1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thơ triệu kim văn

175 180 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 175
Dung lượng 5,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể nói, cách mạng tháng Tám năm 1945thành công là một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc, khai sinh ranước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đồng thời khai sinh ra một nền văn hóamới,

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG

THƠ TRIỆU KIM VĂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Thái Nguyên – 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG

THƠ TRIỆU KIM VĂN

CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM

MÃ SỐ: 60220121

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Đức Hạnh

Thái Nguyên – 2014

Trang 3

.

g 4 năm 2014.

Trang 4

.

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Trang bìa phụ i

Lời cảm ơn ii

Lời cam đoan iii

Mục lục iv

PHẦN MỞ ĐẦU 1

PHẦN NỘI DUNG 9

Chương 1: TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 9

9

im Văn 9

1.1.2 Quan điểm sáng tác 10

1.2 Quá trình sáng tác và các giải thưởng

11 1.3 hiện đại

12 1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến thơ Triệu Kim Văn

16 1.4.1 Bản sắc văn hóa dân tộc Dao 16

1.4.2 Truyền thống văn hóa - văn học quê hương Bắc Kạn 17

1.4.3 19

Chương 2: HỆ THỐNG BIỂU TƯỢNG TRONG THƠ TRIỆU KIM VĂN 21

2.1 Khái quát về biểu tượng và biểu tượng trong thơ

21 2.1.1 Khái quát về biểu tượng 21

Trang 6

2.2 Hệ thống biểu tượng trong thơ Triệu Kim Văn 27

27 37 45

Trang 7

Chương 3: GIỌNG ĐIỆU VÀ NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG

THƠ TRIỆU KIM VĂN 54

3.1 Giọng điệu nghệ thuật trong thơ Triệu Kim Văn 54

3.1.1 Khái quát về giọng điệu nghệ thuật 54

3.1.2 Đặc điểm giọng điệu nghệ thuật trong thơ Triệu Kim Văn 58

3.2 Ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ Triệu Kim Văn 71

3.2.1 Khái quát về ngôn ngữ nghệ thuật 71

3.1.2 Đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ Triệu Kim Văn 74

PHẦN KẾT LUẬN 85 TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Tạo nên diện mạo văn học Việt Nam hiện đại có sự đóng góp không

nhỏ của văn học dân tộc thiểu số Việt Nam nói riêng, thơ ca dân tộc thiểu sốViệt Nam nói chung Nếu ví nền thơ ca Việt Nam hiện đại như một vườn hoatrăm hồng ngàn tía thì thơ ca dân tộc thiểu số là những bông hoa rừngvới những hương sắc riêng Có thể nói, cách mạng tháng Tám năm 1945thành công là một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc, khai sinh ranước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đồng thời khai sinh ra một nền văn hóamới, trong đó đã làm phục sinh vốn văn hóa truyền thống của các dân tộcthiểu số, thúc đẩy và làm nảy nở nhiều tài năng văn học dân tộc thiểu số Tuyxuất hiện muộn và phát triển chậm hơn so với bước tiến của văn học hiệnđại Việt Nam, nhưng văn học các dân tộc thiểu số thời kì hiện đại, trong đó cóthơ ca, đã có những vận động và phát triển nhanh chóng Bên cạnh sự pháttriển của thơ ca dân tộc Tày, Thái, Mông .thơ ca dân tộc Dao tuy chưa có

một đội ngũ các nhà thơ đông đảo nhưng đã có “ một vị trí nhất định trong

đời sống thơ ca các dân tộc thiểu số Việt Nam”[45.353] Nghiên cứu thơ ca

dân tộc Dao là một việc làm cần thiết để góp phần vào việc hoàn chỉnh bứctranh thơ ca dân tộc thiểu số Việt Nam

1.2 Đóng góp và ghi dấu vào sự phát triển của thơ ca hiện đại dân tộc

Dao, bên cạnh nhà thơ Bàn Tài Đoàn là tên tuổi của nhà thơ Triệu Kim Văn

-người kế tục xứng đáng “Bó đuốc sống” [45.354] của dân tộc này Tuy vị trí

của thơ ca Triệu Kim Văn là quan trọng trong thơ ca dân tộc Dao, nhưng chođến nay, việc nghiên cứu thành tựu sáng tác của Triệu Kim Văn chưa được tiếnhành một cách thỏa đáng Đây vẫn còn là một khoảng trống, một mảng

Trang 9

thiếu hụt cần được bù đắp Nó là một việc làm cần thiết để có cái nhìn toàncảnh về diện mạo thơ ca dân tộc Dao.

Trang 10

1.3 Văn học các dân tộc thiểu số đã góp phần tạo nên diện mạo của nền

văn học Việt Nam – một nền văn học phong phú và giàu bản sắc, nhưng trongnhiều năm qua văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam vẫn chưa thực sự thuhút sự quan tâm chú ý đúng mức của giới nghiên cứu, phê bình nói chung, củamột số cấp ngành nói riêng, trong đó có ngành GD&ĐT Vì thế, các công trìnhnghiên cứu, sưu tầm, phê bình văn học , các sách giáo khoa, giáo trình viết vềvăn học các dân tộc thiểu số nói chung vẫn trong tnh trạng thưa thớt Trong

