1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VÙNG Ở VIỆT NAM NHÌN TỪ CÁCH TIẾP CẬN CỦA BÁO CÁO PHÁT TRIỂN THẾ GIỚI 2009

26 352 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 344,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó ba khía cạnh của phát triển vùng bao gồm mật độ, khoảng cách, sự chia cắt; cùng với các tác lực thị trường là sự tích tụ, di cư và chuyên môn hoá cũng như các công cụ liên quan

Trang 1

MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VÙNG

Ở VIỆT NAM NHÌN TỪ CÁCH TIẾP CẬN

CỦA BÁO CÁO PHÁT TRIỂN THẾ GIỚI 2009

TS Trương Thị Kim Chuyên

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM

Sự phát triển của các quốc gia không mang lại sự thịnh vượng kinh

tế cho tất cả các vùng cùng một lúc, thực tế cho thấy thị trường chỉ ưuđãi một số vùng Do đó, các quốc gia thành công về kinh tế vừa phải tạođiều kiện thuận lợi cho sự tập trung hóa vừa phải đề ra các chính sách

để mức sống giữa các vùng đồng đều hơn

Báo cáo Phát triển Thế giới 2009 với tiêu đề Tái định dạng Địa kinh tế

đã đưa ra một cách tiếp cận mới nhằm định dạng lại khung tranh luậntrong chính sách phát triển vùng về đô thị hoá, phát triển lãnh thổ vàhội nhập vùng Trong đó ba khía cạnh của phát triển vùng bao gồm mật

độ, khoảng cách, sự chia cắt; cùng với các tác lực thị trường là sự tích

tụ, di cư và chuyên môn hoá cũng như các công cụ liên quan đến pháttriển đô thị, phát triển lãnh thổ và hội nhập vùng tương ứng với ba cấp

độ địa phương, quốc gia và quốc tế được phân tích và minh họa bằngcác ví dụ cụ thể của các vùng, quốc gia trên toàn thế giới

Dựa trên cơ sở đó, bài viết này sẽ trình bày, hệ thống hóa cách tiếpcận trên, so sánh với cách tiếp cận theo kiểu địa lý truyền thống.Trên cơ

sở đó nhìn nhận lại một số chính sách phát triển vùng, đặc biệt các chínhsách liên quan đến sự phát triển của các vùng tụt hậu ở Việt Nam

1 Một cách tiếp cận mới trong việc nghiên cứu về chính sách phát triển vùng

Qua sơ đồ tổng hợp các yếu tố, các tác lực thị trường và các chính

sách ở ba cấp độ địa lý, Báo cáo Phát triển Thế giới 2009 đã đưa ra một

cách tiếp cận mới trong việc nghiên cứu phân tích thực trạng của vùngcũng như chính sách phát triển vùng

Trang 2

Rõ ràng, trong các hoạt động kinh tế ngày nay nếu không giải quyếtđược câu hỏi “ở đâu” thì sẽ không thể nào giải quyết được câu hỏi “cáigì” và “như thế nào” Từ đó, báo cáo đã đưa ra ba khía cạnh cần chú ýtrong các chính sách phát triển vùng phải là i/ Mật độ cao ‑ sự tăngtrưởng gắn liền với sự tích tụ tập trung của các thành phố; ii/ Khoảngcách ngắn hơn – tạo điều kiện để lao động và các doanh nghiệp di cư lạigần những nơi có mật độ cao; iii/ Ít sự chia cắt hơn ‑ khi các nước làmmỏng các đường biên giới kinh tế và tạo điều kiện để các vùng tham giavào thị trường thế giới.

Hình 1 Sơ đồ các sự kiện thực tế, các tác lực thị trường

và các chính sách ở ba cấp độ địa lý1

1.1 Ba khía cạnh địa kinh tế: mật độ, khoảng cách và sự chia cắt

Mật độ (Density) biểu hiện mức độ tập trung của hoạt động kinh tế

trên đơn vị diện tích đất được đo bằng các hoạt động kinh tế hoặc sảnlượng tạo ra trên một km² (tổng GDP/km²)

Thực tế, sự phân bổ các hoạt động kinh tế theo vùng địa lý là khôngđồng đều, kể cả là nước phát triển hay đang phát triển Hơn nữa, sự

1 Ngân hàng Thế giới (2009), Tái định dạng địa kinh tế, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà

Nội, tr 149.

