Xuất phát từ yêu cầu làm rõ vai trò của các vị nhân thần có nguồngốc từ những nhân vật phản diện là thành hoàng trong đời sống tâm linh làng xã nói chung và cụ thể là trường hợp hai làng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
HOÀNG MỸ LINH
TỤC THỜ TRIỆU ĐÀ TẠI LÀNG VĂN TINH VÀ THỜ TRỌNG THỦY TẠI LÀNG LỰC CANH (XÃ XUÂN
CANH, HUYỆN ĐÔNG ANH, HÀ NỘI)
LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC
Hà Nội, 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
HOÀNG MỸ LINH
TỤC THỜ TRIỆU ĐÀ TẠI LÀNG VĂN TINH VÀ THỜ TRỌNG THỦY TẠI LÀNG LỰC CANH (XÃ XUÂN
CANH, HUYỆN ĐÔNG ANH, HÀ NỘI)
Chuyên ngành: Việt Nam học
Mã số: 06.22.01.13
LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
Hà Nội, 2015
Trang 3A PHẦN MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài:
1.1.Người Việt ở Đồng bằng Bắc Bộ có tục thờ thành hoàng lâu đời.Tục này có nguồn gốc từ Trung Quốc, theo đó thành hoàng được thờ với tưcách là vị thần ở các con hào bao quanh thành cổ Khi đến Việt Nam, vì cưdân đô thị ít nên “Khái niệm thành hoàng” bị Việt Nam hóa Thành hoàng trởthành vị thần che chở cho cư dân của làng trong một địa vực làng xã cụ thể
1.2 Xuất phát từ yêu cầu làm rõ vai trò của các vị nhân thần có nguồngốc từ những nhân vật phản diện là thành hoàng trong đời sống tâm linh làng
xã nói chung và cụ thể là trường hợp hai làng Văn Tinh và Lực Canh (xãXuân Canh, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội) nói riêng
Thành hoàng làng của người Việt rất đa dạng Trong cuốn “Các tục người Việt Nam”, tác giả Bùi Xuân Đính đã phân nhóm các thần, gồm: thổ thần, sơn thần, thủy thần, nhiên thần và nhân thần Số lượng nhân thần rất lớn
và đa dạng, đã trở thành bộ phận lớn của hệ thống thần được thờ phụng ở ViệtNam
Các nhân thần cũng được chia thành nhiều nhóm như: nhân thần cóxuất thân là người bình thường, nhân thần có xuất thân là anh hùng có côngđánh giặc giữ nước, nhân thần có xuất thân là người có công truyền nghề chonhân dân, nhân thần có xuất thân là người mở đường học hành khoa cử cholàng xóm…những nhân thần thuộc các nhóm kể trên đều là những nhân vậtchính diện Tuy nhiên, người Việt không chỉ thờ những nhân vật chính diệnlàm thành hoàng mà bên cạn đó họ còn thờ cả những nhân vật phản diện
Đến Thế kỉ 15, Nhà nước phong kiến qui chuẩn hóa các vị thần, chỉnhững vị có công với nhân dân, với đất nước thì mới được coi là chính thần,được Bộ Lễ soạn thần phả và cấp sắc phong Những vị thần khác không nằmtrong tiêu trí trên thì bị coi là tà thần không được cấp sắc phong Tuy nhiên,
Trang 4tại làng xã, với tư cách là vị thần che chở cho dân làng các vị tà thần vẫn đượcthờ phụng, mặc dù không được nhà nước công nhận Vì vậy cần nghiên cứusâu vấn đề này để làm rõ vai trò của các vị nhân thần có xuất thân từ nhân vậtphản diện là thành hoàng trong đời sống tâm linh làng xã.
1.3 Xuất phát từ thực trạng thờ cúng Triệu Đà và Trọng Thủy tại hailàng Văn Tinh và Lực Canh
Trong các vị Thần xuất thân từ những nhân vật phản diện là thànhhoàng, các nhân vật phản diện ấy ngoài những vị đã được xác minh rõ ràngthì còn có cả những vị cho đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi, trong đó có nhânvật Triệu Đà và Trọng Thủy Và một trong số những làng thờ Triệu Đà vàTrọng Thủy có: làng Văn Tinh (thờ Triệu Đà) và làng Lực Canh (thờ TrọngThủy)
Qua khảo sát tại làng Văn Tinh và Lực Canh chúng tôi đã nhận thấymột điều bất ngờ là:
Tục thờ Triệu Đà tại làng Văn Tinh thời xưa được xếp vào loại lễ hộiđặc sắc với đầy đủ tiêu chí và các hoạt động sau: là lễ hội có diễn xướng dângian độc đáo (mượn đám rước giữa hai làng để diễn tả hoạt cảnh cha con gặpnhau), ngoài ra còn có: đình (làm cơ sở thờ tự), còn sắc phong, có rước, có tế,
có trò chơi dân gian (thi vật rượu), có lễ vật đặc biệt (rượu hoàng, xôi lợn), cóđọc sớ bằng chữ nho (đọc Chúc) Thế nhưng trong số tám tiêu chí hoạt độngđược nêu trên thì hiện nay chỉ còn lại hai tiêu chí là còn đình làm cơ sở thờcúng và còn sắc phong, tức là chỉ còn khoảng 25% giá trị của lễ hội truyềnthống trước kia được lưu giữ lại cho đến ngày nay (nhưng cũng ở mức khôngđầy đủ, không còn nguyên bản)
Một con số bất ngờ nữa là khi tiến hành khảo sát tại làng Lực Canh đó
là: thứ nhất, với tám tiêu chí hoạt động trên, lễ hội truyền thống tại làng Lực
Canh chỉ còn lưu giữ được một tiêu chí (nhưng cũng không đầy đủ vì chỉ giữ
Trang 5được 01 bản sắc phong niên đại năm 1938, số sắc phong trước đó đã bị mất),nghĩa là chỉ có khoảng 12.5% giá trị lễ hội truyền thống trước kia được giữ
lại, còn lại là tổ chức theo lối mới không đúng với nguyên bản Thứ hai, có
đến 80% cư dân trong độ tuổi từ 15 đến 60 tuổi đều chưa rõ hoặc chưa biếtchính thức thành hoàng làng mình là ai, được gắn với thần tích như thế nào,
có công trạng ra sao, có đóng góp cho làng trên phương diện gì? Vậy việc thờThành hoàng làng Lực Canh có nguồn gốc như thế nào? Tại sao người dântrong thôn lại có sự mơ hồ về chính vị thần mà mình thờ tự? Việc thiếu thôngtin chính xác về thành hoàng là nguyên nhân chính dân đến một số hoạt độngliên kết chung của hai làng Văn Tinh và Lực Canh đã không còn tồn tại nữa.Đây chính là những vấn đề khoa học cần được làm sáng tỏ
Trên đây là những nguyên nhân cơ bản đã thôi thúc tôi chọn lựa chọn
đề tài: “Tục thờ Triệu Đà tại làng Văn Tinh và thờ Trọng Thủy ở làng LựcCanh (xã Xuân Canh, huyện Đông Anh, Hà Nội)”
2.1.1 Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám 1945
Hai bộ sách Việt điện u linh và Lĩnh nam chích quái tương truyền được
ra đời vào thời Trần, là một trong số những công trình cổ xưa nhất, được xếpvào hàng giả sử của Việt Nam mang tính chất tạo nền móng cho việc nghiên
cứu về thành hoàng người Việt sau này Sách Việt điện u linh do tác giả Lý Tế
Trang 6Xuyên biên soạn vào đầu thế kỷ XIV, bài tựa được viết vào năm Khai Hựuthứ nhất(1329) dưới thời vua Trần Hiến Tông Đây là công trình tác giả ghilại những truyện vốn lưu truyền trong dân gian về các vị thần linh nước ta.
Sách Lĩnh Nam trích quái của tác giả Trần Thế Pháp một trong những tác
phẩm văn học dân gian đầu tiên của Việt Nam, viết bằng chữ Hán văn xuôi, làtài liệu rất quý hiếm được biên soạn khoảng cuối đời Trần Nội dung cuốnsách gồm sự ghi chép, tập hợp những câu chuyện truyền thuyết và cổ tíchtrong dân gian để giải thích cho tục thờ thần của người Việt như: Từ ĐạoHạnh, thần Cao Lỗ, thần kim quy…Bởi vậy, hai công trình này được các nhànghiên cứu coi là nguồn tư liệu quý đối với việc nghiên cứu văn hóa tínngưỡng ở Việt Nam nói chung và tín ngường thờ thành hoàng nói riêng
Trong khoảng từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII, có các công trình như:
Nam ông mộng lục của tác giả Hồ Nguyên Trừng (biên soạn vào khoảng thế
kỷ XV), Công dư tiệp ký của tác giả Vũ Phương Đề (biên soạn năm 1755), cuốn Việt sử tiêu án của Ngô Thì Sỹ (ra đời năm 1775) Trong những tác
phẩm này, các tác giả đã soạn lại những câu chuyện và huyền tích về nhữngphong vật, con người và việc thờ các vị thần trong dân gian Đây là những tưliệu rất hữu ích và có giá trị tham chiếu trên nhiều phương diện, nhất là về tínngưỡng thờ cúng thành hoàng làng
2.1.2 Giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến năm 1986:
Bối cảnh đất nước liên tục trải qua hai cuộc chiến tranh chống xâmlược với hai đế quốc lớn là Pháp và Mỹ, giai đoạn này đã đánh dấu nhữngbiến động to lớn trong lịch sử đương đại Việt Nam về mọi mặt đời sống kinh
tế, chính trị và văn hóa Sự khốc liệt của chiến tranh đã tạo biến động vềchính trị và văn hóa, hệ lụy của nó còn ảnh hưởng đến cả việc nghiên cứu vănhóa nói chung và nghiên cứu tín ngường thờ thành hoàng cũng gặp nhiều khókhăn
Trang 7Một số tác phẩm tiêu biểu ra đời trong khoảng thời gian này nghiên cứu
về đặc điểm văn hóa làng và đời sống tín ngưỡng của người dân Việt như:
cuốn Nếp cũ – Tín ngưỡng Việt Nam, Nxb Hoa Đăng, Sài Gòn, năm 1967 của
tác giả Toan Ánh đã tiếp tục làm rõ thêm một số phương diện về thành hoàngcủa người Việt Đầu năm 1980, Lê Văn Hào cho ra mắt công trình Hành trình
về thời đại Hùng Vương dựng nước Tác giả đã dựa vào các truyền thuyết,các thành tựu nghiên cứu các di tích khảo cổ thuộc nền văn hóa Đông Sơn đểdựng lên diện mạo thời đại Hùng Vương với những tín ngường, phong tục vàcuộc sống của người Việt cổ Hai cuốn sách này được coi là nguồn tài liệuquý để nghiên cứu về tín ngưỡng thờ cúng thành hoàng làng
2.1.3 Giai đoạn từ năm 1986 đến nay:
Giai đoạn từ năm 1986 đến nay được coi là giai đoạn nền Văn hóa ViệtNam bước vào thời kỳ hiện đại Tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội cónhiều biến chuyển theo hướng phát triển tích cực, có nhiều đổi mới Các nhànghiên cứu cho rằng chưa bao giờ người ta thấy đời sống văn hóa tinh thầncủa người dân Việt Nam lại khởi sắc đến như bây giờ
Công cuộc cải cách để đối mới đất nước đã tạo tiền đề cho các hoạtđộng nghiên cứu về tín ngưỡng ra đời, đã có nhiều công trình của nhiều tác
giả được công bố như: cuốn Hội hè Việt nam của tác giả Trương Thìn được
nhà xuất bản văn hóa dân tộc xuất bản năm 1990, tại Hà Nội Cuốn sách đã ítnhiều đề cập đến tín ngưỡng thờ cúng thành hoàng làng Năm 1996, tác giảNguyền Duy Hinh đã xuất bản công trình Tín ngường Thành hoàng Việt Nam
do nhà xuất bản Khoa học xã hội in và phát hành tại Hà Nội Cũng trong năm
1996, tác giả Lê Xuân Quang công bố cuốn Thờ thần Việt Nam, được nhà
xuất bản Hải Phòng in và phát hành Năm 1998, tác giả Nguyễn Minh San cócông trình Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam do nhà xuất bản Hà nội pháthành tại Hà Nội Thông qua tác phẩm, các tác giả trên đã tiếp tục nghiên cứu
Trang 8chuyên sâu, nhất là nghiên cứu trường hợp về tín ngưỡng thờ cúng thànhhoàng làng Thành tựu nghiên cứu mà các công trình này mang lại đã gópphần bổ sung thêm vào bề dày nghiên cứu về thành hoàng làng, một trongnhững nét văn hóa đặc sắc của dân tộc.
