Báo cáo phát triển
Trang 4Năm tài chính của chính phủ Việt Nam
Từ ngày 1 tháng Giêng đến ngày 31 tháng 12
Các từ viết tắt
CHXHCNVN Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
CPRGS Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và giảm nghèoCLTT&GNTD Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và giảm nghèo
DANIDA Chương trình Hỗ trợ Phát triển Quốc tế của Đan Mạch
ĐMPTDN Ban chỉ đạo Đổi mới và Phát triển Doanh nghiệp
KH&ĐT Bộ Kế hoạch và Đầu tư
OECD Tổ chức Phát triển và Hợp tác Kinh tế
UNCTAD Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Báo cáo này do Ngân hàng Thế giới soạn thảo và điều phối, với đóng góp đáng kểcủa Ngân hàng Phát triển Châu Á về lĩnh vực quản lý nhà nước, nhất là phần 14 vềcải cách hành chính Báo cáo cũng là kết quả của thảo luận với các nhà hoạch địnhchính sách và đại diện của các nhà tài trợ tại Hội thảo về Thực hiện Chiến lược Tăngtrưởng và Giảm nghèo toàn diện 2003-2005, tổ chức vào tháng 10-2002 tại Hải Phòng.Báo cáo dựa vào nghiên cứu phân tích gần đây do chính phủ Việt Nam, Ngân hàngThế giới và các nhà tài trợ khác tổ chức thực hiện Báo cáo còn tham khảo các nghiêncứu độc lập của các học giả Việt Nam và nước ngoài
Báo cáo do nhóm công tác, đứng đầu là Martin Rama thực hiện, với sự hướng dẫnchung của Homi Kharas, Klaus Rohland, và Nisha Agrawal và ý kiến đóng góp củaJohn Samy (ADB) Theo Larsen, Đinh Tuấn Việt và Tôn Thăng Long chịu trách nhiệmvề phần 1 cập nhật tình hình kinh tế vĩ mô gần đây; Phillippe Auffet, Theo Ib Larsenvà Đinh Tuấn Việt viết phần 2 về tự do hoá thương mại; Thomas Rose và MiguelNavarro-Martin là tác giả chính của phần 3 về cải cách tín dụng và tài chính; DanielRiley Musson và Phạm Minh Đức đóng góp vào phần 4 về cải cách doanh nghiệp nhànước; Amanda Carlier và Rob Swinkels soạn thảo phần 5 về phát triển khu vực tưnhân, với đóng góp thêm của Ziba Crammer và Deepak Khanna; Nguyễn Thế Dũngvà Christopher Gibbs viết phần 6 về đất đai, phần 7 về giáo dục do Mai Thị Thanhviết cùng với Christopher Shaw; Samuel Lieberman, Nguyễn Nguyệt Nga và AdamWagstaff chịu trách nhiệm về phần 8 về y tế, với sự đóng góp của Sarah Bales; AnjaliAcharya viết phần 9 về môi trường; Martin Rama và Nguyễn Nguyệt Nga chịu tráchnhiệm phần 10 về những tác động xã hội; Soren Davidsen chịu trách nhiệm phần 11 vềcải cách pháp luật, cùng với Jesper Kammersgaard; Edward Mountfield viết phần 12về quản lý chi tiêu công, với hợp tác chặt chẽ của Nguyễn Văn Minh; Martin Rama vàRob Swinkels là tác giả của phần 13 về đầu tư công cộng; Ramesh B Adhikari vàSoren Davidsen viết phần 14 về cải cách hành chính
Người đọc phản biện cho báo cáo này là Alan Johnson (DFID Hà Nội), Will Martin(Ngân hàng Thế giới), và David Shand (Ngân hàng Thế giới) Ông Lê Đăng Doanh,Cố vấn Bộ trưởng Bộ Kế hoạch Đầu tư cũng góp ý cho Báo cáo Báo cáo cũng đượcthảo luận với các nhà nghiên cứu của Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ,Viện Kinh tế, Viện Quản lý Kinh tế Trung ương, và Viện Chiến lược Phát triển.Soạn thảo tài liệu và hỗ trợ in ấn do Nguyễn Thu Hằng, Phùng Thị Tuyết, HoàngThanh Hà, Marisa Giuliani và Muriel S Greaves
Trang 7MỤC LỤC
Tóm tắt tổng quan i
Giới thiệu 1
I Nền kinh tế thị trường 6
1 Duy trì tính ổn định 7
2 Thương mại chính là cơ hội 14
3 Một trường hợp thử nghiệm của cải cách 23
4 Tín dụng và ngân hàng 32
5 Một chặng đường dài phía trước 40
II Phát triển hoà nhập 48
6 Khởi nguồn từ đất 49
7 Thách thức trong giáo dục 59
8 Những bất bình đẳng đáng ngại về y tế 66
9 Môi trường 74
10 Các tác động xã hội của cải cách 78
III Quản lý nhà nước hiện đại 85
12 Quản lý chi tiêu công 90
13 Đầu tư công cộng 96
14 Cải cách hành chính 103
Tài liệu tham khảo 111
Phụ lục Thống kê 126
Khung Khung I: Thực hiện CLTT&GNTD
Khung 1: Những cam kết và tuyên bố gần đây
Khung 1.1: Việt Nam rủi ro đến mức nào?
Khung 2.1: Gia nhập các hiệp định thương mại khu vực và đa phương
Khung 2.2: Tác động của việc Trung Quốc ra nhập Tổ chức Thương mại Thế giới đối với Việt Nam
Khung 3.1: Các quy định mới về cải cách doanh nghiệp nhà nước
Khung 4.1: Đánh giá các nguyên tắc chủ đạo Basel còn hạn chế
Khung 4.2: Tiết kiệm bưu điện
Khung 5.1: Mười bước (và 68 ngày) để bắt đầu
Khung 5.2: Kinh nghiệm của Bình Dương
Khung 5.3: Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Khung 6.1: Hợp nhất đất và năng suất
Trang 8Khung 8.2: Sống với tình trạng tàn tật
Khung 9.1: Công khai hoá thông tin môi trường ở Hà Nội
Khung 10.1: Quỹ hỗ trợ lao động dôi dư
Khung 11.1: Thành lập Hiệp hội ngành nghề
Khung 12.1: Các khiếm khuyết chính của thông tin quản lý tài chính
Khung 12.2: Các mục tiêu của Khuôn khổ chi tiêu trung hạn
Khung 12.3: Thí điểm “khoán chi” tại Thành phố Hồ Chí Minh
Khung 13.1: Quỹ Hỗ trợ Phát triển
Khung 13.2: Lĩnh vực đầu tư và nghèo đói tại Trung quốc và Ấn độ
Khung 14.1: Phải chăng lương của người lao động trong khu vực nhà nước là thấp?
Khung 14.2: Đánh giá sơ bộ cơ chế một cửa một dấu
Khung 14.3: Phân cấp và Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và giảm nghèo Khung 14.4: Các vấn đề trong việc thực hiện dân chủ ở cơ sở
Khung 14.5: Tiếp tục cải cách công tác đấu thầu
Bảng Bảng I: Các mục tiêu phát triển của Việt Nam
Bảng 1.1: Động lực của tăng trưởng
Bảng 1.2: Xuất khẩu tăng ở mức khiêm tốn
Bảng 1.3: Yêu cầu tài trợ và nguồn tài trợ (tỷ đô la)
Bảng 2.1: Những thay đổi lớn trong chính sách thương mại từ năm 2000
Bảng 2.2: Lộ trình thuế suất trong tương lai
Bảng 2.3: Tỷ lệ bảo hộ hữu hiệu
Bảng 2.4: Cơ sở hạ tầng liên quan đến thương mại
Bảng 3.1: Chuyển đổi và thành lập mới
Bảng 4.1: Tín dụng cho các doanh nghiệp nhà nước
Bảng 5.1: Những doanh nghiệp mới đăng ký
Bảng 5.2: Tầm quan trọng của quan hệ quen biết
Bảng 7.1: Tỷ lệ đi học đúng tuổi tính theo vùng
Bảng 7.2: Tỷ lệ học sinh bỏ học và lưu ban (%)
Bảng 11.1: 17 ưu tiên trong số 250 kiến nghị chính sách
Hình Hình I: Điểm mạnh và điểm yếu của Việt Nam
Hình 1.1: Tăng trưởng kinh tế đang nhích lên
Hình 1.2: Đầu tư trực tiếp nước ngoài ổn định
Hình 3.1: Tỷ trọng của khu vực nhà nước và tư nhân
Trang 9Hình 3.2: Hoạt động của các doanh nghiệp cổ phần hoá
Hình 3.3: Điều gì thuận lợi và khó khăn trong quá trình cổ phần hoá
Hình 4.1: Thị phần cho vay theo loại hình tổ chức tín dụng
Hình 4.2: Xử lý nợ không sinh lời trong năm 2002
Hình 7.1: Kết quả học môn toán của học sinh nam và học sinh nữ
Hình 7.3: Vị trí trường học và kết quả học tập
Hình 7.4: Kiến thức của giáo viên và thành tích học tập của học sinh
Hình 8.1: Có cải thiện, song không phải cho tất cả mọi người
Hình 8.2: Các nguồn tài chính cho y tế
Hình 8.3: Tỷ lệ người sử dụng các loại dịch vụ y tế khác nhau
Hình 9.1: Các xu hướng trong thành phần cấu tạo độ che phủ rừng
Hình 9.2: Đánh bắt thuỷ sản
Hình 10.1: Tốc độ tăng trưởng tiêu dùng hàng năm
Hình 10.2: Trợ cấp từ các chương trình xã hội
Hình 13.1: Tác động ước tính của đường bộ tới mức sống, 1993-98
Trang 11Sau giai đoạn bị chững lại do khủng hoảng ở Đông Á, Việt Nam lại tăng trưởng tương
đối mạnh Sự cải thiện này một phần là do một loạt các biện pháp chính sách đưa nền
kinh tế theo một quỹ đạo tăng trưởng trung hạn tốt hơn Lòng tin trong khu vực tư
nhân được đẩy mạnh nhờ chương trình cải cách chi tiết được thông qua vào năm 2001
Các doanh nghiệp mới của tư nhân hiện đang được thành lập với tốc độ 1,600 doanh
nghiệp mỗi tháng, và vào đầu năm 2002, Hội nghị Trung ương 5 đã dành cho khu vực
tư nhân sự ủng hộ mạnh mẽ nhất Các nhà đầu tư đang phản ứng tích cực trước
những tuyên bố và cam kết cải cách mà Việt Nam đưa ra Đất nước đang được xếp
hạng tốt hơn bởi các tổ chức xếp hạng quốc tế về rủi ro quốc gia và tình hình kinh tế
vĩ mô cũng ổn định Mặc dù thị trường bên ngoài có những bất lợi về nhu cầu và giá,
xuất khẩu dự kiến sẽ nhích lên do có những nỗ lực tự do hóa thương mại, bao gồm
hiệp định thương mại Việt-Mỹ Tăng trưởng kinh tế mạnh đang đi kèm với mức nợ
nước ngoài ở mức kiểm soát được
Viễn cảnh thuận lợi này, kết hợp với tiềm năng tăng trưởng dài hạn đáng kể của Việt
Nam, cho thấy rằng ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng Đông Á đã đi qua Một giai
đoạn với tăng trưởng GDP cao, có lẽ ở mức 7% một năm, là hoàn toàn có thể Cũng
như trong giai đoạn của những năm 90, Việt Nam có thể bước vào một giai đoạn thịnh
vượng Tuy nhiên, đánh giá lạc quan này về triển vọng kinh tế vĩ mô không nên dẫn
đến tinh thần tự mãn Trong giai đoạn tăng trưởng cao trước đây, một câu hỏi then
chốt là liệu Việt Nam có chuyển sang kinh tế thị trường được không Còn ngày nay,
câu hỏi là loại kinh tế thị trường nào Cũng vậy, giai đoạn tăng trưởng cao trước đây
đã đi kèm với giảm nghèo đáng kể Năm 1998, người nghèo chiếm 37% dân số, so với
tỉ lệ 58% 5 năm trước đó Câu hỏi của ngày hôm nay là: người nghèo liệu có còn tiếp
tục được hưởng lợi trong giai đoạn tăng trưởng nhanh lần này như giai đoạn trước
không?
