Có thể nói, cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công là một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đồng thời khai sinh ra một nền văn hóa mớ
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG
THƠ TRIỆU KIM VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Thái Nguyên – 2014
Trang 2
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG
THƠ TRIỆU KIM VĂN
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Đức Hạnh
Thái Nguyên – 2014
Trang 3-
-
C
hơn
g 4 năm 2014
Trang 4Trang 5
MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ i
Lời cảm ơn ii
Lời cam đoan iii
Mục lục iv
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 9
Chương 1: TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 9
9
im Văn 9
1.1.2 Quan điểm sáng tác 10
1.2 Quá trình sáng tác và các giải thưởng 11
1.3 hiện đại 12
1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến thơ Triệu Kim Văn 16
1.4.1 Bản sắc văn hóa dân tộc Dao 16
1.4.2 Truyền thống văn hóa - văn học quê hương Bắc Kạn 17
1.4.3 19
Chương 2: HỆ THỐNG BIỂU TƯỢNG TRONG THƠ TRIỆU KIM VĂN 21
2.1 Khái quát về biểu tượng và biểu tượng trong thơ 21
2.1.1 Khái quát về biểu tượng 21
2.1.2 Biểu tượng trong thơ 23
2.2 Hệ thống biểu tượng trong thơ Triệu Kim Văn 27
27
37
45
Trang 6Chương 3: GIỌNG ĐIỆU VÀ NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG
THƠ TRIỆU KIM VĂN 54
3.1 Giọng điệu nghệ thuật trong thơ Triệu Kim Văn 54
3.1.1 Khái quát về giọng điệu nghệ thuật 54
3.1.2 Đặc điểm giọng điệu nghệ thuật trong thơ Triệu Kim Văn 58
3.2 Ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ Triệu Kim Văn 71
3.2.1 Khái quát về ngôn ngữ nghệ thuật 71
3.1.2 Đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ Triệu Kim Văn 74
PHẦN KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Tạo nên diện mạo văn học Việt Nam hiện đại có sự đóng góp không
nhỏ của văn học dân tộc thiểu số Việt Nam nói riêng, thơ ca dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung Nếu ví nền thơ ca Việt Nam hiện đại như một vườn hoa trăm hồng ngàn tía thì thơ ca dân tộc thiểu số là những bông hoa rừng với những hương sắc riêng Có thể nói, cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công là một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đồng thời khai sinh ra một nền văn hóa mới, trong đó
đã làm phục sinh vốn văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số, thúc đẩy
và làm nảy nở nhiều tài năng văn học dân tộc thiểu số Tuy xuất hiện muộn và phát triển chậm hơn so với bước tiến của văn học hiện đại Việt Nam, nhưng văn học các dân tộc thiểu số thời kì hiện đại, trong đó có thơ ca, đã có những vận động và phát triển nhanh chóng Bên cạnh sự phát triển của thơ ca dân tộc Tày, Thái, Mông .thơ ca dân tộc Dao tuy chưa có một đội ngũ các nhà thơ
đông đảo nhưng đã có “ một vị trí nhất định trong đời sống thơ ca các dân tộc
thiểu số Việt Nam”[45.353] Nghiên cứu thơ ca dân tộc Dao là một việc làm
cần thiết để góp phần vào việc hoàn chỉnh bức tranh thơ ca dân tộc thiểu số Việt Nam
1.2 Đóng góp và ghi dấu vào sự phát triển của thơ ca hiện đại dân tộc
Dao, bên cạnh nhà thơ Bàn Tài Đoàn là tên tuổi của nhà thơ Triệu Kim Văn -
người kế tục xứng đáng “Bó đuốc sống” [45.354] của dân tộc này Tuy vị trí
của thơ ca Triệu Kim Văn là quan trọng trong thơ ca dân tộc Dao, nhưng cho đến nay, việc nghiên cứu thành tựu sáng tác của Triệu Kim Văn chưa được tiến hành một cách thỏa đáng Đây vẫn còn là một khoảng trống, một mảng thiếu hụt cần được bù đắp Nó là một việc làm cần thiết để có cái nhìn toàn cảnh về diện mạo thơ ca dân tộc Dao
Trang 81.3 Văn học các dân tộc thiểu số đã góp phần tạo nên diện mạo của nền
văn học Việt Nam – một nền văn học phong phú và giàu bản sắc, nhưng trong nhiều năm qua văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam vẫn chưa thực sự thu hút
sự quan tâm chú ý đúng mức của giới nghiên cứu, phê bình nói chung, của một
số cấp ngành nói riêng, trong đó có ngành GD&ĐT Vì thế, các công trình nghiên cứu, sưu tầm, phê bình văn học , các sách giáo khoa, giáo trình viết về văn học các dân tộc thiểu số nói chung vẫn trong tình trạng thưa thớt Trong đó, mảng văn học địa phương đưa vào giảng dạy trong nhà trường đến các cấp học (Trung học phổ thông, trung học cơ sở), giáo trình cho văn học địa phương còn thiếu thốn Qua việc nghiên cứu đề tài “Thơ Triệu Kim Văn”, chúng tôi hy vọng sẽ bổ sung được một tư liệu bổ ích cho công tác giảng dạy văn học địa phương Bắc Kạn nói riêng và văn học thiểu số Việt Nam nói chung
1.4 Trong khoảng hai mươi năm qua (Từ những năm 90 của thế kỷ trước
tới nay), văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam đã có được những thành tựu đáng ghi nhận, nhưng sự chững lại của thơ dân tộc thiểu số trong những năm gần đây đặt ra những vấn đề quan thiết: Mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại trong thơ dân tộc thiểu số; Sự mai một của bản sắc dân tộc thiểu số trong cuộc sống hiện đại hôm nay; Vấn đề viết bằng tiếng mẹ đẻ và đối tượng độc giả của nó; Viết bằng tiếng Việt và yêu cầu chuyển tải cách cảm, cách nghĩ, lối nói, lối diễn đạt của người miền núi Qua việc nghiên cứu đề tài “Thơ Triệu Kim Văn”, chúng tôi mong muốn góp câu trả lời cho rất nhiều vấn đề đã – đang được đặt ra và còn để ngỏ trên đây
1.5 Các nhà nghiên cứu văn học ở Trường Đại học sư phạm - Đại học
Thái Nguyên đang tiến hành tổ chức biên soạn cuốn giáo trình văn học dân tộc thiểu số văn học Việt Nam hiện đại để phục vụ cho việc giảng dạy ở cấp Đại học, sau ĐH đề tài “Thơ Triệu Kim Văn” nếu thực hiện thành công, chúng tôi
hy vọng sẽ có một tài liệu tham khảo bổ ích cho công tác dạy và học phần văn
Trang 9học thiểu số nói riêng và trong chuyên ngành văn học nói chung ở các trường đại học ngành Sư phạm
2 Lịch sử vấn đề:
So với việc nghiên cứu văn học Việt Nam hiện đại nói chung thì những nghiên cứu dành cho mảng văn học dân tộc thiểu số còn ở mức độ khiêm tốn Trong bối cảnh đó, trong số các bài nghiên cứu, phê bình thơ ca dân tộc thiểu
số Việt Nam hiện đại, việc nghiên cứu thơ của Triệu Kim Văn còn rất ít ỏi, thưa thớt Một số bài viết và công trình đã có những tìm hiểu, đánh giá về một
số phương diện trong thơ Triệu Kim Văn ở những mức độ khác nhau
Trong cuốn chuyên luận Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam thời kỳ hiện đại
- Một số đặc điểm (PGS TS Trần Thị Việt Trung - TS Cao Thị Hảo đồng
chủ biên), các tác giả đã có những nhận diện khái quát và chỉ ra một đặc điểm
quan trọng trong thơ Triệu Kim Văn: “Yếu tố tâm linh hòa quyện trong sự ước
muốn hồn nhiên, chất phác – phản ánh mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên thật gắn bó, hài hòa Đây cũng là nguồn sức mạnh để giúp con người miền núi gần gũi, chan hòa với thiên nhiên và sản xuất tích cực hơn” [45.210]
Trong cuốn sách Bản sắc dân tộc trong thơ các dân tộc thiểu số Việt Nam
