Trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần liên hệ những nội dung kiến thức có liên quan đến các chủ đề học tập trong các phân môn Tập đọc, Luyện từ và câu với phân môn Tập làm văn, để cun[r]
Trang 1Chuyên đề: Giúp học sinh viết đoạn văn ngắn - Lớp 2
Họ và tên: Trần Thị Tú Anh
Để giỳp HS học tốt tiết Tập làm văn viết đoạn văn ngắn theo yờu cầu của
đề bài, tụi thường ỏp dụng những phương phỏp sau:
a) Vận dụng phương dạy học phỏt huy tớnh tớch cực của học sinh kết hợp phương phỏp quan sỏt và hỏi đỏp:
Kỹ năng quan sỏt rất cần cho học sinh khi viết văn: Quan sỏt trờn lớp theo gợi ý, hướng dẫn của giỏo viờn hoặc tự quan sỏt khi chuẩn bị bài ở nhà Giỏo viờn cần khai thỏc kỹ tranh ảnh, hỡnh ảnh, tập trung quan sỏt đặc điểm nổi bật của đối tượng , mục đớch là giỳp HS trỏnh được kiểu kể theo liệt kờ Bờn cạnh đú, tụi cũng hướng dẫn HS cỏch quan sỏt bằng cỏc giỏc quan để cảm nhận một cỏch cú cảm xỳc về sự vật
b) Phương phỏp thực hành giao tiếp:
Thụng qua phương phỏp quan sỏt, giỏo viờn rốn cho học sinh kỹ năng núi, trỡnh bày miệng bài núi, trước khi làm bài viết Trờn cơ sở đú, giỏo viờn điều chỉnh giỳp học sinh hoàn thiện bài viết Với phương phỏp này,tụi
thường tổ chức cho học sinh luyện núi cỏ nhõn, luyện núi trong nhúm ( HS
cú thể kết nhúm theo ý thớch, để cú sự thoải mỏi tự nhiờn, tự tin khi tham gia làm việc trong nhúm )
c) Phương phỏp phõn tớch ngụn ngữ:
Học sinh lớp 2 chưa được học về lý thuyết, ngữ phỏp, cỏc khỏi niệm từ
và cõu được hỡnh thành thụng qua thực hành luyện tập Chớnh vỡ vậy, việc tăng cường sử dụng phương phỏp phõn tớch ngụn ngữ rất cần thiết trong giờ học Tập làm văn Sử dụng phương phỏp này để GV cú cơ sở giỳp HS nhận
ra cấu tạo cõu, nhằm giỳp cỏc em viết cõu đỳng, đủ bộ phận
Vớ dụ: Dựa vào cỏc mẫu cõu được học trong phõn mụn Luyện từ và cõu: “
Ai – là gỡ?”, “ Ai – làm gỡ?”, “ Ai – như thế nào?”, GV hướng dẫn HS nhận biết những vấn đề sau:
- Cõu văn của em viết ra đó đủ hai bộ phận chưa: Bộ phận trả lời cho cõu
hỏi Ai?( hoặc cỏi gỡ?/ con gỡ)?, bộ phận trả lời cho cõu hỏi Là gỡ (hoặc làm gỡ?/ như thế nào? ( Đú chớnh là đảm bảo về hỡnh thức cấu tạo )
- Người đọc, người nghe cú hiểu nội dung chưa? ( Đảm bảo về mặt nghĩa )
Trờn cơ sở đú , GV hướng dẫn HS viết dấu chấm khi hết cõu
ờ Về kỹ năng:
Để trỏnh tỡnh trạng học sinh khụng làm được bài hoặc viết lan man quỏ nhiều cõu dẫn đến lạc đề, giỏo viờn giỳp học sinh cần biết làm như thế nào
để viết được một đoạn văn và cần phải viết những gỡ trong đoạn văn ấy
Giỳp HS cú một hệ thống cõu hỏi gợi ý rừ ràng:
Trang 2Trong chương trình, hầu hết các bài văn đều có câu hỏi gợi ý rõ, đầy đủ
GV có thể tranh thủ thời gian cuối tiết học hướng dẫn HS chuẩn bị, đọc câu hỏi gợi ý, suy nghĩ bài viết cho tiết sau Hoặc chuẩn bị phần tự học khi ở nhà, trước khi lên lớp Đối với những bài không có câu hỏi gợi ý, GV
có thể soạn , cung cấp những câu hỏi cho các em Đồng Thời có thể cho các
em quan sát một số bức tranh , hình ảnh có thật liên quan đến bài dạy để các
em có thêm vốn sống tạo cho bài văn thêm sinh động
Ví dụ: a/Bài viết về gia đình :
- Gia đình em gồm những ai?
