1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận Tìm hiểu di tích lịch sử Thành Nhà Hồ xã Vĩng Long huyện Vĩnh Lộc Thanh Hóa

34 1,1K 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 52,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tìm hiểu những giá trị lịch sử văn hoá của khu di tích lịch sử Thành Nhà Hồ, làm rõ những giá trị văn hoá lịch sử thông qua nghệ thuật kiến trúc được xây dựng cótính toán, kết hợp giữa c

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế nhu cầu về đời sống vậtchất và tinh thần của con người cũng ngày càng phong phú và đa dạng Đứngtrước cuộc sống hiện đại nhu cầu trở về cội nguồn, tìm hiểu lịch sử dân tộc càngtrở nên bức thiết Di tích lịch sử là một trong những chứng nhân đang được conngười quan tâm, vì di tích lịch sử là thông điệp mà thế hệ trước trao truyền chothế hệ sau, từ đó cảm nhận được quá khứ tìm đến truyền thống lịch sử và nhữnggiá trị chính trị, đạo đức, thẩm mỹ,…

Di tích lịch sử văn hoá là một bộ phận cấu thành quan trọng trong kho tàng

di sản văn hoá của nhân loại nói chung và của từng dân tộc nói riêng, cho nênvấn đề bảo vệ và phát huy di sản văn hoá là vô cùng quan trọng

Thành cổ là loại di tích trong các loại di tích lịch sử văn hoá ở nước ta, là đốitượng nghiên cứu quan trọng của nhiều bộ môn khoa học: khảo cổ học, lịch sử,kiến trúc, dân tộc học, nghệ thuật học…

Hiện nay, Thành cổ, là di tích vô cùng ít đã trải qua các triều đại phong kiếnViệt Nam, với nghệ thuật kiến trúc hết sức độc đáo và đặc sắc Nó phản ánh rõ cácgiá trị lịch sử văn hoá của khu di tích

Tôi luôn tự hào về những gì quê hương đã làm được, giữ gìn và phát huy cho thế

hệ mai sau, hơn nữa, trong lòng tôi luôn ấp ủ tìm hiểu về mảnh đất'' địa linh nhân kiệtnày" tìm hiểu những giá trị lịch sử văn hoá của khu di tích lịch sử Thành Nhà Hồ, làm

rõ những giá trị văn hoá lịch sử thông qua nghệ thuật kiến trúc được xây dựng cótính toán, kết hợp giữa các kiến trúc nhân tạo với hình thế tự nhiên

Vấn đề nghiên cứu, tìm hiểu những giá trị lịch sử văn hoá thông qua nghệthuật kiến trúc và xây dựng thành là một vấn đề rộng lớn Là một sinh viên nămthứ 3 được làm bài tiểu luận, cũng là cơ hội tốt để tôi có thể tìm hiểu thêm về

Trang 2

mảnh đất “địa linh nhân kiệt” “ Tìm hiểu di tích lịch sử Thành Nhà Hồ, xã VĩngLong – huyện Vĩnh Lộc – Thanh Hóa” là đề tài của bài tiểu luận này.

Đề tài tập trung khai thác, tìm hiểu một số đặc điểm về nghệ thuật kiến trúc,nhằm góp một phần nhỏ vào việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoátruyền thống của khu di tích Thành Nhà Hồ

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập chung nghiên cứu về hệ thống di tích Thành Nhà Hồ nằm trong

xã Vĩng Long – huyện Vĩnh Lộc – Thanh Hóa

2.2 Phạm vi nghiên cứu

- Tập trung nghiên cứu về lịch sử, văn hóa giá trị công trình kiến trúc nghệthuật, tín ngưỡng và sinh hoạt văn hoá dân gian đã và đang tồn tại tại trên địabàn khu di tích

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu về đề tài này nhằm mục đích sau:

Tìm hiểu về một di tích lịch sử có giá trị văn hóa tiêu biểu đối với nền vănhóa của đất nước

Cung cấp cho người đọc (các bạn sinh viên) những hiểu biết cơ bản nhất

về khu di tích này

Trau dồi và nâng cao vốn hiểu biết của bản thân về lịch sử của dân tộc

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ nghiên cứu chính của đề tài này là tập trung vào việc tìm hiểunhững nét cơ bản về khu di tích cũng như những giá trị văn hóa của nó Đồngthời, nêu lên thực trạng để từ đó đề ra những giải pháp sao cho phù hợp trongviệc bảo vệ và trùng tu quy hoạch di tích Thành Nhà Hồ

Trang 3

Tìm di tích và đưa ra một số giải pháp cho việc bảo tồn và phát huy các giátrị lịch sử văn hoá nghệ thuật, trong khu di tích lịch sử Thành Nhà Hồ.