Việt Nam đã cam kết phát triển về công bằng xã hội Chiến lược tăng trưởng và giảm
nghèo toàn diện (CLTT& GNTD) mới hoàn tất gần đây đã biến chiến lược chuyển đổi
sang kinh tế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa thành những hành động cụ
thể của chính phủ Nó nhằm vào việc mở cửa đất nước với nền kinh tế toàn cầu trong
thập kỷ tới, và tạo ra một sân chơi bình đẳng giữa khu vực nhà nước và tư nhân Nó
nhấn mạnh rằng công cuộc chuyển đổi này phải vì người nghèo, và lưu ý rằng cũng
sẽ đòi hỏi phải có đầu tư mạnh hơn vào nông thôn và những vùng tụt hậu, và thực
hiện cải cách từ từ hơn so với những gì mà các chuyên gia quốc tế thường khuyến cáo
Nó cũng chú trọng mạnh vào giảm nghèo và công bằng xã hội, và vào một nền quản
trị nhà nước hiện đại hơn CLTT&GNTD là một sản phẩm của chính phủ Việt Nam,
với sự tham gia của tất cả các cơ quan và ban ngành hữu quan trong quá trình soạn
thảo Tính chủ quyền và quyết tâm đó là một dấu hiệu đáng mừng
Những thách thức ở phía trước
Có 3 thách thức quan trọng ở phía trước Thứ nhất, liên quan đến tiếp tục đẩy mạnh
cải cách Trong 3 năm qua, chính phủ Việt Nam đã có một loạt những cam kết đầy ấn
tượng, và đã thông qua nhiều sáng kiến nhằm đẩy nhanh quá trình chuyển đổi sang
kinh tế thị trường Nhưng, những nỗ lực này đã tiến triển không đồng đều, và một số
trong đó có thể đang mâu thuẫn nhau Tiến bộ nhanh trong tự do hóa thương mại và
hội nhập kinh tế thế giới lại đang không ăn khớp với sự chậm lại trong cải cách doanh
TÓM TẮT TỔNG QUAN
Trang 12nghiệp nhà nước Có nguy cơ là những doanh nghiệp không được cải cách, một khiphải đối mặt với cạnh tranh trong thị trường sản phẩm, sẽ tìm cách chuyển gánh nặng
do sự kém hiệu quả của mình sang một ngành khác trong nền kinh tế, thông qua việcđòi trợ cấp công khai hoặc gia tăng các khoản nợ quá hạn Điều quan trọng khôngkém là các quyết định ngày càng được thực hiện ở cấp địa phương Tiến bộ khôngđồng đều trong phát triển khu vực tư nhân giữa các địa phương thể hiện khó khăntrong việc gắn quá trình hoạch định chính sách cụ thể ở cấp địa phương với nhữngcam kết và định hướng chung của chính phủ Những vấn đề tương tự nảy sinh ở hầuhết các chính sách ngành
Thách thức quan trọng thứ hai mà Việt Nam phải đối mặt là việc giảm nghèo Giaiđoạn phát triển thịnh vượng sau đổi mới nổi bật lên một điều là nó không đi kèm vớisự gia tăng đáng kể về bất bình đẳng Các chỉ số tổng hợp về bất bình đẳng như hệsố Gini về cơ bản vẫn giữ nguyên trong những năm 90 Các phân tích mổ xẻ sâu hơncho thấy rằng người nghèo được lợi hơn người giàu, xét theo nghĩa tương đối Sự kếthợp giữa tăng trưởng nhanh và mức độ bất bình đẳng giữ ổn định giải thích chonhững thành tựu của Việt Nam trong giảm nghèo Tuy nhiên, nếu không có một hànhđộng kiên quyết thì bất bình đẳng có khả năng sẽ gia tăng, thậm chí là đáng kể, tronggiai đoạn tăng trưởng mới Đó là do tác dụng lên nghèo đói của việc phân chia lại đấtđai ở nông thôn giờ đây có lẽ đã gần hết Đồng thời, hội nhập kinh tế thế giới sẽkhiến kỹ năng lao động trở nên có giá trị, do đó bất bình đẳng trong giáo dục sẽ biếnthành bất bình đẳng ngày càng gia tăng trong cơ hội thu nhập Sự chênh lệch giữanông thôn và thành thị đang lớn lên, cũng như chênh lệch giữa những người có thểtận dụng được những lợi ích của toàn cầu hóa đem lại và những người bị tụt hậu Bấtbình đẳng gia tăng trong sức khỏe cũng không thể bị bỏ qua
Thách thức thứ 3 mà Việt Nam phải đối mặt, và chắc chắn không phải thách thức nhỏnhất, là cải thiện chất lượng quản lý nhà nước Sẽ không thể giải quyết được hai tháchthức kia nếu không có một nền hành chính hữu hiệu, được hỗ trợ bởi những công cụquản lý tài chính thích hợp Việc thực hiện các cải cách cơ cấu và cải thiện các kết quảxã hội là những nhiệm vụ đòi hỏi phải có một chính phủ thực thi được việc này.Nhưng khuôn khổ pháp lý, hệ thống ngân sách và cơ cấu hành chính của Việt Nammột phần vẫn còn thừa hưởng từ thời kinh tế kế hoạch hóa tập trung, và không hoàntoàn thích nghi với những nhu cầu hiện nay Sự thiếu ăn khớp này là nguyên nhângây hiệu quả kinh tế thấp Nó cũng dẫn đến những quan hệ không lành mạnh giữacác doanh nghiệp (cả nhà nước và tư nhân) với quan chức chính phủ Sự kết hợp củanhững bộ phận ngày càng giàu có ở đô thị với quan niệm cho rằng giàu có đi kèm vớitham nhũng đã chứng tỏ là điều gây tổn hại ở các nước khác trong khu vực Nếu ViệtNam không khắc phục được vấn đề quản trị nhà nước, và để cho những lợi ích cục bộthâu tóm hết những khoản chi trợ cấp, để bù lại sự kém hiệu quả của mình, thì giaiđoạn phát triển mới sau này sẽ bị coi là thứ “tăng trưởng vay mượn”
Tình hình hiện nay ở Việt Nam có thể được diễn giải thông qua lăng kính của môitrường chính sách chung, và so sánh nó với các nước khác Đánh giá về chính sách vàthể chế quốc gia của Ngân hàng Thế giới đã xem xét 20 chỉ tiêu: 4 liên quan đến quảnlý kinh tế, 6 liên quan đến các chính sách cơ cấu, 5 liên quan đến các chính sách bìnhđẳng xã hội và 5 liên quan đến quản trị nhà nước Kết quả của đánh giá đó đượctrình bày thành sơ đồ trong hình I Một chính sách càng xa tâm của sơ đồ thì chấtlượng của lĩnh vực đó càng tốt
Năm 1998, vào đầu cuộc khủng hoảng Đông Á, điểm mạnh chính của Việt Nam làtrong quản lý kinh tế vĩ mô và các chính sách bình đẳng xã hội Về cả hai khía cạnh,Việt Nam vượt trội hơn mức trung bình của các nước có thu nhập thấp Các chỉ số nàytương đương với của 20% những nước thành công nhất trong nhóm này Yếu kém
Trang 13chính của Việt Nam nằm ở chính sách cơ cấu và quản trị nhà nước, trong đó số điểm
không cao hơn mức trung bình của các nước có thu nhập thấp Bốn năm sau, đã có
tiến bộ đáng kể trong quản lý kinh tế vĩ mô Và còn có cả tiến bộ về mặt cải cách cơ
cấu, nhất là trong thương mại và khu vực tài chính Đó chính là những cải thiện căn
bản tái tạo lại lòng tin của các nhà đầu tư, và nhìn chung, đánh dấu một giai đoạn
tăng trưởng kinh tế mới Nhưng các chỉ tiêu về cơ cấu vẫn bị tụt hậu
Tiến bộ trong những lĩnh vực khác còn khiêm tốn hơn nhiều, và đối với một số chỉ
tiêu dường như không có tiến bộ gì Việt Nam vẫn dẫn đầu trong bình đẳng và hòa
nhập xã hội, và đã cải thiện căn bản năng lực phân tích nghèo đói Nhưng lợi thế của
Việt Nam so với các nước có thu nhập thấp trong lĩnh vực này giờ đây đã chững lại
Trong quản trị nhà nước, có bước tiến quan trọng trong quản lý ngân sách, nhưng ít
có báo cáo về các chỉ tiêu khác Quản trị nhà nước là một lĩnh vực mà Việt Nam còn
nhiều việc phải làm
Xu hướng hiện nay
Những yếu tố căn bản trong ổn định kinh tế vĩ mô là tốt, và việc thông qua các cải
cách cơ cấu đã đem lại lòng tin ngày càng tăng trong nền kinh tế Năm 2002, dự kiến
tăng trưởng GDP thực tế là khoảng 6%, cho thấy có sự cải thiện so với năm trước
Thành tích tăng trưởng này duy trì được là do có gia tăng trong tiêu dùng nội địa
Đầu tư cũng là một nguồn tăng trưởng quan trọng trong năm 2002, cho thấy sự phục
hồi này là bền vững Việc nhiều doanh nghiệp mới thành lập và lòng tin vững mạnh
hơn của các nhà đầu tư đã đẩy tốc độ đầu tư vốn lên và đưa con số những doanh
nghiệp mới đăng ký lên gần 50.000 doanh nghiệp trong giai đoạn 2 năm Đến tháng
7-2002, riêng đầu tư của những doanh nghiệp vừa và nhỏ mới trong khu vực kinh tế
chính thức đã là khoảng 40 nghìn tỷ đồng (tương đương 2,7 tỷ đô la) Con số này
tương đương 9% GDP Khu vực tư nhân chính thức cũng sử dụng khoảng 1 triệu lao
động, gần bằng hai phần ba số lao động trong các doanh nghiệp nhà nước
Khu vực ngoài nhà nước trong nước vẫn tiếp tục dẫn đầu trong tăng trưởng Sản xuất
chế tạo tăng mạnh, với khu vực tư nhân trong nước và nước ngoài có tỷ lệ tăng
Trang 14trưởng sản lượng hàng năm lần lượt là 19% và 15% Với mức tăng sản lượng so cùngkỳ năm trước là 12%, thành tựu của khu vực nhà nước trở nên khiêm tốn hơn Điềunày phản ánh sự chuyển đổi dần dần của Việt Nam sang kinh tế thị trường, với nhiềudoanh nghiệp nhà nước ngày càng phải đứng trước áp lực cạnh tranh và hạn chế ngânsách cứng Khu vực tư nhân chính thức trong nền kinh tế đã vượt khu vực nhà nướcvề mặt tỷ lệ tăng giá trị gia tăng, ít nhất là từ năm 1997.
Hoạt động xuất khẩu cho đến nay thì kém ngoạn mục hơn Trong tám tháng đầu năm
2002, xuất khẩu giảm 1,7% so với cùng kỳ năm trước Sự suy giảm này một phần là
do giá dầu thô và một số mặt hàng khác giảm, những mặt hàng chiếm hơn một phần
tư trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam Tuy nhiên, đến tháng 8 và tháng 9đã có sự đảo ngược về tình hình xuất khẩu, và tăng trưởng cho cả năm dự kiến làkhoảng 7% Có thể dự kiến đạt tăng trưởng xuất khẩu đáng kể do có tiến bộ trong tự
do hoá thương mại, bao gồm cả hiệp định thương mại Việt-Mỹ, bắt đầu có hiệu lực từnăm 2001
Lập trường ngân sách vẫn giữ quan điểm thái độ thận trọng, với mức thâm hụt ngânsách dự kiến xấp xỉ 2.5% GDP, không kể cho vay lại, trong năm 2002 Tổng mức chingân sách đã được kiềm chế Chi đầu tư đã tăng trong năm 2001 để cải tạo cơ sở hạtầng bị lũ lụt tàn phá, nhưng nay không tiếp tục tăng nữa Cả tỷ trọng của chi đầu tưvà chi thường xuyên trong GDP đều giảm trong năm 2002 Chính sách tín dụng tiếptục được kiềm chế, theo sát với chương trình được IMF hỗ trợ Điều đáng nói là mứctăng tín dụng cho các doanh nghiệp nhà nước được giữ ở mức thấp hơn so với thoảthuận Năm 2002, lạm phát đạt mức 4,3%, tăng từ không hoặc hơi âm trong nhữngnăm trước
Khả năng trả nợ nước ngoài của Việt Nam ước tính là sẽ bền vững trong trung và dàihạn, điều này có lẽ khiến Việt Nam không được xếp vào loại được giảm nợ trongChương trình các nước nghèo mắc nợ trầm trọng (HIPC) Khối lượng nợ nước ngoàichưa trả hiện nay ước tính vào khoảng 13,3 tỷ đô la tính đến cuối năm 2002 Số nợ nàychiếm 37% GDP và 84% xuất khẩu, với nghĩa vụ trả nợ hàng năm chiếm 8% xuấtkhẩu Hầu hết những khoản nợ này là theo điều khoản ưu đãi, có nghĩa là với mức lãisuất rất thấp Cách nhìn nhận của các cơ quan xếp hạng về Việt Nam cũng nhất quánvới khả năng bền vững trung hạn này
Luồng vốn từ nước ngoài đưa vào cũng ổn định, hoặc thậm chí gia tăng Mặc dùthông tin về mặt này còn hạn chế, song nguồn kiều hối của người Việt Nam ở nướcngoài đã trở thành một nguồn ngoại tệ quan trọng, và có thể vượt mức 2 tỷ đô latrong năm 2002 Các cam kết đầu tư nước ngoài trực tiếp đã giảm so với năm 2001,nhưng mức thực hiện thì không Nhìn chung, luồng vốn thực tế của nước ngoài đưavào có xu hướng nhích lên Sự ổn định tương đối trong đầu tư nước ngoài trực tiếpthường được đem so sánh với mức tăng rất lớn trong các cam kết ở Trung Quốc.Nhưng cho đến nay toàn bộ khu vực Đông Á đều có lượng đầu tư nước ngoài giảm
Thực hiện cải cách
Tiếp tục thực hiện cải cách cơ cấu trong khu vực doanh nghiệp và tài chính, cải thiệnquản lý chi tiêu công và đầu tư công là điều căn bản nhằm đảm bảo cho tình hình nợtrong nước duy trì ở mức bền vững trong trung hạn Tiến độ còn chênh lệch giữa cáccuộc cải cách cũng là một mối lo ngại Đặc điểm của tình hình hiện nay là tiến bộkhông đồng đều trong cuộc hành trình đi đến phát triển Trong khi tự do hoá thươngmại tiến triển đều, thậm chí còn nhanh hơn dự kiến, thì những lĩnh vực khác tiến bộlại chậm hơn nhiều, nếu không muốn nói là hoàn toàn chững lại Nếu các doanh
Trang 15nghiệp nhà nước không thể đương đầu với cạnh tranh ngày càng gia tăng trong thị
trường sản phẩm, thì họ sẽ gặp khó khăn trong việc trả nợ, gây thêm gánh nặng cho
khối lượng nợ khó đòi vốn đã lớn của hệ thống ngân hàng Khả năng sẽ có thêm
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng của Việt Nam lại càng gây áp lực
cho khu vực nhà nước hiện còn một bộ phận chưa được cải cách
Điều đó không có ý muốn nói rằng tự do hoá thương mại cần làm chậm lại, hoặc phải
đảo ngược lại những tiến bộ đã đạt được Trong vòng 15 năm, thuế quan đã giảm
