹn hình dáng ban đầu
Về nguồn gốc cũng như vai trò của ngôi tháp trong Phật giáo Cũng như đạo Phật, kiến trúc tháp Phật giáo bắt nguồn từ Ấn Độ và là một trong ba thành phần cơ bản của kiến trúc Phật giáo: tháp mộ, chùa thờ Phật, tăng viện
Ngọn tháp chính ở trước sân chùa Phổ Minh cao 13 tầng chưa kể đế tháp Cao 21,2m, chân đế hình vuông cạnh dài 5m20 bề thế và vững chắc, được xây dựng năm 1305 Đây là tháp mộ, có đặt một phần xá lị Điều ngự Giác hoàng đệ nhất cổ phái Trúc Lâm là vua Trần Nhân Tông Nhiều thế kỷ nay tháp vẫn hiên ngang vươn cao, tạo điểm nhấn độc nhất vô nhị cho cổ tự
Tầng một được dựng trên một đài sen nở cách điệu khiến tháp như nổi trên một bông hoa sen không lồ Trên hai lớp cáh sen có đường gờ nhô lên, mặt nằm của gờ cũng chính là mặt nền tầng một Mái của các tầng đều rất hẹp Điều đáng chú ý là triến trúc đã biết giải quyết các tầng mái bằng cách xây gạch nhỏ dần ra thành nhiều lớp cấp nhỏ, uốn cong lên, hòa vào cái thế
Trang 9vươn lên chung của toàn bộ kiến trúc Càng nâng lên, càng thu hẹp dần và kết thức bằng một chỏm hình bầu rượu có nhiều cạnh Cũng như chùa, tháp Phổ Minh quay mặt về hướng Nam, mặt bằng được bố cục vuông, cạnh đáy đế dài 5,20m các tầng trên đều có 4 cửa quay về bốn hướng chính, được trổ theo lối cuốn tò vò Riêng tầng dưới cao trội hẳn lên (2,2m), cửa của nó người lớn có thể vào thắp hương dễ dàng (cao 1,09m, rộng 0,77m) Toàn bộ tháp được xây trên một hồ vuông nông, nhỏ (rộng 8,6m) Hồ có hành lang bao bọc bốn phía cũng có cửa và các thành bậc được trạm trổ rồng đá Phần nền đế chân tháp gồm nhiều tầng cấp thu dần vào và gần đến hết lại nhô ra Chính ở cấp cuối cùng của phần nền đế trước khi đi vào tầng tháp thứ nhất, nghệ sĩ xưa đã sử dụng mặt ngoài của cấp này, dùng thủ pháp tạo ra một vành đai trang trí xen
kẽ những cành hoa lá đan chéo nhau và những hoa hình tròn, cánh hoa ngã vòng quanh, còn ở giữa có cánh hoa cất lên và xoáy tròn ốc Vành đai này là một bức diềm những nét khắc nhỏ tuyệt đẹp, hai thứ hoa lặp đi lặp lại chạy vòng chung quanh tháp, khi ánh sáng chiếu xiên vào, hiện lên như một vòng hoa xám dịu dàng và tinh tế
Về chất liệu, tháp là một công trình hỗn hợp giữa gạch và đá Bệ và tầng dưới của tháp được xây bằng loại đá xanh mịn vừa có sức nặng, làm tăng
độ bền cho móng nền các tầng trên đều được xây bằng gạch nung mỏng, nhẹ, rất tiện lợi cho việc xây lắp Kết cấu của tháp ở các tầng đá chủ yếu dựa vào các mộng và keo vữa kết dính ở các tầng trên, ngoài vừa còn có các dây đồng xâu móc qua các viên gạch để làm tăng độ bền vững cho kiến trúc Về cấu trức của tháp, sách “ Đại Nam nhất thống chí” còn cho biết, ngày xưa người ta xây một cột đá bên cạnh và lấy dây đồng để ràng lấy đỉnh tháp