Trang 3

chênh lệch này không đơn giản là giữa vùng nông thôn và thành thị, cókhi một chuỗi các mật độ khác nhau sẽ xuất hiện tương ứng với các địađiểm khác nhau Vì vậy, sự chênh lệch này diễn ra bên trong đô thị đôikhi rất lớn.

Vì thế, mật độ có liên quan chặt chẽ với mức độ đô thị hóa và tậptrung kinh tế Dù vậy, ưu thế của mật độ cao không chỉ dừng lại ở thunhập và của cải mà còn bao gồm cả khía cạnh xã hội Điều này lý giải vìsao các thành phố lớn có các chỉ số về sức khỏe tốt hơn nông thôn, điểnhình là ở các nước đang phát triển

Báo cáo cho rằng chính sách để giải quyết được vấn đề liên quan đếnmật độ là phải nỗ lực cải thiện dịch vụ công ở nông thôn, làm cho mật

độ trở nên hợp lý để khai thác được các tác lực thị trường nhằm khuyếnkhích sự tập trung hoá ở các vùng

Khoảng cách (Distance) biểu hiện các chi phí để đến được những nơi

có mật độ kinh tế cao nhằm ám chỉ sự di chuyển dễ dàng hoặc khó khăncủa hàng hoá, dịch vụ, lao động, vốn, thông tin và ý tưởng Đối vớithương mại và dịch vụ, khoảng cách liên quan đến thời gian và chi phítài chính Trong sự dịch chuyển lao động, khoảng cách có thể bao hàm

“chi phí tinh thần” vì cư dân phải xa rời nơi ở thân quen Rõ ràng, báocáo đã chú ý đến khoảng cách tương đối thay vì khoảng cách tuyệt đối Khoảng cách đến nơi có mật độ cao ảnh hưởng đến hầu hết các hoạtđộng có mối quan hệ tương tác theo không gian Vì thế, khoảng cáchquá xa là nguyên nhân dẫn đến thu nhập bình quân theo đầu người,năng suất lao động và tiền lương thấp Thêm nữa, những rào cản do conngười tạo ra, kể cả chính sách cũng làm tăng khoảng cách (ví dụ điểnhình là các trạm thu phí giao thông…) Ngoài ra, chất lượng cơ sở hạtầng cùng với phương tiện giao thông sẵn có ảnh hưởng rất nhiều đếnkhoảng cách kinh tế giữa các địa điểm có cùng khoảng cách tuyệt đối Báo cáo cũng đã chỉ ra rằng nhiều vùng có khoảng cách lớn đến nơi

có mật độ cao thường là vùng tụt hậu không thể thu hút đầu tư và laođộng Hơn nữa, vùng tụt hậu thường là nơi sinh sống của nhiều dântộc thiểu số nên càng dễ gia tăng thêm tình trạng căng thẳng, có thể dẫnđến những xung đột Sự khác biệt về ngôn ngữ, tôn giáo, sắc tộc cũng

có thể là trở ngại lớn cho sự di cư từ các vùng này

Trang 4

Vấn đề vùng nghèo và người nghèo cũng được phân biệt trong báocáo Các chuyên gia của Ngân hàng Thế giới lập luận rằng các vùng tụthậu có tỷ lệ nghèo cao hơn vùng dẫn đầu (vì tỷ lệ nghèo có liên quan tớikhoảng cách), ngược lại các vùng dẫn đầu có số lượng người nghèo caohơn (vì số lượng người nghèo có liên quan đến mật độ) Hơn nữa, ngườinghèo có nhiều lí do để di chuyển khỏi vùng nghèo và họ chấp nhận trảgiá để đến được những vùng giàu có hơn.

Đối với các nước có nền kinh tế tương đối khép kín, khoảng cách đếncác vùng có mật độ cao rất quan trọng đối với sự phát triển của các vùngtụt hậu Đối với các quốc gia mở cửa, khoảng cách đến thị trường thếgiới quan trọng hơn, do đó vùng biên giới và duyên hải có xu hướngphát triển nhanh

Báo cáo khuyến khích các nước thực hiện chính sách mở cửa để thungắn khoảng cách Phương thức tự nhiên để giảm khoảng cách là cho phépngười dân di cư Do đó, nếu giảm chi phí về khoảng cách sẽ gia tăng sự dichuyển của người dân Tuy nhiên, sự di cư để mang lại sự đồng nhất tươngđối về mức sống phải cần đến những dòng di dân trong nhiều thế hệ