hiện đại (PGS TS Trần Thị Việt Trung chủ biên), các tác giả đã có những
nhận định về đặc trưng phong cách mang tính đóng góp của thơ Triệu Kim Văn, vẫn mang những nét truyền thống của văn hóa Dao, nhưng đã có sự hiện
đại, đổi mới để tạo nên nét riêng: “Được thừa hưởng những giá trị văn hóa đầy
bản sắc của dân tộc Dao, Triệu Kim Văn đã cất lên một tiếng thơ, một giọng Páo dung mới tươi rói, đầy sức trẻ và ngồn ngộn sức sống… Bằng sự thể hiện linh hoạt trong hình thức thể loại, sự mới mẻ và đầy sáng tạo trong cách cảm, cách nghĩ, cách diễn đạt, Triệu Kim Văn đã phần nào tiếp cận và hòa nhịp với đời sống thơ ca đương đại cũng như hòa mình với dòng hải lưu thơ ca các dân tộc thiểu số Việt Nam vốn đã rất phong phú và giàu bản sắc” [46.354]
Trang 10Trong cuốn sách Hoa văn thổ cẩm, tác giả Lò Ngân Sủn đã chỉ ra chất
dân tộc hòa quyện hiện đại trong thơ Triệu Kim Văn Tác giả khi bình về một
số bài thơ của Triệu Kim Văn đã rất tinh tường và sâu sắc để đưa ra đánh giá:
“chất dân ca, dân dã của điệu Páo dung đã được hòa quyện vào trong hơi thở
hiện đại, cái dân tộc đã được hòa nhập vào nhân loại, với một giọng điệu khá hào hoa, phong nhã, với một lối kết cấu, bố cục tự do, tung tẩy, phóng thoáng” [33.55]
-…
[7.131]
Khóa luận tốt nghiệp Thơ dân tộc Dao từ Bàn Tài Đoàn đến Triệu Kim
Văn của tác giả Phùng Thị Thuận khảo sát khá công phu, từ đó có cái nhìn đối
sánh để chỉ ra sự vận động phát triển của thơ Dao, trong đó thơ Triệu Kim Văn được đặt vào vị trí một chủ thể quan trọng của tiến trình vận động phát triển ấy:
“Nếu nhà thơ Bàn Tài Đoàn được ví là cây cao bóng cả của thơ Dao, thì Triệu
Kim Văn chính là người tiếp tục vun trồng để cho bóng cây thơ ca dân tộc Dao mãi mãi xanh tươi” [38.25]; “Nhà thơ Bàn Tài Đoàn là người đã đặt nền móng cho thơ dân tộc Dao thời kì trước cách mạng tháng Tám Còn trong thời kì hiện đại, nhà thơ Triệu Kim Văn là người kế thừa và phát triển thơ Dao Thơ của hai ông đã phản ánh rất chân thực và sinh động cuộc sống của dân tộc Dao, nó tồn tại như một món ăn tinh thần không thể thiếu đối với đồng bào Dao”
[38.86]
Trang 11Cùng với đó, một số bài viết cũng đã đóng góp những cách tiếp cận, nhận diện thơ Triệu Kim Văn
Bài bình tác phẩm Đá núi Đồng Văn của Vân Long chỉ ra cái thần, cái hồn
của một người con miền núi ngự trong sâu thẳm tâm thức rồi hiện lên trong thơ
Triệu Kim Văn Tác giả bài viết đánh giá: “tác giả đã tạo một thế liên lập giữa
con người (người Mông), thiên nhiên, (từ một hùng vĩ Đồng Văn đó mà có) văn hoá (văn Nguyễn Tuân, thơ Xuân Diệu) Ý tưởng không mới, nhưng cách nói hay” [24]
Bài viết Xuân của hương ngàn của Lâm Tiến trong cuốn sách Về một mảng
văn học dân tộc đã chỉ ra hồn thơ tươi tắn, giàu tin yêu và gắn bó tha thiết với
quê hương của Triệu Kim Văn: “Mùa xuân gắn với thiên nhiên, cuộc sống con
người miền núi Lời mùa xuân là lời của đất, của cây, của suối, của mây, gần gũi thân quen” [41.181]
Bài viết Người về theo lối cỏ của Tuệ Minh đã khẳng định một cách mạnh
mẽ, thuyết phục về tiếng nói dân tộc, giọng điệu dân tộc, tâm hồn dân tộc trong
thơ Triệu Kim Văn Tác giả viết: “với một nhà thơ - người viết ra những ý tứ,
nhịp điệu, rung động của tâm hồn mình thì văn hoá tộc người là một suối nguồn mát lành chở đầy phù sa bồi đắp nên những thức điệu tâm hồn Nhà thơ Triệu Kim Văn trên hành trình của mình đã đi, đã đến với dòng suối nguồn ấy, đồng thời góp thêm một mạch nguồn khơi dậy những tình tự dân tộc” [28]
Như vậy qua các công trình nghiên cứu, các bài viết chúng ta nhận thấy các tác giả đã có những đóng góp nhất định trong việc phát hiện ra một số đặc điểm về nội dung, nghệ thuật nổi bật trong thơ Triệu Kim Văn Nhưng nhìn chung các bài viết này mới chỉ dừng lại nghiên cứu một khía cạnh, một mặt nào
đó trong thơ Triệu Kim Văn Cho đến nay, chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu, khảo sát toàn diện và có hệ thống về thơ ông, để từ đó rút ra những đặc điểm khái quát về nội dung tư tưởng, nghệ thuật trong thơ Triệu Kim Văn
Trang 12Tuy nhiên, đây là những nhận định hết sức đáng quý, gợi mở cho chúng tôi nhiều vấn đề tìm hiểu một cách hệ thống, toàn diện về thơ Triệu Kim Văn
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Tiến hành thực hiện luận văn, chúng tôi tập trung tìm hiểu nét đặc sắc ở phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật của thơ Triệu Kim Văn
Từ đó, luận văn chỉ ra thành công, hạn chế và đóng góp của thơ Triệu Kim Văn với thơ ca các dân tộc thiểu số Việt Nam nói riêng, với thơ ca Việt Nam hiện đại nói chung
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Để thực hiện đề tài, chúng tôi nghiên cứu, khảo sát, phân tích, đánh giá 10 tập
thơ của Triệu Kim Văn: Hoa núi (1989); Mùa sa nhân (1994); Lá tìm nhau (1999); Con của núi (Thơ song ngữ Dao- Việt- 2002); Lửa của mồ côi (2002);
Lối cỏ (2004); Suối nguồn du du (Thơ song ngữ Dao- Việt- 2010); Hoa nắng
(2010); Trời về (2010); Sợi mưa hiền (2011)
- Các tác phẩm thơ của một số nhà thơ dân tộc khác nhằm so sánh, đối chiếu làm nổi bật những nét riêng trong thơ Triệu Kim Văn
4 Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu đề tài “Thơ triệu Kim Văn”, luận văn nhằm chỉ rõ tính truyền thống trong thơ và sự kế thừa phát triển thơ Dao trong thời kỳ hiện đại của thơ Triệu Kim Văn Đồng thời, qua việc nghiên cứu đề tài, chúng tôi muốn khẳng định những đóng góp của thơ Triệu Kim Văn đối với sự phát triển của thơ Dao nói riêng và thơ ca dân tộc chung
5 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Trang 13Luận văn tập trung nghiên cứu giá trị nội dung và nghệ thuật của thơ Triệu Kim Văn, khẳng định tính truyền thống và tính hiện đại trong sáng tác của nhà thơ này, từ đó chỉ ra những đóng góp, thành công và hạn chế, cũng như
cá tính sáng tạo của thơ Triệu Kim Văn
6 Phương pháp nghiên cứu:
Tiến hành luận văn, chúng tôi tích hợp đồng bộ một số phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp đồng bộ phương pháp nghiên
cứu nghiên cứu lịch sử, nghiên cứu
- Phương pháp tiếp cận văn hóa học: Văn hóa và văn học có những mối quan
hệ tương hỗ, biện chứng Muốn giải quyết vấn đề của luận văn, cần tiếp cận từ giác độ văn hóa học Sử dụng phương pháp tiếp cận này, chúng tôi khai thác những vẻ đẹp và đặc trưng của văn hóa dân tộc thiểu số nói chung, văn hóa dân tộc Dao nói riêng thể hiện trong thơ Triệu Kim Văn
- Các thao tác nghiên cứu khác: Ngoài việc sử dụng thao tác phân tích tác
phẩm theo loại thể, chúng tôi kết hợp sử dụng một số thao tác như tổng hợp,
, so sánh nhằm khảo sát tác phẩm một cách chi tiết và hệ thống
7 Đóng góp của luận văn
Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên khảo sát, phân tích, đánh giá toàn
bộ sự nghiệp sáng tác thơ ca của nhà thơ Triệu Kim Văn Từ đó, khẳng định thành tựu, đóng góp cũng như hạn chế của thơ Triệu Kim Văn với nền văn học
Trang 14thiểu số Việt Nam hiện đại nói riêng và nền thơ Việt Nam hiện đại nói chung.