Sang đầu thế kỷ XXI, Đảng và nhà nước ta chủ trương xây dựng nền văhóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Được tạo điều kiện thuận lợi nên đã córất nhiều các ấn phẩm, tạp chí, đầu sách, bài nghiên cứu về bản sắc văn hóaViệt Nam nói chung và tín ngưỡng thờ thành hoàng làng nói riêng được công
bố Có thể kể tên một số công trình tiêu biểu như: Cùng năm 2001,tác giả Ngô
Đức Thịnh đã công bố hai công trình nghiên cứu là cuốn Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội và cuốn Tín ngưỡng dân gian Việt nam, Nbx Văn hóa dân tộc Công trình Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng đã đóng góp nhiều giá trị trong việc nghiên cứu tín ngưỡng nói chung
và tín ngường thờ cúng thành hoàng làng của người Việt nói riêng Điểm
đáng chú ý của cuốn Tín ngưỡng dân gian Việt nam là tác giả đã bàn về một
số thần linh là Thành hoàng làng được thờ cúng trong đình, miếu của ngườiViệt
Những thành tựu về nghiên cứu tín ngưỡng nói chung và tín ngườngthờ cúng thành hoàng làng nói riêng đã tạo tiền đề khoa học cần thiết, tạođịnh hướng quan trọng cho luận văn của chúng tôi có thể tiếp cận đối tượngnghiên cứu trên cả phương diện lý luận và thực tiễn
2.2 Lịch sử nghiên cứu tục thờ Triệu Đà và Trọng Thủy tại hai làng Văn Tinh, Lực Canh
Vấn đề nghiên cứu về nhân vật Triệu Đà và Trọng Thủy từ lâu đã đượcnhiều nhà nghiên cứu quan tâm Tuy nhiên, khi điểm lại lịch sử nghiên cứu vềtục thờ Triệu Đà và Trọng Thủy ở phạm vi trong và ngoài nước vẫn chưa
Trang 9được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu vậy nên cho đến nay, chưa cócông trình khoa học nào được công bố về vấn đề này
Cuốn sách đã điểm lại những di tích lịch sử cách mạng và tôn giáo tínngưỡng tại các làng trong xã, trong đó có di tích liên quan đến tục thờ thànhhoàng làng của nhân dân hai thôn Lực Canh và Văn Tinh Đây là nguồn tàiliệu hữu ích, giúp bổ sung thông tin cho quá trình nghiên cứu luận văn
Luận văn nghiên cứu về “Tục thờ Triệu Đà ở làng Văn Tinh và Trọng Thủy ở làng Lực Canh, xã Xuân Xanh, huyện Đông Anh, Hà Nội” là luận văn
đầu tiên nghiên cứu sâu về vấn đề thờ cúng Triệu Đà và Trọng Thủy trongmối quan hệ tương hỗ giữa hai làng Văn Tinh và Lực Canh
3 Mục đích nghiên cứu của luận văn, đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
3.1 Mục đích nghiên cứu của luận văn:
Tìm hiểu các khía cạnh liên quan đến việc thờ phụng Triệu Đà vàTrọng Thủy ở hai làng Văn Tinh và Lực Canh Tạo cơ sở khoa học cho việcgiải mã những vấn đề liên quan đến hai nhân vật lịch sử này tại địa phương.Tạo cơ sở giải thích, tuyên truyền và định hướng việc thờ phụng các vị tại hailàng Văn Tinh và Lực Canh (xã Xuân Canh, huyện Đông Anh, Hà Nội)
3.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu gồm các khía cạnh, các yếu tố có liên quan đếnviệc thờ Triệu Đà và Trọng Thủy ở hai làng Văn Tinh và Lực Canh
Phạm vi nghiên cứu gồm:
- Phạm vi không gian: tiến hành khảo sát tại hai làng Văn Tinh và Lực
Canh (xã Xuân Canh, huyện Đông Anh, Hà Nội)
- Phạm vi thời gian: quá trình tìm hiều nguồn gốc của thành hoàng theo
những tiến trình lịch sử gắn với quá trình định cư và phát triển cộng đồng làng
xã của cư dân thôn Văn Tinh và Lực Canh được tiến hành từ tháng 2 năm2015
Trang 10- Phạm vi nội dung: luận văn tập chung nghiên cứu ba nội dung sau Thứ nhất: Đặc điểm tự nhiên, dân cư của hai làng Văn Tinh, Lực Canh
theo tiến trình lịch sử
Thứ hai:Nguồn gốc thành hoàng làng Văn Tinh,thành hoàng làng Lực
Canh
Thứ ba: Những điểm đặc sắc trong phong tục thờ thành hoàng của hai
làng Văn Tinh – Lực Canh và lễ hội truyền thống của hai làng hiện nay
4 Nhiệm vụ và các đóng góp mới của luận văn:
4.1.Nhiệm vụ:
Thực hiện đề tài này chúng tôi đặt ra những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất: Dựa vào nhiều nguồn tài liệu khác nhau đã tổng hợp, sưu tầm
được để phân tích, lý giải bề dày văn hóa kết tinh trong tín ngường thờ thànhhoàng làng tại hai thôn Lực Canh và Văn Tinh
Thứ hai: từ kết quả nghiên cứu, tiến hành đánh giá những đặc điểm nổi
trội của văn hóa làng xã tại hai thôn Văn Tinh và Lực Canh
4.2 Đóng góp của luận văn:
Đây là luận văn đầu tiên nghiên cứu về tục thờ Triệu Đà và Trọng Thủylàm thành hoàng ở hai làng Văn Tinh và Lực Canh (xã Xuân Canh, huyệnĐông Anh)
Luận văn cung cấp cho người đọc những cơ sở, các dạng thức thờphụng Triệu Đà và Trọng Thủy, tạo cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu vềhai nhân vật này Đồng thời góp phần định hướng cho hoạt động tuyên truyền,giải thích với nhân dân địa phương và định hướng cho việc tổ chức Lễ hội tạihai làng Văn Tinh và Lực Canh (xã Xuân Canh, huyện Đông Anh, Hà Nội)
5 Phương pháp nghiên cứu:
Với đối tượng và mục đích nghiên cứu đã nêu trên, luận văn sẽ sử dụngmột số phương pháp nghiên cứu sau để thu thập tư liệu: , phương pháp lịch
Trang 11sử, phương pháp điền dã dân tộc học, phương pháp phân tích tài liệu, phươngpháp tổng hợp, phương pháp so sánh.
5.1.Phương pháp lịch sử:
Đây là phương pháp đầu tiên và có vai trò vô cùng quan trọng trongquá trình nghiên cứu văn hóa nói chung và nghiên cứu tín ngưỡng thờ thànhhoàng làng nói riêng Từ nguồn tư liệu lịch sử, chúng tôi tiến hành nghiên cứuphân tích, tổng hợp các thông tin trong văn bản theo tiến trình lịch sử
Phương pháp này giúp chúng tôi có hệ thống kiến thức sâu để nhìnnhận, đánh giá vấn một cách khách quan nhất theo logic thời gian; giúp củng
cố kỹ năng trong cách đặt và giải quyết vấn đề từ những người đi trước, tạođịnh hướng mới trong nghiên cứu
5.2.Phương pháp điền dã:
Phương pháp điền dã là phương pháp quan trọng trong quá trình tiếpcận đối tượng nghiên cứu trong thực tế Nhờ đó, chúng tôi có thêm nhữngthông tin xác thực nhất, mới nhất về đối tượng nghiên cứu và có điều kiện đểkiểm chứng những thông tin thu thập được từ nguồn dữ liệu văn bản
Với phương pháp này, chúng tôi đã tiến hành đi tiền trạm, xác định vịtrí, địa bàn khảo sát Tại địa phương, trong quá trình điền dã chúng tôi đã kếthợp với các thao tác như: phỏng vấn chuyên sâu, điều tra hồi cố, chụp ảnh,quay phim tư liệu, phát phiếu điều tra…Những thông tin quan trọng thu thậpđược trong quá trình điền dã đã đóng góp hữu ích cho việc đánh giá, nhậnđịnh về thực trạng thờ cúng thành hoàng làng tại địa phương
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành phát phiếu điều tra.Đây là một trong những thao tác quan trọng trong nghiên cứu xã hội học,nhân học để thu thập số liệu định tính nhằm đánh giá việc thờ cúng thànhhoàng làng tại địa phương
Trang 125.3 Phương pháp so sánh:
Chúng tôi đã đặt đối tượng nghiên cứu trong tổng thể văn hóa tínngưỡng thờ thành hoàng làng của làng xã người Việt, nhất là so sánh số liệucủa hai làng với những làng bên cạnh đề tìm ra điểm tương đồng và khác biệt(những nét văn hóa đặc trưng nổi trội) trong tín ngưỡng thờ thành hoàng làngcủa hai thôn với khu vực toàn xã Những nét văn hóa đặc sắc, nổi trội đóchính là bản sắc văn hóa của làng trong mối quan hệ với các làng trong xã vàtrong vùng
5.4 Phương pháp liên ngành:
Đây là phương pháp nghiên cứu liên khoa học, là sự kết hợp kiến thứcgiữa các môn học, các ngành khoa học như: địa lý, lịch sử, kiến trúc, vănhóa…với nhau để vận dụng vào việc lý giải hiện tượng văn hóa Phương phápnày được sử dụng thường xuyên trong quá trình nghiên cứu khoa học
6 Bố cục luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3chương chính như sau:
Chương I: Giới thiệu chung về hai làng Lực Canh và Văn Tinh
1.1.Điều kiện tự nhiên.