Trang trí trên tháp cũng rất ấn tượng, tập trung chủ yếu ở phần đá với đài sen bao quanh tháp và những đồ án hoa lá cách điệu trên mặt đứng ở tầng
đế, ở cửa tò vò và trên các nẹp góc Bên cạnh các tượng đá hình cá sấu, hình
Trang 10rồng được tạc ở các thành cửa vào hồ quanh tháp thì các nghệ sĩ đã chạm các lớp cánh sen với nhiều hoa văn dây uốn lượn quanh cửa tháp và trên các mặt tường Hàng loạt hoa lá được chạm khắc như vẽ trên đáo, hình ảnh chủ đạo là tùng, cúc, trúc, mai, … hình khắc trên phần đá của tháp Phổ Minh tạo ra các hoa văn hoa lá, sóng nước, mây trời đơn giản, sáng sủa rất sinh động bao viền quanh thân tháp và các cửa tháp Sự vận dụng những đườn cong khéo léo tạo cho tác phẩm có chất tươi mát, cuồn cuộn và sinh động rất lạ thường
Tầng tháp thứ nhất được bắt đầu bằng một vòng những cánh sen hai lớp, lớp đưới cúp xuống, lớp trên ngửa lên nở xòe, tọa cảm giác cây tháp như mọc trên một đóa xen khổng lồ khác hẳn những cánh sen thời Lý thanh dài
và bên trong thường được trang trí đôi rồng rắn, những cánh sen ở đây đều mập mạp, xó mũi cong xoắn lại, bên trong cánh sen còn trang trí những móc câu, hoa và nhánh hoa dây móc nhau Cùng với các nhánh sen ở bệ tháp, việ xây hồ trên tháp phải chăng người xây dựng muốn tạo cho tác phẩm kiến trúc của minh thành một hình tượng búp sen khổng lồ đang nổi trên mặt nước, một hình tượng mang ý nghĩa của nhà Phật
Bốn cửa tháp ở tầng dưới đều có gờ nhô ra, trên mặt gờ rất nhẵn, được khắc rạch những nét nhỏ hoa lá cách điệu Khác với thời nhà Lý, tháp có tính thực tế, tháp là để thờ Phật nên bốn mặt có Bát bộ kim cương canh giữ nhưng đưới nhà Trần, tháp chỉ mang tính tượng trưng, lại là tháp nhỏ lên không có hình tượng Bát bộ kim cương
Chân cột góc của tầng tháp dưới này được trang trí cũng bằng Lối khắc rạch hai bức diềm nhỏ trồng chéo lên nhau chạy song song Bức diềm phía trên gồm những bông hoa nhọn đầu, mập, uốn cong lưỡi liềm rất mềm mại, phía dưới có đài và cuống hoa biến thành cụm mây cách điệu, bức diềm phía dưới là một dãy sóng nước cách điệu Sóng nước ở đây có hai phần, phần dưới như một dòng nhạc 5 dòng kẻ song song lượn sóng đều đặn, phần trên là
Trang 11những ngọn sóng đầu nhô cao gồm các đường cong nối nhau gẫy khúc và trên đầu mỗi ngọn sóng như có một bông hoa nhỏ xinh
Kiểu hoa văn cuối cùng được trang trí ở tầng tháp đưới là mây trời được khắc thành băng dài cuốn quanh phía trên tầng tháp này Mây ở đây là những cụm nhỏ xoắn xuýt Còn ở tầng trên trang trí chủ yếu trực tiếp vào các viên gạch Cạnh ngoài của mỗi viên đều có khắc hình rồng cuộn khúc vờn mây, tuy được khắc rạch trước khi nung song hình trang trí rất mềm mại Đế tháp được xây bằng đá nhưng lại giả gỗ cho nên có những xà gỗ chạy ngang Tất cả nét kiến trúc và nghệ thuật trên cho thấy đây là một công trình kiến trúc có giá trị của dân tộc ta