5 Phương pháp nghiên cứu

Đối với đề tài này, bản thân tôi tìm hiểu chủ yếu dựa trên những kiến thức

đã học cũng như những kiến thức sẵn có của bản thân Thêm vào đó là việc tìmhiểu, nghiên cứu các nguồn tài liệu như sách, báo, truy cập Internet, để làmsáng rõ lên vấn đề

Ngoài ra còn có sự vận dụng các phương pháp lí thuyết như phân tích, đánhgiá, trình bày vấn đề,… Và để hoàn thành đề tài này, tôi đã vận dụng phươngpháp duy vật lịch sử, duy vật biện chứng để nghiên cứu bối cảnh lịch sử, kinh tế,văn hoá trong thời phong kiến Xác định quá trình hình thành , tồn tại và các giátrị lịch sử, giá trị văn hoá của công trình

Vận dụng phương pháp tổng hợp liên ngành của các bộ môn khoa học khảo

cổ, lịch sử, mỹ thuật và kiến trúc… để tìm hiểu đặc điểm kiến trúc

Sử dụng phương pháp điền dã, ghi chép, phân tích, miêu tả các giá trị nghệthuật

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục đề tài

có kết cấu 3 chương:

Trang 4

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ THÀNH NHÀ HỒ 1.1 Vị trí địa lý

Từ thành phố Thanh Hoá, theo quốc lộ 45 ngược lên phía bắc, qua cáchuyện Đông Sơn, Thiệu Hoá, đến huyện lỵ Vĩnh Lộc, ngược con đường Thiên

Lý xưa kia độ 2 km là chúng ta đã đến Thành Tây Đô hay còn gọi là Thành AnTôn, Thành Tây Giai, thành Nhà Hồ thuộc địa phận hai xã Vĩnh Tiến và VĩnhLong, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá ngày nay

Thành Nhà Hồ là tên thường gọi của tòa thành bằng đá còn khá nguyênvẹn giữa vùng đồng bằng lưu vực sông Mã và sông Bưởi, thuộc địa phận cácthôn Tây Giai, Xuân Giai xã Vĩnh Tiến, Đông Môn (xã Vĩnh Long), huyện VĩnhLộc, tỉnh Thanh Hóa, thuộc miền Bắc Việt Nam

Thành còn có tên gọi khác như: thành An Tôn vì khu vực này vào cuốithời Trần có tên là động An Tôn, thành Tây Đô vì thành là kinh đô của nước ĐạiViệt (1397-1400) và Đại Ngu (1400 - 1407); thành Phủ Thanh Hoá do nhà Minhđặt sau khi chiếm Đại Việt, Tây Kinh để phân biệt với Đông Kinh (Thăng Long),Thạch Thành vì thành được xây toàn bằng đá, thành Tây Giai vì thành thuộcthôn Tây Giai( ) Thành cách thủ đô Hà Nội 150km về phía Nam, cách thành phốThanh Hóa khoảng 45km về phía Tây - Bắc Từ Hà Nội, theo quốc lộ 1A tớithành phố Thanh Hóa Sau đó, có thể theo tỉnh lộ số 45 để tới khu di tích Nếudùng đường thủy, có thể từ biển theo sông Lèn hay sông Mã vào hoặc từ cáchuyện miền núi Quan Hóa, Bá Thước cũng theo sông này xuôi xuống

Thành Nhà Hồ được xây dựng vào năm 1397, theo lệnh của Phụ chínhThái sư nhiếp chính nhà Trần là Hồ Quý Ly ( ) Cùng năm đó Hồ Quý Ly cho dichuyển kinh đô từ thành Thăng Long (Hà Nội) vào Thành Nhà Hồ (Thanh Hoá)

Trang 5

Khu di tích Thành Nhà Hồ bao gồm một phức hợp các thành phần kiến trúc đượcxây dựng có tính toán, kết hợp giữa các kiến trúc nhân tạo với hình thế tự nhiên,

để đảm bảo chức năng làm một kinh đô mới thay cho kinh đô Thăng Long.Năm 1400, với sự đăng quang của Hồ Quý Ly, lập ra triều đại Hồ, Thành Nhà

Hồ trở thành quốc đô, nước Đại Việt được đổi tên thành Đại Ngu Đến năm

1407, cùng với sự thất bại trong việc chống lại cuộc xâm lược của nhà Minh,Thành Nhà Hồ thất thủ, cha con Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương cùng triều đìnhĐại Ngu bị quân nhà Minh bắt Kể từ đó, Thành Nhà Hồ không còn vai trò làkinh đô nữa

Ngày nay, sau hơn 600 năm thăng trầm của lịch sử, tòa thành vẫn hiệndiện uy nghi với các tường thành và cửa thành còn khá nguyên vẹn Các kết quảkhai quật khảo cổ học đã bước đầu làm xuất lộ nhiều thành phần kiến trúc củakinh đô cổ này Ngoài thành trong với tường thành có hào nước bao quanh, dấutích của các cung điện, đền miếu của vương triều bên trong, phức hợp di sảnThành Nhà Hồ còn có La thành và Đàn tế Nam Giao

1.2 Lịch sử hình thành

Lịch sử hình thành và phát triển Thành Nhà Hồ

Vào cuối thế kỷ 14, xã hội thời Trần đang ngày càng lâm vào cuộc khủnghoảng trầm trọng: mô hình nhà nước quân chủ quý tộc Phật giáo không còn phùhợp nữa, sản xuất bị đình đốn, nông dân lệ thuộc bị bần cùng hóa, khởi nghĩanông dân nổ ra, ngoại xâm lăm le rình rập

Để cứu nguy đất nước và tiến hành triệt để các cải cách đổi mới, đại thầncủa nhà Trần là Hồ Quý Ly với trọng trách là Phụ chính Thái sư nhiếp chính đãquyết định xây dựng kinh đô mới ở Vĩnh Lộc - Thanh Hóa