2.1.Vài nét về hai nhân vật
2.1.1.Triệu Đà qua tư liệu lịch sử và tư liệu tại Văn Tinh, Lực Canh
2.1.2.Trọng Thủy qua tư liệu lịch sử và tư liệu tạiVăn Tinh, Lực Canh
2.2.Các di tích liên quan đến việc thờ Triệu Đà và Trọng Thủy
Trang 132.3.3.Các nghi thức thờ cúng và Lễ hội của hai làng Văn Tinh, Lực Canh
Chương III: Vài nét rút ra từ việc nghiên cứu thờ phụng Triệu Đà vàTrọng
Thủy ở hai làng Văn Tinh và Lực Canh trên cơ sở kết quả nghiên cứu
B PHẦNNỘI DUNG:
Trang 14CHƯƠNG 1:
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HAI LÀNG LỰC CANH VÀ VĂN TINH
1.1.Làng Văn Tinh
1.1.Điều kiện tự nhiên.
Làng Văn Tinh nằm ở vị trí trung tâm của xã Xuân Canh, phía đôngbắc giáp với làng Lực Canh, phía đông giáp với xã Đông Hội, phía tây giápvới làng Xuân Canh, phía nam giáp với sông Hồng và bãi bồi xã Tàm Xá(Tầm Châu) So với các làng trong xã Xuân Canh, diện tích của làng VănTinh thuộc loại nhỏ (diện tích xấp xỉ bằng một phần hai diện tích làng LựcCanh)
Do nằm ở vị trí trung tâm của xã nên hệ thống đường bộ và đường thủycủa Văn Tinh rất thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội
Về đường bộ, xã Xuân Canh nằm trên con đường thiên lý từ bờ Bắcsông Hồng đối diện với kinh đô Thăng Long xưa đi các trấn Bồ Đề (từ Bồ Đềqua đất năm làng ở Xuân Canh đi lên Thái Nguyên, tức Quốc lộ 3 – TháiNguyên – Cao Bằng ngày nay) Đây là một trong bốn con đường thiên lý ở bờBắc sông Hồng đi các trấn phía Bắc và phía Đông thời phong kiến Đoạnđường qua xã dài 2.5km chia thành hai phần, phần phía Tây Nam là các làngLực Canh, Xuân Trạch và năm làng thuộc xã Xuân Canh cụ, trong đó có VănTinh
Làng Văn Tinh còn có khoảng 1km đường đê sông Hồng chạy qua địaphận làng
Về đường thủy, Văn Tinh nằm ở phía bờ Bắc, phần tả ngạn của sôngHồng và sông Đuống, là cửa ngõ vào nội thành từ phía Bắc, là đầu mối thôngthương giữa vùng trung du, miền núi và đồng bằng Sông Hồng chảy qua địaphận làng đến ngã ba tiếp giáp với sông Đuống và làng Vân Hoạch, dài
Trang 15khoảng hơn 2km Theo sách Đại Nam thực lục, đoạn sông này tiếp nối vớiđoạn phía trên (từ làng Hải Bối xuống), trước đây nước chảy quanh co, dòngnước xiết.
Sự thuận lợi về đường sông và đường bộ đã tạo cho Văn Tinh thế thôngthương về kinh tế và văn hóa Dân làng đã tận dụng lợi thế này để phát triểnkinh tế, nhất là việc buôn bán bằng đường sông Dọc bờ sông Hồng và sôngĐuống có đến 6 bến đò, làng Văn Tinh nằm ở giữa vị trí sáu bến đò đó nênthuận tiện để phát triển kinh tế bằng đường sông
Sông Hồng và sông Đuống đã đem lại nhiều nguồn lợi cho nhân dântrong thôn và trong xã, nhất là trong các mùa mưa lũ, những nguồn thực phẩmnhư tôm cá, nguồn cá con, trứng cá, củi gỗ từ thượng nguồn trôi về Xưa kia,khi đê còn thấp, mùa lũ nước tràn qua đê đem lại nguồn phù sa bồi đắp chođồng ruộng trong đê Tuy nhiên sông Hồng cũng gây cho nhân dân nhiều bấtlợi, nước sông Hồng chảy xiết, thường xuyên đổi dòng lúc lở lúc bổi Đoạnsông Đuống phía dưới nước chảy cũng xiết nên hay tạo ra những xoáy nướcngầm ở đoạn sông của làng khiến đất đai sói lở Làng Văn Tinh đã phảichuyển dần khi di tích thờ cúng chung của làng vào trong đê, lũ lụt gây thiệthai nặng cho các xóm ven sông
1.2.Lịch sử hình thành
Làng Văn tinh từ thời lập làng đến nay vẫn tụ cư trên diện tích đất màdân làng đang quản lý hiện nay Trước hết, xét từ việc thờ thần và thànhhoành ở làng Văn Tinh đã cho thấy: làng Văn Tinh thờ Triệu Đà và nguồngốc hình thành làng cũng xuất phát từ việc Triệu Đà đóng căn cứ ở địaphương để đánh lại Thục An Dương Vương sau nhiều lần thất bại Như vậy,việc định cư lập làng của cư dân làng Văn Tinh đã được hình thành từ nhữngbuổi đầu dựng nước, cùng với tiến trình người Việt cổ di cư từ miền núixuống chiếm lĩnh đồng bằng châu thổ rộng lớn.
Trang 16Theo các bậc cao niên các làng, năm làng nhỏ gồm: Xuân Trạch,Thượng Lão, Văn Hoạch, Xuân Đình và Văn Tinh xưa đã kết chạ với nhauhợp thành một khối thống nhất, tương trợ nhau trong các hoạt động thuộcnhiều lĩnh vực, nhất trong sản xuất, an ninh trật tự Năm làng đã lập chợchung, cùng dựng đình chung (đình được đặt ở xứ đồng Đình Năm Làng ở sátchùa Xuân Trạch ngày nay) gọi là khu đình làng, có ý kiến lại gọi là khu đìnhKhiếm Về sau, dân số của các làng tăng nhanh nên các làng đã tách ra để lậpđình riêng Di tích khu đình của năm làng để hoang, tự sụp đổ gần hết Năm
1957, đất ở xứ đồng Đình Năm Làng được đào để đắp đê sông Đuống, tạothành nhiều vùng trũng và ao hồ như hiện nay Một phần của xứ đồng đượclấp để xây dựng chùa Xuân Trạch Đến nay, khu đình Năm Làng này khôngcòn nữa do tác động của nhiều nguyên nhân
Làng Văn Tinh trước đây có phần làng chính ở vùng đất bồi tụ phíangoài đê sông Hồng Trước năm 1945, trong số hơn 50 hộ dân của làng chỉ có
2 gia đình ở trong đê, do đó xóm trong đê được gọi là xóm trại hay xómngoài Dân làng lập đình, miếu và chùa ở vùng đất bên ngoài đê, gần với làng
để thuận tiện cho việc thực hành các nghi lễ thờ cúng theo tuần tiết
Làng Văn Tinh từ xa xưa đã nằm trong khu vực gắn bó với lịch sử vàvăn hóa vùng Kinh Bắc, lại nằm ở vị trí bờ Bắc sông Hồng nên sớm có nhiềumối quan hệ giao thương với khu vực kinh thành Thăng Long xưa Cơ sở này
về sau đã là lý do để xếp làng là một trong những đơn vị hành chính cấp cơ sởcủa Hà Nội
Vào cuối thời Lê, đầu thời Nguyễn (khoảng đầu thế kỷ XIX), nhà nướctiến hành chia nhỏ các đơn vị hành chính cơ sở, làng Văn Tinh là một trongbốn làng thuộc xã Xuân Canh (Thượng Lão, Vân Hoạch và Xuân Đình), tổngĐông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc Năm Minh Mạng thứ ba, Nhâm Ngọ,
1822, trấn Kinh Bắc đổi tên thành Bắc Ninh và đến năm Minh Mạng thứ
Trang 17mười hai, Tân Mão,1831thì đổi thành tỉnh Bắc Ninh Đến tháng chín năm
Bính Tý (tháng 10 năm 1876) thời vua Tự Đức, sau sự thay đổi về địa giớihành chính, làng Văn Tinh thuộc xã Xuân Canh, tổng Xuân Canh, huyệnĐông Anh, tỉnh Bắc Ninh Từ tháng 10 năm 1901, thực dân Pháp cắt huyệnĐông Anh sang tỉnh Phù Lỗ (sau đổi là Phúc Yên)
1.3.Dân cư và tổ chức hành chính
* Dân cư
Làng Văn Tinh trước Cách mạng tháng Tám 1945 mang đầy đủ nhữngđặc điểm chung của mô hình làng vùng châu thổ Bắc bộ, cơ cấu tổ chức củalàng bao gồm một hệ thống các thiết chế như: dòng họ, giáp, hội đồng kỳ mục
và chức dịch Trong hệ thống các thiết chế tổ chức này, các giáp giúp làngthực hiện các công việc cộng đồng tại địa phương, còn hội đồng kỳ mục vàchức dịch là bộ máy quản lý về mặt hành chính
Dân số của làng Văn Tinh qua nhiều đời vẫn ở con số khiêm tốn so với
số dân của các làng trong xã Trai đinh trong làng thuộc các năm dòng họ làNguyễn Khắc (đông đinh nhất), Nguyễn Như và ba dòng họ Nguyễn Văn.Các họ đều có nguồn gốc tại làng, không có dòng họ nào ở làng khác chuyển
cư đến
Về các dòng họ
Thời trước cách mạng tháng Tám 1945, làng Văn Tinh tuy nhỏ nhưng
cũng có đến bốn giáp, bao gồm: giáp Nhất, giáp Nhì, giáp Đông, giáp Đoài.