Sự chia cắt (Division), theo báo cáo trên, khái niệm biên giới và sự

chia cắt không đồng nghĩa với nhau Một đường biên giới ổn định và rõràng sẽ đảm bảo an ninh và đem lại lợi ích kinh tế Trong khi đó, sự chiacắt chỉ xảy ra khi các đường biên giới không được quản lí tốt

Nếu sự chia cắt diễn ra sẽ gây nên những ảnh hưởng rất lớn đến việclưu thông hàng hoá, vốn, con người và ý tưởng Đôi khi, sự chia cắt còndẫn đến các cuộc tranh chấp lãnh thổ, xung đột giữa các nước và nộichiến dai dẳng, từ đó làm giảm sự tăng trưởng của các vùng trong nước

Do đó, sự chia cắt cần được giải quyết để duy trì sự tiến bộ cho mỗi quốcgia bằng kết hợp cả ba công cụ chính sách đó là thể chế thống nhất, cơ

sở hạ tầng kết nối và các cơ chế khuyến khích có mục tiêu

Tóm lại, tầm quan trọng của ba khía cạnh trên có sự tương ứng với

ba cấp độ địa lý Ở phạm vi địa phương, mật độ là yếu tố quan trọngnhất vì khoảng cách thường ngắn và ít sự chia cắt Trong phạm vi quốcgia, yếu tố quan trọng nhất lại là khoảng cách đến nơi có mật độ cao vì

sự chia cắt trong phạm vi quốc gia thường ít (trừ một số nước) Ở phạm

vi quốc tế, sự chia cắt lại là yếu tố quan trọng nhất

Trang 5

Phân tích ba khía cạnh ‑ mật độ, khoảng cách và sự chia cắt ‑ đã giúpchúng ta gợi nhớ tới hình ảnh tương ứng ‑ địa nhân lực, địa vật chất và địachính trị‑xã hội Điều này giúp các quốc gia xác định các tác lực thị trườngchính và những chính sách phù hợp tương ứng với ba cấp độ địa lý

Báo cáo Phát triển Thế giới 2009 cho rằng sự chuyển đổi của ba khía

cạnh địa kinh tế trên là then chốt cho sự phát triển và cần được khuyếnkhích Mật độ, khoảng cách và sự chia cắt của một vùng đã thể hiện vàminh họa tốt nhất điều kiện tiếp cận thị trường của vùng đó ‑ xác định “ởđâu” hoạt động kinh tế có thể phát triển Vì thế, ba vấn đề cần được quantâm và giải quyết là i) mật độ thấp gắn với lực tích tụ yếu; ii) khoảng cách

xa làm tăng chi phí vận chuyển và giảm tính cơ động của các yếu tố sảnxuất và iii) sự chia cắt sâu sắc làm cản trở hoặc tăng chi phí vận chuyển

1.2 Ba tác lực thị trường: sự tích tụ, di cư và chuyên môn hóa

Để hoạch định chính sách vùng trên cơ sở ba yếu tố đã phân tíchtrên, chính phủ có thể thúc đẩy các tác lực thị trường nhằm tạo ra sự tậptrung hoá và giảm sự chênh lệch về mức sống

Tính kinh tế nhờ sự tích tụ

Tính kinh tế nhờ sự tích tụ được tăng cường theo mật độ và suy yếutheo khoảng cách Điều này có thể giải thích vì sao người dân thườngchọn nơi có mật độ cao và chấp nhận trả giá để đến được vùng giàu cóhơn Do đó, số lượng người nghèo ở những vùng dẫn đầu thường đôngđúc hơn vùng nghèo

Trên thực tế, các doanh nghiệp (DN) có nhiều lí do để phân bố gầnnhau Một là các DN có thể chia sẻ khả năng tiếp cận đầu vào Hai là laođộng có thể dễ dàng thích ứng vì sẽ ít rủi ro hơn khi sống ở địa bàn cónhiều DN có cùng nhu cầu về lao động Ba là cả DN và người lao động

sẽ có cơ hội và môi trường để học hỏi và thúc đẩy tác động lan toả củatri thức Ngoài ba lí do trên, các thành phố cũng muốn thúc đẩy loại hìnhkinh tế theo qui mô vì các nhà máy đặt ở địa điểm mật độ cao sẽ tậndụng được lợi ích cạnh tranh liên quan đến sự tích tụ