Đại Việt sử ký toàn thư, chính sử Đại Việt thời Lê (thế kỷ 15 – 18) chép: “Đinh Sửu, [Quang Thái] năm thứ 10 [1397], (Minh Hồng Vũ năm thứ

Trang 6

30) Mùa xuân, tháng giêng sai Lại bộ Thượng thư kiêm Thái sử lệnh Đỗ Tỉnh (có sách chép là Mẫn) đi xem đất và đo đạc động An Tôn phủ Thanh Hóa, đắp thành đào hào, lập nhà tông miếu, dựng đàn Xã Tắc, mở đường phố, có ý muốn dời kinh đô đến đó, tháng 3 thì công việc hoàn tất” (Đaị Việt sử ký toàn thư 1998a:190)

Đại Việt sử ký tiền biên của Ngô Thì Sĩ thời Tây Sơn, năm 1800 nhắc lại nội dung trên Trong khi đó Việt sử thông giám cương mục, chính sử Việt Nam

thời Nguyễn (thế kỷ 19) chép thêm:

“Đinh Sửu, năm thứ 10 [1397] (Minh, năm Hồng Vũ thứ 30) Tháng Giêng, mùa xuân Quý Ly sai Lại bộ Thượng thư Đỗ Tỉnh (có chỗ chép là Mẫn đi Thanh Hóa dựng kinh đô mới

Trước đây, Quý Ly kiến nghị muốn dời kinh đô đến Yên Tôn, Hành khiển Phạm Cự Luận can ngăn Quý Ly nói: “Chí ta đã quyết định từ trước, nhà ngươi còn nói làm gì nữa?” Đến nay, Quý Ly sai Đỗ Tỉnh đến Yên Tôn xem xét đo đạc đắp thành, đào hào, lập nhà tôn miếu, đàn thờ thần xã, mở phố xá, đường ngõ,

có ý muốn dời kinh đô đến đấy” (Việt sử thông giám cương mục 1960: 26).

Có thể thấy các nguồn sử liệu Việt Nam đều thống nhất việc năm 1397 Hồ

Quý Ly cho xây dựng kinh đô mới ở động An Tôn, nay thuộc các xã Vĩnh Yên,Vĩnh Long, Vĩnh Tiến, Vĩnh Thành, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa Trongkinh đô mới này, tòa thành đá đồ sộ do Hồ Quý Ly ra lệnh xây dựng, nên ngàynay dân gian thường quen gọi là Thành Nhà Hồ

Việc xây dựng Thành Nhà Hồ về cơ bản hoàn tất vào năm 1397 Tháng 3 năm

1398, Hồ Quý Ly đã cho chuyển đô từ Thăng Long vào kinh đô mới Do có kinh

đô mới cho nên từ năm 1398, trấn Thanh Hóa được đổi tên là trấn Thanh Đô

1.3 Cấu trúc chung của khu di tích Thành Nhà Hồ

Thành Nhà Hồ (thành trong)

Trang 7

Tên gọi Thành Nhà Hồ ngoài việc chỉ chung toàn bộ phức hợp di sản, còn

là tên thường gọi của tòa thành bằng đá nằm ở trung tâm Tên gọi Thành Nhà Hồcũng có nghĩa là tòa thành đá hay thành trong theo quy hoạch kinh thành kiểuĐông Á Với tư cách là cung thành của một kinh đô, Thành Nhà Hồ đã đượcthiết kế rất công phu và được xây dựng vững chắc, kiên cố Thành có bình đồgần vuông, mặt chính quay về hướng Đông Nam, với đường trục chính theohướng Đông Bắc - Tây Nam, lệch Bắc 450 Hai tường thành phía Nam và phíaBắc dài 877,1m và 877m, hai tường thành phía Đông và phía Tây dài 879,3m và880m, Thành có chu vi 3513,4m và diện tích 769.086m2 (khoảng 77 ha)

Thành có 4 cửa, được mở ra từ chính giữa của bốn bức tường thành Mặc

dù trục chính của thành không theo đúng hướng Bắc Nam, các cửa này vẫn đượcgọi tên theo bốn hướng chính: Cửa Bắc, Cửa Nam, Cửa Đông, Cửa Tây Hiệnnay, hai con đường trục chính nối giữa Cửa Bắc với Cửa Nam và Cửa Đông vớiCửa Tây, gặp nhau tại tâm điểm của tòa thành Qua khỏi các cửa, các con đườngnày tiếp tục tỏa về bốn phía Trừ con đường đi về phía Bắc hơi lệch về hướngTây Bắc, các con đường khác đều thẳng theo hai trục chính trong nội thành Dấutích khảo cổ học của con đường chạy về hướng Nam cho thấy đây cũng là hướng

đi của con đường cổ đi tới đàn Nam Giao trên núi Đốn Sơn

Từ hiện trạng còn gần như nguyên vẹn của tòa thành và các kết quả nghiêncứu khảo cổ học trong những năm gần đây, bước đầu có thể xác định đượcnhững thành phần kiến trúc cơ bản của Hoàng Thành gồm: Tường thành, hàothành, cửa thành, dấu tích các hồ nước và kiến trúc bên trong

Tường thành và hào thành

Từ bên ngoài, có thể thấy toàn bộ các bức tường của tòa thành được xâybằng các khối đá khổng lồ có hình khối chữ nhật hoặc gần vuông, xếp khôngtrùng mạch theo hình chữ “I” Trên thực tế, tường thành được cấu tạo bởi ba lớpgắn kết chặt chẽ với nhau bằng một kỹ thuật xây dựng đặc biệt:

Trang 8

- Lớp ngoài: tường thành được xây dựng bằng “những khối đá vôi to lớn, đượcđẽo gọt và ghép một cách tài tình” Tất cả các khối đá xây được đẽo gọt côngphu thành các khối vuông thành sắc cạnh, với kích thước trung bình 2,2 x 1,5 x1,2m, cá biệt có khối có kích thước tới 4,2 x 1,7 x 1,5m và 5,1 x 1 x 1,2m.Những khối đá lớn nhất nặng tới khoảng 26,7 tấn Nhìn từ mặt ngoài, từng khối

đá này được lắp ghép chồng khít lên nhau theo phương thẳng đứng, hơi thu nhỏphía trên kiểu “thượng thu, hạ thách” Kỹ thuật này thể hiện rõ nhất là ở cácđiểm bắt góc của thành Những khối đá to lớn nhất được xếp dưới thấp, càng lêncao, kích thước của chúng càng giảm đi Các khối đá có kích thước to lớn nhấtđược thấy ở các bức tường phía Tây, phía Nam và phía Đông Trong khi ở phíaBắc chúng có kích thước nhỏ hơn, do vậy số lượng các hàng đá cũng lớn hơn

Ở mặt bên trong, các khối đá này được chèn nối tiếp kiểu “nanh sấu”,liên kết chặt chẽ với nhau bằng các khớp, ăn sâu vào trong lõi tường tới khoảng4m Đá dăm trộn chất kết dính được đổ đầy vào các khoảng trống của nhữngkhối đá này Với kĩ thuật đa dạng như vậy, các khối đá liên kết với nhau rất chắcchắn theo chiều ngang và chiều dọc, giữa lớp trong và lớp ngoài bằng khớp, giữalớp trên với lớp dưới bằng sức nặng

Để đảm bảo độ vững chắc của tường thành người ta đã tạo chân móngtường bằng cách kè các khối đá tảng lớn chìa rộng hơn tường thành Mặt trên củacác tảng đá kè móng được đẽo bằng phẳng, các mặt khác vẫn còn nguyên vỏ đá

tự nhiên, sau đó xếp đặt đá xây tường thành lên trên Bên dưới lớp đá tảng này,lại được đầm nện chặt bằng các lớp đất sét trộn sỏi và đá dăm, dày ít nhất là70cm, như có thể quan sát trong một hố khai quật năm 2008 ở Cửa Nam

- Lớp giữa (lõi tường) được đắp bằng đá mồ côi (các khối đá rời tự nhiên), chèn

ốp bên trong theo từng lớp đá bên ngoài

Trang 9

- Lớp trong là lũy đất đắp bằng đất sét trộn cát sỏi, nện kỹ từng lớp, có độ dốcthoải dần vào phía trong thành Cứ dày khoảng 60cm - 70cm lại có một lớp cátmỏng trộn với sỏi.

Đại Việt sử ký toàn thư cũng cho biết, vào năm Tân Tỵ (1401)“Hán Thương hạ lệnh cho các lộ nung gạch để dùng vào việc xây thành Trước đây xây thành Tây Đô, tải nhiều đá tới xây, ít lâu sau lại bị sụp đổ, đến đây mới xây trên bằng gạch, dưới bằng đá” Mặc dù các dấu tích hiện tại chưa cho biết gạch

đã được dùng cho việc xây thành như thế nào, từ những viên gạch hình khối chữnhật to lớn được thu thập khá nhiều trong nhân dân, các nhà khoa học cho rằng

có thể có những ụ bắn bằng gạch được xây trên tường thành Toàn bộ các bứctường khổng lồ của Thành Nhà Hồ mặc dù đã bị các biến động của thiên nhiên

và xã hội 6 thế kỷ qua hủy hoại khá nhiều Tuy nhiên một số đoạn tường thànhvẫn còn cao trung bình từ 5m đến 6m, có nơi cao tới 10m (Cửa Nam)

Mặt thành còn rộng chừng 4 - 5m, thoải dần vào phía trong Tại một điểm

ở thành phía Đông, độ dày đo được dưới chân bức tường thành là 21,365m Đểhoàn chỉnh công trình này, con số ước tính hơn 100,000m3 đất đã được đào đắp,hơn 20,000m3đá, trong đó có nhiều khối đá nặng trên 20 tấn đã được khai thác,vận chuyển và lắp đặt

Bao quanh các bức tường thành đồ sộ là hệ thống hào thành, như thườngthấy ở các tòa thành Đông Á Lưu Công Đạo (thế kỉ XIX) mô tả hào thành của

Thành Nhà Hồ như sau: “Hệ thống hào còn được gọi là trì, trì rộng 36 tầm, bốn cửa đều có cầu đá vào thành” Ngày nay, nhiều phần của hào thành đã bị lấp

cạn Tuy nhiên, vẫn có thể nhận thấy rất rõ dấu tích của hào thành ở phía Bắc,phía Đông và một nửa phía Nam (đầu phía Đông) của thành Hào thành cũngđược nhận thấy nối thông với sông Bưởi qua một con kênh ở góc Đông Nam củathành