Do đặc điểm làng ít người nên số lượng trai đinh trong làng có hạn, lệ làngcòn có nhiều nét khác biệt và có phần nặng nề hơn (cả về phần việc và đónggóp vật chất) so với các làng bên, thể hiện ở những qui định khi thực hiệnviệc làng như:
Trang 18Việc vào giáp của mỗi đinh cũng phải trải qua rất nhiều tiểu lễ Khi
đinh đến 48 tuổi, tùy thuộc vào kinh tế gia đình mỗi đinh quyết định việc
sửa lễ vào làng có thịnh soạn hay không Theo cuốn Xuân Canh truyền thống lịch sử, văn hóa và cách mạng, lễ được qui định gồm: “ một mâm xôi hoa cau (được làm từ khoảng 5 cân gạo và nửa cân đỗ xanh tiêu – loại
đỗ xanh ngon nhất trước thường dùng để tiến vua), một cóc rượu và mười hai quả cau” (tr.68) Nếu gia đình khó khăn thì chỉ sửa lễ như trên để xin
vào làng; còn với những gia đình khá giả, có của ăn của để thì khi làm lễ
vào làng sẽ gắn liền với việc mua sắc mục, họ đóng thêm 7 đồng mua sắc mục Vào đầu những năm bốn mưới của thế kỷ XX, 7 đồng có giá trị tương
đương với sáu nồi gạo ngon, tổng trọng lượng ước chừng 120kg Khi traiđinh mua sắc mục mới được cấp ngôi sắc mục, vào các ngày sóc ngày vọng
mới được hưởng lộc thánh tại đình, khi đến 50 tuổi mới được gọi là lão làng (hay lão chính thức), được hưởng các phần biếu khi có tiệc làng theo
lệ Nếu đinh mới sửa được lễ vào làng mà chưa mua sắc mục sẽ rất thiệtthòi khi ra trốn đình chung, khi không được phong ngôi sắc mục khi ra
đình sẽ được gọi là lão ngang, không được hưởng những quyền lợi về vật
chất, tức là không được hưởng niềm vinh dự về tinh thần, dân gian vẫn có
câu: “Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp” Việc phân chia cách
xưng hô và ngôi thứ ngồi trong đình vào dịp việc làng đã cho ta thấy phầnnào sự phân tầng đẳng cấp trong cộng đồng cư dân
Sau khi làm lễ vào làng, tất cả các đinh mới vào giáp phải lần lượttừng người sửa lễ xôi gà gọi là có lời báo với hàng giáp về danh phận củamình Khi sang tuổi 49, lần lượt từng đinh sẽ làm thôn trưởng (vọng thôntrưởng) trong một khoảng thời gian do giáp ấn định, khi nhận trọng tráchnày người nhận sửa một lễ xôi gà cho hàng giáp Lễ vật bao gồm: một mâm
Trang 19xôi và và một con gà, yêu cầu phải là gà trống đỏ, đo vòng ngực phải bằngmột chét tay (một gang tay) Khi nhận làm thôn trưởng tức là đinh đó sẽ
phải lo đăng cai cả việc giáp và việc làng với các nhiệm vụ cụ thể sau: thứ nhất, cúng hậu giáp năm tại nhà mình; thứ hai, khi làng vào hội thì có trách nhiệm sửa một lễ xôi lợn cho làng vào ngày mồng bảy tháng ba gồm một con lợn khoảng 25kg trở lên, 20kg gạo xôi và 30 lít rượu hoàng; thứ ba,
thổi cơm cho hàng giáp ăn khi đến lệ, mâm cơm bao gồm cơm, canh và thịtlợn Quyền lợi của thôn trưởng khi nhậm chức là được làng cấp cho 1 mẫu
2 sào ruộng và được giáp cấp cho một khoản ruộng thường là 3 sào (tuynhiên, diện tích ruộng từng giáp tại thời điểm cấp) Theo lệ, mỗi đinh sẽ chỉlàm thôn trưởng một lần duy nhất trong đời nhưng vì làng Văn Tinh có ítđinh, trong khi các lễ tiết của làng vẫn tổ chức hàng năm đều đặn nên cónhiều trường hợp một đinh phải làm hai lần thôn trưởng, rất tốn kém Nếugặp may, mùa màng bội thu, chăn nuôi không gặp dịch bệnh thì được nhờ
vì làm thôn trưởng, có của ăn của để Chẳng may mất mùa, chăn nuôi thấtbát, đã có nhà suy kiệt vì chức vị này Những người không theo được lệlàng phải bỏ làng ra đi, mất ngôi thứ ở hàng giáp ở làng, nếu trở về làngphải ngồi ở vị trí thấp ngang mới người mới vào làng
sử đất nước từ thời Văn Lang – Âu Lạc
PGS.TS Bùi Xuân Đính đã thống kê thời biểu lễ tiết của làng Văn
Tinh từ bản hương ước năm 1942 của làng trong bảng thống kê “Các lễ tiết
Trang 20(lễ vật số tiền chi) trong năm của các làng” (Bảng 6, tr.104, Xuân Canh truyền thống lịch sử và cách mạng) như sau:
13 6/tám, lễ Thánh húy và Thường tân (cơm mới) 10,0
18 24/chạp, lễ Triều y (thay áo cho thần) 10,0
Theo bảng trên, các vị thần được thờ tại làng Văn Tinh thuộc lớp các vịthần được hình thành từ sớm, gắn với việc Triệu Đà xây dựng căn cứ để đánhbại An Dương Vương Với hệ thống các di tích được thờ tại làng, các sinhhoạt tín ngưỡng hàng năm của làng diễn ra xung quanh các ngày sinh, ngàyhóa, ngày hiển thánh và ngày khánh hạ của thành hoàng và các thần Ngoàinhững ngày trên còn có cả hoạt động tế lễ trong các ngày lễ tiết như: tếtNguyên đán, tiết Thanh minh, tết Đoan ngọ, ngày sóc ngày vọng, hạ điền,
Trang 21cơm mới Các lễ tiết này được tiến hành ở đình, do làng không có văn chỉ nên
lễ Xuân tế, Thu tế cũng được diễn ra ở đình
* Tổ chức hành chính
Ngoài các giáp, giống như nhiều làng trong xã, dân làng Văn Tinh còn
lập ra bộ máy quản lý hành chính gồm hai thiết chế là: hội đồng kỳ mục và bộ máy chức dịch để quản lý và điều hành công việc chung của làng
Hội đồng kỳ mục của làng Văn Tinh là cơ quan hành chính thực hiện
hai chức năng chính phục vụ làng xã là: chức năng đưa ra nghị quyết, chứcnăng chấp hành Chức năng nghị quyết được thể hiện ở việc hội đồng kỳ mục
có toàn quyền quyết định các công việc trong làng như: chia lại hoặc tổ chứcđấu thầu ruộng đất công, tu bổ các di tích thờ cúng chung của làng như đình –chùa – đền – miếu , mở hội và giao hiếu với làng kết chạ mỗi dịp đến lệ.Chức năng chấp hành (hay thi hành) thể hiện ở việc hội đồng kỳ mục có tráchnhiệm thực hiện và trông coi việc tế tự của làng, thu chi các khoản tiền thuế,tiền treo, tiền vạ và có thể sử các vụ hình luật nhỏ (như mâu thuẫn nhỏ, trộmcắp vặt ) theo hương ước của làng
Khoảng nửa cuối năm 1921, do muốn có tầm ảnh hưởng sâu rộng đếntận đơn vị hành chính nhỏ nhất là làng xã, thực dân Pháp đã bãi bỏ hội đồng
kỳ mục và thay vào đó là hội đồng tộc biểu (hay còn gọi là hội đồng hương chính) Cũng giống như nhiều ngôi làng trên cả nước, làng Văn Tinh cũng
thành lập một hội đồng tộc biểu để cùng các giáp lo việc làng
Để làm được thành viên của hội đồng tộc biểu, thự dân Pháp quy định
các ứng cử viên phải đạt được điều kiện ban đầu là: từ 25 tuổi trở lên, biết chữ
và có gia sản trong làng Mỗi làng được có tối đa 20 đại biểu đại diện chonhững gia tộc trong làng tham gia ứng cử Tất cả các dân đinh trong làng từ
18 tuổi trở lên đều được làm đại biểu, có quyền bỏ phiếu trọn thành viên chohội đồng tộc biểu Lần lượt những người có số phiếu cao nhất sẽ được bổ
Trang 22nhiệm các chức vụ theo thứ tự Người có số phiếu cao nhất là chánh hương hội, người có số phiếu cao thứ nhì làm phó hương hội thay cho chức lý trưởng và phó lý trước kia, tiêu chuẩn các chức sắc này được hưởng cũng tương đương lý trưởng và phó lý Những người có số phiếu cao tiếp theo sẽ được bổ nhiệm vào chức thư ký và thủ quỹ
Sau sáu năm hoạt động, đến năm 1927 thì thực dân Pháp phải bỏ hộiđồng tộc biểu vì cơ quan này hoạt động không hiệu quả, vấp phải sự phản đối
của dân quê vốn ủng hộ lệ làng cổ truyền Hội đồng kỳ mục tại làng lại được thiết lập lại để cùng bộ máy chức dịch quản lý và thực hiện việc làng nhưng
có một điểm khác là số kỳ mục của hội đồng không hạn chế và nhiệm kỳ cũngkhông hạn định
Tổ chức hành chính thứ hai ở làng Văn Tinh đó là bộ máy chức dịch có
chức năng, nhiệm vụ là bảo vệ an ninh, thu thuế và điều động phu dịch Bộmáy gồm các chức danh: lý trưởng (phụ trách công việc chung), phó lý (trựctiếp phụ trách an ninh) Chức lý trưởng do người các làng tranh cử theo tiêuchuẩn của nhà nước phong kiến Số người làm phó lý phụ thuộc vào số lượngcác thôn hợp thành xã, thường mỗi thôn trong xã được cử ra một phó lý nếuthôn đó không có người giữ chức lý trưởng Tiếp theo là các chức danh: hộ lại(phụ trách các giấy tờ về hộ tịch, hộ khẩu), chưởng bạ (phụ trách giấy tờ vềruộng đất), quản xã (giúp việc lý trưởng và phó lý về an ninh, phu phen, tạpdịch) Bộ máy chức dịch là đại diện của chính quyền phong kiến ở cấp cơ sở(cấp xã) tại làng Trước năm 1934, làng Văn Tinh và ba làng Vân Hoạch,Thượng Lão, Vân Đình thuộc xã Xuân Canh
Mỗi làng trong xã Xuân Canh trước Cách mạng tháng Tám 1945 là mộtđơn vị tự quản Làng nào cũng cử ra các đội tuần phiên, là những trai đinhkhỏe mạnh, thật thà, có nhiệm vụ bảo vệ tài sản trong làng và cả lúa và hoamàu ngoài đồng Do làng ít dân ít hộ nên đội tuần phiên của làng Văn Tinh
Trang 23được trả công hậu hơn các làng khác Dân làng trả công đội tuần phiên bằngthóc, vào khoảng 2kg thóc cho mỗi sào Bắc bộ (360m2) Từ sau thập niên bamươi của thế kỉ XX, sau mỗi vụ gặt, thù lao của tuần phiên được làng trả 3xucho 1 mẫu ruộng, khi có mất mát gì xảy ra họ phải chiểu giá bồi thường Ởnhững làng đông dân, diện tích rộng, số lượng tuần phiên và điếm canh nhiềuhơn những làng ít dân và diện tích nhỏ như Văn Tinh Tại làng Văn Tinh, sốlượng tuần phiên gần như không đổi, ngày thường thì cắt cử thành từng nhómnhỏ thay phiên nhau trông coi làng và đồng ruộng, những lúc giáp vụ thuhoạch (gần đến ngày thu hoạch) và tháng giáp tết, tất cả thành viên của độituần phải trông coi việc đồng ruộng, giữ gìn an ninh làng xã không được lơi
là Vì vậy, khi tuần phu nào bắt được trộm cướp sẽ được làng khen thưởng,nếu bị thương khi bắt trộm cướp thì được làng cấp tiền thuốc thang, chẳngmay bị chết thì làng tổ chức mai táng
Theo cuốn Xuân Canh truyền thống lịch sử, văn hóa và Cách mạng,
trong bối cảnh của xã hội phong kiến đang bước vào kì tàn lụi, lại thêm sự
chèn ép của thực dân đã dẫn đến: “ xã hội các làng xã trước Cách mạng thánh Tám bị phân hóa khá sâu sắc, thể hiên trước hết ở quan hệ sản xuất Tiêu biểu là sự phân chia giai cấp với hai đối cực chính là địa chủ (những người có nhiều ruộng đất cho phát canh thu tô) và tá điền (bần nông có ít ruộng, phải lĩnh canh ruộng của các địa chủ với mức tô là 40%”(tr.72) Sự
bóc lột của giai cấp nắm trong tay tư liệu sản xuất càng lớn thì giai cấp bị bóclột càng rơi vào khủng hoảng, kinh tế của làng vì thế mà chậm phát triển, củacải càng ngày càng rơi vào tay một vài cá nhân trong làng Cụ thể mức bóc lộttrên 1 sào ruộng thuê khoán phải trả 2 thùng thóc, mỗi thùng 13kg; trong khinăng suất trên 1 sào ruộng vụ được mùa chỉ đạt khoảng 62kg Xen giữa mối
mâu thuẫn giữa địa chủ và tá điền là mối mâu thuẫn trong quan hệ giữa phú nông (người có nhiều ruộng nhưng không phát canh thu tô mà mướn người
Trang 24làm) và người làm thuê (cố nông, những người nghèo khổ nhất trong xã hội).