ở trong lòng tháp Phổ Minh (tầng 1) trên tấm đá ở tầng tháp có một mặt hình trạm nổi đôi rồng chầu mặt trời, đôi rồng này mang đầy đủ tư cách của rổng thời Trần, với những mào lửa, toc chải, mang banh, thân trơn, chân có lòng làm nền cho đôi rồng là những viên ngọc đang chuyển động, mỗi viên được kéo dài ra bởi 2 dải tóc chải bay về hai phía
Việc tồn tại của tháp ngót 700 năm ở một xứ khí hậu nhiệt đới, chiến tranh liên miên không chỉ là niềm tự hào của nhân dân, mà còn là tài sản vô giá do tổ tiên đã tốn bao nhiêu công sức, trí tuej, tiền của để tạo dựng trong quá trình lịch sử của dân tộc Tháp vút lên bầu tròi xanh thẳm như thể hiện ý chí hiên ngang bất khuất của hào khí dân tộc một thời – hào khí Đông A- đã đánh bại ba lần xâm lược của phương Bắc Đồng thời qua đó cũng thấy được triều đình nhà Trần đã nối tiếp các triều đại trước, có ý thức xây dựng quốc gia Đại Việt độc lập và tự chủ Trong quá trình đó bên cạnh việc xây dựng nền chính trị tự cường, các vua Trần cố gắng xây dựng một nền văn hóa – nghệ thuật riêng mang đậm bản sắc dân tộc Trong quần thể kiến trúc chùa Phổ Minh, tháp nằm ngay sân trước, không còn chiếm vị trí trung tâm như kiến trức chùa tháp thời Lý Vị trí kiến trúc của tháp như một sự tiếp nối quá
Trang 12trình chuyển đổi từ chỗ tháp là trung tâm của chùa về đúng với vai trò ban đầu
và nguyên thủy của nó là mộ thờ Phật
Đầu thế kỉ XX, có một nhà buôn có lòng từ thiện, bỏ tiền xin trùng tu tháp đã dùng vối vữa chát kín toàn bộ mặt ngoài lại , kể cả quả hồ lô (chỏm tháp) Trải qua bao đời tháp được trùng tu sửa chữa nhiều lần nhưng nhìn chung tháp vẫn giữ được cốt cách hình dáng xưa
c Kết cấu tòa tam bảo
Chùa Phổ minh được thiết kế theo kiểu chữ “Công”, gồm các hạng mục: tiền đường, thiêu hương, thượng điện Qua nhiều lần thay đổi thì hiện nay chùa có kiến trúc “nội công, ngoại quốc”, gồm các hạng mục tam quan,
ao sen, nhà bia, tháp, sân trước, chùa chính, hành lang, hậu điện, phủ Mẫu, nhà tổ, tăng phòng, khu tháp mộ Kiến trúc này chia chùa thành hai phần, đăng đối qua một trục tưởng tượng Tiền đường gồm 9 gian, có 2 dãy hành lang mỗi dãy 12 gian Phía sau là các hạng mục như hậu điện, nhà tổ, phủ, mẫu, … Phía trước có 2 cổng nách, phía sau có hai cổng hậu ra vào sân sau, khiến chùa vừa hoành tráng vừa kín đáo, ngăn nắp
Khu chùa chính gồm 3 tòa nhà làm theo kiểu chữ Công: tiền đường 9 gian, tam bảo 3 gian, thượng điện 3 gian
Tiền đường chùa Phổ Minh gồm 9 gian, dài 24,93m, rộng 8,22m, gian giữa rộng 3,92m, hai gian bên rộng 3,15m, hai gian tiếp rộng 3,15m và 4 gian phía ngoài tiếp giáp với bờ đốc rộng 2,32m Tuy mái phẳng bít đốc mà vẫn có
độ cong vươn lên về hai phía, có bảng giữa nóc chùa đắp 3 chữ “ Phổ Minh tự” Bờ dải, trụ hoa biểu đầu hồi được chú ý đắp vẽ triện tàu, lá lật, gờ chỉ khá công phu