Ngoài ra, báo cáo cũng đã đề cập đến một số nước mắc phải nỗi lo

sợ vô cớ về đô thị hoá trong quá trình phát triển Ví dụ ở Việt Nam tuy

cư dân đô thị chỉ chiếm 30% nhưng GDP trong sản lượng quốc gia do

Trang 6

khu vực này mang lại chiếm đến 70%, và sẽ rất vô ích nếu các nhà hoạchđịnh chính sách tốn công để hạn chế việc nhập cư vào đô thị.

Tuy nhiên các thành phố mật độ cao chưa hẳn đã hấp dẫn được nhàđầu tư nếu thành phố không thoả mãn các nhu cầu về đất đai và địađiểm của những ngành kinh tế chủ đạo của mình Bên cạnh đó, qui mô

và mức độ tập trung cao của thành phố cũng gây nên những vấn nạnnhư vấn đề tội phạm, ô nhiễm…

Tóm lại, sự tích tụ sẽ được nhiều lợi ích chỉ khi cơ sở hạ tầng đượcđáp ứng đầy đủ Thông thường trách nhiệm phát triển cơ sở hạ tầnggiao cho địa phương, nhưng không phải nguồn lực và năng lực của địaphương lúc nào cũng có Bên cạnh đó, các thành phố mới sẽ khó hoạtđộng tốt nếu không được bố trí gần các thành phố đã phát triển Tuynhiên điều này phụ thuộc nhiều vào vai trò quản lí của chính phủ

Tính cơ động của các nhân tố di cư

Trong báo cáo này khái niệm di cư nhấn mạnh đến sự chuyển dịchnguồn nhân lực Trên thực tế dòng di cư lớn nhất là dòng di cư giữacác vùng trong quốc gia, không phải là dòng di cư quốc tế và cũngkhông đơn thuần là dòng di cư từ nông thôn lên thành thị

Thông thường, lợi ích từ sự tích tụ chi phối đến sự di chuyển vốn vàlao động Báo cáo khẳng định rằng “Ở đây, thách thức chính sách khôngphải là giữ chân các hộ gia đình mà là làm cách nào để họ không di chuyển

vì các lí do sai lầm”1 Nếu sự di cư vì thiếu các dịch vụ công thì sẽ làm tăngchi phí tắc nghẽn ở các thành phố Vì thế, chính phủ cần cung cấp các dịch

vụ giáo dục, y tế và các dịch vụ xã hội tại các vùng tụt hậu tốt hơn Khi đề cập đến sự di cư quốc tế, báo cáo lưu ý lực lượng lao độnglành nghề không “mất đi” mà chỉ “luân chuyển” giữa các quốc gia,không nên xem xét dưới khía cạnh “được – mất” Do đó, chính phủ cầnkhuyến khích sự đóng góp kinh tế tại quê nhà, và tạo điều kiện cho họvẫn giữ được quyền công dân và đáp ứng nguyện vọng tái định cư

Chuyên môn hóa và chi phí vận tải

Ngày nay, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ đem lạinhiều lợi ích cho thế giới Trong đó, ngành vận tải đã cắt giảm được chi

1 Ngân hàng Thế giới (2009), Tái định dạng địa kinh tế, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà

Nội, tr 218.

Trang 7

phí và đẩy nhanh tốc độ vận chuyển Việc giảm chi phí vận tải đồngnghĩa với việc tập trung sản xuất theo vùng lớn hơn, tạo điều kiện thuậnlợi để phối hợp các mạng lưới sản xuất quốc tế, tăng sự giao thươnggiữa các nước láng giềng và sự tập trung thương mại giữa các vùngtrong nước.