xuống, và nhiều hạn chế định lượng đã được bãi bỏ, chế độ tỷ giá đã được tự do
hoá Và vẫn còn quyết tâm duy trì theo hướng này, thể hiện bằng việc ký kết hiệp
định thương mại song phương Việt-Mỹ, và đang có những bước đàm phán để gia
nhập Tổ chức thương mại thể giới (WTO) Với những cam kết đã đưa ra, Việt Nam sẽ
chỉ thiệt thòi nếu cứ trì hoãn việc gia nhập WTO Chi phí cho việc gia nhập sẽ càng
tăng theo thời gian, và đến 2005 có thể sẽ tăng rất nhiều, khi kết thúc chương trình
nghị sự phát triển Doha Hơn nữa, việc Trung Quốc gia nhập WTO gần đây đã đưa
Việt Nam vào thể bất lợi Và do WTO có ngầm ý phân biệt đối xử đối với những
nước không phải thành viên, nên việc gia nhập sẽ đưa Việt Nam và vị thế có lợi hơn
để bảo vệ quyền lợi của mình trước những hàng rào phi lý cho hàng xuất khẩu của
mình
Cách làm nữa là phải tăng cường những cải cách cơ cấu khác Đối với các doanh
nghiệp nhà nước, kế hoạch cải cách dự trù sẽ xắp xếp lại và chuyển đổi sở hữu của
1.700 doanh nghiệp trong giai đoạn 2001-2005 Công cụ chính để thực hiện chuyển thể
là cổ phần hoá, mà theo lập luận thì không giống hoàn toàn với việc tư nhân hoá Cổ
phần hoá là một quá trình trong đó một phần hoặc toàn bộ vốn của nhà nước tại
doanh nghiệp sẽ được bán dưới hình thức cổ phiếu với giá dựa trên giá trị sổ sách
của tài sản Song trên thực tế, khó có thể thực hiện nếu không có sự đồng ý của giám
đốc và đa số người lao động Các công cụ cải cách khác bao gồm bán, cho thuê,
khoán, và thanh lý Mặt khác, những doanh nghiệp nằm trong danh mục dài gồm
những ngành được coi là “chiến lược” sẽ được cơ cấu lại, nhưng vẫn nằm trong tay
nhà nước
Mặc dù những nỗ lực để chuyển thể và cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước cho đến nay
là đúng tiến độ, nhưng tiến bộ thì còn chậm Hiện tại, các cơ chế cải cách được áp
dụng mới chỉ là tự nguyện, chứ chưa phải là bắt buộc các doanh nghiệp phải chuyển
đổi Sự miễn cưỡng trong sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp này là dễ hiểu khi mà
tình trạng thừa người là phổ biến, và sắp xếp lại sẽ có thể dẫn đến việc sa thải hàng
loạt Những khoản nợ quá lớn cũng làm nhụt trí người mua cổ phần Mặc dù cơ chế
đền bù nhằm khuyến khích tự nguyện thôi việc mới được đưa ra, song cơ chế để giải
quyết nợ khó đòi cho đến nay mới chỉ có hiệu lực một phần Nhưng sự chậm lại trong
quá trình chuyển thể dường như còn phản ánh sự kháng cự của nhiều giám đốc
doanh nghiệp nhà nước, những người có thể bị mất quyền lợi nếu doanh nghiệp do
họ quản lý sẽ thuộc diện chuyển đổi sở hữu
Một kế hoạch cải cách doanh nghiệp nhà nước mới đang được soạn thảo Tên của
những doanh nghiệp thuộc diện chuyển đổi sẽ được công bố, chỉ rõ thời hạn phải
chuyển đổi Tuy nhiên, việc giám sát và cưỡng chế quá trình này có thể vẫn còn yếu
Các cơ chế mới cũng đang được cân nhắc để giải quyết nợ của những doanh nghiệp
nhà nước chuyển thể Nhưng cụ thể thì còn chưa rõ Điều then chốt là thiết kế phù
hợp để tránh việc tạo động cơ khuyến khích tiếp tục tăng nợ xấu, đồng thời phải
giảm thiểu nguy cơ cho ngân sách Thông tin tốt hơn về doanh nghiệp nhà nước cũng
giúp củng cố quá trình này Bộ Tài chính đang soạn thảo những tiêu chuẩn kế toán
mới để ban hành năm 2003 Việc áp dụng những tiêu chuẩn này sẽ có tác dụng lớn
Trang 16trong nâng cao tính minh bạch Nhưng hiệu quả của nó lại tùy thuộc rất nhiều vàonhững yêu cầu khai báo được nêu cụ thể và những cơ chế thi hành được áp dụng.Trong khu vực ngân hàng, bốn ngân hàng thương mại quốc doanh lớn vẫn chiếm 73%tổng tài sản của toàn hệ thống Nhưng trong thập kỷ qua những ngân hàng này đãphát triển từ những kênh cho vay chính sách chuyên biệt sang thành những trung giantài chính định hướng thương mại nhiều hơn, với những tiến bộ rõ rệt trong năm 2001và 2002 Những ngân hàng thương mại quốc doanh này hiện được bổ sung bởi một sốngân hàng cổ phần, ngân hàng liên doanh, và chi nhánh và văn phòng đại diện củacác ngân hàng nước ngoài Bên cạnh đó, còn có sự gia tăng nhanh chóng về mức độtiền tệ hóa trong nền kinh tế Việt Nam Tỷ lệ giữa tín dụng ngân hàng trên GDP đãtăng từ 13% năm 1990 lên 27% năm 1995 và 44% năm 2000 Tăng trưởng của khu vựctài chính phi ngân hàng, nhất là ngành bảo hiểm, cũng rất đáng kể, mặc dù quy môtuyệt đối của khu vực này vẫn còn nhỏ.
Sự chuyển dịch này của khu vực tài chính trong một số lĩnh vực với tiến độ trong tầmkiểm soát, và trong một số lĩnh vực khác chỉ mang tính thăm dò và khởi động Nhưngnhững thay đổi này không phải là không có giá phải trả Tiếp tục cho vay chính sáchtrong những năm 90, và kỹ năng tín dụng cũng hạn chế khi tín dụng tăng trưởngnhanh đã dẫn đến sự tích tụ của những khoản nợ không sinh lời Để giải quyết vấnđề này, chính phủ bắt tay vào một cuộc cải cách quan trọng đối với hệ thống ngânhàng thông qua một chương trình tái cơ cấu và tái cấp vốn trong nhiều năm Tiến bộtrong giải quyết những khoản nợ không sinh lời cũ vẫn còn chậm Khó khăn chính làvới những khoản nợ không thế chấp, chủ yếu là của doanh nghiệp nhà nước Cácngân hàng thương mại quốc doanh cảm thấy khó khăn trong đạt mục tiêu giải quyếtnợ, do chậm trễ trong cải cách doanh nghiệp nhà nước
Để tiến tới, quy chế và giám sát đối với khu vực ngân hàng cần được nâng cấp nhằmthúc đẩy định hướng hoạt động thương mại Đánh giá chất lượng tài sản và nhữngrủi ro khác trong hoạt động ngân hàng phải trở thành công việc hàng ngày của cácthanh tra Các chuẩn mực kiểm toán quốc tế phải được áp dụng Và Ngân hàng Nhànước Việt Nam cần tập trung nhiều hơn vào chức năng chính của ngân hàng trungương và giám sát các ngân hàng
Về phát triển khu vực tư nhân, đã có sự thay đổi đáng kể trong thái độ nhờ có việcban hành Luật Doanh nghiệp năm 2000, và gần đây hơn là Hội nghị Trung ương 5,khoá 9 vào tháng 3-2002 đã chính thức ủng hộ Kể từ khi ban hành luật này, số doanhnghiệp đăng ký và kết quả hoạt động của khu vực tư nhân chính thức đã tăng mộtcách ngoạn mục Nhưng bất chấp những tiến bộ này, khu vực tư nhân chính thứctrong nước ở Việt Nam vẫn còn rất nhỏ bé và tương đối mong manh Đến năm 2002,nó chỉ mới chiếm chưa đầy 4% GDP, 6% sản lượng công nghiệp chế tạo, và khoảng 3%tổng số việc làm
Tăng trưởng của khu vực tư nhân sẽ có tầm quan trọng thiết yếu để thu hút được 1,2triệu lao động mới mỗi năm Để duy trì được đà tăng trưởng theo thời gian, việc cảithiện môi trường kinh doanh sẽ là cần thiết Hiện tại, sân chơi cho các loại hình doanhnghiệp ở Việt Nam còn xa mới là bình đẳng Các nhóm doanh nghiệp khác nhau, dù làdoanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nước ngoài, doanh nghiệp tư nhân chính thức,hay hộ kinh doanh, mỗi loại lại chịu sự điều chỉnh của luật lệ và quy định riêng Tiếpcận với những thị trường chính như đất đai và vốn cũng khác nhau giữa các loại hìnhdoanh nghiệp, dẫn đến những hành vi khác nhau của các doanh nghiệp Tầm nhìn vàcách điều hành ở các cấp địa phương cũng rất quan trọng Chính quyền địa phươngcó ảnh hưởng trực tiếp đến các thị trường yếu tố sản xuất, giấy phép hoạt động, phêduyệt đầu tư, đăng ký kinh doanh, và các thể loại thanh tra tại chỗ
Trang 17Bất bình đẳng gia tăng?
Giai đoạn tăng trưởng mà Việt Nam trải qua trong thập kỷ 90 là rất có lợi cho người
nghèo Điều này phần lớn là nhờ cải cách đất đai Việc phân bổ và cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho các hộ nông thôn, nơi hầu hết người nghèo sinh sống, đã
tạo ra sự phân phối lại đáng kể của cải Sự phân bổ này cũng là nguồn chính làm
tăng sản lượng nông nghiệp Nhưng cải cách đất đai chỉ là biện pháp can thiệp một
lần, dẫn đến mức tiêu dùng của hộ tăng, nhưng không nhất thiết là tạo ra tỷ lệ tăng
trưởng bền vững trong tiêu dùng Thực tế, những hộ nông thôn chỉ dựa vào nông
nghiệp là những hộ nghèo nhất; những hộ đa dạng hóa được sang những việc làm phi
nông nghiệp thì khá giả hơn
Những cải thiện và tăng cường hiệu quả tiếp theo trong phân bổ quyền sử dụng đất
có thể sẽ không có tác động giống nhau đối với tình trạng nghèo đói Thậm chí nó
còn làm cho một bộ phận trở nên dễ có nguy cơ tổn thương hơn Nếu không được
làm cẩn thận, phân đất ở miền núi có thể có tác hại đến các nhóm dân tộc thiểu số
Cấp chứng nhận cho cộng đồng là một giải pháp cần thăm dò, đặc biệt là cho các
nhóm dân tộc thiểu số, những người mà theo truyền thống không thừa nhận đất đai
là quyền của riêng từng hộ Sự phát triển thị trường đất đai đô thị có thể thuận lợi
hơn cho người nghèo, bằng cách làm cho nhà ở đô thị vừa với khả năng của họ hơn
Một tài sản quan trọng nữa là kỹ năng, tay nghề, cũng có thể gắn với tình trạng bất
bình đẳng gia tăng Hội nhập kinh tế thế giới sẽ làm tăng lợi suất thu về từ giáo dục
Trong giai đoạn đầu chuyển đổi sang kinh tế thị trường, thu nhập không khác xa nhau
lắm giữa các trình độ học vấn Nhưng một xu hướng gia tăng mức lợi suất theo trình
độ giáo dục trong thị trường lao động đã bắt đầu rõ nét trong những năm 90 Khi nền
kinh tế tiếp tục hội nhập hơn với thị trường toàn cầu, mức thù lao trả cho kỹ năng có
lẽ sẽ tăng Sự bất bình đẳng hiện nay trong tỷ lệ đi học và sự thành đạt sẽ biến thành
những bất bình đẳng lớn hơn trong thu nhập Do đó, chênh lệch giữa nông thôn và
thành thị sẽ gia tăng Chênh lệch giữa những người có đủ trình độ để tận dụng được
lợi ích của toàn cầu hoá và những người không có khả năng đó cũng sẽ gia tăng
Những chính sách trong lĩnh vực xã hội, nhất là trong giáo dục và y tế, là chìa khoá
để ngăn chặn bất bình đẳng gia tăng, hoặc ít nhất là không gia tăng thái quá trong
giai đoạn tăng trưởng mới của nền kinh tế Việt Nam Sự gia tăng tỷ lệ nhập học ở
Việt Nam là đầy ấn tượng, và tỷ lệ này là ngang nhau cho cả nam và nữ Trong 5 năm
qua, tỷ lệ nhập học đã tăng gấp đôi ở bậc trung học cơ sở, và gấp 4 ở bậc phổ thông
trung học Tuy nhiên, thử thách để đưa nhóm trẻ em còn lại đi học tiểu học vẫn còn
khá lớn, do những trẻ em này thường thuộc những vùng nghèo và xa xôi Cũng vậy,
tỷ lệ học sinh tiểu học có học lực về toán và đọc hiểu kém còn tương đối lớn, nhất là
ở những học sinh nghèo
Mở rộng phạm vi và nâng cao chất lượng giáo dục, giảm chi phí cho người nghèo là
cần thiết để ngăn chặn không cho bất bình đẳng gia tăng thái quá trong giai đoạn tăng
trưởng mới của nền kinh tế Việt Nam Trình độ học vấn cao và được phân bố đồng
đều cũng là chìa khoá để làm cho giai đoạn tăng trưởng mới bền vững hơn về dài
hạn Tiếp tục hội nhập kinh tế toàn cầu sẽ cần có lực lượng lao động có kỹ năng
Thiếu những lao động có tay nghề, các kỹ thuật viên và các nhà quản lý đã là vấn đề
nổi lên ở hầu hết các trung tâm kinh tế năng động Từ khía cạnh này, rõ ràng có mối
liên hệ giữa giáo dục và hiệu quả
Trang 18Tuy vậy, mở rộng phạm vi và cải thiện chất lượng giáo dục còn đòi hỏi phải cónhững thay đổi quan trọng trong quản lý chi tiêu và đầu tư công, bao gồm phân bổnguồn lực giữa các ngành và trong một ngành Phân bổ giữa các tỉnh cũng quantrọng, nhất là do ngày càng phải dựa vào nguồn thu của địa phương nhiều hơn.Một xu hướng gia tăng bất bình đẳng trong kết quả về sức khỏe cũng đáng lo ngại.Việt Nam đã cải thiện được rõ rệt các chỉ tiêu sức khỏe trong những thập kỷ qua Tỷlệ tử vong trẻ em và bà mẹ đã giảm xuống ngang với mức của những nước có thunhập đầu người cao gấp hai đến ba lần Suy dinh dưỡng ở trẻ em, mặc dù còn caotheo tiêu chuẩn quốc tế, nhưng đã giảm đáng kể trong nửa cuối thập kỷ 90 Nhưngđồng thời, có sự chênh lệch ngày càng nhiều giữa người nghèo và người giàu Tỷ lệtử vong trẻ dưới 5 tuổi không giảm ở bộ phận nghèo nhất trong dân cư Thuốc thiếtyếu đã rẻ đi, nhưng những khoản tiền chi trả cho khám chữa bệnh còn khá cao, và cólẽ là người nghèo không có khả năng chi trả Hiện tượng này có xu hướng đi kèm vớiviệc dần dần áp dụng cơ chế thị trường trong hệ thống y tế.