- Những người đó làm công việc gì?
- Tình cảm của những người trong gia đình như thế nào ?
- Em sẽ làm gì để đền đáp lại sự quan tâm của người ấy dành cho em?
b/ Bài viết về một loài cây :
- Đó là cây gì, trồng ở đâu ?
- Hình dáng cây như thế nào?
- Cây có lợi ích gì ?
c/ Bài viết kể về một việc làm tốt mà em hoặc bạn em đã làm :
- Em ( Bạn em )đã làm việc tốt khi nào? Ơ đâu? Đó là việc gì?
- Em ( Bạn ấy ) đã làm như thế nào?
- Em suy nghĩ gì khi làm ( thấy bạn làm ) việc tốt đó?
Giúp học sinh nắm được trình tự các bước khi viết một đoạn văn: + Viết câu mở đầu: Giới thiệu đối tượng cần viết ( Có thể diễn đạt bằng
một câu )
+ Phát triển đoạn văn : Kể về đối tượng: Có thể dựa theo gợi ý , mỗi gợi ý
có thể diễn đạt 2đến 3 câu tùy theo năng lực học sinh
+ Câu kết thúc: Có thể viết một câu thường là nói về tình cảm, suy nghĩ ,
mong ước của em về đối tượng được nêu trong bài hoặc nêu ý nghĩa, ích lợi của đối tượng đó đối với cuộc sống, với mọi người
Ví dụ: Viết về một con vật:
- Con vật em định kể là con vật gì?
- Nó sống ở đâu? Hình dáng nó như thế nào?
- Hoạt động của nó có gì nổi bật?
- Vì sao em thích con v t đó? ậ
Câu mở đầu:
- Giới thiệu về chim sáo
- Trong thế giới loài chim, em thích nhất là chim sáo
Trang 3Các câu phát triển:
- Kể về chim sáo
Chim sáo được ông em nuôi đã hai năm rồi Mỏ nó vàng Lông màu nâu sẫm Nó hót suốt ngày Đôi khi còn nói được cả tiếng nguời.Có lẽ nó vui vì được mọi người chăm sóc, nuôi trong một cái lồng rất to, bên cạch một cây hoa lan rrất cao toả bóng mát
Câu kết thúc:
- Tình cảm của em đối với
loài chim này
Em thích nhất chim sáo vì chúng là những con vật hiền lành, dễ thương
Giáo viên cần giúp cho học sinh hiểu có nhiều cách diễn đạt để bài làm các em được phong phú, tránh tình trạng dạy học sinh làm văn mẫu Cần chủ động hình thành kỹ năng từng bước ở từng thời điểm thích hợp Không nên
áp đặt và đòi hỏi các em phải thể hiện được ngay những kỹ năng mới được
hình thành Trong quá trình giảng dạy, GV phải kiên nhẫn luôn tái hiện và
lặp lại kiến thức cho HS trong suốt năm học, giúp HS có được nền móng tốt cho việc học tập môn Tập làm văn ở các lớp trên
ê Về kiến thức:
Tổ chức ôn tập tốt cho học sinh: Giáo viên phải nắm các dạng đề Tập
làm văn ở lớp 2 để tổ chức ôn tập cho HS Có thể tập hợp từ chương trình một số đề bài sau đây:
Viết một đoạn văn ngắn về: Cô giáo ( hoặc thầy giáo )của em ; Một người
thân; Gia đình; Một em bé; Các mùa trong năm; Kể một việc làm tốt;Một con vật; Một loài chim; Tả ngắn về biển;Tả ngắn về một loài cây; Một loài hoa; Viết về Bác Hồ.