Báo cáo cho rằng cần phải ưu tiên cho hai chính sách i) giảm tác độngtiêu cực trong ngành vận tải (như tắc nghẽn, khí thải, ô nhiễm, tai nạn, )ii) cải thiện điều kiện thúc đẩy thương mại và phối hợp theo vùng Haiyếu tố này sẽ thúc đẩy các tác lực từ sự tích tụ và đôi khi mang lại nhiềukết quả hơn là chỉ chú ý đầu tư vào cơ sở hạ tầng

1.3 Ba vấn đề trong chính sách: đô thị hóa, phát triển lãnh thổ

và hội nhập vùng

Vấn đề đô thị hóa

Ba khía cạnh về không gian ‑ mật độ, khoảng cách và sự chia cắt ‑cho thấy rõ những thách thức về chính sách ở ba cấp độ địa lý Ở cácvùng chủ yếu là nông thôn, chính sách cần tạo điều kiện thúc đẩy mật

độ Ở vùng đã có đô thị hóa, chính sách cần kết hợp thúc đẩy mật độ

và giải quyết các vấn đề về khoảng cách do tắt nghẽn gây ra Đối vớicác khu vực đô thị hóa cao, các thành phố lớn cần khuyến khích mật

độ và vượt qua khoảng cách, đồng thời cần xóa bỏ sự chia cắt ngay bêntrong các thành phố gây nên sự cách biệt cho những người nghèo (chínhsách có mục tiêu về không gian)

Khi đô thị hóa tăng cao, những công cụ chính sách phải thay đổi từkhông có mục tiêu về không gian sang có mục tiêu về không gian.Trong đó quan trọng nhất là các chính sách về quản lí đất đai Vì nếukhông có quyền sở hữu rõ ràng về đất đai sẽ rất dễ xảy ra mâu thuẫntrong các chính sách đền bù giải toả Các qui định quá chặt chẽ về việcchuyển quyền sử dụng đất cũng gây nên sự khan hiếm nhà giá rẻ chonhững người di cư đến thành phố Vấn đề cốt lõi ở đây là một mạnglưới giao thông kết nối dễ dàng nhằm tăng khả năng lựa chọn phươngtiện đi lại Mặt khác, chính sách cần ưu tiên phát triển các công trìnhmới dọc các tuyến giao thông mới được thành lập nhằm giải quyết cácvấn đề liên quan tới các khu ổ chuột

Trang 8

Vấn đề phát triển lãnh thổ

Các quốc gia có lực lượng lao động và nguồn vốn lưu động cao, sựcách biệt do khoảng cách giữa các vùng miền cần được giải quyết chủyếu bằng các chính sách tạo điều kiện cho người dân di cư hướng tớicác cơ hội kinh tế Đối với vùng tụt hậu có dân số ít và số lượng ngườinghèo chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ thì các biện pháp tăng cường di dân làcốt lõi trong các chính sách Đối với các vùng chậm tăng trưởng có nhiềungười nghèo nhưng trở ngại về di chuyển, chính sách cần tăng cườngcác cơ sở hạ tầng kết nối không gian Nếu giữa các vùng có sự chia cắt

về ngôn ngữ, chính trị, tôn giáo hay sắc tộc, có thể phải cần thêm các cơchế khuyến khích Tuy nhiên, nếu không có thể chế và cơ sở hạ tầng thì

cơ chế khuyến khích sẽ khó thành công và rất tốn kém

Đối với thể chế và chính sách, việc phân bổ nguồn lực cho địaphương trước tiên có thể dựa vào đầu vào, sau đó dựa vào các kết quảtác động Đối với cơ sở hạ tầng, các quyết định quy hoạch phải có chínhquyền địa phương tham gia Đối với các cơ chế khuyến khích, trungương chỉ đạo nhưng việc thực hiện cụ thể phải do địa phương quyếtđịnh Tuy nhiên, các biện pháp “phi vùng” như đánh thuế thu nhập luỹtiến, an sinh xã hội và phúc lợi thất nghiệp cũng vô cùng quan trọng

Vấn đề hội nhập vùng

Có ba công cụ chính sách có thể sử dụng để hội nhập vùng và cũng

là công cụ hỗ trợ cho sự hội nhập toàn cầu:

Hợp tác thể chế, chính sách để giải quyết vấn đề cần sự phối hợp trongphạm vi liên vùng/liên quốc gia và thúc đẩy hiệu quả kinh tế nhờ qui mô

Cơ sở hạ tầng khu vực, thường là liên kết chiến lược giữa cácvùng/khu vực lân cận với các thị trường dẫn đầu thế giới, và có thể làmgiảm chi phí vận chuyển

Các cơ chế khuyến khích có điều phối bao gồm tất cả các bên liênquan, những yếu tố có thể thúc đẩy sự di chuyển và hội tụ mức sốnggiữa các vùng dẫn đầu và vùng tụt hậu trong khu vực lân cận