Khắc phục vấn đề mất cân đối đòi hỏi phải có những thay đổi trong cơ chế tài trợ cho
y tế Việc phân bổ nguồn lực nói chung giữa các ngành cần phải được xem xét lại.Nhưng phân bổ nguồn lực giữa các cơ sở y tế và các cấp cũng là điều cần làm Cầnchú trọng hơn vào phòng bệnh (hơn là chữa bệnh) và chăm sóc sức khỏe ban đầu,nhất là ở cấp tỉnh Một điều cần làm nữa là giải quyết tình trạng bất bình đẳng daidẳng trong kết quả sức khỏe gắn với việc dựa vào nguồn thu của tỉnh Có thể đã đếnlúc Việt Nam cần tổng kết lại hệ thống bảo hiểm y tế
Tăng trưởng nhanh của Việt Nam cũng đang kèm theo việc làm tổn hại đến tàinguyên thiên nhiên và giảm chất lượng môi trường Đất tiếp tục bị xuống cấp, trongkhi đa dạng sinh học bị đe dọa Độ che phủ rừng có cải thiện đôi chút, nhưng chấtlượng vẫn còn là điều đáng ngại Tại thành phố và thị trấn, ô nhiễm không khí, nướcvà chất thải rắn cần được xử lý, trong khi các dịch vụ môi trường chưa đáp ứng đượcnhu cầu Các tài nguyên ven bờ và biển cũng đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng Sựxuống cấp môi trường đang ảnh hưởng nặng nề lên người nghèo, thông qua tác độnglên sức khỏe và cuộc sống của họ Người nghèo thường dễ bị tổn thương nhất trướcthiên tai
Các cải cách kinh tế, như tự do hóa thương mại và chuyển đổi doanh nghiệp nhànước, có thể dẫn đến một số người bị thua thiệt Trong khi cả nước được lợi nhiều, thìcải cách cũng có thể có những tác động khác nhau lên những bộ phận khác nhau Dochính phủ đặt ưu tiên và phát triển với công bằng xã hội, nên cần có những cơ chếphù hợp để giúp đỡ những người bị thiệt thòi Mạng an sinh xã hội cũng cần đượcthiết lập để ứng phó với những tác hại do những xáo trộn không trực tiếp liên quanđến cải cách, như những ảnh hưởng lên tình trạng sức khỏe hoặc xuống cấp môitrường Vấn đề là mạng an sinh xã hội có đủ để làm cho giai đoạn tăng trưởng mới ởViệt Nam có lợi cho người nghèo hay không
Trong một số trường hợp, có thể xác định được những đối tượng bị thiệt thòi, và cóthể xem xét những cơ chế để khắc phục những tác hại Mạng an sinh xã hội dành chongười lao động dôi dư trong doanh nghiệp nhà nước chính là trường hợp này Từnăm 2002, quỹ do Bộ Tài chính quản lý đã chi trả trợ cấp thôi việc một cách rộng rãihơn so với những quy định của Bộ Luật Lao động chi trả cho những người lao độngmất việc do chuyển thể doanh nghiệp nhà nước Nhưng trong một số trường hợpkhác, tác động gây xáo trộn do cải cách gây ra sẽ ít hơn, nên phải loại bỏ những biệnpháp hướng đối tượng
Trang 19So với các nước nghèo, Việt Nam có một mạng an sinh sâu rộng Hơn nữa, nguồn kinh
phí được chuyển qua đây đã tăng nhiều theo thời gian Mạng an sinh xã hội cũng
mang tính lũy tiến Các hộ nghèo nhận được trợ cấp lớn hơn các hộ giàu, tính theo tỷ
lệ trong tiêu dùng của họ Và hệ thống này còn trở nên lũy tiến hơn do nguồn kinh
phí được đưa vào đây tăng lên Nhưng mức trợ cấp ít ỏi, tính theo tỷ lệ trong tiêu
dùng của hộ, cho thấy rằng mạng an sinh tự nó không thể làm thay đổi được tình
hình nghèo đói và bất bình đẳng
Về lâu dài, cách tốt nhất mà Việt Nam có thể làm cho tăng trưởng vì người nghèo và
hạn chế việc gia tăng bất bình đẳng nằm ở chỗ khác Một khu vực tư nhân hùng
mạnh, đem lại cơ hội việc làm cho người nghèo ở nông thôn và người nhập cư ở đô
thị là chìa khóa để giảm nghèo Cung ứng hữu hiệu dịch vụ cơ bản, dẫn đến lợi ích
lâu dài trong thành tích giáo dục và y tế, là điều căn bản để ngăn chặn sự gia tăng
bất bình đẳng Tuy nhiên tiến bộ trong chương trình cải cách cơ cấu, dẫn đến tiếp tục
phát triển khu vực tư nhân, và trong chương trình xã hội, dẫn đến phát triển con
người cao hơn, sẽ khó đạt được nếu không có cải thiện căn bản trong quản trị nhà
nước
Quản trị nhà nước hiện đại
Khi Việt Nam bước vào giai đoạn mới của tăng trưởng cao, việc mở rộng hoạt động
kinh tế có thể đi nhanh hơn việc hiện đại hóa khuôn khổ pháp lý Đảm bảo quyền sở
hữu tài sản, tính minh bạch trong tư pháp và luật pháp và điều cần thiết để tiếp tục
thu hút đầu tư và tạo việc làm Quyền khiếu kiện của công dân, yêu cầu được giải
quyết những thắc mắc là điều căn bản để cải thiện các dịch vụ công trong những lĩnh
vực như y tế và giáo dục Thực hiện hiệu quả pháp luật là then chốt để tránh lạm
dụng và tham nhũng Trong tất cả những lĩnh vực này, còn nhiều việc cần phải làm
Phát triển luật pháp của Việt Nam được hình thành từ việc chuyển đổi từ kinh tế kế
hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa Tự do
hoá kinh tế, hội nhập với thế giới, và một chương trình xã hội đã làm nền tảng cho
quá trình cải cách pháp luật được diễn ra trên thực tế Một nền móng quan trọng để
tiếp tục cải cách pháp luật là Đánh giá nhu cầu pháp lý, được tiến hành trong năm
2001 và 2002 Tuy nhiên, các biện pháp chính sách nó đặt ra nói đúng hơn là một danh
sách các mục tiêu Sẽ cần những nỗ lực đáng kể để biến chúng thành những chương
trình cụ thể Nếu một cơ cấu quản lý phù hợp để cải cách pháp luật không được lập
ra, thì kế hoạch hành động có thể không đạt được các mục tiêu
Để đạt được phát triển công bằng xã hội cũng cần phải liên tục nỗ lực nhằm cải thiện
quản lý chi tiêu công Hệ thống quản lý hiện tại của Việt Nam có cả điểm mạnh lẫn
điểm yếu Trong khi chính phủ đã có một số tiến bộ tốt trong khắc phục những điểm
yếu, thì còn cần phải có cải cách sâu hơn nữa Các quá trình để ưu tiên hoá chi tiêu
vẫn còn chưa có tác dụng Việc thiếu một khuôn khổ ngân sách đáng tin cậy cho
nhiều năm cũng có nghĩa là lập kế hoạch chi tiêu được tiến hành mà không tham khảo
đến những hạn chế trung hạn về nguồn lực Ưu tiên hoá được thực hiện riêng rẽ cho
chi xây dựng cơ bản (do Bộ Kế hoạch & Đầu tư phụ trách) và chi thường xuyên (do
Bộ Tài chính phụ trách), với những mất cân đối lớn giữa hai loại này Còn thiếu rõ
ràng trong phân định vai trò của các bộ ngành và các tỉnh trong ưu tiên hoá chi tiêu,
với những chỉ tiêu thiếu hiện thực do trung ương đề ra tại các bộ ngành, sau đó thì
các tỉnh phần nhiều là phớt lờ đi
Một bước căn bản nữa là phải có kết hợp chặt chẽ trong xây dựng ngân sách Việt
Nam cần tiến xa hơn quá trình “hai ngân sách riêng” này Chi xây dựng cơ bản và chi
Trang 20thường xuyên phải được kết hợp trong cùng một khuôn khổ chi tiêu trung hạn, vớimột khuôn khổ kinh tế vĩ mô duy nhất với những mục tiêu phát triển duy nhất.Nhưng tiến bộ theo hướng này đang bị ảnh hưởng bởi việc thiếu những hệ thốngthông tin quản lý tài chính Các cơ chế để lưu giữ và báo cáo thông tin hiện nay cònrất phân tán, chậm trễ và không đáng tin cậy Củng cố và kết hợp hệ thống thông tinquản lý tài chính là bước cơ bản tiếp theo Thông tin quản lý tài chính yếu kém sẽ làtrở ngại để tiếp tục giao quyền và phân cấp cho chính quyền địa phương.
Bất luận việc thống nhất hai cơ chế chi tiêu công sẽ diễn ra với tốc độ nào, thì cũngcần có những biện pháp khác để củng cố chương trình đầu tư công cộng Chươngtrình này nảy sinh như là sự tổng hợp của các chiến lược và kế hoạch cấp quốc gia,cấp vùng, cấp tỉnh và cấp ngành Việc soạn thảo chương trình tuân thủ một quá trìnhphức tạp để đi đến nhất trí, bao gồm việc ra quyết định của tất cả các tác nhân trongnền kinh tế Văn bản đưa ra là một danh mục các dự án có thể được thực hiện trongkỳ kế hoạch tới
Việc áp dụng một hệ thống thông tin, cho phép phân loại các dự án theo nguồn vốn,ngành và vùng sẽ giúp gắn các chính sách đầu tư với các mục tiêu phát triển Cácbước quan trọng theo hướng này đã được tiến hành cho chương trình đầu tư côngcộng 2001-2005 Tuy nhiên, một cơ sở dữ liệu sống của những dự án lớn, bao gồm cảđánh giá về lý do kinh tế, và tính ưu tiên do đóng góp vào tăng trưởng và giảmnghèo, cũng cần phải được thiết lập
Con đường đi đến quản trị nhà nước tốt của mỗi nước đều khác nhau, tuỳ thuộc vàovăn hoá, truyền thống hành chính, điều kiện kinh tế, và nhiều yếu tố khác Hệ thốnghành chính của Việt Nam, dựa vào mô hình truyền thống, còn mang nhiều nhượcđiểm Tuy nhiên, chính phủ đã đưa ra những tín hiệu rõ trong những năm gần đây vềcải cách hệ thống hành chính Chương trình cải cách và đổi mới đưa ra một tầm nhìnvươn xa và táo bạo
Cải cách nhân sự là một bộ phận trong đó Chương trình cắt giảm biên chế đã đượcthiết lập, ban đầu nhằm giảm 15% số biên chế, nhưng đến nay mới đạt được ít tiếnbộ Trong chừng mực nào đó, điều này cũng tốt, khi mà chưa có rà soát lại chứcnăng, vai trò và tiến bộ công việc trong hệ thống hành chính Còn có dự định rà soátlại lương cho khối công chức, nhưng chưa có bước thực tế nào được tiến hành Mộtmối quan tâm thích đáng ở điểm này là sẽ cần một nguồn kinh phí khổng lồ để tănglương đồng loạt Tuy nhiên, còn chưa rõ có phải cả bộ máy công chức thực sự đượctrả lương thấp hay không Các cán bộ kỹ thuật và chuyên môn có thể kiếm đượclương khá hơn nếu làm trong khu vực tư nhân, nhưng đối với những người ở nhữngbậc thấp, thì lương của họ trong khu vực phi chính thức có thể thấp hơn nhiều Tănglương đồng loạt do đó sẽ không gắn lương công chức theo thị trường
Một bộ phận nữa trong chương trình cải cách là áp dụng máy tính và những bộ phậnngoại vi của nó cho công tác hành chính Các trở ngại trong lĩnh vực này liên quanđến thiếu luật về kỹ thuật mạng, bao gồm cả luật về tính riêng tư, chữ ký điện tử,chứng nhận, và tính hợp lệ Điều quan trọng không kém là những biện pháp và hànhđộng để rà soát lại và tinh giản các thủ tục Cơ chế một cửa chính là một thành tựurõ rệt nhất trong cải cách hành chính ở cấp địa phương Mặc dù mức độ và phạm vicó khác nhau, nhưng tất cả đều phục vụ một khu vực địa lý, và có xu hướng hoạtđộng được ở cấp huyện
Thử thách lớn nhất trong thực hiện cải cách kinh tế, cải thiện dịch vụ công và hànhchính công chính là trong phân cấp Với dân số là 78 triệu người, Việt Nam có một cơcấu chính quyền địa phương gồm 3 cấp Ngoài cấp quốc gia, còn có chính quyền địa
Trang 21phương cho 61 tỉnh thành (cấp 1), 596 huyện (cấp 2) và 10.500 xã phường (cấp 3) Các
cấp khác nhau này trong chính quyền địa phương có mức độ tự chủ cao và quyền hạn
trong ra quyết định, nhưng lại ít có trách nhiệm giải trình
Những sáng kiến quan trọng để đảm bảo cho phân cấp có tác dụng bao gồm khoán
chi và dân chủ ở cơ sở Hệ thống khoán chi, trong đó các cơ quan nhà nước được cấp
một khoản để chi lương và các chi phí hành chính, có quyền độc lập hơn trong lựa
chọn cơ cấu đầu vào, để cung ứng dịch vụ tốt hơn Thành phố Hồ Chí Minh đã được
quy chế đặc biệt, bao gồm quyền tự chủ nhiều hơn trong quản lý các lĩnh vực lập kế
hoạch kinh tế xã hội, quản lý đất đai, phát triển cơ sở hạ tầng, và quản lý dịch vụ
công
Mặt khác, dân chủ ở cơ sở có thể giảm thiểu rủi ro của chính quyền địa phương, bằng
cách trao quyền cho người dân và để cho họ có tiếng nói trong quá trình hoạch định
chính sách Một quy chế đưa ra khuôn khổ để đặt nền móng cho việc tham vấn, tham
gia và minh bạch đối với một loạt vấn đề liên quan đến đời sống người dân ở cấp xã
đã ra đời Tuy nhiên, thành công trong thực hiện quy chế này đến nay vẫn còn khiêm
tốn Để tiến xa hơn nữa trong chương trình phân cấp, cần có những sáng kiến để đánh
giá trợ cấp trọn gói và dân chủ cơ sở
Một chiến lược toàn diện
Mặc dù có triển vọng tăng trưởng khả quan trong những năm tới, nhưng Việt Nam
còn đang đứng trước ngã ba đường Đất nước có thể thành công trong nỗ lực chuyển
sang kinh tế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa Tăng trưởng cao, phát triển
công bằng, và với một chính phủ nói chung có chất lượng tốt chính là những dấu ấn
nổi bật Nhưng đất nước cũng có thể không thành công trong việc loại bỏ các trở ngại
trên con đường cải cách, để cho các lợi ích cục bộ thâu tóm những khoản chi và trợ
cấp của chính phủ bù lại tính kém hiệu quả, và cuối cùng là dùng cơ quan nhà nước
cho lợi ích cá nhân sẽ trở thành một hiện tượng trong cuộc sống Một tình trạng kinh
tế vĩ mô yếu kém, tăng trưởng chậm, bất bình đẳng gia tăng, tham nhũng tràn lan, sẽ
là những kết cục có thể xảy ra trong trường hợp này
Liệu cán cân sẽ nghiêng về bên này hay bên kia cũng sẽ đều có hệ quả quan trọng
đến người nghèo Gần 30 triệu người (trên một phần ba dân số) vẫn đang sống trong
nghèo đói Hơn nữa, nhiều thành tựu của thập kỷ qua vẫn còn mong manh, với hàng
triệu người vẫn có nguy cơ bị tái nghèo Đau ốm, người thân chết, hoặc thiên tai (lũ
lụt, mất mùa hoặc gia súc) vẫn là những mối đe doạ thường trực Xuất phát điểm của
CLTT&GNTD là thừa nhận rằng mặc dù đã có những thành tích trong những năm 90,
nhưng tình trạng nghèo vẫn còn phổ biến và sâu rộng Một trong những đặc tính
quan trọng của nó là sử dụng các mục tiêu thiên niên kỷ để thể hiện rõ tầm nhìn mà
Việt Nam đã tự đặt ra cho mình trong thập kỷ tới (bảng I)
Các mục tiêu phát triển của Việt Nam cho thập kỷ tới là đầy tham vọng, nhưng có thể
đạt được Tuy nhiên, để đạt được, Việt Nam không chỉ cần có tốc độ tăng trưởng cao,
mà còn cả hình thái tăng trưởng đúng Nghèo đói tập trung ở nông thôn, ở một số
vùng địa lý nhất định (vùng núi phía Bắc, ven biển miền Bắc, và Đồng bằng sông
Cửu Long) và ở một số nhóm dân cư đặc biệt bị yếu thế (dân tộc thiểu số, phụ nữ,
những người nhập cư không chính thức vào các khu đô thị) Để đến được với bộ phận
dân cư đó, một sự tăng trưởng trên diện rộng sẽ phải kết hợp với những nỗ lực có
định hướng Ví dụ, để đạt được mục tiêu là giáo dục tốt hơn cho mọi người, thì 1,6
triệu trẻ em ở độ tuổi tiểu học hiện còn chưa đi học sẽ phải được đưa vào giáo dục
Trang 22Bảng I: Các mục tiêu phát triển của Việt Nam
Nguồn: Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2002).