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn có cấu trúc gồm 3 chương:
Chương 1: Thơ Triệu Kim Văn trong thơ dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại
Chương 2: Hệ thống biểu tượng trong thơ Triệu Kim Văn
Chương 3: Ngôn ngữ và giọng điệu nghệ thuật trong thơ Triệu Kim Văn
Trang 15PHẦN NỘI DUNG Chương 1 THƠ TRIỆU KIM VĂN TRONG THƠ DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 1.1 Tiểu sử và quan điểm sáng tác
1.1.1 Tiểu sử
Tiểu sử đầy đủ và chân thật nhất của một nhà thơ nằm ngay trong chính tác phẩm của nhà thơ đó Do vậy, những điều mà một nhà thơ tự viết về mình bao giờ cũng là một nguồn tư liệu quan trọng và đáng tin cậy để tìm hiểu tác
giả ấy “Tôi tự hào là đứa con của đại ngàn, với những cánh rừng nguyên sinh
âm u, mây buông sương ủ, nơi núi đá tai mèo dựng đứng như bờm ngựa chiến Tôi sinh ra trên tay người mẹ nghèo hiền lành, buổi chập chững theo các anh chị lên nương ngơ ngác nghe kể đầy gùi cổ tích ” (Trích “Đối khúc đại ngàn”) Đó là những lời của nhà thơ dân tộc Dao đỏ Triệu Kim Văn - nhà
thơ người Dao đầu tiên của Bắc Kạn đang tự viết về mình Có thể nói, sau Bàn Tài Đoàn, tên tuổi Triệu Kim Văn đã góp phần làm phong phú thêm cho đời sống thơ ca dân tộc Dao nói riêng và thơ dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại nói chung
Triệu Kim Văn (bút danh Hoa Sơn) sinh ngày 14.7.1945 ở vùng quê
Cao Sơn, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn Vùng đất ấy với “núi
cao sừng sững như đỡ lấy bầu trời, nơi bản làng ẩn trong mây núi bao phủ, nơi
có những bài láu ton (hát ru) độc đáo” [28] vừa là môi trường sống, vừa là
không gian văn hóa nuôi dưỡng tâm hồn con người, vừa là nguồn cảm hứng trong các sáng tác của Triệu Kim Văn
Mười ba tuổi Triệu Kim Văn biết nói tiếng Kinh, lúc này ông đi học tại trường thiếu nhi vùng cao Việt Bắc Ông tâm sự: Thuở ấy mọi người đặt cho ông biệt danh “con mọt sách” vì khi ông biết tiếng Kinh ông đã đọc rất nhiều,
Trang 16cả kho sách văn học của thư viện nhà trường đều được ông đọc bằng hết Học hết lớp 7, ông tiếp tục sang trường Bổ túc Công - Nông học lớp 8, sau đó ông học sư phạm và giảng dạy tại trường trung cấp Công nghiệp nhẹ của Bộ công nghiệp Năm 1973 ông thi vào đại học tổng hợp Hà Nội, ra trường ông về công tác tại Ban dân tộc tỉnh ủy Bắc Thái, rồi công tác tại huyện ủy Bạch Thông Đến năm 1997, ông được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam Từ đó, ông hoạt động chuyên bên văn học nghệ thuật và giữ chức chủ tịch hội Văn học nghệ thuật tỉnh Bắc Kạn cho đến lúc nghỉ hưu
Cuộc đời Triệu Kim Văn là một minh chứng sống động cho sự nỗ lực tự vượt lên chính mình, bằng nền tảng là cội nguồn cốt cách văn hóa của dân tộc Dao để hòa mình vào dòng chảy chung của đời sống văn hóa – văn học Việt Nam Trong suốt cuộc đời sáng tạo nghệ thuật không ngừng nghỉ của mình, dù
ở đâu, dù lúc nào, dù làm gì, nhà thơ Triệu Kim Văn vẫn luôn như một con chim của núi rừng, uống nước khe ngậm lúa nương mà hót lên những bài ca của quê hương xứ sở
1.1.2 Quan điểm sáng tác
Dù đã đạt được những thành tựu đáng trân trọng và ghi nhận trong sáng tác thơ ca, nhưng khi được hỏi về quan điểm sáng tác thì nhà thơ Triệu Kim Văn khiêm tốn: “Tôi chưa bao giờ nhận mình là nhà thơ” Suy nghĩ về nghề
văn, ông cho rằng: “Sáng tác là một phần của cuộc sống Và thơ là tình yêu, là
nhịp đập của trái tim”.[55.64] Đến với thơ, Triệu Kim Văn chỉ nghĩ đơn giản
và chân thành: Thơ là tiếng nói của tâm hồn, nghĩ sao thì nói vậy, chỉ đơn giản
thế thôi Là người “Con của núi”, ông nghĩ về sứ mạng cao cả của thơ ca thật mộc mạc Suy nghĩ ấy được thể hiện khá rõ qua bài “Thơ củi” Trong bài, ông
ví mình như cây củi và luận bàn về các thứ củi: Củi gộc, củi mòn, củi cành và
cả củi mục để rồi đi đến khẳng định về một thứ thơ gần gũi với cuộc sống,
phục vụ cuộc sống.:
Trang 17“Củi tôi hái từ con tim/ Cánh rừng con tim rộng dài không đo được/ Lửa
cháy hết rồi tôi ngồi khóc/ Nhớ chàng mồ côi kiếm củi đổi hạt kê… /Câu thơ tôi cùng lầm lụi chốn quê”
Thật đúng với lời nhận xét của Mai Liễu: “Triệu Kim Văn là thế, không
vồ vập, kiểu cách Cứ lặng lẽ trong đời mà lại làm được ít nhiều sự xáo trộn trong thơ.”[31.218] Những lời bộc bạch tâm tình trong bài thơ trên là một âm
bản đáng tin cậy nhất để người đọc hiểu về quan niệm sáng tác của nhà thơ, một quan niệm giản dị, chân thành và sâu sắc Suy cho cùng, giản dị chính là tận cùng của mọi mĩ học Quan niệm thẩm mĩ ấy sẽ là ngọn đuốc bền bỉ trên con đường sáng tạo đầy chông gai thử thách nhưng cũng đầy hạnh phúc của nhà thơ Triệu Kim Văn
1.2 Quá trình sáng tác và các giải thưởng
Tuy âm thầm lặng lẽ và giản dị trong lao động sáng tạo, nhưng Triệu Kim Văn đã có cho mình một gia sản thơ ca rất đáng trân trọng Đây là kết quả của sự nỗ lực bền bỉ, của tài năng và tâm hồn một ý thức sáng tạo đầy tâm huyết Chặng đường sáng tác văn học của Triệu Kim Văn bắt đầu từ khi
ông theo học “cái chữ” Là người yêu thích văn chương và ham mê sáng tác nên người con của núi này đã đến với thơ ca thật tự nhiên Những đứa con tinh
thần – sản phẩm đầu tay đã chào đời khi chàng trai người Dao này đang ở độ
hai mươi Năm năm sau, khi thấy những tác phẩm của mình đã đủ độ chín nhà
thơ mới ra mắt người đọc bài thơ đầu tiên: “Nhớ Bác ta trồng nhiều cây” (Báo
Việt Nam độc lập) Từ đó, ông viết nhiều, viết đều, viết khỏe, nhưng chủ yếu
là đăng trên báo và tạp chí Mãi đến năm 1989 ông mới ra mắt tập thơ đầu tiên:
“Hoa núi”
Với lòng yêu văn chương và sự hăng say, miệt mài trong lao động nghệ
thuật, đến nay Triệu Kim Văn đã xuất bản 10 tập thơ: Hoa núi (1989) Mùa sa
nhân (1994) Lá tìm nhau (1999) Con của núi (Thơ song ngữ Dao- Việt 2002) Lửa
Trang 18của mồ côi (2002) Lối cỏ (2004) Hoa nắng (Thơ thiếu nhi 2010) Suối nguồn du du
(Thơ song ngữ Dao- Việt 2010) Trời về (2010 ) Sợi mưa hiền (2011)
Quá trình phấn đấu không miệt mài của Triệu Kim Văn đã tạo nên những tác phẩm mang đậm bản sắc dân tộc và phong cách sáng tác của riêng mình Ông đã vinh dự nhận được nhiều giải thưởng như: Giải thưởng chính thức của
Ban văn học dân tộc Hội nhà văn Việt Nam cho tập thơ “Mùa sa nhân” (1997),
giải thưởng của Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam cho tập
thơ “Con của núi” (2002), giải thưởng của Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam cho tập thơ “Trời về” (2010) Huy chương vì sự nghiệp văn
học nghệ thuật Việt Nam, Huy chương vì sự nghiệp văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam Đây là những ghi nhận xứng đáng cho một tài năng, một hồn thơ đẫm cốt cách của dân tộc Dao
1.3 Thơ Triệu Kim Văn trong thơ dân tộc thiểu số văn học Việt Nam hiện đại
Với một đời sống văn hóa phong phú, sống động, đa sắc diện, Việt Nam
có một nền văn học đa dạng, nhiều dòng, nhiều mảng khối Bên cạnh sự hình thành và phát triển của thơ ca dân tộc Kinh (Việt) đạt đến đỉnh cao với nhiều tác giả, tác phẩm tiêu biểu thì còn tồn tại song hành một mảng thơ ca không kém phần đặc sắc mà hiện nay đang thu hút được sự quan tâm tìm hiểu của các nhà nghiên cứu, đó là mảng thơ ca của các dân tộc thiểu số Đây là một thế giới hấp dẫn, bí ẩn, giàu sức mời gọi, đang chờ đợi sự khám phá đầy hứa hẹn
Một bộ phận khá nổi bật trong thơ ca dân tộc thiểu số Việt Nam là thơ ca