2 So sánh cách tiếp cận mới và cách tiếp cận truyền thống

Dựa trên cách tiếp cận và phân tích mới về khung tranh luận chochính sách phát triển vùng, chúng tôi bước đầu đưa ra một khung so

Trang 9

sánh cách tiếp cận mới và cách tiếp cận địa lý truyền thống Từ đó có thể

lí giải vì sao nhiều chính sách phát triển cho những vùng nghèo trongnhững năm qua không mang lại nhiều hiệu quả và lãng phí Trên cơ sở

đó cũng cho thấy nhiều thống kê và các nghiên cứu ở Việt Nam trongnhiều năm qua, cách tiếp cận trong chính sách phát triển vùng thườngphân tích theo các hợp phần riêng lẻ như điều kiện tự nhiên, kinh tế ‑ xãhội, cơ sở hạ tầng, thể chế… Trong khi đó, với cách tiếp cận mới của cácchuyên gia Ngân hàng thế giới, các hợp phần trên được phân tích mộtcách tổng hợp và toàn diện dựa trên ba khía cạnh, ba tác lực thị trường

và ba vấn đề trong chính sách, tương ứng với ba phạm vi lãnh thổ

Bảng 1: So sánh cách tiếp cận mới

và cách tiếp cận địa lý truyền thống

Cách tiếp cận mới Cách tiếp cận truyền thống

Ba khía cạnh

1 Mật độ - Mật độ biểu hiện mức độ tập

trung của hoạt động kinh tế trên đơn vị diện tích đất (tổng GDP/km²)

- Chính sách chú trọng đến nỗ lực cải thiện dịch vụ công ở nông thôn

- Đôi khi còn ám chỉ “chi phí tinh thần” cho việc xa rời lãnh thổ thân quen.

- Chính sách chính là tập trung khuyến khích mở cửa và cho phép di cư.

- Khoảng cách thường ám chỉ chiều dài giữa hai địa điểm (khoảng cách tuyệt đối).

- Chưa quan tâm đến khía cạnh kinh tế và chi phí tinh thần.

- Tập trung chính sách phát triển cơ sở hạ tầng để kết nối.

3 Sự chia cắt - Sự chia cắt diễn ra khi các đường

biên giới giữa các quốc gia không được quản lí tốt

- Giữa các vùng trong quốc gia, sự chia cắt diễn ra khi có sự phân hóa sâu sắc về văn hoá, ngôn ngữ, sắc tộc và tôn giáo.

- Vùng cao, vùng sâu, vùng xa xem là vùng bị chia cắt.

- Các công cụ chính sách thường dàn trải và ít mục tiêu.

Trang 10

Ba tác lực thị trường

4 Sự tích tụ - Sự tích tụ là sự cần thiết để tận

dụng được tính kinh tế nhờ qui mô

- Không khuyến khích việc hạn chế nhập cư.

- Các chính sách để hạn chế tính

“phi kinh tế” do tích tụ là cần thiết.

Thường xem sự tích tụ dưới khía cạnh “phi kinh tế” do tích tụ mang lại như vấn đề

ô nhiễm, tội phạm… Các chính sách thường cố gắng để hạn chế nhập cư vào đô thị.

5 Sự di cư - Di cư không đơn thuần là dòng

di cư từ nông thôn lên thành thị

- Thách thức chính sách là làm cách nào để các hộ gia đình không di cư vì lí do thiếu các dịch

vụ công.

- Di cư thường chú trọng đến dòng di cư từ nông thôn lên thành thị

- Chưa chú trọng đến chính sách tăng cường các dịch vụ công ở nông thôn.

6 Chuyên môn hóa - Ưu tiên cho hai chính sách:

I)Giảm tác động tiêu cực trong ngành vận tải.

II) Cải thiện điều kiện thúc đẩy thương mại và phối hợp theo vùng hơn là chỉ chú ý đầu tư vào

cơ sở hạ tầng.

- Chú ý nhiều đến phát triển

cơ sở hạ tầng.

- Chưa chú ý nhiều đến các tiêu cực trong ngành vận tải.

Ba vấn đề trong chính sách

7 Vấn đề đô thị hoá - Chính sách cho đô thị hóa giải

quyết trên nhiều cực khác nhau.

Không đơn giản hóa thành hai cực là nông thôn và thành thị.

- Quan trọng nhất là các chính sách về quản lí đất đai.