Sau khi đi qua một khoảng sân là tam cấp của tòa tiền đường Toàn bộ
ba tòa tiền đường, thiêu hương, thượng điện, hai hành lanh hai bên và nhà tổ tạo thành kiểu kết cấu nội công ngoại quốc trong đó tòa tam bảo nối với nhau
Trang 13thành hình chữ Công, hai hành lang và nhà tổ tạo thành hình chữ quốc Tòa tiền đường, thiêu hương, thượng điện có kiểu kết cấu vì kèo, giá chiêng chồng giường con nhị với mặt cắt dọc nhà có bốn hàng cột kiểu tứ trụ Hai dãy hành lang và điện thờ Mẫu cũng có kiểu giá chiêng chòng giường song không phải chồng giường con nhị Trong điện mẫu có một biến thể của kiểu vì kèo giá chiêng chồng giường Thay vì có hai cột cái như kết cấu vì kèo thông thường,
ở đây chỉ có một cái, vị trí của cột cái kia được thay bằng một cột trốn, cột này đứng trên một cái xà ngang mà thường được gọi là cái “chếnh”, một đầu chếnh ăn mộng vào cột cái, còn đầu kia đặt lên trên một bức tường gạch Tăng phòng và nhà Tổ có kết cấu vì kèo kiểu cánh én với hai kẻ chạy thẳng từ cột cái tới thượng lương và giao vào nhau như cánh chim én Ngoài hai cột cái còn có hai cột trốn đứng trên quá giang đỡ lấy hai kẻ, có một thanh xà nhỏ ăn mộng vào hai cột trốn Đây có thể là một biến thể của “giá chiêng” Chúng tôi nhận thấy mặt trước của các tòa tiền đường, điện thờ Mẫu, tăng phòng, nhà
Tổ có kết cấu “thượng song hạ bản”, nhưng ở đây phần gỗ được thay thế bằng gạch xây trát vữa ở bên ngoài Tòa tiền đường có 10 bộ vì kèo, tòa thượng điện và ống muống có 4 bộ, những vì kèo ở hai đầu hồi thượng điện và tiền đường, vị trí của 2 cột cái được thay bằng hai cột trốn Giải thích cho sự thay đổi này chúng tôi cho rằng do kiểu xây đầu hồi bít đốc nên phần mái ở hai đầu hồi được phần mái đỡ phần lớn trọng lượng nên bộ vì chỉ cần hai cột trốn
và cột quân là đủ đỡ phầ trọng lượng còn lại của mái Những bộ vì này có xà nách ở hai bên được kéo dài và nối với nhau Khoảng cách giữa các hàng cột
ở tiền đường và ống muống là như nhau Cột quân cách cột cái là 1,9m, khoảng cách giữa hai cột cái tính theo chiều dọc là 3,44m Chiều ngang giữa các vì kèo có khác nhau, gian giữa của các tòa tiền đường, thiêu hương là 2,43m; ở tòa thượng điện là 3,72m Đường kính của cột quân vf cột cái ở ba tòa là như nhau, cột quân có đường kính 0,21m; cột cáu là 0,32m các cột
Trang 14được làm theo kiểu thượng thu hạ thách, đầu thon nhỏ, phình ở phía gần cuối, đáy thu lại
Các bộ vì kèo hầu như không được trang trí, các thành phần kết cấu vì kèo như các con giường, xà ngang, kẻ, … được gọt đẽo khá vuông thành sắc cạnh, các cạnh không được dành nhiều công sức để vuốt mềm, trau truốt Điều này tạo cho bộ vì kèo cảm giác khỏe nhưng hơi đơn điệu và khô cứng