Hiện trạng hào nước còn nhận thấy khá rõ ở một số đoạn Hào phía Nam bị bồi

Trang 10

lấp, hình dạng hào không rõ Khoảng cách từ hào đến tường thành khoảng 65m 70m, và các khu vực này nay là các thửa ruộng sâu có độ thấp hơn xung quanh0,8m Giáp với hào là đất thổ cư của dân làng Xuân Giai

Hào phía Bắc nằm cách tường thành khoảng 70m, khoảng cách từ tườngthành đến hào còn nhiều tấm đá xây thành nằm rải rác và trong ruộng lúa sátchân thành

Hào phía Đông nằm cách tường thành khoảng 100m, hai bờ hào trồngnhiều bụi tre, và nhiều loại cây cối khác Khoảng cách từ tường thành đến hàochủ yếu là nơi dân cư làng Đông Môn sinh sống

Hào phía Tây nằm cách tường thành 120m, vết tích hào nằm trong ruộnglúa lún sâu khoảng 0,8m Trong khoảng cách này, dân cư làng Tây Giai sinhsống và trồng lúa Mặt hào rộng nhất còn nhận thấy ở phía Tây là 19,09m, ở phíaNam là 18,18m Ở hai phía Bắc và phía Đông, hào còn rộng 12,18m và 10,67m

Các cửa thành và hệ thống đường đi

Các cửa thành

Thành Nhà Hồ có 4 cửa: Cửa Nam, Cửa Bắc, Cửa Đông và Cửa Tây Cáccửa thành đều được mở ở chính giữa tường thành và được xây theo kiểu vòmcuốn, có kỹ thuật xây dựng tương đối giống nhau: bên dưới đặt những khối đálớn làm nền, các khối đá hình chữ nhật xếp bên trên tạo thành thân cửa Phầnvòm cửa được xây bằng các viên đá được chế tác hình múi bưởi (hay hình thangcân), tạo nên phần vòm cuốn hình bán viên Các cửa này được xây, xếp với độchính xác cao tạo nên nét đặc sắc của tòa thành Trong 4 cửa, Cửa Nam được xâydựng lớn nhất, mở ba vòm cửa, còn các cửa khác chỉ có một vòm

Cửa phía Nam (còn gọi là cửa Tiền) dài 34,850m, độ cao hiện còn từ mặtnền hiện tại 7,65m, dày 15m, được xây thành 3 vòm cuốn, vòm giữa cao 8,5m,rộng 5,850m hai vòm bên cao 7,8m, rộng 5,455 và 5,470m (Hình 27, 28) L

Bezacier nhận xét “Cửa phía Nam kiểu tam quan, vòm trung tâm, quan trọng

Trang 11

hơn hai cửa bên một chút Cửa tam quan này và các cửa ở mặt khác xây dựng toàn bằng đá được đẽo gọt rất khéo Các cửa này hơi nhô lên trên tường thành,

do các vòm hình bán nguyệt với đá xây trụ vòm hơi nghiêng có cải tiến Các vòm này hình thành gồm những viên đá xây cuốn rất quan trọng ”

Kết quả khai quật khảo cổ học tại Cửa Nam cho thấy móng chân vòmcuốn cửa thành sử dụng các khối đá xanh lớn, chờm ra khỏi chân trụ Có viênchờm ra rộng 0,98m, dày 0,74m, dài khoảng 2,3m Các dấu tích hèm cửa hìnhchữ nhật, rãnh cửa trên tường và dưới nền (bên trong còn rơi rớt các đinh sắt có

mũ tròn), và hai cối cửa hình tròn trên mặt nền, gợi ý các cửa vòm đều có khungcửa gỗ với hai cánh mở vào bên trong

Các hàng đá xây tiếp tục trên nóc các vòm cuốn tạo thành một mặt nền,hiện không còn nguyên vẹn, rộng 14m và dài 33m Dấu vết hệ thống lỗ chốt cắmlan can và 5 lỗ chân cột được đục sâu xuống mặt nền, cùng với nhiều di vật kiếntrúc như gạch, ngói, các trang trí bằng đất nung và đá phát hiện trong các hố khaiquật cho thấy bên trên cửa đá có một kiến trúc kiểu “vọng lâu”có kết cấu khung

gỗ lợp ngói trên mặt cửa

Xung quanh vọng lâu này có hệ thống rãnh thoát nước đục vào đá nền và

đổ ra bốn góc nền bằng bốn máng nước Máng nước còn có lỗ mộng có thể là đểlắp đầu máng nước hình đầu rồng bằng đá Những lỗ hình chữ nhật được đục vào

đá chạy dọc theo mép ngoài của nền cho thấy có thế có một lan can bao quanh

Cửa phía Bắc dài 21,342m, cao còn 8,098m, sâu 13,55m tạo một vòmcuốn cao 5,425m, rộng 5,80m Trên nóc vòm cuốn lát đá tạo một mặt bằng rộng12,7m, dài 20m Trên mặt nền hiện còn dấu tích 22 lỗ chân cột tròn có đườngkính 0,45m và đục sâu xuống nền đá 0,45m, đó là chân cột của một công trìnhkiến trúc rộng khoảng 97m2, có kết cấu khung gỗ kiểu 3 gian 2 chái, 6 vì Mỗi vì

có 4 cột, trừ hai vì gian giữa chỉ có 3 cột Mặt trong của công trình gỗ này cómột hành lang được tạo bởi những lỗ cột vuông, cạnh dài 0,11m và đục sâu