Tồn tại độc lập với hai cặp mâu thuẫn trên là tầng lớp trung nông tự làm ăn,không bóc lột ai và cũng không bị ai bóc lột
Làng Văn Tinh là làng nhỏ nhưng rất đoàn kết, trong suốt những nămnửa thực dân nửa phong kiến, cả làng không có ai là địa chủ, cường hào Chỉ
có một vài phú nông nhỏ, họ vẫn tự lao động để tạo tài sản là chính, số lượngngười ở làm thuê ít Còn lại trong làng là tầng lớp trung nông và số ít người làbần nông làm thuê cho các nhà phú nông theo thời vụ nhưng cũng không bịđối xử tệ vì dân làng Văn Tinh có truyền thống đoàn kết và tương trợ lẫnkhau
Khi thực dân Pháp tiến hành đàn áp những cơ sở cách mạng tiền khởinghĩa, các gia đình phú nông trong làng đã tự giác đứng ra lập hội đồng tềtheo yêu cầu của quân Pháp nhưng thực chất là tạo vỏ bọc để che chở cho các
cơ sở cách mạng Chính vì vậy mà cụm làng yêu nước Xuân Trạch – XuânCanh – Văn Tinh đã được Trung ương Đảng tin tưởng lựa chọn là nơi củng cốcác cơ sở cách mạng cho xã và các xã lân cận Giai đoạn từ năm 1946-1947,cụm ba làng là nguồn nhân lực chính để xây dựng và cất giấu vũ khí phục vụ
hoạt động của pháo đài Xuân Canh, là “lũy thép của tình đoàn kết quân dân”.
Theo cuốn Xuân Canh những chặng đường lịch sử giai đoạn 1942 – 1940, vào
“tháng 4 năm 1946, khẩu pháo D.C.A 75 milimet đã tháo rời từng bộ phậnđược trao cho Chi bộ Đảng xã Xuân Canh tại bãi An Dương, nhân dân XuânCanh và Văn Tinh đã chờ sẵn ở bến bí mật bốc dỡ khẩu pháo về địa điểm bímật để lắp ráp Chấp hành lệnh của Bộ Tổng chỉ huy, đúng 20 giờ ba mươiphút ngày 19 tháng 12 năm 1946, đèn toàn thành phố vụt tắt, pháo đài XuânCanh đã cùng pháo đài Láng, Đào Xuyên, Xuân Tảo hiệp đồng chiến đấuchặt chẽ với quân dân thủ đô yểm trợ có hiệu quả cho quân và dân Hà Nộiđứng lên kháng chiến Sau hơn 10 ngày chiến đấu anh dũng, hai chiến sĩ pháo
Trang 25bình Nguyễn Như Địch (Văn Tinh) và Nguyễn Văn Mão (Xuân Canh) đãdũng cảm hi sinh, là hai liệt sĩ đầu tiên của xã Xuân Canh trong kháng chiếnchống Pháp”(tr.86-87).
Qua đây có thể thấy, làng Văn Tinh có truyền thống yêu nước, mặc dùphải chịu nhiều gian khổ, áp bức nhưng vẫn khôn khéo, mềm dẻo dựa vàochính những tổ chức hành chính cơ sở mà giặc lập lên để bảo vệ Cách mạng,góp công đầu bảo vệ công cuộc kháng chiến của nhân dân cả nước Vì vậy màsau 1945, sống trong vùng địch mà làng không có ai đi lính hay làm tay saicho giặc Cả làng cùng đồng nhất thực hiện theo cơ cấu hành chính cấp cơ sở
mà nhà nước dân chủ non trẻ lập ra và về sau là bộ máy hành chính nhà nướchiện nay
1.4.Cơ cấu kinh tế
Nông nghiệp
Từ xa xưa, các cư dân làng Văn Tinh đã coi nông nghiệp trồng lúanước làm cơ sở kinh tế chính Tuy nhiên, do đặc thù địa hình của làng đất đấtđồng trũng nên việc canh tác cây lúa tại địa phương cũng tập chung chủ yếuvào vụ chiêm
Từ khu vực nửa trên bãi Dành (thuộc làng Lực Canh) trở xuống nămlàng: Văn Tinh, Xuân Canh, Xuân Trạch, Thượng Lão, Xuân Đình địa hìnhtrũng dần, là rốn nước mỗi khi vào mùa mưa nên nơi đây được xếp vào khuvực trũng nhất xã Mỗi khi vào mùa mưa, nước từ cả vùng rộng lớn các làngxung quanh xã và các xã lân cận như Cổ Loa, Đông Hội dồn về khu đồngtrũng của đất năm làng khiến khu vực này rơi vào tình trạng “chiêm khê mùathối”
Việc canh tác của người dân trên những cánh đồng chiêm trũng này rấtvất vả, khi cày bừa do đồng nhiều nước không nhìn rõ đường cày, người càyphải cắm vè (cắm cọc) để xác định đường cày hoặc đường bừa Khổ nhất là
Trang 26sang tháng chạp, trời mưa phùn giày hạt, thời tiết lạnh buốt, người dân phảidầm mình xuống ruộng sâu để cấy, khi cắm được cây mạ xuống ruộng thìmang tai cũng áp sát tận mặt nước, chân tay tê cứng vì ngâm trong làn nướclạnh Chăm cho cây lúa đến ngày thu hoạch cũng là cả vấn đề đối với ngườinông dân, vì đồng trũng nên lúa nhiều sâu bệnh, hay bị thối rễ do úng ngập.
Đi thuyền gặt lúa dưới trời nắng hầm hập của tháng tư cũng là một thử thách
về sự bền bỉ của người nông dân trong quá trình lao động Đã vậy, đồng trũngquanh năm lúc nào cũng có nước nên đỉa nhiều vô kể
Với những bất lợi của tự nhiên, nhân dân trong làng đã lựa chọn nhữnggiống lúa thích hợp với đồng ruộng như: hiên đỏ (hay lúa ngoi), hiên dong, dẻnam, lúa sọc có đặc điểm là thân lúa cao, có khả năng vươn theo mực nước,chịu được ngập nước lâu ngày Ngoài trồng lúa trên ruộng trũng, một số giađình ở xóm ngoài bãi còn trồng lúa lốc trên đất bãi, lúa lốc hạt to, gạo lốc màunâu, cho tinh bột dẻo, thích hợp để xay bột nước làm bánh đa, bánh đúc, nấucháo Họ còn dùng gậy có đầu nhọn trọc lỗ bỏ hạt thóc giống trên mặt đất phù
sa đã se khô của bãi non khi nước lũ rút, thường nước lũ sẽ rút vào khoảng
sau rằm tháng bảy Ngày nay, khu đất ven sông, người dân đã phát triển mô hình trồng những loài cây đại trà có giá trị cao như: ngô, chuối tiêu hồng, trồng tre lấy măng, trồng cây thanh hao (cây hương liệu cung cấp cho nhà máy ép tinh dầu)…vừa giữ đất hạn chế sạt lở, vừa cho nông sản giá trị.
Ngoài cây lúa, trên vùng đất trũng, người nông dân còn trồng thêm cácloại cây chịu được nước như: ra cần, rau muống vừa để ăn vừa bán và tạothêm nguồn thức ăn phục vụ chăn nuôi gia xúc, gia cầm Nhờ vậy, nghề chănnuôi tại làng trước cách mạng tháng Tám đã diễn ra trong hầu hết các hộ giađình và vẫn được duy trì cho đến ngày nay Vật nuôi chủ yếu là: lợn, trâu bò(để lấy sức kéo), gà, vịt để sử dụng cho các dịp lễ tiết, sinh hoạt gia đình vàtăng thu nhập
Trang 27Bù lại các bất lợi trong nông nghiệp trồng lúa nước, vị trí đồng trũng vàven sông đã đem lại cho làng nguồn tôm, cua, cá dồi dào cả ở trong đồng vàdưới sông Hồng Nhân dân đã tận dụng lợi thế này bằng các cách khai thácnguồn thủy sản tự nhiên như: úp nơm, kéo lưới, tát vét Từ những hoạt độngđánh bắt này, người dân đã dần dần hình thành những kinh nghiệm trong đánhbắt thủy sản tự nhiên, quan sát tập tính các loài và tích lũy kinh nghiệm nuôithả các loài thủy sản tại địa phương Những loài thủy sản mà dân làng VănTinh nuôi thả phổ biến là: cá chép, cá mè, cá trôi, cá trắm Cá giống đượcmua tại hai làng Thượng Lão và Lực Canh Liên minh năm làng đã phát huyđược sức mạnh khi cùng tương trợ nhau phát triển, nhất là trong sản xuấtnông nghiệp
Trong suốt quá trình phát triển của làng Văn Tinh, nông nghiệp làngành kinh tế có vai trò quan trọng nhất giúp nhân dân duy trì và phát triểncuộc sống bền vững cho đến tận ngày nay
Thủ công nghiệp kết hợp với thương nghiệp
Làng Văn Tinh xưa cũng được nhân dân trong vùng và các vùng lâncận biết đến vơi khá nhiều nghề thông qua nhiều sản phẩm đặc biệt như: nón
lá hồ tơ miến, nghề bốc thuốc và buôn thuốc nam, nghề làm hàng xay hàngxáo, nghề nấu rượu Trong đó, nghề nấu rượu là phát triển nhất, ngay cả nghềhàng xáo cũng nhờ nghề nấu rượu mà phát triển được Đặc biệt, người dântrong làng sau khi làm ra sản phẩm đều trực tiếp mang đi bán nên quá trìnhsản xuất và buôn bán gắn liền và chịu tác động sâu sắc đến nhau
Nghề làm nón lá hồ tơ miến tại làng Văn Tinh đã thất truyền từ rất lâunên trong làng không còn ai biết đến Theo PGS.TS Bùi Xuân Đính, nghề này
chỉ được ghi chép ngắn gọn trong sách Kinh Bắc phong thổ ký diễn quốc sự:
“Nón Xuân Canh lá hồ tơ miến, làng Trùng Minh hương quyện mùi chi” (tr41,42,58, Phong thổ Hà Bắc thời Lê).