Trang 23chính thức Điều này đòi hỏi rằng ít nhất những trẻ em ít có khả năng được đến
trường nhất (dân tộc thiểu số, tàn tật, trẻ lang thang, v.v.) sẽ phải là đối tượng đưa
vào trước Cũng tương tự, việc đạt các mục tiêu về sức khoẻ còn tuỳ thuộc căn bản
vào những tiến bộ đạt được cho bộ phận 1/4 nghèo nhất trong dân cư và ở những
vùng kém phát triển nhất Đặc biệt là với những kết quả về tỷ lệ tử vong, trong đó
những thành tích tiếp theo cho những vùng phát triển nhất có khả năng sẽ rất ít Và
trong những lĩnh vực về quản trị nhà nước tốt, các thử thách vẫn còn đầy cam go
Tiến độ thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở, điều căn bản để cải thiện quản trị nhà
nước, vẫn còn chậm Về minh bạch ngân sách, Việt Nam đang có những tiến bộ đều
đặn, nhưng còn tụt hậu so với các nước có cùng trình độ phát triển Và việc thực hiện
chương trình cải cách pháp luật, điều căn bản để cải thiện tiếp cận với công lý, chỉ
mới bắt đầu
Những quyết định chính cần đưa ra đã được thể hiện trong CLTT&GNTD Việt Nam
là một trong khoảng 20 nước trên thế giới đã soạn thảo chiến lược do quốc gia làm
chủ theo cách này Việt Nam không chỉ là nước đầu tiên ở Châu Á mà còn là nước lớn
nhất trên thế giới làm như vậy Điều này cho thấy mức độ khó khăn đặc biệt trong
thực hiện, và lại càng khó khăn hơn do Việt Nam còn là một nước phân cấp cao độ về
mặt quản lý nhà nước Việc phối hợp liên bộ là cần thiết do bản chất đa ngành của
CLTT&GNTD cũng sẽ làm tăng thêm khó khăn (Khung I) Mặc dù khó khăn như vậy,
thực hiện CLTT&GNTD là con đường hứa hẹn nhất để Việt Nam có thể thành công
đối mặt với những thử thách và đạt được lời hứa của mình
Khung I: Thực hiện CLTT&GNTD
CLTT&GNTD được chủ tâm thiết kế để tăng trưởng và giảm nghèo và sẽ đòi hỏi có sự phối hợp liên
bộ để thực hiện Nó cũng đòi hỏi phải quán triệt xuống cả các cấp tỉnh, huyện và xã để những ưu tiên
và chi tiêu của địa phương được gắn chặt hơn với những mục tiêu phát triển cấp quốc gia Quá trình
ưu tiên hoá, đặt trình tự và thực hiện ma trận chính sách trong CLTT&GNTD sẽ được yểm trợ thêm
thông qua tín dụng hỗ trợ ngân sách của các nhà tài trợ, bao gồm Quỹ giảm nghèo và tăng trưởng
(PRGF) của IMF, và Tín dụng hỗ trợ giảm nghèo (PRSC) hàng năm của Ngân hàng Thế giới.
Tháng 9-2002, Thủ tướng đã ra Quyết định 825/QĐ-TTg nhằm thành lập Ban Chỉ đạo về thực hiện
CLTT&GNTD, PRGF, và PRSC Ban này sẽ do Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng làm trưởng ban, với
hai phó trưởng ban: một là Thứ trưởng Bộ KH&ĐT chịu trách nhiệm về CLTT&GNTD, và một phó
Thống đốc NHNN chịu trách nhiệm về PRSC/PRGF Các thành viên bao gồm cấp thứ trưởng của 20
cơ quan: i) Bộ Tài chính, ii) Bộ Thương mại, iii) Bộ Lao động, Thương binh, Xã hội, iv) Bộ Ngoại
Giao, v) Bộ Tư pháp; vi) Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; vii) Bộ Công nghiệp; viii) Bộ
Giao thông Vận tải; ix) Bộ Y tế; x) Bộ Giáo dục Đào tạo; xi) Bộ Xây dựng; xii) Bộ Khoa học Công
nghệ; xiii) Bộ Tài nguyên Môi trường; xiv) Bộ Nội vụ; và một lãnh đạo từ các cơ quan: xv) Văn Phòng
Chính phủ; xvi) Uỷ Ban Dân tộc và Miền núi; xvii) Tổng cục Thống kê; xvii) Ban Chỉ đạo Đổi mới và
Phát triển Doanh nghiệp Ban Chỉ đạo cũng sẽ bao gồm: xix) một lãnh đạo của Ban Kinh tế Trung
ương Đảng, và xx) một đại diện của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
Giúp việc cho Ban Chỉ đạo có 2 tổ công tác liên ngành, một cho CLTT&GNTD và một cho PRSC/
PRGF, đứng đầu là một cán bộ cấp vụ của Bộ KH&ĐT và NHNN, và thành viên là từ tất cả các cơ
quan kể trên Nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo và của 2 hai tổ công tác liên ngành là thực hiện, theo dõi
và đánh giá CLTT&GNTD và tạo điều kiện phối hợp giữa các bộ cũng như phối hợp giữa các cơ quan
trung ương và chính quyền địa phương
Nguồn: Ngân hàng Thế giới
Trang 25GIỚI THIỆU
Việt Nam có tiềm năng trở thành một trong những câu chuyện thành công trong phát
triển Dân cư có trình độ giáo dục cao so với những nước ở cùng trình độ phát triển
như thế này Lực lượng lao động nhìn chung được thừa nhận là cần cù và dễ đào tạo
Nền kinh tế đã mở cửa để trao đổi với thế giới, khối lượng ngoại thương lớn bằng
toàn bộ GDP Và mặc dù có những lợi thế này, mức sản lượng đầu người vẫn thấp,
hàm ý rằng vẫn còn có tiềm năng để cải thiện và tạo bước nhảy vọt Theo những
nghiên cứu gần đây về phát triển, trình độ dân trí cao, mở cửa thương mại, và một
xuất phát điểm thấp là những dấu hiệu rõ nhất báo trước tăng trưởng cao trong dài
hạn, mà Việt Nam thì hội đủ những yếu tố này
Cam kết về phát triển có sự hoà nhập xã hội, và chính phủ làm chủ thể các chính sách
của mình là những lĩnh vực ít được nghiên cứu hơn, nhưng đó chắc chắn cũng quan
trọng như những yếu tố được nêu trên, nếu không phải là quan trọng hơn Việt Nam
cũng đang làm rất tốt ở khía cạnh này
Chiến lược tăng trưởng và giảm nghèo toàn diện (CPRGS) mới hoàn tất gần đây đã
biến một tầm nhìn chuyển sang kinh tế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa
sang thành những hành động cụ thể của nhà nước (CHXHCNVN, 2002; NHTG, 2002e)
Chiến lược đã thể hiện Việt Nam cam kết mở cửa hoàn toàn với nền kinh tế toàn cầu
trong thập kỷ tới, và tạo ra một sân chơi bình đẳng giữa khu vực nhà nước và tư
nhân Chiến lược cũng nhấn mạnh rằng việc chuyển đổi là phải có lợi cho người
nghèo, và lưu ý rằng nó sẽ đòi hỏi phải đầu tư mạnh hơn vào nông thôn và những
vùng kém phát triển, và thực hiện cải cách dần dần so với các kiến nghị của cố vấn
quốc tế Chiến lược cũng chú trọng vào giảm nghèo và bình đẳng xã hội, và một hệ
thống quản lý nhà nước hiện đại hơn Chiến lược này là sản phẩm của chính phủ Việt
Nam, với sự tham gia của tất cả các cơ quan và ngành hữu quan trong quá trình soạn
thảo Tính làm chủ và sự quyết tâm đó một lần nữa là những dấu hiệu tốt cho Việt
Nam
Tình hình kinh tế nói chung là đáng khích lệ Sau giai đoạn bị chậm lại trong cuộc
khủng hoảng Đông Á, nền kinh tế Việt Nam lại tăng trưởng mạnh trở lại Các nhà
đầu tư đang có phản ứng tích cực trước những công bố cải cách và cam kết của Việt
Nam Đất nước đang được xếp hạng tốt lên về mức độ rủi ro quốc gia, tình hình kinh
tế vĩ mô cũng ổn định Mặc dù môi trường bên ngoài kém thuận lợi, về mặt cầu và
giá, nhưng dự kiến xuất khẩu sẽ nhích lên do có Hiệp định thương mại Việt-Mỹ Tỷ lệ
tăng trưởng GDP ở mức 7% một năm có khả năng sẽ tiếp tục trong vài năm tới
Nhưng bức tranh khả quan này không nên làm cho người ta có thái độ tự mãn, vì còn
nhiều thử thách quan trọng phía trước Thử thách đầu tiên là thực hiện cam kết
Trong 3 năm qua, chính phủ Việt Nam đã có một loạt những cam kết đầy ấn tượng,
và đã cải thiện được nhiều cơ chế khuyến khích nhằm đẩy nhanh tiến độ chuyển đổi
sang kinh tế thị trường (xem khung 1) Chỉ riêng việc làm cho các cam kết và quyết
định này có hiệu lực đã là một thử thách ở một nước có trình độ phát triển cao hơn
ở Việt Nam, đây sẽ là một nhiệm vụ đầy chông gai Năng lực quản lý còn hạn chế
Những cách làm cố hữu từ thời kế hoạch hoá tập trung vẫn còn chậm trễ vào cồng
kềnh Những nỗ lực xây dựng sự đồng thuận trong hoạch định chính sách sẽ giúp ích
nhiều, nhưng cũng rất mất thời gian Điều quan trọng hơn nữa là các quyết định ngày
càng được thực hiện nhiều hơn ở cấp địa phương Phân cấp là một trong những đặc tính
của đổi mới, và xu hướng này ngày càng trở nên mạnh hơn Một trong những thử thách
lớn nhất mà Việt Nam phải đương đầu là làm thế nào gắn việc hoạch định chính sách cụ
thể ở cấp ngành, tỉnh và địa phương với những cam kết và định hướng của chính phủ
Trang 26Tiến độ không đồng đều trong cải cách là một mối quan ngại nữa Tình trạng hiệnnay là tiến bộ không đồng đều trong các bước phát triển Trong khi cải cách ở một sốlĩnh vực này thì diễn ra nhanh, thậm chí nhanh hơn cả dự kiến, thì ở những lĩnh vựckhác lại chậm hơn nhiều, nếu không nói là chững lại hoàn toàn.
Sự tương phản này là rất rõ nét trong các cải cách cơ cấu, trong đó tự do hoá thươngmại và cải cách doanh nghiệp nhà nước dường như là xung đột với nhau Cam kết màViệt Nam đưa ra cho thấy rằng nhiều lĩnh vực hoạt động hiện đang được bảo hộ sẽsắp phải đối mặt với cạnh tranh từ nước ngoài Nhưng một số ngành trong đó vẫnchịu sự chi phối của những doanh nghiệp nhà nước chưa được xắp xếp lại Trong khichương trình cổ phần hoá, bán hoặc thanh lý nhiều doanh nghiệp đang theo kịp mụctiêu, thì nó cũng tỏ ra ngày càng gặp nhiều khó khăn để tiếp tục đà này Tỷ lệ nợ cao
Khung 1 Những cam kết và tuyên bố gần đây
• Đại hội 9 của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổng kết và đánh giá những thành tựu trong quá khứ và những thiếu sót, đề ra quyết định cho giai đoạn tới, nỗ lực tiếp tục quá trình đổi mới (2000).