Khi học sinh được ôn tập tốt, kiến thức được hệ thống hóa một cách chắc chắn, phân biết rõ đặc điểm của các đối tượng sẽ giúp các em tránh được những nhầm lẫn đáng tiếc, ảnh hưởng đến chất lượng bài viết của các em
Tăng cường củng cố, mở rộng kiến thức cho học sinh:
Trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần liên hệ những nội dung kiến thức
có liên quan đến các chủ đề học tập trong các phân môn Tập đọc, Luyện từ
và câu với phân môn Tập làm văn, để cung cấp thêm vốn hiểu biết, vốn từ ngữ về sự vật, hiện tượng xoay quanh các chủ đề để học sinh có kiến thức, không bỡ ngỡ khi gặp những đề bài mới chưa được luyện tập trên lớp Giúp học sinh có hiểu biết về đề tài, vận dụng kỹ năng thực hành để bài viết đạt kết quả
Ví dụ: Khi học về chủ đề “ Ông bà“ “Cha mẹ”, “Anh em” ( từ tuần 10 đến
tuần 16), với rất nhiều những bài đọc thắm đượm tình cảm thương yêu trong gia đình, cùng với những tiết học phân môn Luyện từ và câu cung cấp, mở
Trang 4rộng vốn từ ngữ cho HS, ngoài việc giúp HS hiểu rõ và nắm chắc người thân của mình là những ai, ngoài việc khai thác và giáo dục tình cảm cho HS thông qua các nhân vật trong bài Tập đọc, nhấn mạnh cái hay, cái đẹp của nội dung bài, hướng cho HS liên hệ đến bản thân, gia đình, người thân của mình, tôi còn cung cấp thêm từ ngữ, hướng dẫn các em hệ thống lại, lựa chọn, ghi nhớ các từ ngữ phù hợp với đề tài ( ông bà, cha mẹ, anh em ) để chuẩn bị cho bài làm văn sắp tới ( viết về người thân ), tôi luôn nói với các
em sự cần thiết phải học thuộc và lựa chọn những từ ngữ đã học để các em vận dụng vào bài tập làm văn, khơi gợi và kích thích tinh thần học tập của các em
Hướng dẫn học sinh hình thành đoạn văn trên cơ sở các câu hỏi gợi ý :
Các bước hình thành:
- Hướng dẫn học sinh làm miệng, trả lời miệng từng câu hỏi Gợi ý cho học sinh trả lời bằng nhiều ý kiến khác nhau
-Nhận xét, sửa chữa những câu trả lời chưa đúng ; cung cấp và gợi ý để các
em có thể chọn từ đồng nghĩa thay thế cho từ cũ, có thể hướng dẫn mẫu các câu văn có hình ảnh nhân hóa hoặc so sánh để bài văn sinh động hơn ( khuyến khích học sinh khá giỏi vận dụng, không bắt buộc tất cả các đối tượng học sinh thực hiện vì đây là phần kiến thức chưa học, giáo viên hướng dẫn mẫu và cung cấp các thành ngữ so sánh , cách nhân hóa nhưng không đưa những thuật ngữ này ra với đối tượng học sinh lớp 2 )
- Hướng dẫn học sinh sắp xếp các câu trả lời đó theo một trật tự hợp lý để hoàn chỉnh bài làm miệng
- Cho một số học sinh làm miệng cả bài Sau đó hướng dẫn học sinh viết liền mạch các câu trả lời thành một đoạn văn
- Giới thiệu những bài văn hay của học sinh ở năm học trước nhằm kích thích tinh thần học tập của học sinh
Thực hiện nghiêm túc việc chấm và chữa bài:
Đây là việc làm hết sức cần thiết, giúp học sinh nhận ra lỗi sai để điều chỉnh, sửa chữa, hoàn chỉnh bài văn Học sinh lớp 2 chưa được học và luyện tập nhiều về từ ngữ, ngữ pháp, chắc chắn trong bài viết của các em sẽ rất nhiều lỗi sai trong quá trình chấm bài, GV phát hiện, giúp HS khắc phục, biết lựa chọn, thay thế các từ ngữ cho phù hợp Đối với những bài làm có ý hay, GV giúp học sinh gọt giũa, trau chuốt thêm cho bài văn được hay hơn Khi sửa bài, GV nên giới thiệu những bài làm hay ở năm học trước, hoặc những bài hay của học sinh trong lớp cho các em tham khảo, từ đó nhận thấy
sự khác nhau về cach diễn đạt trong cùng một đề tài để các em hiểu rằng những bài làm thể hiện suy nghĩ độc lập của cá nhân luôn được khích lệ và tôn trọng