Nhà bái đường làm theo lối chồng giường, bẩy kẻ, 4 hàng cột gỗ lim chắc nịch đặt trên chân tảng hoa sen, hai hồi để của nách ra vào, mặt sau liên đới với tòa tam bảo nên có sự giao mái bắt vần, tạo bộ mái phẳng phiu, vừa phải độ dốc lại tránh được thấm nước, bị dột hệ thống cột, giường, bẩy, kẻ,
… tuy không có sự gia công đục chạm họa tiết nhưng cũng như hệ thống xà làm kiểu ống tơ, tạo mạng, mộng khá tài tình nên từ bẩy, kẻ đến xà lòng, xà nách câu vào tứ trụ đều rất bén, khít khó tìm ra khuyết điềm Do vậy bộ khung tuy môc mạc mà vẫn có vẻ thanh thoát trong sự chắc nịch của kiến trúc
cổ dân tộc
Tại gian giữa tiền đường có bức cửa võng chạm họa tiết, sơn thiếp lộng lẫy làm cho gian chính điện thêm trang nghiêm, đồng thời làm đẹp cho cửa tam bảo
Phía trong tiền đường có tòa tam bảo Công trình này giao mái với tiền đường, cũng được thiết kế theo lối chồng giường, tứ trụ, cột trong đứng trên trân tảng hoa sen nên hai công trình có sự gắn bó, liên kết với nhau Tòa tam baornayf bài trí rất nhiều tượng Phật, theo nhiều cấp khác nhau từ cao xuống thấp nên quy cách tam bảo mới đáp ứng được 7 cấp theo độ dốc, đẻ khách hành hương có thể ngước nhìn lên đủ thấy hết chư vị phật cũng như Bồ Tát
Thiêu hương xây quay dọc, giao mái với tiền đường, tạo thành mặt
bằng kiến trúc kiểu chữ “Đinh”, dài 09m, rộng 8,23m, gồm 3 gian Bộ khung bằng gỗ lim, kiểu bốn hàng chân cột, mỗi bộ vì được dựng trên đầu hai cột cái
Trang 15cao 4,3m và hai cột quân cao 3,9m Chân tảng bằng đá, chạm hoa văn hình cánh sen
Thượng điện gồm 3 gian, dài 12,8m, rộng 8,50m Bộ khung gỗ lim, kiểu 3 hàng chân cột, gồm hai cột cái và một cột quân Tất cả các cột được gia công theo kiểu thượng thu hạ thách và được kê trên hệ thống chân tảng đá chạm hoa văn hình cánh sen
Sau tam bảo là Thượng Điện Công trình này cao hẳn lên bởi nền cũng được tôn cao Do nhà cao nên cột cũng phải to, đườnh kính cột lên đến 50cm, các cấu kiện, xà, bẩy, con giường cũng theo tỷ lệ đó mà nhíc lên lên cho phù hợp về kiểu dáng, cũng như về độ bền vững Nguyên vật liệu kết cấu bộ khung cũng phải to, khỏe để đỡ, dải bờ nóc có lưỡng long chầu mặt trời, bờ dải có triện tàu, bờ bảng trang trí bề thế và nặng nề
phía sau Thượng điện là hậu điện Công trình này gồm 2 tòa mỗi tòa 5 gian và một chuôi vồ phía sau Kết cấu công trình theo lối tiền chữ nhất, hậu chữ đinh Tòa đệ nhị làm theo kiểu mê cốn, cửa ô, ngạch ngưỡng lại có 2 bức thuận đông, tây để cửa vào hai gian bên, đây cũng là bức thuận của nhà cổ mà chùa tháp còn tồn tại
Hai tòa nhà phía đông liền liền với hậu điện thờ Tổ, đồng thời thờ các
vị hậu Phật có công xây dựng chùa Hai tòa này gồm 6 gian thiêt kế lối trụ, câu đầu, bẩy tiền theo lối cổ nhưng chủ yếu bào trơn đóng bén, không đầu tư điêu khắc ở sà, bẩy