dân tộc Tày “Theo nhà thơ Hoàng Triều Ân thì từ thế kỷ thứ V, người Tày đã
có thơ viết bằng chữ Hán với tác phẩm “Cố hương từ” - Lê Thế Khanh (394- 460), người tổng Nhượng Bản, châu Thạch Lâm (nay là xã Bình Long, huyện Hòa An) tỉnh Cao Bằng” [45.57] Đến cuối thế kỷ XVI và đầu thế kỷ XVII có
Bế Văn Phụng (1567- 1637) và Nông Quỳnh Vân (1566- 1640) cũng là người
Trang 19Tày ở Cao Bằng nổi tiếng là hay chữ và sáng tác thơ ca bằng chữ Nôm - Tày Sau này đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX xuất hiện thêm các tác giả dân tộc Tày sáng tác thơ bằng chữ Hán như: Hà Vũ Bằng, Bế Ích Bồng, Nông Đình Cấp, Lê Văn Dự Đặc biệt trong đó có Hoàng Đức Hậu (1890- 1945) sáng tác
cả ba thứ tiếng: Tày, Việt, Hán Điều đáng nói là những sáng tác của Hoàng Đức Hậu không chỉ ảnh hưởng đến những người làm thơ cùng thời, mà những nhà thơ sau này như Nông Quốc Chấn, Nông Viết Toại, Triều Ân, Y Phương, Dương Thuấn cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ Cũng vào khoảng cuối thế kỷ XIX còn xuất hiện một số nhà thơ dân tộc Thái như: Ngầu Văn Hoan và Lò Văn Thứ Đặc biệt là Ngầu Văn Hoan, với lời thơ gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày của dân tộc đã đưa văn học dân tộc Thái lên đỉnh cao mới, làm cho thơ ca dân tộc Thái phong phú, trong sáng và giàu hình tượng hơn
Giai đoạn 1930- 1945, một mảng thơ cách mạng của các dân tộc thiểu số
ra đời cùng với thơ cách mạng của cả nước Các tác giả tiêu biểu như: Hoàng Văn Thụ, Lê Quảng Ba, Hoàng Đình Giang, Dương Công Hoạt Họ là những chiến sĩ người dân tộc thiểu số hoạt động cách mạng, vừa là người đem hiện thực cách mạng vào những trang thơ Cách mạng Tháng Tám thành công, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thần thánh của dân tộc ti nguồn cảm hứng cho thơ ca Việt Nam, trong đó có thơ ca các dân tộc thiểu số Cùng với các nhà thơ đã xuất hiện từ trước năm 1945 đến nay là sự xuất hiện của các nhà thơ dân tộc thiểu số thời kì hiện đại, điều đó đã góp phần tạo nên một đội ngũ sáng tác khá đông đảo cho thơ ca dân tộc thiểu số Việt Nam Với tình yêu quê hương đất nước, tình yêu cuộc sống, tình yêu đất và người miền núi họ đã cất lên tiếng thơ chân chất, mộc mạc, hồn nhiên mà sôi nổi, mà nồng nhiệt, phù hợp với cách cảm, cách nghĩ của đồng bào dân tộc thiểu số Các tác giả tiêu biểu giai đoạn này phải kể đến những tên tuổi như: Nông Quốc Chấn, Nông Minh Châu, Nông Viết Toại (Tày), Cầm Biêu, Lương Quy Nhân (Thái), Bàn Tài Đoàn (Dao), Lò Ngân Sủn (Giáy), Pờ Sảo Mìn (Pa Dí).v.v
Trang 20Cuộc trường chinh 9 năm chống thực dân Pháp kết thúc, miền Bắc bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội và miền Nam vẫn tiếp tục cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược Giai đoạn này, hiện thực đời sống cũng khơi nguồn cảm hứng sáng tác cho các nhà thơ dân tộc thiểu số để một loạt các tập
thơ của họ ra đời PGS TS Trần Thị Việt Trung đánh giá: “Đây là một thời kỳ
thăng hoa của thơ ca dân tộc thiểu số”.[45.107] Làm nên đời sống thơ ca dân
tộc thiểu số giai đoạn này vẫn là những gương mặt thơ quen thuộc như: Nông Quốc Chấn, Nông Viết Toại, Nông Minh Châu, Cầm Biêu, Lương Quy Nhân, Bàn Tài Đoàn và được cộng hưởng bởi một lớp tác giả mới được đào tạo dưới mái trường xã hội chủ nghĩa như: Mã Thế Vinh, Vương Anh, Mã A Lềnh, Triều Ân.v.v
Chiến tranh chống đế quốc Mĩ xâm lược thắng lợi, miền Nam đã hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất và bước vào giai đoạn khôi phục, tái thiết, xây dựng, phát triển Năm 1986 với công cuộc đổi mới toàn diện, sâu sắc, trong
đó có văn học nghệ thuật đã đưa đến một thời kì “trăm hoa đua nở” [45.107] của thơ ca các dân tộc thiểu số Việt Nam Nói “trăm hoa đua nở” là bởi chưa
bao giờ lại có một đội ngũ các nhà thơ dân tộc thiểu số lại đông đảo và nhiều thế hệ đến thế Lớp sau nối tiếp lớp trước với sức sáng tạo mạnh mẽ, sung sức
đã cho ra đời hàng loạt những tác phẩm với nhiều giọng điệu khác nhau, nhiều cách thể hiện khác nhau Ở giai đoạn văn học này, một điều dễ nhận thấy là các nhà thơ dân tộc thiểu số trong quá trình sáng tác vẫn không ngừng tìm tòi, sáng tạo về nội dung và nghệ thuật, nhưng đồng thời cũng vẫn đậm đà bản sắc dân tộc Cùng với các thế hệ nhà thơ lớp trước như Nông Quốc Chấn, Nông Viết Toại, Triều Ân, Bàn Tài Đoàn , xuất hiện thêm một đội ngũ tác giả như Y Phương, Lò Ngân Sủn, Nông Thị Ngọc Hòa, Lò Cao Nhum, La Quán Miên, Inrasara.v.v
Có thể nói, mỗi một nhà thơ đã cất lên tiếng nói của tâm hồn dân tộc mình, tạo nên một hương sắc riêng nhưng vẫn gắn bó và hòa chung vào dòng
Trang 21sông thơ ca văn học Việt Nam hiện đại Tuy độ đậm, nhạt khác nhau nhưng sáng tác của các nhà thơ dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại là sự kết tinh của bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc mình với bản sắc văn hóa Việt Nam Và như vậy cũng là sự gắn kết giữa tính truyền thống và hiện đại trong thơ của họ
Thơ của các nhà thơ các dân tộc thiểu số có sự tương đồng cơ bản Nó nằm ở sự mộc mạc, tinh tế và độc đáo; ở sự giao thoa giữa dân tộc mình với văn hóa vùng miền một cách hài hòa nhuần nhuyễn Bên cạnh đó, thơ c họ cũng vẫn thể hiện được sự khác biệt nhất định Sự khác biệt đó nằm ở bản sắc văn hóa mang tính đặc trưng riêng của mỗi dân tộc; ở cá tính sáng tạo độc đáo riêng của mỗi tác giả Sự tương đồng và khác biệt đó tạo nên một nền thơ các dân tộc thiểu số vừa nhất quán lại vừa phong phú, đặc sắc
Hòa chung trong dòng mạch ấy là các nhà thơ dân tộc Dao Người con của dân tộc Dao với sự kế tục xứng đáng thành tựu thơ ca của nhà thơ lớp trước Bàn Tài Đoàn là Triệu Kim Văn Với những sáng tác của mình, Triệu Kim Văn cùng hòa vào nguồn mạch chung ấy mà không mất đi bản sắc riêng của mình Thơ ca Triệu Kim Văn có một vị trí riêng trong nền thơ ca dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại Và nếu như không có thơ Triệu Kim Văn thì bức tranh thơ chung
ấy sẽ khuyết vắng đi một mảng quan trọng đậm sắc thái dân tộc Dao
Nếu như nói đến Bàn Tài Đoàn là nói đến hồn thơ đậm chất truyền thống dân tộc Dao thì thơ Triệu Kim Văn là sự sáng tạo, đổi mới thơ Dao trong thời
kỳ hiện đại Là người con của tỉnh Bắc Kạn, thơ Triệu Kim Văn dù vui hay buồn, dù viết về đề tài tự nhiên hay xã hội cũng là tiếng nói tâm hồn của người Dao với những hình thức mới, dáng vẻ mới Vể bề ngoài, nhà thơ Triệu Kim Văn là một người giản dị, kín đáo và ít nói, nhưng khi đọc những vần thơ của ông mới thấy một tâm hồn đầy nhiệt huyết, cháy bỏng tình yêu trước cuộc
đời Ông quan niệm: “Sáng tác là một phần của cuộc sống Và thơ là tình yêu,
là nhịp đập của trái tim” [55.64] cho nên dù nếu không có tác phẩm “vượt đoạn trường” thì ông cũng vẫn vui vẻ:
Trang 22“Dẫu ta rớt ở ngay đầu chặng
Cũng vui lòng bởi cuộc sống mến thương”
(Cuộc sống nhà văn)
Có thể thấy, thơ ca dân tộc Dao khá phong phú, với nhiều tên tuổi khác nữa còn cần phải kể đến như Đặng Phúc Lường, Bàn Thị Cúc, Phùng Trang
Hồng Nhưng tựu chung lại “Nói đến thơ ca dân tộc Dao thì có hai cái tên án
ngữ cả chặng đường 60 năm sau cách mạng tháng Tám Đó là Bàn Tài Đoàn và Triệu Kim Văn” [46.74] Nếu nhà thơ Bàn Tài Đoàn được ví là “cây cao bóng cả” của thơ Dao, thì Triệu Kim Văn chính là “người tiếp tục vun trồng” [38.25]