Trang 28Nghề nấu rượu: các làng trong xã Xuân Canh đều có nghề nấu rượu
nhưng nghề phát triển mạnh mẽ nhất là khu liên minh năm làng thuộc xãXuân Canh cũ, trong đó Xuân Trạch và Văn Tinh là hai làng có nghề nấurượu phát triển nhất Rượu Văn Tinh không chỉ ngon mà còn phong phú vềsản phẩm Cũng bởi vậy mà dân gian trong vùng đã đúc kết câu ca sau:
“ Ngất ngưởng Văn Tinh rượu, Vùng vẫy Xuân Đình cá,
Lướt thướt Thượng Lão rau, Canh nông vi bản Vân Hoạch thôn”
Đặc điểm nổi bật của rượu gạo Văn Tinh là có nồng độ cao (trên 40o)nhưng khi uống không bị gắt, người uống không có cảm giác rát cháy cổ,không gây “sốc” mà ngược lại thấy rượu êm, thơm mùi men gạo và vị ngọtdịu, càng uống càng ngấm và muốn uống tiếp Tùy theo sở thích và đơn đặthàng của khách mà rượu được nấu thành các loại: rượu thường, rượu tăm và
rượu bọt Rượu thường là loại rượu được lấy từ lần trưng cất thứ hai trở đi,
khi uống cảm thấy nồng độ rươu loãng,vị men gạo nhạt và cay gắt, không có
vị hương vị ngọt thơm đậm đặc như rượu trưng cất lần đầu; thường thì loạirượu này sẽ được pha chế theo tỉ lệ thích hợp mà chỉ có người nấu mới nắm
rõ Rượu tăm là rượu cất nước thứ nhất, loại rượu này rất đậm đặc (nếu cất 10lít rượu thường chỉ được gần 1 lít rượu tăm), mùi rượu đậm đặc là sự hòaquyện của hương men thơm và hương thơm của loại gạo dùng để nấu rượu,khi uống thấy có vị ngọt đậm và êm tê tê ở đầu lưỡi chứ không cay gắt, cảmthấy độ rượu cao nhưng toàn miệng toát lên hương vị ấm nồng kích thíchngười uống muốn uống thêm Bởi thế mà dân gian trong làng và các vùng lâncận thường hay lưu truyền câu ca nói về rượu tăm như sau:
“Đố ai đánh võng không đưa,
Ru em không hát anh chừa rượu tăm…”
Trang 29Câu ca trên thể hiện nghĩa là không bao giờ chàng trai từ bỏ hoặc thôikhông uống rượu tăm nữa Rượu làm ra tại làng Văn Tinh thường được ngườidân vận chuyển sang nội thành bằng ba con đường: đi đò từ bến đò XuânCanh sang bến Cô Trôi (gần phố Cầu Đất) ; đi đò từ bến đò Xuân Trạch sangbến Bắc Cầu hoặc gánh rượu đi bộ bán rong theo đường ven sông Hồng, bắtđầu bán từ khu vực Gia Cát sang đến tận Long Biên
Thời kì trước Cách mạng tháng Tám 1945, làng Văn Tinh còn có tục
vật rượu vào dịp hội làng mùng 7 tháng ba Theo các cụ cao niên trong làng,
tục này xuất phát từ thời Triệu Đà chọn vị trí của làng là căn cứ đóng quân,huấn luyện binh sĩ để tấn công An Dương Vương Tương truyền Triệu Đà tuy
là tướng nhưng sống rất hòa nhã với quân sĩ, thường tổ chức thi đấu vật và võnghệ để khuyến khích quân sĩ rèn luyện sức khỏe, tăng sức chiến đấu Trongnhững cuộc thi đó ai, người chiến thắng sẽ được ban rượu thưởng là loại rượuhoàng được làm từ gạo nếp cái hoa vàng (do người dân tại địa phương nấu),một món đồ uống ưa thích của Triệu Đà Loại rượu này luôn phải có để dânglên Triệu Đà vào những ngày lễ trọng liên quan đến người như: ngày sinh,ngày mừng thọ của Triệu Đà
Để tưởng nhớ đến vị thành hoàng làng, vào dịp hội làng hàng năm dânlàng Văn Tinh lại tổ chức hội thi vật rượu Địa điểm tổ chức hội vui này chính
là khoảng sân đình ngay trước gian chính diện Luật chơi của hội vật rượunhư sau: tám đô vật là thanh niên trai tráng khỏe mạnh nhất, có phẩm chất đạođức tốt, có học vấn (biết đọc, biết viết ở mức cơ bản) , họ là những người đãđược tuyển chọn và rèn luyện trước trong kì thi tại bốn giáp, sau lại được các
cụ hướng trong giáp dẫn luyện tập cả tháng mới yên tâm tin tưởng để “chọnmặt gửi vàng” thi đấu trong ngày hội làng Hội đấu vật làng Văn Tinh thểhiện rõ tinh thần thượng võ, biểu dương sức mạnh toàn dân và củng cố tinhthần đoàn kết cộng đồng, là điểm nhấn đặc sắc trong thuần phong mỹ tục của
Trang 30làng Từ khi thực dân Pháp đô hộ đất nước ta, hội vật rượu đã không còn nữa.
Để bảo tồn nghề truyền thống và có thêm ngồn thu nhập, dân làng đã lợi dụngđịa hình um tùm và xã cách với làng của xóm ven sông để bí mật nấu rượu vàchia nhỏ số lượng, dấu rượu dưới các gánh rau, gánh hoa quả qua đò mangrượu sang nội thành để bán
Tuy trong làng hiện nay chỉ còn chưa đến chục hộ làm nghề nấu rượunhưng cứ bắt đầu từ sau hội làng (mồng 7 tháng ba), các nhà trong làng đều
làm rượu nếp Nghề hàng xáo nổi tiếng một thời của nhân dân làng Văn Tinh
bắt nguồn từ vấn đề làng có diện tích ruộng hạn chế, lại đặc thù là ruộng trũngnăng xuất bấp bênh không đủ đáp ứng nhu cầu lương thực cho người dân sinhhoạt, chăn nuôi và sản xuất thủ công Vì vậy, những gia đình làm nông trồnglúa là chính đã nghĩ thêm kế buôn bán hàng xáo để phục vụ nhu cầu gia đình
và phát triển kinh tế Trước Cách mạng tháng Tám 1945, một bộ phận lớn phụ
nữ trong thôn làm hàng xay hàng xáo Theo các cụ kể lại, nghề làm hàng xáocực lắm, phải là người có sức khỏe và khôn khéo, có duyên bán hàng mớitheo được
Mua thóc về rồi phải sang làng Lực Canh mua những thùng gỗ thật to.Đây là loại thùng được làm từ những tấm vá gỗ được bào nhẵn để các cạnhghép khít vào nhau, được cố định 2 đầu ván vào các cọc gỗ ở bốn góc tạothành hình khối chữ nhật có thể đựng được từ 5 tạ đến 1 tấn thóc, mặt trêncùng là nóc thùng được thiết kế cơ động có chốt để có thể đóng mở, mặt đáythùng cách nền nhà khoảng 50cm nhờ bốn chân trụ dài có tác dụng chốngẩmđể đựng thóc rất tốn kém (phải bảo quản cẩn thận để tránh bị mốc, sinhmối mọt và chuột bọ phá hoại) Phải mua gỗ nhãn hoặc tảng đá xanh đượcmài nhẵn (làm thớt), tre, đất sét về rồi lên làng Văn Thượng thuê thợ đến tậnnhà đóng cối, lắp chày
Trang 31Công đoạn thứ nhất, thóc sau khi được cân đến trọng lượng đủ làm thì
được đổ ra nhiều thúng Khi người nâng thúng từ từ trút thóc xuống tấm cótrộng bằng chừng cái chiếu thì người cầm quạt đứng đối diện tiến hành quạt,điều chỉnh sao cho hướng gió thổi thẳng vào dòng thóc đang chảy xuống cót.Những hạt thóc lép (không có lõi gạo bên trong) và bụi bẩn sẽ bay ra, thóc
nặng hơn ở lại Công đoạn này được gọi là “gie thóc” (hay gie lúa) Thóc sạch sau đó được sảy lại bằng nia để loại bỏ tối đa bụi bẩn rồi được đổ vào cối xay
Công đoạn thứ hai, để xay thóc, người dân tra cái giàn xay vào tay
quay và vận sức để quay cái thớt trên Khi mới khởi động thì phải tốn sứcnhiều, nhưng khi xay đã có đà thì có phần bớt nhọc nhằn hơn Để đở tốn sứcnâng giữ cái giàn xay, nhân dân sáng tạo cột một đầu của giàn xay lên cái đòntay của mái tranh Khi xay thóc, sự ma sát cũng tạo nên tiếng động nghe ù-ùnhư tiếng sấm ầm ì từ xa vang tới
Công đoạn thứ ba, thóc xay xong thì tiếp tục được đổ vào thúng để
quạt, động tác nâng thúng thóc vừa xay từ từ trút theo hường gió được gọi là
động tác “gie gạo” Động tác này giúp tách trấu ra khỏi gạo Đứng thẳng góc
vói hướng gió thổi, người ta nâng thúng gạo mới xay lên cao và từ từ trútxuống Vỏ trấu nhẹ hơn sẽ được gió thổi ra xa, còn gạo và thóc nặng hơn sẽ tách
ra rơi xuống cót Thóc được xay khoảng ba lần thì được đổ vào cái nia để sẩy
gạo nhằm tách gạo đang lẫn với vỏ trấu Sảy hay sẩy là động tác hất nhẹ cái nia
cho phần gạo mới xay đựng trong nia tung lên rồi hứng lại Trong khi rơixuống, thành phần gạo và lúa vì nặng hơn nên rơi trước và rơi gần, được hứnglại trên nia (phần phía bụng người đứng sảy), còn vỏ trấu thuộc thành phần nhẹhơn, bay xa hơn nên ở bên ngoài và phần lớn bị hất cho rơi xuống đất
Công đoạn thứ tư, Sau khi đã loại được trấu ra khỏi gạo, lại còn phảiloại lúa còn sót (khá nhiều) trong gạo Đến giai đoạn này người làm hàng xáocần đến cái sàng Sàng là đồ dùng đan bằng tre, có mặt phẳng, đường kính