• Chiến lược phát triển kinh tế xã hội đặt ra chiến lược cho ngành giáo dục, y tế, dân số, dinh dưỡng, phụ nữ, trẻ em, môi trường, và những ngành khác (2000).
• Chiến lược tăng trưởng và giảm nghèo toàn diện biến chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm thành những biện pháp cụ thể, với lộ trình thực hiện (2002).
• Tuyên bố thiên niên kỷ cho thấy Việt Nam cam kết thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (2001)
• Nghị quyết Trung ương 3 của Đảng về tiếp tục xắp xếp lại, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, bao gồm chương trình hành động chi tiết cho giai đoạn từ nay đến 2005 (2001).
• Nghị quyết Trung ương 5 của Đảng thông qua những chính sách và cơ chế để thúc đẩy và tạo điều kiện cho sự phát triển của khu vực tư nhân (2002).
• Chương trình tổng thể về cải cách hành chính 2001-2010 đã được khởi xướng, với bốn trụ cột chính: cơ cấu lại tổ chức, cải cách nguồn nhân lực, phát triển thể chế, và cải cách quản lý tài chính công (2001).
• Đánh giá nhu cầu pháp lý đưa ra một chiến lược toàn diện và sau đó là kế hoạch hành động để phát triển hệ thống luật pháp của Việt Nam (2000).
• Pháp lệnh chống tham nhũng (sửa đổi) tập trung vào sự cần thiết phải đấu tranh chống tham nhũng và lãng phí nguồn lực (2000).
• Luật Doanh nghiệp đã tạo cơ sở pháp lý cho một sân chơi bình đẳng cho mọi doanh nghiệp tư nhân trong nước và đơn giản hoá những yêu cầu đăng ký thành lập doanh nghiệp (2000).
• Kế hoạch hành động về khu vực tư nhân, với sự hỗ trợ của sáng kiến Miyazawa, chứa đựng một loạt các biện pháp để cởi trói và hỗ trợ cho khu vực tư nhân (1999).
• Luật đầu tư nước ngoài (sửa đổi) đã cải thiện khả năng tiếp cận với ngoại tệ, cho phép chi nhánh ngân hàng nước ngoài nhận thế chấp bằng quyền sử dụng đất, cho phép đăng ký tự động đối với một số loại đầu tư nước ngoài, và cung cấp bảo lãnh của chính phủ cho các dự án cơ sở hạ tầng (2000).
• •Thể thức hỗ trợ giảm nghèo và tăng trưởng (PRGF) và Tín dụng hỗ trợ giảm nghèo (PRSC) cung cấp ngân sách nhằm đẩy nhanh cải cách ngân hàng, doanh nghiệp nhà nước, quản lý tài chính và phát triển khu vực tư nhân (2001).
• Khu vực mậu dịch tự do ASEAN, hàm ý rằng Việt Nam sẽ thực hiện giảm thuế quan theo Hiệp định về thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung, và giảm dần những hạn chế định lượng cho các nước ASEAN từ 2001 đến 2006.
• Hiệp định thương mại Việt-Mỹ bao gồm giảm dần thuế quan đối với hành nhập khẩu, mở cửa ngành dịch vụ để nước ngoài được tham gia nhiều hơn, và thực hiện nghiêm túc việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (2001).
• Thương lượng với WTO bắt đầu cho thấy triển vọng gia nhập, và đã đưa ra bản chào hàng đầu tiên (2002).
Trang 27của các doanh nghiệp khiến nó thiếu hấp dẫn đối với người mua Các quy trình phức
tạp, và những bất trắc liên quan đến việc chuyển đổi sở hữu cũng hạn chế sự nhiệt
tình của các giám đốc những doanh nghiệp đó Đối với người ngoài, sự phân biệt
giữa thái độ do dự có thể hiểu được với việc phản đối tức khắc là không rõ ràng
bằng
Thực sự có nguy cơ là những doanh nghiệp nhà nước chưa được xắp xếp lại sẽ gây áp
lực lên chính phủ đòi trợ cấp trực tiếp hoặc gián tiếp, nhằm đối phó với cạnh tranh
ngày càng tăng từ nước ngoài Không thể loại bỏ được một phần gia tăng đáng kể
tổng khối lượng nợ không sinh lời Những diễn biến này sẽ ảnh hưởng đến ổn định
kinh tế vĩ mô - điều kiện cần thiết cho tiếp tục tăng trưởng Do đó, điều thiết yếu là
phải giữ cho tất cả những bộ phận cải cách này theo đúng tiến độ, như vậy mới duy
trì được tăng trưởng Đặc biệt, cần xác định những cơ chế để thổi sức sống mới vào
chương trình xắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước, khắc phục những vấn đề liên
quan đến nợ tồn đọng cũng như sự do dự (hoặc phản đối) của những người trong
cuộc
Thử thách quan trọng thứ hai mà Việt Nam phải đối mặt là giảm nghèo Giai đoạn
tăng trưởng sau đổi mới là rất phi thường ở chỗ nó không đi kèm với sự gia tăng
đáng kể về bất bình đẳng Các chỉ số bất bình đẳng tổng hợp như hệ số Gini vẫn giữ
gần như không đổi trong những năm 90 Phân tích ở cấp chi tiết hơn cho thấy rằng
người nghèo được hưởng lợi hơn nhiều giàu, xét theo nghĩa tương đối Kết hợp giữa
tăng trưởng cao và mức độ bất bình đẳng vừa phải giải thích cho những thành công
nổi bật của Việt Nam trong giảm nghèo Tuy nhiên, nếu không có một biện pháp kiên
quyết, bất bình đẳng có khả năng sẽ gia tăng, có thể tăng nhiều, trong giai đoạn tăng
trưởng mới Đó là do tác động của phân bố lại đất đai lên nghèo đói ở nông thôn có
lẽ bắt đầu được thể hiện
Đất là tài sản giá trị nhất của Việt Nam Chia đất cho các hộ ở nông thôn - nơi chủ
yếu người nghèo sinh sống, đã dẫn đến việc phân bố lại của cải một cách đáng kể
Nhưng đây chỉ là cách can thiệp một lần, dẫn đến việc gia tăng mức tiêu dùng của các
hộ, nhưng không nhất thiết là duy trì được tăng trưởng Trên thực tế, các hộ nông
thôn làm nghề nông thuần tuý là những hộ nghèo nhất; những hộ đa dạng hoá sang
các công việc phi nông nghiệp có thu nhập khá hơn Hiện nay, chính phủ Việt Nam
không có loại tài sản tương đương nào để phân phối
Trong khi đó, hội nhập kinh tế thế giới sẽ làm gia tăng chênh lệch giữa nông thôn và
thành thị Khoảng cách giữa những người có đủ kỹ năng chuyên môn để hưởng lợi
toàn bộ từ toàn cầu hoá với những người không có đủ kỹ năng cũng sẽ tăng lên Do
đó, nhiều hộ thành thị sẽ trở nên giàu có theo nghĩa tuyệt đối, mà không chỉ giàu
theo tiêu chuẩn của Việt Nam Xu hướng này đã tương đối rõ rệt ở Hà Nội và TP Hồ
Chí Minh Lúc này thì nếu như không có các hành động cương quyết của nhà nước, thì
người giàu sẽ được hưởng lợi nhiều hơn
Một khu vực tư nhân vững mạnh, tạo việc làm cho thị trường lao động mới, là một
trong những điều then chốt để tăng thu nhập cho người nghèo trong thập kỷ tới
Khoảng 1,2 triệu người mới gia nhập thị trường lao động đi tìm việc mỗi năm Khu
vực nhà nước không thể nào thu hút được số người tìm việc này Với mức độ sử
dụng vốn tương đối cao của các doanh nghiệp nhà nước, so với khu vực tư nhân, chi
phí để tăng số nhân công gần như không thể kham nổi Số việc làm trong các doanh
nghiệp nhà nước có khả năng sẽ giảm trong những năm tới, do có chuyển thể và cạnh
tranh trong thị trường sản phẩm Việc mở rộng những doanh nghiệp vừa và nhỏ là
cách hợp lý duy nhất để tạo việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn, và tạo cơ hội thu
nhập cho những người di cư ra thành thị
Trang 28Các chính sách đối với lĩnh vực xã hội, đặc biệt là trong y tế và giáo dục, là một điểmmấu chốt nữa nhằm ngăn chặn sự gia tăng bất bình đẳng, hoặc ít nhất là để nó đừnggia tăng quá mức Đạt được những mục tiêu đề ra trong Chiến lược tăng trưởng vàgiảm nghèo toàn diện, về mặt tăng phạm vi và chất lượng giáo dục, hoặc giảm chi phíchăm sóc y tế cho người nghèo, là cần thiết để chặn đứng không cho hố ngăn cáchgiàu nghèo gia tăng nhiều trong giai đoạn tăng trưởng mới Nhưng thực hiện nhữngcam kết trong Chiến lược tăng trưởng và giảm nghèo đòi hỏi phải thay đổi căn bảntrong quản lý chi tiêu công và đầu tư công, bao gồm cả phân bổ nguồn lực giữa cácngành và trong một ngành.
Phân cấp trong hoạch định chính sách chỉ làm tình hình khó khăn thêm Sự gần gũicủa chính quyền địa phương với người dân tạo cho họ cơ hội xác định rõ hơn các biệnpháp cụ thể cần thông qua, và hướng đối tượng tốt hơn Nhưng những lợi ích củaphân cấp không phải tức khắc có được Cần phải cải thiện tính linh hoạt và tinh thầntrách nhiệm của chính quyền địa phương trong phân bổ và sử dụng nguồn lực Thúcđẩy các cơ chế để người dân có thể có tiếng nói, nêu ra những mối quan tâm và yêucầu của mình, thông qua việc tham gia nhiều hơn vào các hiệp hội, cũng là điều quantrọng Nếu thiếu tinh thần trách nhiệm thì phân cấp sẽ dẫn đến sử dụng sai và lạmdụng nguồn lực
Thử thách thứ ba mà Việt Nam gặp phải, mà cũng không kém phần gay go, là cảithiện chất lượng quản lý nhà nước Sẽ không thể ứng phó được với hai thử thách trênnếu không có nền hành chính có hiệu lực, có những công cụ quản lý tài chính phùhợp Thực hiện cải cách cơ cấu, giữ đà cải cách doanh nghiệp nhà nước, tạo sân chơibình đẳng để khu vực tư nhân có thể phát triển, và cải thiện các thành tựu của khuvực xã hội, đều đòi hỏi phải có một chính phủ có khả năng thực hiện
Về điểm này, Việt Nam cũng vẫn gặp phải tình hình khó khăn Đất nước vẫn còn cókhuôn khổ pháp lý và thể chế thừa hưởng một phần từ thời kế hoạch hoá tập trung.Khuôn khổ này không được thích nghi tốt với những nhu cầu hiện nay Cùng với việcnhững cơ hội lợi nhuận lớn lao được tạo ra trong kinh tế thị trường, nó cũng tạo ratiềm năng lớn cho tham nhũng và lãng phí nguồn lực
Sự kết hợp của tính bất bình đẳng đang đà gia tăng với tham nhũng (hoặc đơn giản làquan niệm là có tham nhũng) có thể gây những hậu quả rất tai hại Nếu sự tích tụcủa cải một bộ phân dân cư đang giàu lên trong giai đoạn nay được coi là kết quả củalao động vất vả và sáng tạo, thì nó sẽ là hợp pháp Nhưng nếu nó được coi là kết quảcủa câu kết, quen biết những người có địa vị cao, thì tình hình lại hoàn toàn khác.Bất chấp những triển vọng tăng trưởng không thể chối cãi cho những năm tới, nhưngViệt Nam còn đang ở trước ngã ba đường Việt Nam có thể thành công trong nỗ lựctiến tới nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Tăng trưởng cao,phát triển hoà nhập, và chất lượng chính phủ nói chung tốt sẽ là những dấu ấn nổibật Nếu không đất nước có thể thất bại trong loại bỏ những rào cản trên con đườngcải cách, để cho những lợi ích cục bộ thâu tóm những khoản chi trợ cấp của chínhphủ, nhằm bù lại tính kém hiệu quả, và mối quan hệ thiếu lành mạnh giữa các doanhnghiệp (cả công và tư) với các quan chức chính phủ Một nền kinh tế vĩ mô yếu kém,chậm tăng trưởng, bất bình đẳng gia tăng, và tham nhũng tràn lan sẽ có thể là mộtkết cục của kịch bản bi quan này
Những quyết định then chốt sẽ làm cho cán cân nghiêng về phía này hay phía kiatrong vòng vài năm tới Một khi bất bình đẳng đã gia tăng và những lợi ích cục bộ đãcắm sâu vào bộ máy quyền lực, thì rất khó đảo ngược tình hình này Liệu Việt Namcó thực hiện được các cam kết của mình hay không còn tuỳ thuộc vào những quyết
Trang 29I Nền kinh tế thị trường
Trang 311 DUY TRÌ TÍNH ỔN ĐỊNH
Viễn cảnh kinh tế của Việt Nam đã được cải thiện đáng kể trong vòng 12 tháng qua
Sự cải thiện này là nhờ một loạt các chính sách và quy chế đưa nền kinh tế vào một
quỹ đạo tăng trưởng trung hạn ở tầm cao hơn, kể cả trong điều kiện môi trường bên
ngoài còn chưa thuận lợi Niềm tin trong khu vực tư nhân được củng cố do chương
trình cải cách theo giai đoạn chi tiết đã được thông qua vào năm 2001 Những doanh
nghiệp mới của tư nhân được thành lập với tốc độ khoảng 1.600 doanh nghiệp một
tháng, và vào đầu năm 2002, Hội nghị Trung ương 5, BCH TƯ Đảng Khoá 9 đã tỏ rõ
sự ủng hộ mạnh mẽ hơn bao giờ hết đối với khu vực tư nhân Tăng trưởng kinh tế
nhanh cũng đi kèm với mức nợ nước ngoài trong phạm vi kiểm soát được Viễn cảnh
thuận lợi này cùng với tiềm năng tăng trưởng bền vững trong trung hạn của Việt
nam cho thấy tác động của khủng hoảng Đông Á đã kết thúc và bắt đầu một giai
đoạn thịnh vượng mới Việt nam có thể sẽ có một vài năm với mức tăng trưởng
GDP cao như trong thập kỷ 90
Tuy nhiên, thịnh vượng không đơn giản tự nó mà đến Việc tiếp tục thực hiện cải cách
cơ cấu trong khu vực ngân hàng và doanh nghiệp, đồng thời cải thiện quản lý chi tiêu
và đầu tư công cộng là điều căn bản để đảm bảo cho tình trạng nợ trong nước duy trì
được ở mức bền vững trong trung hạn Tốc độ cải cách chậm chạp của khu vực quốc
doanh chưa tương thích với tiến độ nhanh chóng của cải cách thương mại Nếu các
doanh nghiệp nhà nước không thể đối phó được với tính cạch tranh gia tăng trên
thương trường, các doanh nghiệp này sẽ gặp nhiều khó khăn khi thanh toán nợ
nần và từ đó sẽ dồn tích các khoản nợ xấu Trong trường hợp đó, thịnh vượng
đơn giản chỉ là sự tăng trưởng “vay mượn” và dần dần sẽ lại dẫn tới việc tái cấp
vốn cho hệ thống ngân hàng một cách tốn kém
Những diễn biến gần đây
Năm 2002, dự kiến tăng trưởng GDP thực tế là khoảng 6% Ước tính này cho thấy có cải
thiện đáng kể so với những năm trước Những nền tảng căn bản tốt trong ổn định kinh tế
vĩ mô và thực hiện cải cách cơ cấu, đi kèm với niềm tin ngày càng được nâng cao trong
nền kinh tế, đó chính là những lý do căn bản dẫn đến tăng trưởng GDP nhanh hơn
Mức tăng trưởng được duy trì do có sự gia tăng về cầu trong nước (Hình 1.1) Tỷ lệ
tăng tổng mức bán lẻ hàng hoá đã phục hồi trở lại mức chưa từng có kể từ khi nền
Trang 32kinh tế bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng Đông Á năm 1997 Sản xuất hàng tiêudùng lâu bền như vật liệu xây dựng nhà, ô tô, xe máy, và ti-vi khẳng định rằng mứctiêu dùng đã tăng nhanh trong năm 2002.