để cho cây thơ ca dân tộc Dao mãi mãi xanh tươi Như vậy, đây là một sự kế thừa, tiếp nối và nâng cao phù hợp với quy luật phát triển tự nhiên tất yếu của một nền thơ ca Nhìn nhận và đánh giá thỏa đáng vị trí của một tác giả cũng là việc làm quan trọng, cần thiết để giữ gìn, trân trọng các giá trị của một nền thơ
1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến thơ Triệu Kim Văn
1.4.1 Bản sắc văn hóa dân tộc Dao
Đặt văn hóa dân tộc Dao trong văn hóa Việt Nam, có thể coi đó như mạch riêng giữa nguồn chung Dân tộc Dao là một trong 54 dân tộc anh em có mặt từ rất lâu đời ở Việt Nam Mặc dù sống phân tán và trải qua nhiều cuộc thiên di trong lịch sử nhưng người Dao vẫn duy trì được bản sắc dân tộc mình Trong tiến trình lịch sử, dân tộc Dao chẳng những góp phần vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước mà còn sớm hình thành một nền văn hóa đặc sắc, làm phong phú thêm nền văn hóa của dân tộc Việt Nam Cũng như các dân tộc thiểu số khác, người Dao có một kho tàng truyện cổ tích, truyện thơ tạo nên truyền thống thơ ca khá phong phú và đặc sắc Kho tàng ấy chính là nơi cất giữ những kết tinh giá trị tinh thần của con người dân tộc Dao Và tất cả những nét văn hóa ấy ít nhiều ảnh hưởng đến sáng tác thơ của Triệu Kim Văn Trong ý nghĩa đó, có thể thấy bản sắc văn hóa dân tộc Dao là căn cốt, là điểm tựa, là
Trang 23mạch nguồn để Triệu Kim Văn kế thừa, từ đó thăng hoa thành những giá trị riêng đặc sắc trong thơ ca của mình
Trong thơ của Triệu Kim Văn, có thể thấy những dấu ấn rõ nét của bản sắc văn hóa dân tộc Dao Phong tục tập quán, những ngày lễ tết, lễ hội của người Dao trở thành âm hưởng vang vọng và ẩn sâu trong tâm thức của nhà thơ Cùng với đó, nguồn cội văn học dân gian Dao như thành ngữ, tục ngữ, dân
ca, truyện cổ đã trở thành một nguồn chất liệu vô giá để nhà thơ đúc rút và kết tinh nên những giá trị riêng đặc sắc Đồng thời, đời sống lao động sản xuất gắn với các giá trị văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của người Dao đã trở thành mạch nguồn cảm hứng sâu sắc và sống động để nhà thơ sáng tạo
1.4.2 Truyền thống văn hóa - văn học quê hương Bắc Kạn
là khu bảo tồn đất ngập nước có tầm quan trọng của thế giới và là 1 trong 20 hồ nước ngọt đẹp nhất thế giới Hội xuân Ba Bể được tổ chức vào tháng giêng âm lịch hàng năm, tạo thành một nét đẹp truyền thống đặc trưng cho Bắc Kạn Căn
cứ địa cách mạng ATK Chợ Đồn là một trong những khu căn cứ của chủ tịch Hồ Chí Minh và các cán bộ cấp cao của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp Khu di tích lịch sử Nà Tu, xã Cẩm Giàng, huyện Bạch Thông nơi Hồ Chí Minh đã tặng lực lượng thanh niên xung phong
4 câu thơ vào năm 1951 "Không có việc gì khó/ Chỉ sợ lòng không bền/ Đào núi và lấp biển/ Quyết chí ắt làm nên" Bắc K
Trang 24ở đây chủ đạo là các hình thức m , p
như l , hát giao duyên… dân gian truyền thống có t
Tất cả những yếu tố đó góp thành một vùng quê Bác Kạn phong phú và độc đáo về các giá trị văn hóa Đây là một mạch nguồn quý giá để tâm hồn thơ Triệu Kim Văn kế thừa, kết tinh, sáng tạo
Trong ngôi nhà chung của nền văn học Việt Nam, mỗi địa phương vùng miền lại có những đặc trưng riêng Văn học quê hương Bắc Kạn là nền văn học đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc và có nhiều thành tựu Đã có nhiều nhà văn là con em các dân tộc Bắc Kạn thuộc thế hệ tiên phong đặt nền móng cho nền văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại Nông Minh Châu có thể coi là nhà văn
mở đường cho văn xuôi thiểu số nơi Việt Nam Nông Viết Toại thành công ở
cả ba mảng: sáng tác, khảo cứu, phê bình, nghiên cứu văn học dân gian Nông Quốc Chấn không chỉ nổi tiếng với văn học Bắc Kạn mà còn ghi dấu với nền văn học dân tộc thiểu số Việt Nam Tiếp theo là Dương Thuấn - một trong ba nhà thơ dân tộc Tày xuất sắc nhất hiện nay: Y Phương, Mai Liễu, Dương Thuấn Sau khởi điểm đổi mới 1986, Văn học Bắc Kạn đang cùng với văn học
cả nước tiếp tục phát triển Trong xu hướng đổi mới phát triển của thời kì mới, văn học Bắc Kạn xuất hiện thêm những cây bút trẻ hứa hẹn nhiều triển vọng: Dương Khâu Luông, Hoàng Chiến Thắng Như vậy, văn học Bắc Kạn có bề dày nền tảng trong truyền thống, có sự kế thừa phát triển và tiếp nối trong hiện tại, có cơ sở để hi vọng những bước phát triển mới trong tương lai Và chính từ cái nôi văn chương ấy, nhà thơ Triệu Kim Văn xuất hiện và trưởng thành, đóng góp thêm một giá trị quan trọng vào nền văn học tỉnh nhà
Trang 251.4.3 Hoàn cảnh riêng
Người làm thơ bao giờ cũng viết từ những tâm tư, buồn vui - hạnh phúc - khổ đau trong cuộc đời, thân phận của chính mình Thơ bao giờ cũng được phản chiếu từ chính bản thân người sáng tác Chính vì vậy, hoàn cảnh riêng bao giờ cũng có một vai trò đặc biệt quan trọng để nên con đường thơ của một tác giả Nhà thơ Triệu Kim Văn cũng là một tác giả nằm trong quy luật
ấy Hoàn cảnh riêng đã có những tác động hết sức sâu sắc đến hành trình sáng tạo thơ ca của ông
Triệu Kim Văn là người có tuổi thơ không may mắn: Ông mất cha ngay
từ khi còn đang trong bụng mẹ Tuổi thơ của ông đi cùng cuộc sống vất vả lam
lũ với người mẹ nghèo ở xóm nhỏ của xã Cao Sơn Không bao lâu sau, mẹ ông
đi bước nữa Ông lại sống với hai người chị, một là chị ruột, một là chị nuôi ở vùng đất đơn độc, nghèo nàn ấy Các chị của ông thường hát ru đứa em trai bé bỏng bằng những bài hát buồn buồn, sâu lắng của người Dao Đến đầu năm
1960, người chị nuôi của Triệu Kim Văn qua đời Như vậy, từ nhỏ đến lúc trưởng thành ông đã chịu hai lần mồ côi Chính tác giả cũng đã tâm sự: Những năm 1945- 1947 Nhật- Pháp càn quét, bắn giết, ở một xóm nghèo nhất lại là con mồ côi, cho nên cảnh âm u, buồn bã lắm Điều này cũng ảnh hưởng trực tiếp đến tính cách trầm lặng, nhún nhường, sống thiên về nội tâm và đôi khi có
cả những mặc cảm Và sau này, tính cách ấy ít nhiều cũng ảnh hưởng đến các sáng tác của thơ Triệu Kim Văn: Lặng lẽ, không ồn ào, có chiều sâu, có những trăn trở, day dứt từ cái riêng và cái chung Từ số phận cá nhân đến số phận của dân tộc trong những bước thăng trầm của đời người và của lịch sử cũng đã ảnh hưởng trực tiếp đến các sáng tác sau này của thơ Triệu Kim Văn
Con đường đến với thơ ca của Triệu Kim Văn bắt đầu khá đặc biệt Khi
đi học và biết tiếng Kinh, nhà thơ người Dao này đã đọc rất nhiều sách, trong
đó có thơ Tố Hữu Ban đầu khi mới bước vào con đường thơ ca, tuy là một
Trang 26người Dao nhưng Triệu Kim Văn chịu ảnh hưởng của thơ người Kinh, đặc biệt
là thơ của Tố Hữu Càng về sau, tác giả càng nghĩ đến dân tộc mình với một ý thức sâu sắc hơn Từ đó, khi sáng tác, ông ngày càng có ý thức tìm về nguồn cội của dân tộc mình Những phong tục tập quán, những đạo lý làm người, cuộc sống vất vả nhọc nhằn của người Dao đi vào thơ ông thật dung dị, tự nhiên Những suy tư chân thành, đượm buồn, sâu sắc đã cho ta thấy tâm nguyện đau đáu của nhà thơ Triệu Kim Văn với mạch nguồn truyền thống dân tộc Dao nói chung, đặc biệt là ý thức tìm về với bản thể đích thực trong sâu thẳm con người
mình: “Nếu con quên/ Rằng con sinh ra trên núi/ Mẹ tắm con trong chậu gỗ/
Nước máng hứng từ ruột đá/ Ba lần mặt trời mọc đặt tên/ Thì con xin không là
con của mẹ/ Thì con xin không là con của núi.”(Con của núi)
Như vậy, hoàn cảnh riêng không may mắn có thể đã tác động đến tính cách và phần nào cả hồn thơ Triệu Kim Văn, được biểu hiện ở sự trầm lặng, kiệm lời, sâu sắc, hướng nội, ngậm ngùi, hay xót thương những số phận không may mắn