Trang 12

xuống nền đá 0,07m Giữa các lỗ cột có ngách nối thông nhau và nối ra tườngngoài nhằm liên kết các cột gỗ với nhau và với nền đá Trên mặt thành cũng có

hệ thống rãnh thoát nước, máng nước và hệ thống chân cột lan can giống Cửa Nam

Cửa phía Đông dài 23,3m, sâu 13,4m, rộng 5,8m, vòm cuốn chiều cao cònlại 6,8m Các phiến đá trên nóc cửa và hai bên cánh bị vỡ nhiều Vẫn còn nhậnthấy dấu vết hèm cửa Cửa phía Tây dài 19,3m, sâu 13,4m, rộng 5,7m, vòm cuốncao 6,16m

Hệ thống đường đi

Theo các tài liệu sử học, các đường phố đã được bố trí quy củ cho việc đilại trong thành Lịch triều hiến chương loại chí (thế kỷ XIX) miêu tả: “đường đilối ngang lối dọc đều được lát đá hoa( ) Từ Cửa Nam, một con đường, cũng làtrục chính của kinh thành chạy thẳng lên phía Cửa Bắc mà dấu tích đã bắt đầuxuất lộ Về phía Nam, con đường này chạy tới đàn Nam Giao (được xây dựngnăm 1402) trên núi Đốn Sơn Theo truyền thuyết dân gian, Hồ Qúy Ly còn choxây dựng con đường Cống Đá để vận chuyển vật liệu từ sông Mã vào xây dựngthành Dấu tích của con đường này được nhận thấy bằng việc phát hiện các khối

đá lớn dùng để lát đường trên con đường từ cuối thôn Tây Giai tới thôn Thọ Đồn

ở phía Tây thành

Trục đường chính, phần ở khu vực Cửa Nam của thành, được thư tịch cổgọi là đường Cái Hoa, Hoa Nhai hay Hòe Nhai Cuộc khai quật ở khu vực cửathành phía Nam vào năm 2008 đã phát hiện dấu tích của con đường cổ chạy từtrong thành, qua Cửa Nam về núi Đốn Sơn Phần đường bên trong thành cũngđược lát toàn bằng đá xanh nguyên khối Phần đường bên ngoài thành được látbằng đá phiến nhiều cỡ và bó vỉa bằng đá xanh nguyên khối Những viên đáphiến có bề mặt được mài nhẵn, các cạnh được mài cắt thẳng Một số viên cókích thước lớn, dài tới 2,5m hoặc 2,7m, rộng tới 50cm - 60cm Lòng đường trongnội thành rộng 4,85m, bên ngoài thành rộng 4,35m Phần nền đường bên trong

Trang 13

cửa được làm cao hơn bên ngoài 10cm và lát bằng các khối đá lớn hình chữ nhật,phần lớn đã bị rạn vỡ do việc làm đường gần đây.

Những dấu tích này chứng minh rõ đây chính là con đường chính trongthành và cũng là con đường lát đá dẫn đến đàn Nam Giao trên núi Đốn Sơn như

sử sách đã nói Dọc con đường từ Cửa Nam đến núi Đốn Sơn hiện nay, quá trìnhxây dựng đã làm xuất lộ rất nhiều phiến đá dùng để xây con đường cổ này

Cũng liên quan tới Cửa Nam và con đường cổ ở khu vực này, dấu tích củacác khoảng sân lát đá đã được phát hiện cả ở bên trong và bên ngoài thành Sânthấp hơn nền đường 15cm, chiều rộng từ mép đường ra là 15m, được bó bênngoài bằng các viên đá xanh hình khối hộp chữ nhật Phần sát chân tường thành

và tường cửa thường cao hơn và được lát phủ lên các khối đá xanh bên dưới Đálát sân có nhiều cỡ và được ghép không theo quy luật nhất định, miễn là tạo ramột mặt bằng phẳng phiu Đá của các công trình khác cũng được tận dụng lại.Bên dưới lớp đá lát là nền sân được nện chặt bằng đất sét mịn lẫn sỏi và đá dăm.Theo sử sách đây là nơi đã từng được triều Hồ mở hội cho nhân dân khu vựckinh thành tham dự

Hồ nước

Ngoài các kiến trúc được sử liệu (thế kỉ 19) nhắc tới trong thành có núi

Thọ Kỳ và Hồ Dục Tượng Núi nay không còn thấy dấu vết Việc ghi chép cáctruyền thuyết dân gian góp phần giải thích tên gọi của những dấu tích hồ nướccòn lại ngày nay Trong đó, đáng chú ý nhất là dấu tích của bốn hồ nước lớn ởbốn góc thành Ở góc Tây Bắc là hồ Dục Thuý, được cho là nằm gần ĐôngCung và Tây Cung; ở góc Tây Nam là hồ Bơi Chải; ở góc Đông Bắc có hồ BánNguyệt; ở góc Đông Nam có hồ Dục Tượng

Dục Tượng là một hồ lớn, bùn nước lầy lội quanh năm, hồ gần trục đường về

phía Cửa Đông Nhân dân trong vùng kể lại: nước ở hồ này chủ yếu là dùng chosúc vật của kinh đô (trâu, bò, ngựa kéo, ngựa chiến và voi)