- Vấn đề đô thị hóa thường chỉ được chú trọng ở các khu vực đô thị lớn, chưa quan tâm đến vùng nông thôn và các vùng chuyển tiếp từ nông thôn sang thành thị.

- Các chính sách về quản lí đất đai chưa được chú trọng dẫn đến nhiều mâu thuẫn trong vấn đề đền bù giải tỏa

và vấn đề nhà ở giá rẻ cho dân nhập cư.

8 Vấn đề phát triển

lãnh thổ

- Giải quyết vấn đề phát triển lãnh thổ trên cơ sở thể chế, cơ sở hạ tầng kết nối và cơ chế khuyến khích tương ứng với ba khía cạnh mật độ, khoảng cách và sự chia cắt.

- Các chính sách “phi vùng” cũng

vô cùng quan trọng

- Các chính sách phát triển lãnh thổ thường quá chú trọng vào đầu tư cơ sở hạ tầng

- Các chính sách “phi vùng” chưa được quan tâm

9 Vấn đề hội nhập

vùng

- Hợp tác thể chế, chính sách để giải quyết vấn đề cần sự phối hợp trong phạm vi liên vùng.

- Hợp tác thể chế giữa các vùng chưa được chú ý.

Trang 11

3 Nhìn lại một số chính sách phát triển vùng ở Việt Nam

Dựa trên việc so sánh hai cách tiếp cận trên, chúng tôi bước đầunhìn lại một số chính sách phát triển vùng ở Việt Nam Các vấn đềtrong cách tiếp cận về chính sách phát triển vùng cần được quan tâmnhư sau:

v Theo quan điểm phát triển vùng và các chính sách phát triển vùng

ở Việt Nam, vùng nghèo thường được xem là vùng có đông người nghèosinh sống1 Tuy nhiên, Báo cáo Phát triển Thế giới 2009 đã chỉ ra rằng

vùng nghèo khác với nơi có nhiều người nghèo bởi vì vùng nghèo chưahẳn đã có nhiều người nghèo sinh sống vì người nghèo có nhiều lí do

để di chuyển khỏi nơi nghèo Ví dụ tỉ lệ nghèo tại TP Hồ Chí Minh thấphơn so với các tỉnh thành khác nhưng số lượng người nghèo cao và vẫncòn đang tiếp tục thu hút một số lượng lớn người nghèo từ các vùngkhác đến sinh sống Do đó, các chương trình, dự án có tính chất can thiệp

và hỗ trợ cần tránh dàn trải và xác định các nhóm mục tiêu cụ thể nhằmhạn chế lãng phí

v Các chính sách trong hội nhập vùng thường hay chỉ đề cập đếnhai cực là thành thị và nông thôn Nhưng trên thực tế, sự phân chia cácvùng còn phức tạp hơn rất nhiều Trong nông thôn còn có các làng, xã

và trong khu vực thành thị còn có thị trấn, thành phố cấp hai, thành phốlớn, siêu đô thị… Do đó, nếu chỉ đơn giản hoá thành hai cực là nôngthôn và thành thị thì các chính sách sẽ không bám sát được sự phân hoá

từ vùng nông thôn chuyển tiếp lên thành thị Điều này cũng đúng khixem xét bên trong mỗi đô thị, vì mỗi đô thị đều có sự phân hoá khácnhau từ khu ổ chuột, khu vực còn hoạt động nông nghiệp đến khu vựctrung tâm phát triển Tp Hồ Chí Minh là một thành phố điển hình thểhiện sự đa dạng của việc chênh lệch mức sống và các chính sách an sinh

xã hội bên trong đô thị này2 Các thống kê cho thấy mức sống của cưdân thành phố này khác nhau một cách rõ rệt theo các khu vực Căn cứtheo khu vực sinh sống thì khu vực nông thôn của Tp Hồ Chí Minh