* hoàn cảnh riêng sinh trưởng và gắn bó với vùng
đã trở thành người kế tục và tiếp nối, vun trồng cho cánh rừng thơ của dân tộc Dao ngày càng phong nhiêu Tất cả những điều đó đã góp phần tạo nên một vị trí, một giá trị quan trọng của thơ Triệu Kim Văn trong thơ ca dân tộc Dao nói riêng, thơ ca các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại nói chung
Trang 27Chương 2
HỆ THỐNG BIỂU TƯỢNG TRONG THƠ TRIỆU KIM VĂN
2.1 Khái quát về biểu tượng và biểu tượng trong thơ
2.1.1 Khái quát về biểu tượng
Mỗi nền văn hóa đều được cấu thành bởi một tập hợp các hệ biểu tượng
Việc nghiên cứu các biểu tượng là chìa khóa để giải mã đời sống văn hóa, tinh
thần của một cộng đồng Nói như Jean Chevalier, tác giả cuốn Từ điển biểu
tượng văn hóa thế giới, tìm hiểu biểu tượng là tìm ra “chìa khóa của những con
đường đẹp đẽ… Vượt qua cái dáng vẻ bên ngoài, ta thấy được những chân lý, niềm vui, những ý nghĩa ẩn kín và thiêng liêng của mọi điều trên mặt đất quyến
rũ và kinh khủng này” [6.66]
Biểu tượng theo Từ điển Tiếng Việt “là dấu, là hình ảnh biểu hiện”
[57.91] Biểu tượng gần gũi với kí hiệu, ẩn dụ, phúng dụ… Nhưng nếu ký
hiệu, ẩn dụ, phúng dụ là những dấu hiệu nhất thời, rời rạc, là những quy ước đơn giản giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt, chỉ có tác dụng biểu nghĩa thì
biểu tượng có sự đồng nhất giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt theo nghĩa một lực năng động tổ chức Nói cách khác, biểu tượng là những hình ảnh tượng
trưng Nó là nó, nhưng không phải là nó Như vậy, biểu tượng là tập hợp vững chắc của nhiều hình ảnh khác nhau, là kết quả của sự phản ánh hiện thực vào não con người, là hình ảnh có ý nghĩa tượng trưng hay là vật thể tượng trưng Biểu tượng là yếu tố quan trọng hợp thành các rung động, cảm xúc, phương tiện có hiệu lực để điều khiển các trạng thái cảm xúc của con người
Biểu tượng, trong sức dồn nén năng lượng biểu đạt ý nghĩa to lớn của nó,
là nơi cất giữ, tiềm ẩn nhiều giá trị văn hóa nhân loại qua hàng ngàn năm lịch
sử Giá trị của biểu tượng ngày càng được khẳng định trong nhiều lĩnh vực của đời sống và văn học nói riêng, nghệ thuật nói chung có thể xem là lĩnh vực tinh thông khi lựa chọn biểu tượng làm phương thức cấu trúc hình tượng Với biểu
Trang 28tượng, văn học mở ra khả năng vô tận trong việc khám phá vũ trụ, tự nhiên, con người, đặc biệt là chiều sâu vô thức, bản năng
Biểu tượng không chỉ biểu thị một sự việc, đã hoàn thành, mà còn biểu thị cái đang phát triển Nó không chỉ biểu thị mặt bảo thủ, đã hoàn kết mà còn biểu thị mặt năng động của cuộc sống
Biểu tượng trong văn học là loại biểu tượng mang tính đa nghĩa và được tạo dựng bằng ngôn từ nghệ thuật Nó được xem như là một thủ pháp nghệ thuật đặc biệt để chuyển tải ý đồ sáng tạo của nhà văn Theo nhà ngôn ngữ, tâm
phân học Thuỵ Sĩ C.G.Jung thì “Biểu tượng là một từ ngữ, một danh từ hay một
hình ảnh ngay cả khi chúng là quen thuộc trong đời sống hàng ngày vẫn chứa đựng mối quan hệ liên can, cộng thêm vào đó cái ý nghĩa quy ước và hiển nhiên của chúng Trong biểu tượng có bao hàm một điều gì đó mơ hồ, chưa biết hay bị che dấu đối với chúng ta” [6.29] Theo nghĩa rộng, tác phẩm văn
học là một biểu tượng, là một ký hiệu thẩm mỹ mà tác giả gửi đến cho người đọc Việc giải mã biểu tượng góp phần giúp chúng ta hiểu được những giá trị riêng biệt mà tác phẩm mang lại Theo nghĩa hẹp, biểu tượng trong một tác
phẩm văn học là một“nhân vật” đặc biệt, được hiện diện dưới nhiều hình thức
khác nhau, có thể là con vật, đồ vật, hình ảnh, hình tượng… gọi chung là các dạng thức biểu hiện ý nghĩa của tác phẩm văn học Xét ở góc độ này, biểu tượng là một thủ pháp đặc biệt để tác giả thể hiện ý đồ sáng tạo của mình Biểu tượng luôn chứa đựng trong mình những giá trị đã được vĩnh hằng hóa, là một thực thể sống động, luôn luôn có sự luân chuyển, đắp đổi nghĩa liên tục Nó được nuôi dưỡng bằng những lối tư duy, những tưởng tượng phong phú của con người, có khả năng mở rộng nghĩa theo thời gian Biểu tượng có rất nhiều dạng thức khác nhau, như: biểu trưng, biểu hiệu, dấu hiệu Xác định xu hướng này, chúng tôi lựa chọn khảo sát các biểu tượng và bước đầu khám phá
ra mạch nghĩa liên tục trong những biểu tượng ấy cũng như sự phát sinh ra
Trang 29những lớp nghĩa mới Hy vọng với phương cách như vậy, đề tài có thể khảo sát biểu tượng với tất cả những hình ảnh mang những nét nghĩa phái sinh, có những tri thức văn hóa đặc trưng của dân tộc để khai mở
2.1.2 Biểu tƣợng trong thơ
Biểu tượng văn hóa là những thực thể vật chất hoặc tinh thần (sự vật, hành
động, ý niệm…) có khả năng biểu hiện những ý nghĩa rộng hơn chính hình thức cảm tính của nó, tồn tại trong một tập hợp hệ thống đặc trưng cho những nền
văn hóa nhất định: nghi lễ, hành vi, thần linh, … Biểu tượng văn hóa là sự tồn
tại ở bình diện phổ quát các biểu tượng phi trực quan
Biểu tượng ngôn từ là các biểu tượng nghệ thuật (biến thể loại hình của
biểu tượng văn hóa) cấu tạo lại thông qua tín hiệu ngôn ngữ trong văn học
Như vậy, có thể thấy mối quan hệ giữa biểu tượng văn hóa và biểu tượng
ngôn từ là mối quan hệ cấp bậc trong quá trình biểu tượng văn hóa đi sâu vào
các lĩnh vực nghệ thuật để ở đó những ý nghĩa biểu tượng tiếp tục được lưu giữ
và phát triển trở nên phong phú hơn Cũng chính bởi điều này mà có hiện tượng gọi là sự biến đổi ý nghĩa của biểu tượng Nghĩa là, dù có nguồn gốc từ các biểu tượng văn hóa, khi thức hiện chức năng thẩm mĩ trong một tác phẩm văn học, biểu tượng ngôn từ được cấu tạo lại, tổ chức lại trong mối quan hệ với các nhân tố của quá trình giao tiếp đặc biệt như một hoạt động sáng tạo Các nhà văn, nhà thơ dựa trên những mối quan hệ hoặc bổ sung, hoặc tương phản, hoặc đẳng cấu để tổ chức các tín hiệu thẩm mĩ hướng tới việc khắc hoạ nổi bật hình tượng nghệ thuật, cũng từ đó mà thể hiện một lối tư duy nghệ thuật riêng, một phong cách sáng tạo riêng
Như vậy, sự thống nhất giữa hai bình diện của một tác phẩm nghệ thuật - hình tượng nghệ thuật và nghĩa hàm ngôn của nó - có thể hoặc là đương nhiên,
sẽ dẫn đến sự hình thành biểu tượng (hoặc là ẩn kín, hoặc là bộc lộ) Ở mức giới hạn của quá trình sáng tạo nghệ thuật, mỗi yếu tố của hệ thống nghệ thuật
Trang 30như: ẩn dụ, phúng dụ, tỉ dụ, dụ ngôn, ngụ ngôn, các chi tiết nghệ thuật, hình tượng nhân vật, ngôn từ, v.v đều có thể trở thành biểu tượng Song, quá trình "biểu tượng hoá" có thực hiện được hay không là còn tuỳ thuộc vào các điều kiện sau: Độ đậm đặc mang tính khái quát cao trong tác phẩm nghệ thuật;
Ý đồ của tác giả có muốn hướng tới sự "biểu tượng hoá" trong tác phẩm hay không; Văn cảnh tác phẩm, khi “nghĩa hàm” của các hình tượng tự bộc lộ, không theo
ý định của tác giả (điều này còn bị quy định bởi lôgíc tâm lý của tuyến nhân vật
và sự phát triển về mặt tình huống trong tác phẩm); Văn cảnh văn học - nghệ thuật được quy định bởi thời đại và văn hoá (tính lịch sử và tính nghệ thuật trong tác phẩm)
Ngôn ngữ, đặc biệt ngôn ngữ văn học là “kho tàng” bảo lưu những giá trị
văn hóa của một dân tộc Do đó, nghiên cứu về biểu tượng, không thể không xem xét trong mối quan hệ với ngôn ngữ nghệ thuật, ngôn ngữ thơ ca Giá trị thực sự của biểu tượng được xác lập không chỉ ở bình diện văn hóa nói chung trong đời sống cộng đồng mà còn định hình và biến đổi trong sự điều chỉnh, tiếp nhận của mỗi cá nhân, mỗi chủ thể