Hai tòa thờ mẫu phía tây hậu điệncũng thiết kế như nhà tổ, mộc mạc và chắc chắn Cả ba công trình hậu điện, nhà Tổ, nhà thờ mẫu hệ thống cột cái, cột quân đều được đặt trên các chân tảng cánh sen Có nhiều chân tản đục, chạm từ lâu đời là nguyên tác thời Trần để lại
Qua cổng hậu phía trong sẽ ra khu sân sau nơi vườn tháp và ao
Trang 16Hai dãy hành lang đông- tây có tới 24 gian làm theo phong cách cổ truyền khá bề thế, chắc chắn, góp phần tạo cho tổng thể các hạng mục đồng
bộ, hài hòa Một bên hàng lang dùng để tiếp khách, thư phòng Một bên là các tăng phòng, còn có các bia thờ hậu, thờ những người có công đóng góp để xây dựng và tu sửa chùa
Hai nhà bia ở hai bên trước ngọn tháp chính được xây đầu thế kỉ XX có kiểu kết cấu chồng diêm với tám lá mái, bốn ở trên và bốn ở dưới Toàn bộ nhà bia được xây bằng gạch, nó là nơi chứa tấm bia cổ khắc từ thời Lê (năm Cảnh Trị thứ 6 -1668)
d Trang trí kiến trúc
Đôi sấu đá hai bên bậc tam cấp tam quan chùa Phổ Minh được tạo tác
từ hai khối đá thành hai khối lượng tròn trong tư thế bò từ trên xuống, phía dưới con sấu đá là một băng hoa dây lượn sóng hình sin phổ biến trong nhiều tác phẩm mỹ thuật thời Trần Con sấu ở trong tình trạng còn tốt, mọi đường nét và mảng khối đều rõ Con vật được tạo tác ở tư thế ngẩng cao đầu, bờm tóc phủ kín gáy và vai, đuôi dài hơi uốn sóng, mình mập lắn, chân rắn chắc, toàn thân như muốn chồm lên
Đặc biệt ở thềm tam cấp từ sân chùa lên chùa tạo 5 cửa lên xuống Cửa giữa có đôi rồng dài 2m từ trên nhao xuống Cặp rồng này bị ghè vỡ đầu, năm
1994 làm mới 2 đầu rồng gắn vào Các gian bên có 2 con rồng nhỏ, dài 1,3 m
từ trên nhao xuống Tất cả những con rồng đá ở trước gian bái đường hay quanh tháp Phổ Minh, tuy bị sứt mẻ nhưng đều là rồng được tạc từ thời Trần
Ta có thể nhận rõ con rồng thời Trần không giống rồng thời Lý Rồng thời nhà Trần thân mập mạp hơn và uốn lượn nhỏ dần về phía đuôi, nuột nà, có tính hiện thực hơn và thể hiện “ tính xác thịt” của con vật nhìn vào hình tượng rồng, ta có thể khẳng định rằng nó được tạc sau kháng chiến chống
Trang 17Nguyên – Mông vì ở đây có sự giao lưu văn hóa với phương Bắc: rồng có thêm cặp sừng, mũi và bên dưới là tai của rồng
Một tác phẩm nghệ thuật còn lưu giữ được từ thời Trần là bốn cánh cửa chùa vào gian bái đường bản gốc hiện nay đang được trưng bày tại Bảo tàng
Cổ vật tại Nam Định Bản ở chùa Phổ Minh là bản đục lại nhưng tương đối đẹp và chính xác Bộ cánh cửa gồm 4 cánh làm bằng gỗ lim to, dày, chạm khắc rất đẹp, kích thước mỗi cánh 1m87 * 0m78 Bố cục của cả bộ cánh cửa theo sự trang trí cân đối giữa hai cánh cửa bên phải và hai cánh cửa bên trái Mỗi cánh cửa đều được chia làm hai phần, phần trên hình chữ nhật chạm rồng, phần dưới hình vuông chạm sóng nước, hoa và các họa tiết hình học