1 TTXVN (18/09/2008), Ổn định đời sống cho người nghèo, vùng nghèo,

http://tintuc.xalo.vn/00‑390436951/

on_dinh_doi_song_cho_nguoi_ngheo_vung_ngheo.html

2 Tình hình nghèo tại TP Hồ Chí Minh, http://www.cep.org.vn/?page=poverty_hcm

Trang 12

thường ít có điều kiện để thụ hưởng những tiện ích cơ bản như nướcsạch, điện sinh hoạt hơn khu vực thành thị

v Xây dựng các hàng lang phát triển cơ sở hạ tầng để kết nối giữacác vùng với nhau là điều cần thiết trong chiến lược phát triển lãnhthổ của mỗi quốc gia Tuy nhiên, không phải hành lang cơ sở hạ tầngnào cũng mang lại hiệu quả nếu không xem xét đến thực trạng củahai vùng kết nối Cụ thể khi người dân trong vùng nghèo đối mặt với

sự di chuyển khó khăn nhưng có khả năng hội nhập cao, các chínhsách cần phát triển cơ sở hạ tầng nhằm tạo thuận lợi cho sự di chuyển

Ở những vùng nghèo có sự chia cắt vì nguyên nhân xã hội và chínhtrị, thì các chính sách phát triển vùng cần có sự phối hợp toàn diệnbao gồm thể chế thống nhất, cơ sở hạ tầng kết nối và sự can thiệp cómục tiêu

Tóm lại, cách tiếp cận và phân tích chính sách phát triển vùng dựa

trên Báo cáo Phát triển Thế giới 2009 của Ngân hàng Thế giới đã gợi mở

cho chúng ta suy nghĩ lại về một số chính sách phát triển vùng ở ViệtNam trong thời gian qua

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] 20/05/2003, Cần có chính sách phát triển vùng hợp lý, www.dddn.com.vn/33583ca t81/can‑co‑chinh‑sach‑phat‑trien‑vung‑ hop‑ly.htm

[2] Bích Đào (17/10/2009), Hướng tới giảm nghèo chất lượng và bền vững, www vovnews.vn/Home/Huong‑toi‑giam‑ngheo‑chat‑luong‑va‑ben‑ vung/200910/124421 vov

[3] Dang Kim Son (2009), Rural development issues in Vietnam: spatial disparities and some recommendations, World Development Reports

Reshaping Economic Geography, World Bank.

[4] Hoàng Trường Giang (27/06/2009), Giúp các hộ nghèo ở vùng nghèo nhất, www.qdnd vn/QDNDSite/vi‑VN/61/43/7/24/24/82020/Default.aspx [5] Ngân hàng Thế giới (2009), Tái định dạng địa kinh tế, Nxb Văn hoá Thông

tin, Hà Nội.

[6] Nguyễn Tiến Dũng (2009), Kinh tế và chính sách phát triển vùng, Nxb Đại

học Kinh tế Quốc dân.

Trang 13

[7] Quốc Lâm (1/1/2009), Để xoá đói giảm nghèo bền vững, www.baodienbienphu info vn/NewsDetail.asp?Catid=4&NewsId=39290 [8] Quỹ trợ vốn cho người nghèo tự tạo việc làm, www.cep.org.vn.

[9] Tổng Cục Thống kê (2006), Kết quả Khảo sát mức sống hộ gia đình năm

2006, Nxb Thống kê.

[10] Tổng Cục Thống kê Việt Nam, http://www.gso.gov.vn

[11] Trương Thị Kim Chuyên, Châu Ngọc Thái (2004), Chênh lệch vùng ở

Việt Nam, qua một số so sánh giữa ba vùng kinh tế trọng điểm, Hội thảo vùng kinh tế trọng điểm phía Nam: những vấn đề kinh tế ‑ văn hoá – xã hội Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TPHCM.

[12] World Bank (2009), World Development Reports 2009, Reshaping Economic Geography in East Asia.

[13] Xuân Linh (20/11/2008), WB: Việt Nam phải có kế hoạch phát triển vùng tốt, http://vietnamnet.vn/chinhtri/2008/11/814593/

Ngày đăng: 21/02/2017, 04:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Sơ đồ các sự kiện thực tế, các tác lực thị trường - MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VÙNG Ở VIỆT NAM NHÌN TỪ CÁCH TIẾP CẬN CỦA BÁO CÁO PHÁT TRIỂN THẾ GIỚI 2009
Hình 1. Sơ đồ các sự kiện thực tế, các tác lực thị trường (Trang 2)
Bảng 1: So sánh cách tiếp cận mới - MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VÙNG Ở VIỆT NAM NHÌN TỪ CÁCH TIẾP CẬN CỦA BÁO CÁO PHÁT TRIỂN THẾ GIỚI 2009
Bảng 1 So sánh cách tiếp cận mới (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w