Trang 32chừng 5 tấc (1 mét), với vành tre nhỏ cạp chung quanh Sàng có lổ thưa để lọthột gạo nhưng không cho lúa lọt xuống Nếu sảy là một động tác tung hứngthì sàng là động tác xoay tròn cái sàng theo chiều kim đồng hồ để cho lúa dầndần nổi lên trên, nhóm vào giữa, còn gạo thì lọt xuống nia Một cái sàng đankhéo, ngoài đặc điểm bền chắc , còn phải canh sao cho các lổ sàng để lọt hộtgạo mà không cho thóc đi qua Có cái sàng tốt nhưng gặp người không biếtsàng thì việc làm gạo cũng mất năng suất Nhìn một người thiện nghệ sànggạo cũng như thưởng thức một vũ điệu đẹp chốn thôn dã: người phụ nữ nhẹnhàng đưa cái sàng chuyển động theo vòng tròn, nhịp nhàng , uyển chuyển;trên mặt sàng thì gạo chuyển động như hình một cơn bão mà tâm bão là nơilúa nổi lên và nhóm lại, còn dưới sàng thì gạo rơi xuống rào rào như mưa Người không biết sàng không làm được điều đó, nghĩa là gạo có rơi xuốngnhưng lúa không nổi lên và không nhóm lại Khi sàng, người ta không nhữngchỉ có sàng, mà còn sảy và lắc nữa, nghĩa làm đủ mọi động tác để cho gạo rơihết xuống nia, chỉ còn lại lúa trên sàng mà thôi Nhưng những hạt thóc lầnvẫn chưa bị loại bỏ hoàn toàn
Công đoạn thứ năm, sau khi sàng sảy thì coi như đã có gạo trong
tay, nhưng loại gạo này vẫn lẫn nhiều cám (ngày nay hay gọi là gạo lứt) Đốivới những nhà nấu rượu nếp thì gạo nếp chỉ cần làm đến công đoạn này là đã
có nguyên liệu để làm rượu Còn đối với gạo để nấu ăn hàng ngày thì phảilàm trắng hơn nữa Để làm trắng người ta tiếp tục đổ vào cối và chày để Người ta thường giã gạo bằng chày vồ hoặc chày đạp vì lối giã này có năngsuất cao, nghĩa là giã được nhiều (vì cối lớn) và nhanh vì có thể hai hoặcnhiều người cùng làm Cối không để nằm khơi khơi trên mặt đất mà lại chônxuống 2/3, chừa lại cái vành miệng , khi giã cũng phải lót đồ chung quanh đểhứng gạo đổ Chày là một cây gỗ dài chừng 3m-3,5m, có đường kính khoảng
2 tấc, cũng có thể là một cây gỗ vuông cùng cở, một đầu gắn cái chày lớn
Trang 33(đường kính 15 đến 20 centimét) dài chừng 5 hay 6 tấc (khoảng 1 mét đến 1.2mét), còn đàng kia thì được vạt cho lép bớt đi và khía lát chả, làm chỗ chongười giã đạp chân xuống Ở vị trí đuôi chày, người ta phải đào một cái hố, bềngang chừng 4 tấc và sâu khoảng 5 tấc để khi đạp chân thì đuôi chày mới cóchỗ hạ thấp xuống làm cho đầu chày ngóc cao lên cao rồi rơi xuống, tạo thànhđộng tác giã gạo Khi giã, thường phải hai người mới có đủ sức nặng mà đạp cái chày cho nó ngóc đầu lên Hạt gạo có một lớp vỏ lụa màu nâu bao bọcchung quanh Lớp vỏ này làm cho hạt gạo mất đẹp, nấu lâu chín, ăn cứngcơm và nhám miệng Khi giã ớp vỏ lụa tróc ra thành những mảnh nhỏ li ti, gọi
là cám Gạo đã giã xong, nghĩa là đã đạt độ trắng nhiều hay ít tùy ngườidùng, nhưng còn lẫn với cám và vỏ trấu cùng gạo vỡ (tấm, gạo tấm) nên cần
phải được làm sạch bằng cách giần và sảy
Giai đoạn cuối cùng của việc làm gạo, người ta phải giần gạo để tách gạo ra khởi tấm, cám và vỏ trấu vụn Giần là đồ dùng bằng tre, cách cấu tạo
và kích thuóc, hình dáng, y hệt cái sàng, chỉ trừ một điểm: lỗ giần nhỏ hơn lổsàn, chỉ cho tấm cám đi qua mà giữ lại gạo Động tác giần cũng y như độngtác sàng Trong khi xoay cái giần, tấm, cám và vỏ trấu vụn sẽ rơi xuống nia,những hột lúa còn sót lại sẽ dần dần nhóm trên mặt, và được nhặt đi Trongkhi giần, thỉnh thoảng người ta cũng sảy vài cái để giúp đẩy bớt vỏ trấu vụn
ra ngoài Chính vì cám thường có lẫn vỏ trấu vụn, ăn không được, nên cámchỉ dùng để nấu cám cho gia xúc, gia cầm Con heo mập không nhờ thân câychuối hay bèo băm vụn mà chính là nhờ cám, sản phẩm từ việc làm gạo
Hàng xáo là nghề thuộc loại “lấy công làm lời” Dân làng Văn Tinh đãrất tần tảo chịu khó tận dụng những đồ nghề có sẵn để làm gạo trong nhà, lạisẵn nhân lực, thế là họ mua thóc về, cả nhà xúm nhau lại xay, giã, giần, sàng,rồi gánh gạo đi bán rong Ngoài hai thúng gạo đầy ở hai đầu, một gánh gạorong còn có thêm hai cái mẹt để đậy gạo, hai cái mủng (nhỏ và nông bằngnửa thúng) dùng san sớt gạo khi bán , và một cặp ca, đấu, cân là dụng cụ
Trang 34đong lường Nồi và cân là đơn vị đo lường của gạo, thường một nồi bằng24kg gạo Nghề hàng xáo không chỉ đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt, sản xuấtrượu mà còn tạo nền tảng kinh tế cho nhân dân và phát triển chăn nuôi.
Nhìn chung, các nghề thủ công nghiệp và thương nghiệp đã đem lại đờisống khấm khá cho nhân dân Văn Tinh nhiều đời
1.5 Các di tích thờ cúng
Tuy là một làng nhỏ với dân số ít, kinh tế ở mức trung bình khá so vớicác làng trong xã nhưng dân làng Văn Tinh đã rất nỗ lực xây dựng nên hệthống các di tích thờ cúng mang đầy đủ những nét đặc trưng văn hóa tinh thần
của một ngôi làng giàu truyền thống vùng đồng bằng Bắc bộ, ngoài đình làng còn có chùa Kim Sơn, miếu làng.
Chùa Kim Sơn
Chùa làng Văn Tinh có tên Kim Sơn tự Trước đây, do dân làng sốngtập chung ở bãi bồi ven sông phía ngoài đê để tiện việc buôn bán và pháttriển nông nghiệp nên chùa cũng được xây tại khu đất bãi, chùa và đình VănTinh cũ được khá gần nhau, chỉ cách nhau khoảng 300 mét, đình ở gần bờsông, chùa lùi sâu vào bên trong gần làng hơn Ban đầu, chùa được xây chủ
yếu bằng gỗ, có kết cấu chữ đinh gồm nhà tiền tế năm gian và hai dĩ, giống
hình chuôi vồ Theo các cụ cao niên trong làng kể lại, chùa có lối kiến trúcchồng diềm khá cầu kì, khang trang, cao ráo, vì vậy tuy có kết cấu chữ đinhnhưng không gian bên trong khá thoáng mát Đặc biệt, do đặc điểm làm bênngoài đê nên nền chùa được đôn lên khá cao, lát gạch bát xanh để chịu ẩm,sân chùa cũng được lát gạch bát Bát Tràng Các pho tượng trong chùa đượctạo tác bằng hai chất liệu là đồng đen hoặc được đắp bằng hỗn hợp rơm trộnđất và mật mía (hầu hết các chùa thuộc xã Xuân Canh xưa như: chùa NgọcTrì thôn Văn Thượng, chùa Quan Âm làng Thượng Lão, chùa Vân Hoạchthôn Xuân Canh, chùa Linh Ứng thôn Xuân Trạch đều đúc tượng bằng đồngđen và đắp tượng bằng hỗn hợp, sau do tác động của thời gian và biến động
Trang 35xã hội nên đều bị hư hại, bí kíp pha chế hỗn hợp đất đắp tượng đã thất truyềnnên không thể trùng tu hoặc tái tạo lại) Điều này cho thấy bề dày văn hóa củalàng Văn Tinh nói riêng và các làng trong xã Xuân Canh nói chung đều gắnvới lịch sử vùng văn hóa Kinh Bắc, cái nôi đón nhận và phát triển Phật giáođầu tiên của cả nước.
Nền chùa cũ nằm trong khuôn viên của chùa vẫn được gìn giữ cho đếnđầu năm 2015, dân làng Văn Tinh cùng sư trụ trì đã quyết định xây lại chùaKim Sơn mới để đáp ứng nhu cầu đời sống tâm linh cho nhân dân trong làng.Kiến trúc của chùa mới mô phỏng lại chùa cũ nhưng diện tích cao rộng hơn
và khang trang hơn, có thêm vài gian nhà phụ làm nơi ở cho ni sư và là nơiđón tiếp nhân dân và du khách thập phương Dự kiến chùa sẽ được khánhthành vào lễ Phật Đản năm 2016
Miếu Văn Tinh
Làng Văn Tinh trước đây có miếu ở gò ngoài đê, thờ Triệu Đà và lụcchí thần sông Theo các cụ cao niên, miếu trước đây cũng được dựng dần đình
và chùa, tạo thành một quần thể phục vụ đời sống tâm linh của dân làng Miếulàng có diện tích nhỏ chỉ bằng một gian nhà nhưng có cửa gỗ bức bàn đượctrạm khắc rất đẹp, hai đầu hiên được đắp nổi hai ông hộ pháp được trang tríbằng sơn ta pha màu rất đẹp, có tường bao quanh Bên ngoài có đàn rùa mẹcon rất lớn (cỡ bằng đàn rùa mẹ con tại miếu Mị Châu của làng Văn Thượng,hiện nay miếu Mị Châu vẫn giữ được rùa mẹ), vân rùa mẹ và rùa con đượctrạm khắc cầu kì cõng bia ghi thần tích của miếu
Miếu được đặt ở vị trí song song với đình (theo chiều dọc bờ sông) Do
ở sát mép nước hơn nên vào những năm hai mươi của thế kỉ XX, do sôngHồng đổi dòng gây sạt lở, ảnh hưởng đến hàng loạt các di tích của làng, miếulàng đã bị mất, dân làng chỉ kịp chuyển bát hương của thần vào thờ tại chùalàng Tương truyền miếu rất thiêng, không chỉ vào những ngày mùng một vàngày rằm nhân dân sửa lễ ra miếu mà những người làm nghề buôn bán theo
Trang 36thuyền bè của làng, cứ trước chuyến đi lại ra miếu làm lễ cầu điều lành và xinthần ban lộc, chuyến đi nhờ đó thuận buồm xuôi gió hơn Khi về, họ lại sửa lễ
ra miếu tạ ơn thần miếu Dân làng rất tin vào sự linh thiêng của miếu, cũng vìthế mà có ý kiến cho rằng, miếu thiêng là nơi đón lộc cho làng, từ ngày miếumất đi, con đường kinh doanh buôn bán của làng không phát triển mạnh nữa
1.2.Làng Lực Canh
1.1.Điều kiện tự nhiên.