Trên mỗi cánh cửa là hình tượng con rồng trạm trổ rất đẹp, các khúc uốn lượn tinh tế, nhỏ dần về phía đuôi, đều đặn mang tính chất Lý Tính chất nhà Lý còn được thể hiện rõ nét hơn là con rồng ở đây không có sừng và không có tai Tuy nhiên đây là một công trình lớn có tính nhà nước nên phải làm theo kiến trúc chính thống Hình ảnh rồng ở đây được trạm theo lối chạm nổi, khi ánh sáng chiếu vào sẽ làm tôn hình ảnh được chạm cánh cửa sơn đen đều đặn, tạo ấn tượng vững chắc khỏe mạnh Một nét đặc sắc nữa của đôi cánh cửa này là khi khép lại tạo thành hình lá cây bồ đề - biểu tượng cho đức Phật Hệ thống cửa khá hài hòa với hàng rồng đá ở bậc thềm
PHẦN 3: GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT
1 Nội dung lý lịch các pho tượng thờ chủ yếu
Chùa Phổ Minh thể hiện rất rõ dấu ấn tam giáo đồng tôn nên trong chùa không chỉ có 1 hệ thống tượng Phật
Tại tòa Tiền đường, ở gian chính giữa được bố trí ban thờ Trên ban thờ
có bát hương thờ chung thế giới Phật mà dân gian thường gọi là bát hương công đồng Hai bên của ban công đồng có 2 pho tượng lớn Đây là hình tượng hộ pháp, một ông là Trừng Ác, một ông là Khuyến Thiện có nhiệm vụ
Trang 18bảo vệ pháp báu của nhà Phật Phía bên phải tượng Hộ pháp Trừng Ác là ban thờ sư tổ Đạt Ma- người đầu tiên truyền bá đạo Phật vào Việt Nam Trên ban
có tượng Sư Tổ và tượng người hầu Bên cạnh ban thờ tổ Đạt Ma là ban thờ Đức Ông, là người cai quản trông nom Phật đường
Tòa Tam bảo được bài trí theo hàng ngang và từ cao xuống thấp, từ trong ra ngoài Nghĩa là các vị tối thượng được xếp ở bệ cao nhất, trong cùng nhất Do vậy, tam bảo có 6 hàng tượng đặt trên bệ như sau:
Cấp cao nhất có pho tượng Phật Adiđà là Quan Thế Âm Bồ Tát, tiêu biểu cho sự từ bi và trí tuệ Bên tay phải tượng Đức Phật là Bồ Tát Đại Thế Chí có trí tuệ soi khắp 10 phương
Cấp thứ hai chính giữa là tượng Phật Thích Ca, còn hai bên là Bồ Tát Phổ Hiền cưỡi “bạch tượng” và Bồ Tát Văn Thù cưỡi “ thanh sư”
Cấp thứ ba là tượng Di Lặc, bên phải la tượng Quan Âm Tọa Sơn và bên trái là tượng Quan Âm Thị Kính
Cấp thứ tư gồm 3 pho tượng Chính giữa là tượng Quan Thế Âm Bồ Tát nhiều tay, nhiều mắt Hai bên tả hữu là Phạm Thiên và Đế Thích
Cấp thứ năm có tượng Ngọc Hoàng đội mũ bình thiên ngồi chính giữa, hai bên là tượng Nam Tào - Bắc Đẩu
Cấp thứ sáu chính là Tòa Cửu Long, hai bên có tượng Bồ Tát Mục Liên
và tượng Thánh Tăng, cùng hai ngọc nữ tay dâng hoa hầu chầu Đức Phật
Phía sau Tam bảo là tòa Thượng điện, tòa này có ban thờ Trúc Lâm tam
tổ và ở cấp trong cùng, cao nhất còn có tượng Thích Ca to lớn ngồi trên tòa sen Hai bên có tượng Anan Đà và Maha Cadiếp
Sau Thượng điện có hệ thống Hậu điện, nhà tổ và phủ mẫu Đây là những công trình xây dựng ở cốt đất thấp hơn khu nhà chính nhưng quy mô các tòa cùng với bài trí thờ tự cũng khá nghiêm túc, hài hòa với nội dung chung của một ngôi chùa truyền thống