Đầu tư cũng là một nguồn tăng trưởng quan trọng trong năm 2002, cho thấy rằng sựphục hồi này là bền vững Việc nhiều doanh nghiệp mới được thành lập và niềm tinvững chắc của các nhà đầu tư đã thúc đẩy việc đầu tư vốn và đưa con số nhữngdoanh nghiệp đăng ký mới lên trên 50.000 trong vòng 2 năm qua Đến tháng 7-2002,vốn đầu tư từ những doanh nghiệp mới đã tăng 45% so với cùng kỳ năm trước Riêngđầu tư của những doanh nghiệp mới vừa và nhỏ trong khu vực kinh tế chính thức cókhả năng sẽ đạt 40 nghìn tỷ đồng (tương đương khoảng 2.7 tỷ đô la Mỹ) trong năm
2002 — tức là gần 9% GDP Tổng đầu tư của khu vực nhà nước, kể cả từ nguồn ngânsách và vốn của doanh nghiệp, dự kiến sẽ ở mức 18% GDP năm nay
Xu hướng của các khu vực kinh tế
Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trong nước tiếp tục dẫn đầu về tăng trưởng.Ngành chế biến tiếp tục tăng mạnh với khu vực tư nhân trong nước và đầu tư nướcngoài đạt tỷ lệ tăng sản lượng lần lượt là 19% và 15% (Bảng 1.1) Nguyên nhân của xuhướng này là tỷ lệ doanh nghiệp mới được thành lập đạt mức cao trong năm 2002 Vớimức tăng sản lượng 12% năm sau so với năm trước, sản xuất công nghiệp của khu vựcnhà nước có khiêm tốn hơn Điều này phản ánh sự chuyển dịch dần dần của ViệtNam sang kinh tế thị trường, với nhiều doanh nghiệp nhà nước ngày càng phải đứngtrước áp lực cạnh tranh và hạn chế ngân sách cứng rắn hơn Giá trị gia tăng trong khuvực tư nhân chính thức của nền kinh tế quả thực đã vượt khu vực nhà nước, ít nhất kểtừ năm 1997
Sản lượng nông nghiệp tiếp tục tăng đều ở mức 5% năm 2002, mặc dù bị hạn hán ởTây Nguyên và lũ lụt nghiêm trọng ở miền Nam Trong ngành dịch vụ, GDP tăng ởmức 6% một năm, nhờ vào du lịch Ước tính của Hội đồng Du lịch Thế giới cho thấyrằng ngành này đã tạo ra 668.000 công ăn việc làm cho Việt Nam, tức là gần 2% tổngsố việc làm (Boye, 2002) Trong 9 tháng đầu năm nay đã có khoảng 2 triệu lượt khách
du lịch quốc tế - tăng 12% so với năm 2001 Cho đến giờ vẫn khó có thể nói được làliệu mối lo ngại về an ninh trong khu vực năm nay có ảnh hưởng đến ngành du lịch ởViệt Nam cũng như ở các nước khác, hay Việt Nam tiếp túc được coi là chỗ nơi trú ẩn
an toàn trong cơn bão hay không
Bảng 1.1: Động lực của tăng trưởng
1/ Số liệu về dịch vụ là dựa trên giá trị gia tăng.
Nguồn: Tổng cục Thống kê;
Trang 33Những khó khăn bên ngoài
Hoạt động xuất khẩu trái lại vẫn còn bấp bênh Trong tám tháng đầu năm 2002, xuất
khẩu giảm 1,7% so với cùng kỳ năm trước Sự suy giảm này một phần là do giá dầu
thô và một số mặt hàng khác giảm, những mặt hàng chiếm hơn một phần tư trong
tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam Tuy nhiên, đến tháng 8 và tháng 9 đã có
chuyển biến đáng mừng về tình hình xuất khẩu, và tăng trưởng cho cả năm dự kiến là
khoảng 7% (Bảng 1.2) Ngoài việc giá hàng tăng, tăng trưởng xuất khẩu còn do có sự
gia tăng mạnh trong xuất khẩu sang thị trường Mỹ, theo hiệp định thương mại song
phương Việt-Mỹ có hiệu lực từ năm ngoái
Xuất khẩu hàng may mặc và giày dép - chiếm một phần ba trong kim ngạch xuất
khẩu trừ dầu thô - tăng lần lượt là 32% và 12% trong năm 2002 Xuất khẩu hàng may
mặc sang Mỹ đã tăng 16 lần từ năm 2001 sang 2002, nâng tổng xuất khẩu sang Mỹ lên
trên 2 tỷ đô la, và biến nước này thành thị trường lớn thứ hai sau Liên minh Châu Âu,
hơn cả Nhật bản Xuất khẩu thủy sản sang Mỹ tăng 28% trong 3 quý đầu năm 2002,
mặc dù có những khiếu nại về bán phá giá của phía Mỹ, làm cho các nhà xuất khẩu
của Việt Nam khó tiếp cận thị trường Mỹ hơn Xuất khẩu giày dép và hàng thủ công
sang EU tiếp tục tăng nhanh trong năm 2002 Tuy nhiên, tranh chấp và tạm thời cấm
nhập tôm từ Việt Nam do lo ngại có dư lượng kháng sinh cao đã kiềm chế mức tăng
trưởng kim ngạch xuất khẩu nói chung Xuất khẩu trừ dầu thô của Việt Nam sang
Nhật đã giảm 7% năm nay
Trong khi xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Mỹ là đáng khích lệ và cho thấy
những dấu hiệu tốt cho tương lai, thì xuất khẩu sang Trung Quốc lại không được
thuận lợi cho lắm Kim ngạch xuất khẩu sang Trung Quốc giảm 8% trong năm 2001, và
giảm 5% trong 3 quý đầu năm 2002 Kết quả này đưa ra những nghi ngờ về khả năng
cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam, trong khi các nước khác trong khu vực có khả
năng tăng xuất khẩu sang Trung Quốc trong năm 2002 Một điều cũng đáng lo ngại là
nếu Trung Quốc mở cửa hơn nữa sau khi gia nhập WTO, sẽ làm mất cơ hội cho Việt
Nam để đối chọi lại với tác động của việc kinh tế chững lại ở những khu vực khác,
nhất là khi chu kỳ kinh doanh của Trung Quốc lại khác với của những trung tâm kinh
tế khác như Nhật bản và Mỹ
Bảng 1.2: Xuất khẩu tăng ở mức khiêm tốn
1/ Triệu US.
Nguồn: Tổng cục Thống kê và ước tính của Bộ Thương mại.
Trang 34Xuất khẩu dầu thô vẫn giữ vai trò quan trọng, nhưng tỷ lệ tăng lại có hạn Năm nayvà năm sau, dầu thô khó có khả năng làm tăng tổng kim ngạch xuất khẩu như đãtừng xảy ra trước đây Điều này là do không thể lặp lại việc gia tăng rất nhanh vềkhối lượng khai thác như vào cuối những năm 90, do có hạn chế về công suất Giớihạn công suất khai thác cũng hàm ý rằng kể cả khi giá dầu có tăng mạnh, đẩy mứcgiá trung bình trong năm 2002 lên trên 30 đô la một thùng, thì cũng chỉ có tác độngkhông đáng kể đến tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu.
Quản lý kinh tế vĩ mô
Quan điểm ngân sách vẫn giữ trạng thái thận trọng, với mức thâm hụt ngân sách sựkiến xấp xỉ 3% GDP, không kể cho vay lại, trong năm 2002, tương tự với mức của năm
2000 và 2001 Tuy nhiên, để duy trì được mức thu ngân sách như hiện tại trong trunghạn đòi hỏi phải có những nỗ lực đồng bộ nhằm tăng nguồn thu ngoài dầu thô Năm
2000, xuất khẩu dầu thô chiếm 32% tổng thu, con số này dự kiến sẽ giảm xuống còn28% năm 2002 Điều này đòi hỏi phải tăng cường chính sách và quản lý thu thuế VAT.Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả của hệ thống VAT, và tăng cường nguồn thu, đểkhông trực tiếp phụ thuộc vào thuế xuất nhập khẩu, lại càng thể hiện rõ khi dự kiếntrước được rằng thu từ thuế quan sẽ giảm do có cam kết giảm thuế quan trong khuvực mậu dịch tự do ASEAN và hiệp định thương mại Việt-Mỹ
Tổng mức chi ngân sách đã được kiềm chế để bảo đảm ngân sách và được quản lý rấtthận trọng trong năm 2002 Chi đầu tư đã tăng trong năm 2001 để cải tạo cơ sở hạtầng bị lũ lụt tàn phá, nhưng nay không tiếp tục tăng nữa Cả tỷ trọng của chi đầu tưvà chi thương xuyên trong GDP đều giảm trong năm 2002 ở Việt Nam, mức chi tiêucông ít đáng lo ngại hơn là sự phân bổ chi tiêu
Tình hình cầu nội địa tăng mạnh hiện nay đang tạo một cơ hội để tiếp tục giảm thâmhụt, nhằm củng cố tài chính công Đặc biệt, điều quan trọng có lẽ là phải dứt khoátchuyển sang hạn chế rủi ro ngân sách gắn liền với những khoản nợ bất thường chochính phủ liên quan đến các doanh nghiệp nhà nước và mức nợ xấu trong khu vựcngân hàng
Mức nợ nước ngoài hiện nay của Việt Nam là 12,1 tỷ đô la năm 2001 và dự kiến sẽ lêntới 13,3 tỷ vào cuối năm 2002 Số nợ này chiếm 37% GDP và 84% xuất khẩu, với nghĩavụ trả nợ hàng năm chiếm 8% xuất khẩu Hầu hết những khoản nợ này là theo điềukhoản ưu đãi, có nghĩa là với mức lãi suất rất thấp Do đó, khả năng trả nợ nướcngoài của Việt Nam ước tính là sẽ duy trì được trong trung và dài hạn, và Việt nam sẽkhông còn nằm trong nhóm nước được xoá nợ theo chương trình của Các nước nghèomắc nợ trầm trọng (Ngân hàng Thế giới, sẽ xuất bản c) Các nhà đầu tư cũng nhìnnhận mức độ rủi ro của Việt nam phù hợp với tính bền vững trung hạn (khung 1.1).Nhưng việc quản lý nợ lại cần phải quan tâm hơn Hiện tại, công tác này còn đượcphân tán ở vài cơ quan chính phủ, sử dụng những cơ sở dữ liệu không đồng bộ(Ngân hàng Thế giới, 2002a)
Chính sách tín dụng tiếp tục được kiềm chế, theo đúng chương trình được Quĩ Tiền tệQuốc tế hỗ trợ Điều đáng nói là mức tăng tín dụng cho các doanh nghiệp nhà nướcđược giữ ở mức thấp hơn so với thoả thuận Tháng 6-2002, trần lãi suất cho vay bằngnội tệ đã được bãi bỏ, cho phép các ngân hàng có thể định giá tốt các rủi ro tín dụngvà do đó mở rộng cho vay sang khu vực tư nhân mới nổi
Năm 2002, lạm phát ở mức 4,3%, tăng từ không hoặc hơi âm trong những năm trước
Trang 35Điều này cơ bản phản ánh sự gia tăng trong giá lương thực thực phẩm, mặt hàng
chiếm khoảng một nửa trong chỉ số giá tiêu dùng Tuy nhiên, mức tăng giá vật liệu
xây dựng cũng đáng kể
Nhu cầu tài trợ tăng lên
Do Việt Nam thực hiện những cải cách theo kế hoạch trong khu vực nhà nước, kể cả
mạng an sinh xã hội cho những người lao động phải nghỉ việc ở các doanh nghiệp nhà
nước, và cơ cấu lại hệ thống ngân hàng, nên tổng yêu cầu tài trợ từ bên ngoài dự
kiến sẽ tăng Cũng vậy, nhập khẩu tiếp tục tăng ở mức cao là 15% năm 2002, phản
ánh nhu cầu nội địa mạnh và nhất là nhu cầu về những đầu vào chủ yếu cho sản xuất
và máy móc thiết bị Do đó, cán cân vãng lai sẽ bị thâm hụt ở mức khoảng 2% GDP
trong năm 2002
Trong trung hạn, doanh thu xuất khẩu sẽ làm giảm bớt yêu cầu tài trợ Nhưng những
nguồn phi thương mại như du lịch và kiều hối cũng sẽ trở thành nguồn cung ứng
quan trọng về ngoại tệ Các nguồn tin từ khu vực ngân hàng của Việt Nam ước tính
Khung 1.1: Việt Nam rủi ro đến mức nào?