Thơ ca là nghệ thuật của ngôn từ Thơ hay không chỉ phụ thuộc vào ý thơ - những điều nảy ra trong trí óc khi suy nghĩ, không chỉ phụ thuộc vào ngôn
từ, lời chữ vần vè mà quan trọng hơn nó phải được thể hiện qua những hình tượng có sự tìm tòi sáng tạo mà người ta vẫn thường gọi là biểu tượng Theo
"Từ điển tu từ - phong cách thi pháp học" của tác giả Nguyễn Thái Hoà thì
"biểu tượng văn học là những biểu tượng trong sáng tạo văn học tức là những hình ảnh, tín hiệu ngôn ngữ trong tác phẩm văn học có tính khái quát và phổ biến đến mức có khả năng gợi ra một hình ảnh khác hoặc một số phẩm chất, một số đặc trưng khác với đối tượng biểu hiện" [19.28] Như vậy, biểu tượng được hình thành với phương thức sử dụng một loại môi vật để môi giới tri giác cái bất khả tri giác Với cách thức "một hình ảnh cụ thể mà nói lên một sự gì trừu xuất hay vắng mặt", biểu tượng có nhiều dạng thức khác nhau: biểu trưng, biểu hiện, dấu hiệu Tuy luôn chứa đựng trong mình những giá trị đã được
Trang 31vĩnh hằng hoá nhưng biểu tượng không trở thành nơi tồn đọng những giá trị cũ mòn, nơi giam giữ các tầng ý nghĩa trong sự xơ cứng mà nó là một thực thể sống động luôn luôn có sự luân chuyển, đắp đổi nghĩa liên tục Biểu tượng được nuôi dưỡng bằng những lối tư duy, những tưởng tượng phong phú của con người mà đời sống con người lại không bao giờ bớt phức tạp , cho nên biểu tượng vì thế cũng không bao giờ đơn giản Những phức tạp của đời sống dội vào tâm tư con người những suy tưởng không cùng để rồi từ đó chúng lại được dồn nén vào hệ thống biểu tượng Đó chính là con đường tất yếu của đời sống
và cũng là xu hướng tồn tại và phát triển tất yếu của biểu tượng thơ ca
Biểu tượng thơ ca với tư cách là một phương tiện đặc biệt của nghệ thuật mang trong bản thân mình những dấu hiệu đặc trưng của thể loại, cho ta thấy cách thức con người nắm bắt thế giới sự vật, biến nó thành sự phản ánh những khía cạnh khác nhau của đời sống tinh thần và xúc cảm con người Bất cứ một biểu tượng thơ ca nào cũng có những liên hệ nhất định với ý thức thẩm mĩ truyền thống Sự chiếm lĩnh thế giới bên ngoài thông qua các biểu tượng như một phương thức có khả năng đem đến cho nhà thơ chủ quyền bộc lộ tư tưởng và tình cảm của cá nhân mình, kích thích nhà thơ diễn đạt những nội dung tiềm ẩn trong tâm hồn mình, và mặt khác như là biểu hiện của quá t vận dụng các yếu tố nghệ thuật, để không ngừng mở rộng khả năng biểu đạt, sức sáng tạo của nhà thơ
Trong một bài thơ, có những biểu tượng trong toàn bài nhưng cũng có những biểu tượng trong từng đoạn thơ, câu thơ Biểu tượng trong toàn bài là biểu tượng xuyên suốt cả bài thơ thể hiện tư tưởng, nghệ thuật chủ đề của bài thơ còn biểu tượng trong từng đoạn thơ, dòng thơ, câu thơ là những biểu tượng
có tính chất cụ thể, diễn đạt một ý thơ trọn vẹn và nhiều khi chúng có thể tách khỏi bài thơ, tự có số phận riêng của mình Nếu một bài thơ không có biểu tượng chung trong toàn bài, không có những biểu tượng nhỏ trong từng đoạn, tình cảm cảm xúc lại không mãnh liệt thiết tha thì bài thơ đó không chỉ kém phần hương sắc mà còn khó có lý do để tồn tại
Trang 32Thi nhân sáng tạo nên những biểu tượng thơ ca để thể hiện tư tưởng và cảm xúc của mình Những quan niệm về nhân sinh, thế sự, về thơ ca… và về chính bản thân cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ đã làm cho mỗi người lựa chọn cho mình một biểu tượng này hay biểu tượng kia Biểu tượng được lựa chọn theo những tiêu chí nhất định, đáp ứng được nhu cầu bộc lộ của nhà thơ ,thỏa măn với tư tưởng chủ đề, hợp với phong cách và phương pháp sáng tác biểu tượng mang sắc thái riêng nên từng nhà thơ ngay từ đầu đã có chiều hướng quyết định cách chọn hình ảnh, tứ thơ Biểu tượng sông nước đậm đà với Tế Hanh, biểu tượng trăng hiện lên trong thơ Hàn Mặc Tử, biểu tượng con đường trong thơ Tố Hữu, biểu tượng người lái tàu trong thơ Sóng Hồng, biểu tượng chim lượn trong thơ Chế Lan Viên, biểu tượng ngọn đèn trong thơ Chính Hữu, biểu tượng con nai vàng trong thơ Lưu Trọng Lư… Đối với từng nhà thơ, biểu tượng thời thơ ấu khá quan trọng và cũng lưu giữ lâu bền trong tâm
vùng than có nhiều biểu tượng hầm mỏ, xe than, khoan lỗ… Các nhà thơ vùng biển có nhiều biểu tượng về triều lên, cá thu, cá hồng… Các nhà thơ miền núi giàu biểu tượng mây trắng, vườn chanh, nắng mưa, gió bão Các biểu tượng phát triển phong phú theo cuộc đời con người, theo các chuyến đi, các quá trình quan sát, theo tuổi đời, theo thời đại Các biểu tượng in dấu ấn vào thơ để lại các tài sản chung cho nhân loại về sau
Ngoài những đặc tính của biểu tượng nói chung, biểu tượng thơ ca còn mang một số đặc là một dạng mã hóa những cảm xúc, tư tưởng
của người nghệ sĩ về hiện thực đời sống Mỗi một tác phẩm nghệ thuật là một
hệ thống những tín hiệu thẩm mĩ và biểu tượng nghệ thuật là một tiểu hệ thống, góp phần tạo nên những điểm sáng thẩm mĩ trong tác phẩm Trong quá trình sáng tạo, người nghệ sĩ, hoặc vô thức, hoặc hữu thức, đã đem vào tác phẩm của
Trang 33mình những hình ảnh trở đi trở lại, có sức ám ảnh, khơi gợi lớn mà người ta gọi
là biểu tượng Do đó, biểu tượng cho ta thấy cá tính sáng tạo, phon
, thời đại, khuynh hướng văn học và cả đặc trưng văn hóa của từng dân tộc Các biểu tượng không chỉ dừng lại ở những nét nghĩa ổn định trong truyền thống thơ ca mà nó liên tục được mở rộng, biến đổi và tăng cường các khả năng biểu hiện mới Một mặt, thơ tiếp tục sử dụng các phương thức khai thác biểu tượng nghệ thuật từ trong truyền thống, khơi sâu những kinh nghiệm
mĩ cảm đã được lưu giữ, bồi đắp trong truyền thống thơ ca trước đó, mặt khác,
vận động của biểu tượng Việc sáng tạo biểu tượng theo khía cạnh này hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực thụ cảm và nhu cầu biểu hiện của nhà thơ trước hiện thực đời sống Điều này có liên quan đến đặc điểm tư duy nghệ thuật và khuynh hướng thẩm mĩ ở mỗi nhà thơ cụ thể
2.2 Hệ thống biểu tƣợng trong thơ Triệu Kim Văn
,
-2.2.1 B tƣợng Đất
Trang 34
Trong đời sống của con người, Đất luôn là một biểu tượng mang ý nghĩa
quan trọng, bởi nó là mẫu số gốc của sự sống Cũng nằm trong quy luật tinh
thần đó, Triệu Kim Văn có nhiều suy tư về đất, đưa nó vào trong thế giới thơ
của mình như một biểu tượng giàu ý nghĩa
2.2.1.1 Biểu tượng Đất trong văn hóa học
Đất là một biểu tượng quan trọng trong hệ thống các biểu tượng văn hóa
Theo các nhà nghiên cứu, đất đối lập với trời một cách tượng trưng như là bản
nguyên thụ động đối lập so với bản nguyên chủ động, tính nữ so với tính nam,
âm so với dương, bóng tối so với ánh sáng, sự cố định tập trung so với sự biến động hòa tan
Nói về bản chất cũng như vẻ đẹp và sức mạnh của đất mẹ, Kinh Rig – Veda đã viết:
Hãy nằm xuống Đất là Mẹ của người Nơi tọa lạc mênh mông ấy chứa chan ân huệ
Ai biết dâng hiến, với họ Đất êm như len Cầu Đất canh giữ người khỏi sa ngã vào cõi hư vô Hỡi Đất Mẹ
Hãy xây cho con người này một mái vòm, đừng đè bẹp Hãy tiếp nhận, hãy tiếp đón sinh linh này, hỡi Đất Hãy lấy vạt áo của mình che cho nó
Như mẹ hiền che chở đứa con yêu