Trang 14

Bơi Chải là hồ dài nhất, gần bằng một nửa chiều rộng của thành Diện tích mặt

hồ gần 15.000m2 Cũng theo truyền khẩu: Vào dịp đầu xuân khi cây hoa súng vàsen chưa mọc, triều đình mở hội bơi chải trên hồ

Hồ Bán Nguyệt được cho là ở bên cạnh chính điện Hoàng Nguyên, nơi làm việc

của nhà vua cùng các quần thần bàn luận quốc sự Hồ này cũng rộng và sâu bằng

hồ Dục Thuý (khoảng 3.000m2, sâu trên 2m) Hiện nay mặt hồ không còn hìnhbán nguyệt như lúc ban đầu nữa, nhưng dấu tích còn lại đã góp phần định vị chođiện Hoàng Nguyên và phản ánh cảnh quan xưa của kinh thành

La thành

La thành là vòng thành ngoài bảo vệ toàn bộ các kiến trúc và cư dân trong kinhthành La thành dài khoảng 10km, được xây dựng dựa theo địa hình tự nhiên,cách thành trong khoảng 1-3km, từ núi Đốn Sơn (thuộc xã Vĩnh Thành) đến núiHắc Khuyển (thuộc xã Vĩnh Long), các núi Xuân Đài, Trác Phong, Tiến Sỹ(thuộc xã Vĩnh Ninh), núi Kim Ngọ (thuộc xã Vĩnh Tiến), núi Kim Ngưu, TượngSơn (thuộc xã Vĩnh Quang) và hai con sông là sông Bưởi và sông Mã (Hình 44).Vòng thành này dựa trên địa hình tự nhiên sẵn có, người xưa chỉ gia cố thêm một

số đoạn, đắp đất, trồng tre, nối liền những dãy núi, con sông sẵn có La thànhđược xây dựng vào tháng 9 năm 1399 Đại Việt sử ký toàn thư chép Hồ Quý

Ly: “sai Trần Ninh đốc suất người phủ Thanh Hóa trồng tre gai ở phía Tây thành, phía Nam từ Đốn Sơn, phía Bắc từ An Tôn đến tận cửa Bào Đàm, phía Tây từ chợ Khả Lãng ở Vực Sơn đến sông Lỗi Giang (sông Mã), vây quanh làm toà thành lớn bọc phía ngoài Dân chúng ai lấy trộm măng thì bị xử tử”.

Có lẽ do sự chuyển dòng của sông và sự xâm hại của thiên nhiên và `con người,nhiều đoạn của La thành không còn nhận thấy nữa Dấu tích La thành hiện cònlại khá rõ ở hai khu vực thuộc cánh đồng xã Vĩnh Phúc (phía Đông Nam) vàcánh đồng xã Vĩnh Long (phía Đông Bắc), với chiều dài tổng cộng khoảng 3km.Phần còn nguyên vẹn nhất thuộc cánh đồng xã Vĩnh Long đã được khoanh vùng

Trang 15

bảo vệ nguyên trạng, có mặt cắt dạng hình thang, cao gần 5m, chiều rộng chânthành khoảng 37m, chiều rộng mặt thành khoảng 9,2m Mặt ngoài dốc đứng, bêntrong thoai thoải tạo thành bậc, mỗi bậc cao trên 1,5m Thành được đắp bằng đấtđào ở hai bên, một số nơi gần núi có trộn thêm đất núi và sạn sỏi.

Đàn Nam Giao

Đàn Nam Giao được Hồ Hán Thương cho xây dựng vào tháng 8 năm 1402 trên

núi Đốn Sơn (dân gian gọi là núi Đún) Lễ tế Giao đầu tiên của triều Hồ được tổchức cùng năm

Đốn Sơn là một quả núi dài, có hai đỉnh, cách Cửa Nam Thành Nhà Hồkhoảng 2,5km về phía Đông - Nam Tọa độ địa lý của khu vực này là: 2003’50”

vĩ độ Bắc và 105037’40’’ kinh độ Đông Di tích đàn tế Nam Giao, nay thuộc địabàn hành chính xã Vĩnh Thành và Tiểu khu 3, thị trấn Vĩnh Lộc, nằm trong lònghai đỉnh của núi này theo thế dựa vào tay ngai, lọt trong khu vực La thành của ditích Thành Nhà Hồ

Do địa thế sát chân núi, thoải dần về phía Nam nên khu vực Nam Giaoquanh năm khô ráo Quan sát bề mặt hiện tại, di tích có hình gần vuông, chiềuĐông - Tây khoảng 120m, Bắc - Nam khoảng 130m, diện tích khoảng 1,5ha vớicác lớp nền của đàn tế và các vùng phụ cận có liên quan Nền cao nhất (nềnThượng) cao 21,70m; nền thứ 2 (nền Trung) cao 20,10m; nền thứ 3 (nền Hạ) cao17,30m và khu vực phụ cận (nền thứ 4) cao 15,40m so với mực nước biển Tiếpgiáp khu vực này ở phía Nam là các thửa ruộng lúa thuộc cánh đồng Nam Giao

có độ cao 10,5m so với mực nước biển

Mặc dù nhiều phần còn chưa được khai quật, nhưng các cuộc khai quật khảo cổhọc trên diện tích 5988m2 từ năm 2004 đến năm 2008 đã làm xuất lộ một đàn tế

có nền móng còn tương đối nguyên vẹn nhất trong số các đàn Nam Giao đượcbiết đến ở Việt Nam Cấu trúc của đàn tế này có thể nhận diện qua các dấu vếtcòn lại như sau:

Trang 16

- Các lớp tường đàn: đàn Nam Giao Thành Nhà Hồ hiện đã thấy có ít nhất 4vòng tường đàn, trong đó 3 vòng đã phát lộ móng của các bức tường đá bao xungquanh nền đàn trung tâm Tính từ trong ra ngoài, các lớp tường có hình dạng nhưsau:

Lớp tường thứ nhất ở trong cùng hình đa giác, móng được xây dựng bằng

đá, với hai đoạn vát chéo ở góc phía Tây Bắc và Đông Nam

Tường dọc phía Tây bắc dài 40,3m Lớp tường này bao bọc phần trungtâm của cấp nền trung tâm và cấp nền thứ hai Phía trước cấp nền trung tâm làphần sân nghi lễ Dấu tích còn lại cho thấy sân nền được xây dựng bằng đá dămnện chặt, phẳng phiu Mặt sân được lát bằng 2 loại gạch: Gạch vuông và gạchhình chữ nhật Chính giữa sân có dấu tích đường đi hướng tới phía trung tâm đàn

Lớp tường thứ hai cũng được xây bằng đá, có hình chữ nhật, bao quanhlớp tường thứ nhất Hai tường dọc (chiều dài) ở hướng Tây Bắc và Đông Namdài 61,3m, hai tường ngang (chiều rộng) ở hướng Đông Bắc và Tây Nam Chiềungang lòng Đàn theo hướng Tây Bắc – Đông Nam là 70,8m

Lớp tường đàn thứ ba mới xuất lộ một phần Ngoài dấu tích của các móngtường chạy thẳng ở một số vị trí của các cạnh, lớp tường đàn này có hai đoạncong tròn đối xứng ở hai góc Tây Bắc và Đông Bắc ôm lấy toàn bộ các cấp nền

1, 2, 3 và 4

Dấu tích của một số đoạn móng tường xuất lộ trong các hố thám sát khảo

cổ học cho thấy có thể có những lớp tường đàn khác bao quanh khu vực trungtâm Hi vọng các cuộc khai quật trong tương lai sẽ làm rõ giả thuyết này

Để thoát nước cho đàn tế, một hệ thống cống thoát nước được mở ngầmdưới các móng tường hoặc dưới các con đường Từ móng tường dọc phía ĐôngNam, đã phát hiện 4 cống thoát nước được mở ra ngoài Các cống nước phần lớnđược làm bằng đá, lát đáy bằng đá phiến, đậy bên trên bằng các khối đá xanh

Trang 17

trước khi xây tường lên trên Cống có thành xây bằng gạch chữ nhật, đáy lát đáphiến cũng được phát hiện, được xây ngầm cắt ngang qua đường đi.

Mặc dù chưa được bộc lộ rõ, dấu vết của con đường trục chính giữa (“linh đạo”)dẫn lên phần trung tâm đàn tế đã xuất lộ một phần trong cuộc khai quật năm

2004 Con đường này rộng khoảng 3,6m, có thể được chia làm 3 làn Làn trungtâm cao hơn hai bên

Xen giữa các vòng tường đàn, dấu tích của các con đường đi đã được pháthiện Giữa vòng tường thứ nhất và thứ hai là con đường rộng 3,1m ở hai phíaTây Bắc và Đông Bắc, rộng 5,37m ở phía Tây Nam

Nền đường được lát đá phiến trên những lớp đất trộn lẫn đá nện chặt Cáclớp gạch ngói và đá xây tường bị đổ, vùi lấp trên bề mặt đường dày tới 0,6m chothấy có khả năng có các kiến trúc gỗ lợp ngói trong khu vực này

Dấu tích của con đường thứ hai được phát hiện chạy song song với chânnền đàn thứ hai Đường rộng 1,5m, mặt đường được lát bằng những viên đáphiến và đá vôi, nhiều viên có kích thước lớn Nền dày 23cm, được đầm một lớpđất màu nâu nhạt lẫn các viên đá dăm trên nền đá gốc màu vàng sẫm

Nối thông giữa các con đường là các cửa được mở ra qua các bức tường ởcác vị trí khác nhau Ít nhất đã phát hiện được dấu tích 4 cửa đối xứng từng đôimột được mở qua vòng đàn thứ hai Nghiên cứu cấu trúc của một cửa ngách mởtrên vòng tường hai phía Tây nam cho thấy cửa quay về phía Tây bắc, rộngl,24m Các cối cửa cho thấy nó có hai cánh mở vào bên trong Nền cửa được látbằng gạch vuông xen gạch bìa Đá phiến cũng được dùng lát nền Ngói lợp pháthiện ở cửa phía Đông bắc cho thấy các mái cửa được lợp ngói

Ở góc Đông Nam, trên bậc nền thứ tư của đàn tế, một giếng nước hìnhvuông có các bậc dật cấp được phát hiện Hai mạch nước ngầm trong lòng giếngkhiến nó luôn đầy nước Đây được xác định là “giếng Ngọc”, còn dân gian quengọi là giếng Vua

Ngày đăng: 30/03/2021, 15:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w