Năm 2002, các cơ quan xếp hạng rủi ro quốc tế đã nâng mức xếp hạng của Việt Nam lên Moody’s
Investor Services, Capital Intelligence, và Cơ Quan phân loại rủi ro quốc gia của OECD đều cải
thiện cách xếp hạng của họ về triển vọng của Việt Nam, trong khi mức xếp hạng ban đầu được công
bố vào tháng 6 bởi Standard & Poor’s và Fitch Ratings, theo yêu cầu của chính phủ.
Mức xếp hạng được cải thiện và mới được đưa ra cho Việt Nam khẳng định cách nhìn nhận được cải
thiện đáng kể về môi trường đầu tư Bảng xếp hạng mới đặt Việt Nam trong cùng nhóm với những
nước như Bun-ga-ri, Peru, và Nga, và cao hơn những nước như Indonesia, Brazil, và Ru-ma-ni.
Nguồn: trang web của các tổ chức trên, tháng 10-11 năm 2002 Các nước thuộc mỗi hệ xếp hạng được liệt kê
theo thứ tự abc.
Trang 36rằng kiều hối do người Việt ở nước ngoài gửi về đã đạt mức 1.9 tỷ đô la năm 2001, vàcó khả năng sẽ vượt 2 tỷ đô la trong năm nay Những con số này cũng bao hàm cảnhững khoản được chuyển qua các kênh không chính thức.
Luồng đầu tư nước ngoài trực tiếp vẫn ổn định Tuy nhiên cho đến thời điểm này củanăm 2002, mức cam kết đầu tư nước ngoài còn thấp hơn năm 2001, trong khi số dự ánđược phê duyệt lại cao hơn, cho thấy có sự thay đổi trong cơ cấu và loại hình đầu tư,theo hướng những dự án đầu tư nước ngoài nhỏ hơn Bằng chứng thực tế từ cộngđồng đầu tư nước ngoài cũng cho thấy rằng các nhà đầu tư quan tâm nhiều hơn đếnnhững ngành định hướng xuất khẩu Sau khi có tác động tiêu cực ban đầu từ cuộckhủng hoảng Đông Á năm 1998, mức đầu tư thực hiện giữ tương đối ổn định trongsuốt giai đoạn (Hình 1.2) Tuy nhiên, việc thực hiện này bao gồm cả đầu tư của đốitác trong nước Luồng vốn nước ngoài thực sự đổ vào thì thấp hơn một chút, nhưngcũng đang trong xu hướng gia tăng
Sự ổn định tương đối của đầu tư trực tiếp của nước ngoài phản ánh phần nào vị thếtrung gian của Việt nam trong khu vực Đầu tư nước ngoài tại khu vực Đông Á đã bịgiảm sút đáng kể (UNCTAD, 2002) Tuy nhiên các cam kết mới về đầu tư nước ngoàivào Trung quốc đã tăng 33% và vốn thực hiện cũng tăng 21% trong 7 tháng đầu năm
2002 Sự hấp dẫn của Trung quốc đối với các nhà đầu tư nước ngoài có tầm quantrọng đặc biệt để Việt nam cải thiện môi trường đầu tư của chính mình (Lê ĐăngDoanh, 2002)
Năm 2002, tổng nhu cầu tài trợ vào khoảng 2,35 tỷ đô la, dự kiến chủ yếu sẽ đượcđáp ứng từ nguồn viện trợ phát triển và luồng đầu tư trực tiếp nước ngoài Nhu cầutài trợ của Việt Nam sẽ tăng dần lên 2,7 tỷ đô la vào năm 2005 (Bảng 1.3) Nếu xuấtkhẩu tăng nhanh hơn sẽ làm giảm nhu cầu vốn tài trợ, nhưng với lịch trình trả nợ nhưhiện nay và nhu cầu tích trữ và duy trì mức dự trữ đảm bảo, nên sẽ cần một lượngvốn đáng kể đưa vào đất nước Đầu tư nước ngoài và giải ngân hàng năm từ nhữngkhoản vay và viện trợ phát triển đã được duyệt ở mức 1,1 đến 1,5 tỷ đô la một năm
Trang 37sẽ là nguồn tài chính chủ yếu Các nguồn cung cấp chính là Nhật bản (khoảng 30%),
Ngân hàng Phát triển Châu Á (20%) và Ngân hàng Thế giới (30%) Dự báo này giả
định rằng chính phủ tiếp tục cải thiện việc thực hiện dự án nhằm đẩy nhanh tốc độ
giải ngân từ những dự án đã được phê duyệt
Bằng cách thông qua Chiến lược Tăng trưởng và Giảm nghèo Toàn diện gần đây,
chính phủ đã cam kết về một chương trình cải cách căn bản, đảm bảo tiếp tục có được
hỗ trợ giải ngân nhanh từ cộng đồng tài trợ Tín dụng Hỗ trợ Giảm nghèo (PRSC) của
Ngân hàng Thế giới và Thể thức Giảm nghèo và Tăng trưởng (PRGF) của IMF có khả
năng sẽ giải ngân tổng số là 260 triệu dô la trong năm 2003 Những nguồn giải ngân
nhanh khác bao gồm khoảng 55 triệu đô la từ các khoản vay theo chương trình của
ADB và các khoản đồng tài trợ trong PRSC của Đan Mạch, Hà Lan, Thuỵ Điển, và
Vương quốc Anh Các cam kết mới của nhóm tư vấn tài trợ cần được duy trì ở mức
của những năm gần đây nhằm đảm bảo giải ngân đúng tiến độ cho các dự án trong
trung hạn và đủ nguồn vốn ưu đãi cho những năm tới
2 THƯƠNG MẠI CHÍNH LÀ CƠ HỘI
Kể từ khi có chính sách đổi mới, những thay đổi trong chính sách thương mại là đầy
ấn tượng Trước kia, chỉ có một số ít các doanh nghiệp xuất nhập khẩu của nhà nước,
độc quyền trong hoạt động xuất nhập khẩu các mặt hàng thuộc phạm vi của mình
Khối lượng nhập khẩu theo kế hoạch được xác định bằng chênh lệch giữa cung và cầu
trong nước theo dự báo cho từng mặt hàng cụ thể, còn khối lượng xuất khẩu thì được
định ở mức đủ cần thiết để tài trợ cho nhập khẩu theo kế hoạch Sau 15 năm, thuế
quan đã được cắt giảm, một số lượng các hạn chế định lượng đã được bãi bỏ, và quản
Bảng 1.3: Yêu cầu tài trợ và nguồn tài trợ (tỷ đô la)
1/ Kể cả sai số.
2/ Kể cả nguồn vốn chưa được chính thức hoặc ký kết.
Nguồn: Các cơ quan của Việt Nam và ước tính của Ngân hàng Thế giới và IMF.
Trang 38lý tỷ giá cũng được tự do hoá Việt nam còn quyết tâm sẽ giữ đà cải cách thương mạivà hội nhập thể hiện ở việc ký kết hiệp định thương mại song phương Việt-Mỹ, khởiđầu các bước đàm phán gia nhập WTO.
Mặc dù những tiến bộ ngoạn mục này mở ra những cơ hội mới, song nó cũng gây ranhững thách thức mới Tự do hoá thương mại và dịch vụ tới đây có thể sẽ mâu thuẫnvới tiến độ chậm trễ trong thực hiện những cải cách khác, bao gồm cơ cấu lại cácdoanh nghiệp nhà nước và các ngân hàng thương mại nhà nước Cạnh tranh gia tăngtrên thị trường hàng hoá và khả năng tham gia của các đối tác mới trong hệ thốngngân hàng sẽ tạo thêm các áp lực nặng nề tới khu vực nhà nước – khu vực mà phầnlớn còn chưa đổi mới Tình trạng này cũng có thể sẽ là nhân tố xúc tác để cải thiệnhoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước và các ngân hàng thương mạinhà nước cũng nhanh thúc đẩy quá trình chuyển đổi sở hữu Tuy nhiên, ý đồ chuyểngánh nặng này sang phần còn lại của nền kinh tế cũng còn khá lớn thông qua trợ cấpvà cho phép nợ quá hạn
Tình hình trên không hàm ý rằng tiến độ của cải cách thương mại sẽ chậm lại Ngượclại, trong bối cảnh các cam kết của mình, Việt nam chỉ bất lợi nếu chậm chễ trong việcgia nhập WTO Các điều kiện gia nhập tổ chức này đã trở nên khó khăn hơn và cóthể sẽ càng phức tạp vào năm 2005 Hơn nữa, Trung quốc gia nhập WTO đã đẩy ViệtNam vào tình thế bất lợi Mặt khác WTO thể hiện rõ ràng cách phân biệt đối xử vớicác nước không là thành viên nên việc gia nhập WTO sẽ tạo cho Việt nam có vị thếtốt hơn để bảo vệ các quyền lợi của mình trước các rào cản xuất khẩu bất hợp lý củabên ngoài
Trên đà cải cách nhanh
Các nỗ lực tự do hoá liên quan đến hầu hết mọi mặt trong chế độ thương mại Nhữnghạn chế thành lập các doanh nghiệp xuất nhập khẩu đã được nới lỏng, cho phép tăngnhanh số doanh nghiệp được phép tham gia xuất nhập khẩu từ khoảng 30 doanhnghiệp vào năm 1988 lên trên 1200 doanh nghiệp vào cuối năm 1994 và 16.200 năm
2001 (CIE, 2002 và Ngân hàng Thế giới, 2002d) Các công cụ mới của chính sáchthương mại, bao gồm hạn chế định lượng và thuế quan, đã được áp dụng, và sau đódần dần giảm bớt Cơ chế quản lý ngoại hối cũng được tự do hoá Cuối cùng, cácbiện pháp cải cách được tăng cường trong một số cơ chế thương mại khu vực và đaphương
Quá trình này đã tiếp diễn với tốc độ đều đặn trong những năm gần đây (Bảng 2.1).Mọi hạn ngạch và chỉ tiêu làm nên cốt lõi của hệ thống kế hoạch hoá tập trung đãđược liên tiếp bãi bỏ Đến cuối năm 2003, mọi hạn chế định lượng đối với hàng nhậpkhẩu sẽ được bãi bỏ, trừ mặt hàng đường (sẽ được giữ cho đến 2005) và các sảnphẩm dầu Hạn chế định lượng đối với nhập khẩu xi măng, xe máy, và ô tô duới 9chỗ ngồi sẽ được bãi bỏ vào cuối năm 2002
Hạn chế định lượng đối với xuất khẩu của hầu hết các ngành cũng đã được bãi bỏ.Trường hợp ngoại lệ là hàng dệt may và các mặt hàng trong danh mục nhạy cảm VìViệt Nam chưa phải là thành viên của WTO, Việt Nam chưa phải tuân thủ các quy ướcvề hàng dệt may theo khuôn khổ Hiệp định đa sợi Hạn ngạch song phương về hàngdệt may sẽ vẫn được phân bổ thông qua cơ chế đấu thầu Điều quan trọng là lịchtrình xoá bỏ hạn chế định lượng đã được công bố như là một phần trong Cơ chế điềuhành và quản lý xuất nhập khẩu 5 năm (2001-2005), cho phép tư nhân dự tính trướcvà điều chỉnh được theo chế độ thương mại mới
Trang 39Bảng 2.1: Những thay đổi lớn trong chính sách thương mại từ năm 2000
Nguồn: Ngân hàng Thế giới.
Trang 40Biểu thuế quan đã được hợp lý hoá năm 1992, và đơn giản hoá vào năm 1999, sau khiViệt Nam gia nhập khu vực mậu dịch tự do ASEAN Hiện tại, có hai mức thuế chính.Thuế ưu đãi áp dụng cho hàng nhập khẩu từ những nước mà Việt Nam có chế độ Tốihuệ quốc Những mặt hàng trong diện này chiếm khoảng 75% tổng nhập khẩu Thuếsuất theo biểu thuế ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT) được áp dụng cho hàng nhậpkhẩu từ các nước ASEAN Mức thuế chung — 50% cao hơn mức thuế ưu đãi — đượcáp dụng cho các nước còn lại song kim ngạch nhập khẩu từ những nước này khôngđáng kể.
Thuế suất ưu đãi trung bình (không phân gia trọng) đã tăng lên, một phần là dochuyển hạn chế định lượng sang thuế quan (Bảng 2.2) Tuy nhiên, số dòng thuế vàthuế suất tối đa đã giảm xuống Thuế suất ưu đãi đặc biệt trung bình (không phângia trọng) cũng đã giảm Hiện thuế suất này ở mức 10,7% cho năm 2002
Đã có những thay đổi đáng kể trong tự do hoá thị trường ngoại hối, bao gồm dầndần giảm yêu cầu kết hối ngoại tệ áp dụng từ năm 1998 Yêu cầu này đã giảm xuốngcòn 30% vào tháng 5-2002 Thuế chuyển lợi nhuận về nước của các doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài sẽ được bãi bỏ vào cuối năm 2002, nhất quán với nỗ lực hàihoà chế độ thuế giữa các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài Tuy nhiên, vẫn cònmột số hạn chế về chuyển nhượng và thanh toán quốc tế hiện nay (IMF, 2002).Các biện pháp cải cách được hình thành trên cơ sở một số cơ chế thương mại khu vựcvà đa phương, bao gồm hiệp định thương mại ưu đãi 1992 với Cộng đồng Kinh tếChâu Âu, thành viên khu vực mậu dịch tự do ASEAN năm 1995, và hiệp định thươngmại song phương Việt-Mỹ năm 2001 Năm 1995, Việt Nam nộp đơn xin gia nhập WTOvà đã bắt đầu quá trình thương lượng về các điều kiện gia nhập
Bảng 2.2: Lộ trình thuế suất trong tương lai
1/ Thuế suất ưu đãi đối với hàng nhập khẩu từ các nước có tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với Việt Nam 2/ Thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung đối với hàng nhập khẩu từ các nước ASEAN.
Nguồn: Athukorala (2002); Matin và Phạm Minh Đức (2000); CIE (1997) Thuế xuất trung bình không phân gia trọng, tính theo phần trăm.