Mọi con người đều sinh ra từ đất, vì đó là gốc, là mẹ, là khởi nguyên Đất là nguồn gốc của hiện hữu và sự sống, che chở chống lại mọi sức mạnh hủy diệt Cũng vì vậy, đất còn mang ý nghĩa như sự sản sinh, sức sống và sự tái
Trang 35sinh Xét về phương diện tích cực, những đặc tính của đất là sự phản chiếu đức tính dịu dàng, phục tùng, kiên định, bền bỉ và khiêm nhường
So với nước (cũng là gốc của vạn vật), người ta thấy sự khác biệt ở chỗ: nước có trước sự hình thành vũ trụ, còn đất thì sản sinh ra các hình dạng sự sống; nước là cái khối lượng chưa phân hóa, còn đất là biểu thị của những mầm mống phân biệt
Ruộng đất và người đàn bà thường được đồng nhất trong văn học Nó là những luống cày gieo hạt, sinh sôi, gặt hái.v.v Đối với một dân tộc gắn bó chặt chẽ với đời sống sản xuất nông nghiệp, đất lại càng trở nên một yếu tố trung tâm, cốt lõi trong đời sống, một biểu tượng gốc quan trọng trong đời sống
văn hóa tinh thần
Triệu Kim Văn có nhiều suy tư về
Đất, đưa nó vào trong thế giới thơ của mình như một biểu tượng giàu ý nghĩa 2.2.1.2 Biểu tượng Đất trong thơ Triệu Kim Văn
Mỗi nhà thơ sinh ra và lớn lên, trưởng thành, gắn bó với mảnh đất quê hương bản quán của mình Và vùng đất chôn nhau cắt rốn luôn là cội rễ, là mạch nguồn cảm hứng trong công cuộc sáng tạo của nhà thơ Và trong công cuộc sáng tạo đó, mỗi nhà thơ luôn luôn có một vùng đất, một không gian, một thế giới của riêng mình Nhà thơ Triệu Kim Văn cũng đã đi theo quy luật sáng tạo ấy
iểu tượng gốc:
Sinh trưởng và gắn bó với một vùng quê núi, nhà thơ Triệu Kim Văn bám
chặt vào thế giới của núi đồi Trong thế giới ấy, đất là một biểu tượng gốc để Triệu Kim Văn xây dựng nên những tứ thơ đẹp và sâu sắc Trong thế giới ấy,
tràn ngập các hình ảnh, các hình tượng về đất
Trang 36Đất là mẫu gốc tạo thành bản thể, như cách suy tư và giãi bày đầy hình
ảnh của tác giả: “Hạt nghiến gieo nhầm chỗ/ Chưa thấy nên lõi nghiến bao giờ/
….Loay hoay chọn chỗ gieo thơ/ Nhặt đá xếp bờ tra hạt/ Chợt nghĩ/ Hạt nghiến
và câu thơ chắc cần đất như nhau”.(Siu đất)
Chỉ cần “gieo nhầm” và nằm ra ngoài vùng đất thực sự của mình, con người ta sẽ ngay lập tức bị biến thành một người khác, đánh mất cái bản thể đích thực duy nhất trong mình Cũng tương tự như vậy, nhà thơ tách mình ra khỏi vùng đất, vùng sinh quyển nghệ thuật của mình, thì sẽ đồng nghĩa với việc đánh mất bản thể thi sĩ của chính mình Đây là một chiêm nghiệm sâu sắc, có thể coi như một bài học nhận thức căn cốt nhất trong cuộc đời con người, cũng như trong hành trình sáng tạo của nhà thơ, người nghệ sĩ
Suy ngẫm về thân kiếp và số phận con người, nhà thơ nhận thấy mỗi người con của quê hương cũng như ngọn cỏ trên đất:
Cỏ ăn theo đất Nên cỏ cứ là cỏ Muôn đời kiếp cỏ thôi
(Cỏ) Vậy mới thấy, nếu ta biết sống một cách tự nhiên, thành thực với bản tính con người mình, thì đó là một niềm hạnh phúc thực sự lớn lao – niềm hạnh phúc mãi mãi được là chính mình Đó là cái ý thức về một bản thể tuy bé nhỏ, bình dị, hồn nhiên nhưng cũng đầy mạnh mẽ, kiêu hãnh của con người miền núi
Nhà thơ – người con của đất ấy còn nhận ra một điều thật liêng liêng và
bền bỉ vĩnh hằng ở đất: “Suối cứ chảy, đất không thể thiếu suối/ Ngày nối đêm
rung nhịp tiếng đàn/ Nghìn năm suối không thôi dào dạt/ Nghìn năm đất chịu
ân ban”.(Suối)
Giữa mạch chảy của thời gian, của đời sống này, đất như là một biểu tượng của sự sinh sôi, của sự phong nhiêu, của sức sống lâu bền kì diệu
Trang 37Mượn những hình ảnh gần gũi quen thuộc trong đời sống miền núi, nhà thơ đã có những liên tưởng đầy triết lí thông qua biểu tượng : “Măng vầu trong lòng đất/ Măng ngọt/ Măng đã trông thấy trời / Măng đắng /Cho hay
/Khi chết người ta về với đ ”.(Đất)
Đây là những suy nghiệm hết sức thấm thía về lẽ đời, về con người Dù là
từ lúc khởi nguyên sinh ra cho đến lúc quay trở về già con người ta có thể đổi thay nhiều lắm (để ứng phó hoàn cảnh, để thỏa mãn tham vọng.v.v.) nhưng rồi cuối cùng vẫn phải giữ lấy cội nguồn Đất mẹ là điểm xuất phát mà cũng là điểm kết thúc của chu trình vòng tròn của con người Mới hay, đất sinh ra ta và đất sẽ nhận
ta về Và tác giả đã đúc kết những chân lí đó thành quy luật: “ Đọt măng trồi lên
từ lòng đất /Con ve ngoi lên từ lòng đất/ Lòng đất mẹ bao dung/ Cây tre lột giáp
trả về đất/ Con ve lột xác trả lại đất/ Ấy là luật tự nhiên” )
Như vậy, có thể thấy, nhà thơ Triệu Kim Văn đã rất có dụng ý khi xây
dựng biểu tượng Đất trong thơ của mình, thông qua đó tác giả đã truyền tải và
bày tỏ được những suy tư chiêm nghiệm và đúc kết thành những triết lí rất sâu sắc, cao đẹp, nhân văn về con người, cuộc sống
Khởi phát từ biểu tượng gốc : Đất, nhà thơ đã xây dựng thế giới hình
tượng nghệ thuật trong thơ của mình một hệ thống các biểu tượng phái sinh
trong thơ Triệu Kim Văn đó là: Núi, Đồi, Cánh đồng.v.v
hế giới nghệ thuật thơ Triệu Kim Văn tràn ngập hình ảnh về núi, đồi Ở đó, núi đồi gắn liền với cuộc sống con người, núi đồi là bạn, là nhân chứng.v.v Nhà thơ luôn vẽ lại trong thơ mình những đỉnh núi mờ sương, và qua đó gợi nhớ trong ta nỗi niềm
giả sinh ra và lớn lên từ núi, sống giữa không gian núi rừng, không gian của những “Tháng chín sợi nắng mềm/ Dập dình nhịp chày giã cối”[53.49]
Trang 38Có lúc, nhà thơ Triệ thơ
với cảm hứng về nhịp điệu của cuộc sống mới, nhưng đọc rồi thấy đậm đặc chất miền núi ngàn đời, thấy nhớ thương gắn bó tha thiết:
Tôi người núi
Là người ở núi
Đi một vòng lên núi xuống đồng Thấy ở đâu cũng chật cũng đông Người với người thích vai sát cánh
… Nhưng tôi người núi Vẫn chỉ thật lòng yêu núi
(Đất nước rộng dài)
Chính vì luôn một nỗi niềm tha thiết khôn nguôi với bản quán cội nguồn, nhà thơ luôn tự ghi khắc trong tâm khảm của mình một lời hứa Nó như sự tự nhắc nhở, tự ý thức, tự thức tỉnh c
(Con của núi)
Trang 39Những lời hẹn ước ấy được gửi lại với đất mẹ thiêng liêng, khiến người đọc như vẫn còn cảm nhận được hương sắc núi rừng lan tỏa mênh mang Đó là cái lan tỏa mênh mang của hồn người, hồn núi
Có những khi, hồn núi bay đi mất, người đọc giật mình cùng tác giả bởi
Không còn dấu vết núi Không còn dấu vết rừng Không còn dấu vết bản Đến chút hơi chàm cũng không Tất cả đã là người Hà Nội Nhưng làm người Hà Nội thế cũng buồn
(Làm người Hà Nội thế cũng buồn)
Chính vì vậy, dù có vật đổi sao rời, dù có muôn vàn biến động đổi thay của cuộc sống hay con người, thì tác giả vẫn nguyện tìm về với núi của mình, coi đó là hạnh phúc đích thực:
Tôi từ núi đi quành xuống bản
Từ bản đi ra phố thị thành
Từ thị thành mà đi ra biển Rồi lại trở về với núi xanh
(Hạnh phúc)
Suốt một đời trải qua bao phiêu dạt, đổi thay, dù đến chết thì người con của núi rừng vẫn chỉ nguyện hóa thân vào quê hương xứ sở:
Nếu tôi chết hãy đưa tôi về núi
Để hồn tôi tìm lại chiếc nhau mình
Trang 40Trong lồng nhỏ mẹ tôi treo bờ suối Cành cây giờ đã vươn xanh
(Thị xã đầu nguồn sông)
Trong cuộc sống của những con người miền cao, đồi núi như là nguồn sống màu mỡ, gắn bó Đồi núi đem lại cho họ sự sinh sôi, trù phú nên họ cảm thấy trân trọng, biết ơn khi đón nhận nó:
Mỡ màu ơi đồi núi Phì nhiêu ơi ruộng đồng Thấu tình ai miền tủi Đêm quàng bờ trăng suông
(Cầu mùa)
Bên cạnh biểu tượng đồi núi, nhà thơ Triệu Kim Văn cũng thường hay xây dựng trong tác phẩm của mình biểu tượng cánh đồng Với tác giả, đồng
ruộng là nơi quy tụ, hợp quần của người dân, của bản làng:
Đồng ruộng quy tụ về nơi đây Làng bản hợp quần nơi đây
(Rƣợu núi)