Làng Lực Canh xưa ở cánh đồng Dinh, phía tây bắc giáp Tầm Châu,phía đông bắc giáp làng Văn Thượng (tổng Cổ Loa), phía đông nam giáp làngTiên Hội (thuộc xã Tiên Hội, tổng Đông Ngàn), phía tây nam giáp làng VănTinh, phía nam giáp sông Hồng Hiện nay, dấu tích của cư dân Lực Canh định
cư ở bãi Dinh vẫn còn, chiếc giếng đất hình lòng chảo, rốn giếng ở giữa làmột vũng đất có đường kính khoảng 2 mét, sâu chừng nửa mét (nay thuộc bãiCầu Giếng làng Văn Thượng) So với các làng trong xã Xuân Canh, diện tíchcủa làng Văn Tinh thuộc loại nhỏ (diện tích xấp xỉ bằng một phần hai diệntích làng Lực Canh)
Do nằm ở vị trí trung tâm của xã nên hệ thống đường bộ và đường thủycủa Văn Tinh rất thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội
Về đường bộ, xã Xuân Canh nằm trên con đường thiên lý từ bờ Bắc
sông Hồng đối diện với kinh đô Thăng Long xưa đi các trấn Bồ Đề (từ Bồ Đềqua đất năm làng ở Xuân Canh đi lên Thái Nguyên, tức Quốc lộ 3 – TháiNguyên – Cao Bằng ngày nay) Đây là một trong bốn con đường thiên lý ở bờBắc sông Hồng đi các trấn phía Bắc và phía Đông thời phong kiến Đoạnđường qua xã dài 2.5km chia thành hai phần, phần phía Tây Nam là các làngLực Canh, Xuân Trạch và năm làng thuộc xã Xuân Canh cũ
Từ Lực Canh đi ngược lên theo Quốc lộ 3, ngược về phía Bắc khoảng60km là đến Thái Nguyên, xuôi về Nam 8km là đến quốc lộ 1 ở cầu Đuống,
Trang 37để từ đây sang Bắc Ninh đi Lạng Sơn Kể từ điểm sông cầu Đuống cũng cóthể xuôi về nội thành Hà Nội hoặc đi vào đường 5 để xuống Hải Dương hoặc
đi Hải Phòng Trên đoạn đường này có hai ngã rẽ quan trọng là ngã ba Dâu(lối rẽ vào làng Dâu) và ngã tư đường từ làng Vạn Lộc sang Tàm Xá giao cắtvới quốc lộ 3
Hồ Gốc Gạo làng Lực Canh còn là điểm bắt đầu của đường đê sôngHồng và sông Đuống dài 3.5km đến cống Long Tửu Làng còn nằm giáp quốc
lộ 5 kéo dài đoạn từ gò Trung Thôn đến Ngã ba Đê (xã Tàm Xá) Ngoài racòn có tuyến đường liên làng từ ngã tư Dâu Canh lên Cầu Oản
Về đường thủy, Lực Canh nằm ở phía bờ Bắc, phần tả ngạn của sông
Hồng và sông Đuống, là cửa ngõ vào nội thành từ phía Bắc, là đầu mối thôngthương giữa vùng trung du, miền núi và đồng bằng, ven biển
Sông Hồng chảy qua địa phận làng Lực Canh và Văn Tinh đến ngã batiếp giáp với sông Đuống và làng Vân Hoạch, dài khoảng hơn 2km Theosách Đại Nam thực lục, đoạn sông này tiếp nối với đoạn phía trên (từ làng HảiBối xuống), trước đây nước chảy quanh co, dòng nước xiết
Sông Hồng và sông Đuống đã đem lại nhiều nguồn lợi cho nhân dântrong thôn và trong xã, mùa mưa lũ sông cung cấp nguồn thủy sản dồi dào vànguyên liệu chất đốt từ thượng nguồn trôi về Sông Hồng cũng gây cho nhândân không ít những khó khăn, nước sông Hồng chảy xiết, thường xuyên đổidòng lúc lở lúc bổi đã tạo ra những dòng ngầm xoáy phía dưới khiến đất lởxuống sông Bãi Dâu rộng lớn xưa kia chịu cảnh sói lở nên chỉ còn diện tíchhạn chế như ngày nay Phần bãi giữ sông của làng Tầm Châu lại được bồi tụngày càng lớn Nghề trồng dâu nuôi tằm của làng thất truyền cũng một phần
do diện tích trồng dâu trên đất bãi bị giảm sút
1.2.Lịch sử hình thành
Trang 38Làng Lực Canh xưa ở cánh đồng Dinh, phía bắc giáp Tầm Châu, phíađông bắc giáp làng Văn Thượng (tổng Cổ Loa), phía đông nam giáp làng TiênHội (thuộc xã Tiên Hội, tổng Đông Ngàn), phía tây nam giáp làng Văn Tinh,phía tây giáp sông Hồng Hiện nay, dấu tích của cư dân Lực Canh định cư ởbãi Dinh vẫn còn, chiếc giếng đất hình lòng chảo, rốn giếng ở giữa là mộtvũng đất có đường kính khoảng 2 mét, sâu chừng nửa mét (nay thuộc bãi CầuGiếng làng Văn Thượng)
Đến thời vua Quang Toản, niên hiệu Bảo Hưng (1801 – 1802) thuộctriều Tây Sơn, do địa thế cánh đồng Dinh cao nên nguồn nước sản xuất khanhiếm, dân làng đã quyết định chuyển về vị trí gần đền và đình để dựng làngnhư hiện nay Xóm chuyển ban đầu có tên là xóm Dinh, sau khi xây chùa làngtại phần đất của xóm thì xóm được đổi tên thành xóm Chùa, lấy đây là khuvực trung tâm làng Từ đó dân làng phát triển dần từ khu vực trung tâm ra haibên, làng chia thành ba mảng: Dâu trên (khu vực đầu làng giáp quốc lộ 3 vàTầm Châu, từ miếu đến phố Sũ, chợ Dâu và qua đê sang bến Dâu, bến VạnNứa), Dâu giữa (khu vực giữa làng từ cuối địa phận phố Sũ đến ngõ Chùa,dốc Mít, ngõ Ngang giáp chân đê, bên trong đê) và Dâu dưới (bên ngoài đê
từ phía dưới bến Vạn Nứa đến hết bãi Nhãn)
Vào cuối thời Lê, đầu thời Nguyễn (khoảng đầu thế kỷ XIX), nhànước tiến hành chia nhỏ các đơn vị hành chính cơ sở, làng Lực Canh đượctách khỏi xã Xuân Canh, trực thuộc xã Lực Canh, tổng Đông Ngàn, phủ TừSơn, trấn Kinh Bắc Xã gồm hai làng: Quán (làng Dâu) và Văn Thượng.Theo nghiên cứu của PGS.TS Bùi Xuân Đính về nguồn gốc làng Lực Canh
thì: “trên các bản sắc phong được sao lại trong bản khai thần tích thần sắc của làng năm 1938, hiện còn lưu tại Thư viện Thông tin KHXH, thôn Lực Canh được ghi là Quán thôn” (tr.21, Xuân Canh truyền thống lịch sử văn
Trang 39hóa và Cách mạng) Tuy nhiên, một số bậc cao niên hiện nay trong làng
cho rằng không có tên Quán thôn mà chỉ có tên Lực Canh
Việc chia xóm và đặt tên xóm của làng dựa vào các đặc điểm chính
của xóm Thời kì trước cách mạng tháng Tám 1945, làng gồm 8 xóm:Dưới, Hàng Gà, Ngõ Ngang, Chùa (xóm Dinh), Ao Đấu, Trại, Sũ (phố Sũ),xóm Chợ (chỉ có năm gia đình làm nhà ở kề mép sông, mở cổng nhìn rahướng chợ) Tên gọi của các xóm đều gắn với đặc điểm nổi trội của khuvực đó Xóm lâu đời nhất là xóm Chùa, theo nhân dân kể lại, khi quyếtđịnh chuyển từ bãi Dinh về vị trí như hiện nay, họ xem đất đặt đền và chùatrước rồi từng nhà trông theo hướng chùa mà tự cắm đất dựng nhà ở gần
đó Từ đó dân làng gọi khu vực trên là xóm Chùa hoặc xóm Dinh, tên gọigắn với mốc lịch sử quan trọng của làng để phân biệt với các xóm kháctrong làng Xóm Dưới nằm ở vị trí phía cuối làng, phía giáp với làng VănTinh, lấy đê sông Hồng đoạn chạy qua làng làm chuẩn chia đôi làng, di từquốc lộ 3 đến Lực Canh ta phải đi qua xóm Sũ, xóm Chùa và băng qua đêmới đến xóm Dâu Dưới Xóm Ao Đấu nằm tại vị trí bãi Sen của làng, cóđặc điểm là điểm trũng, có nhiều ao, hồ, thùng đấu (trước dân đào đất tôntạo đê và đóng gạch xây các công trình chung của làng)
Trong kháng chiến chống Pháp cho đến những năm đầu chồng Mỹ,tên gọi và số lượng của các xóm trong làng vẫn được giữ nguyên Từ tháng
4 năm 1946 đến tháng 11 năm 1949, thôn Lực Canh thuộc xã Đạt Tam,huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên Từ cuối năm 1949 đến nửa đầu năm
1956, sau nhiều lần tách chuyển và hợp nhất các cơ sở hành chính, thônthuộc xã Độc Lập, huyện Đông Anh, tỉnh Vĩnh Phúc Từ nửa sau năm 1956đến năm 1961, Lực Canh thuộc xã Vạn Thắng, huyện Đông Anh, tỉnh VĩnhPhúc Từ tháng 5 năm 1961, huyện Đông Anh sáp nhập vào Hà Nội
Trang 40Từ tháng 5 năm 1965, xã Vạn Thắng đổi tên thành xã Xuân Canh.Cũng ngay sau đó, phần đất hiện nay xây khu nhà hành chính của UBND
xã (một phần của bãi Giành) được cắt chuyển từ làng Văn Tinh về làng LựcCanh nên làng có thêm xóm Xưởng Gỗ (do cạnh UBND xã có một xưởng
gỗ rất lớn từ xưa của tư nhân đấu thầu được) Từ đó đến nay, thôn LựcCanh thuộc xã Xuân Canh, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội Làng đượcchia làm 9 xóm dưới sự quản lý của trưởng thôn và chi bộ Đảng do nhândân trong thôn bầu ra
1.3.Dân cư và tổ chức hành chính
Làng Lực Canh từ xưa đã là làng lớn cả về diện tích và số lượng dân
cư, vì vậy mà làng được chia làm nhiều xóm, nhiều giáp Cơ cấu tổ chứccủa làng được sắp xếp thành một hệ thống các thiết chế: phe giáp, hội đồng
kỳ mục và chức dịch Mỗi thiết chế thực hiện một chức năng, nhiệm vụriêng của làng xã được thống nhất qua hương ước của làng
* Dân cư
Về yếu tố dân số
Thời trước, khi làng Lực Canh từ bãi Dinh, cả làng chưa đến trăm hộvới vài chục nóc nhà dựng sát nhau chỉ như một xóm nhỏ Từ khi chuyển về
vị trí mới rộng rãi, thuận lợi để phát triển kinh tế, số gia đình trong làng tăng
lên, làng trở lên đông đúc Trong cuốn Xuân Canh truyền thống lịch sử, văn hóa và Cách mạng đã cho biết thống kê của học giả Ngô Vi Liễn (trong cuốn Tên làng xã và địa dư các tỉnh Bắc Kỳ, xuất bản năm 1999 của nhà xuất bản Văn hóa thông tin), vào năm 1926, “xã Lực Canh có 1815 người” (tr.24, Xuân Canh truyền thống lịch sử, văn hóa và Cách mạng); nghĩa là vào thời
điểm năm năm 1926, tổng số dân của hai làng Văn Thượng và Lực Canh là
1815 người Theo các cụ cao niên của hai làng, từ xưa cho những năm đầu thế
XX, dân số làng Lực Canh luôn đông gấp đôi làng Văn Thượng nên trong