đó, mảng văn học địa phương đưa vào giảng dạy trong nhà trường đến các cấphọc (Trung học phổ thông, trung học cơ sở), giáo trình cho văn học địa phươngcòn thiếu thốn Qua việc nghiên cứu đề tài “Thơ Triệu Kim Văn”, chúng tôi

hy vọng sẽ bổ sung được một tư liệu bổ ích cho công tác giảng dạy văn học địaphương Bắc Kạn nói riêng và văn học thiểu số Việt Nam nói chung

1.4 Trong khoảng hai mươi năm qua (Từ những năm 90 của thế kỷ trước

tới nay), văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam đã có được những thành tựuđáng ghi nhận, nhưng sự chững lại của thơ dân tộc thiểu số trong những nămgần đây đặt ra những vấn đề quan thiết: Mối quan hệ giữa truyền thống vàhiện đại trong thơ dân tộc thiểu số; Sự mai một của bản sắc dân tộc thiểu sốtrong cuộc sống hiện đại hôm nay; Vấn đề viết bằng tiếng mẹ đẻ và đối tượngđộc giả của nó; Viết bằng tiếng Việt và yêu cầu chuyển tải cách cảm, cách nghĩ,lối nói, lối diễn đạt của người miền núi Qua việc nghiên cứu đề tài “Thơ TriệuKim Văn”, chúng tôi mong muốn góp câu trả lời cho rất nhiều vấn đề đã –đang được đặt ra và còn để ngỏ trên đây

1.5 Các nhà nghiên cứu văn học ở Trường Đại học sư phạm - Đại học

Thái Nguyên đang tiến hành tổ chức biên soạn cuốn giáo trình văn học dân tộcthiểu số văn học Việt Nam hiện đại để phục vụ cho việc giảng dạy ở cấp Đại

Trang 11

học, sau ĐH đề tài “Thơ Triệu Kim Văn” nếu thực hiện thành công, chúng tôi

hy vọng sẽ có một tài liệu tham khảo bổ ích cho công tác dạy và học phần văn

Trang 12

học thiểu số nói riêng và trong chuyên ngành văn học nói chung ở các trườngđại học ngành Sư phạm.

2 Lịch sử vấn đề:

So với việc nghiên cứu văn học Việt Nam hiện đại nói chung thì nhữngnghiên cứu dành cho mảng văn học dân tộc thiểu số còn ở mức độ khiêm tốn.Trong bối cảnh đó, trong số các bài nghiên cứu, phê bình thơ ca dân tộcthiểu số Việt Nam hiện đại, việc nghiên cứu thơ của Triệu Kim Văn còn rất

ít ỏi, thưa thớt Một số bài viết và công trình đã có những tm hiểu, đánh giá

về một số phương diện trong thơ Triệu Kim Văn ở những mức độ khác nhau

Trong cuốn chuyên luận Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam thời kỳ hiện đại

- Một số đặc điểm (PGS TS Trần Thị Việt Trung - TS Cao Thị Hảo đồng chủ

biên), các tác giả đã có những nhận diện khái quát và chỉ ra một đặc điểm

quan trọng trong thơ Triệu Kim Văn: “Yếu tố tâm linh hòa quyện trong sự ước

muốn hồn nhiên, chất phác – phản ánh mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên thật gắn bó, hài hòa Đây cũng là nguồn sức mạnh để giúp con người miền núi gần gũi, chan hòa với thiên nhiên và sản xuất tích cực hơn” [45.210].

Trong cuốn sách Bản sắc dân tộc trong thơ các dân tộc thiểu số Việt Nam

hiện đại (PGS TS Trần Thị Việt Trung chủ biên), các tác giả đã có những nhận

định về đặc trưng phong cách mang tính đóng góp của thơ Triệu Kim Văn,vẫn mang những nét truyền thống của văn hóa Dao, nhưng đã có sự hiện

đại, đổi mới để tạo nên nét riêng: “Được thừa hưởng những giá trị văn hóa

đầy bản sắc của dân tộc Dao, Triệu Kim Văn đã cất lên một tếng thơ, một giọng Páo dung mới tươi rói, đầy sức trẻ và ngồn ngộn sức sống… Bằng sự thể hiện linh hoạt trong hình thức thể loại, sự mới mẻ và đầy sáng tạo trong cách cảm, cách nghĩ, cách diễn đạt, Triệu Kim Văn đã phần nào tếp cận và hòa nhịp

Trang 13

với đời sống thơ ca đương đại cũng như hòa mình với dòng hải lưu thơ ca các dân tộc thiểu số Việt Nam vốn đã rất phong phú và giàu bản sắc” [46.354].

Trang 14

Trong cuốn sách Hoa văn thổ cẩm, tác giả Lò Ngân Sủn đã chỉ ra chất

dân tộc hòa quyện hiện đại trong thơ Triệu Kim Văn Tác giả khi bình về một

số bài thơ của Triệu Kim Văn đã rất tinh tường và sâu sắc để đưa ra đánh giá:

“chất dân ca, dân dã của điệu Páo dung đã được hòa quyện vào trong hơi thở

hiện đại, cái dân tộc đã được hòa nhập vào nhân loại, với một giọng điệu khá hào hoa, phong nhã, với một lối kết cấu, bố cục tự do, tung tẩy, phóng thoáng” [33.55].

n, Nông Minh Châu, “

-[7.131]

… ông ”

Khóa luận tốt nghiệp Thơ dân tộc Dao từ Bàn Tài Đoàn đến Triệu Kim

Văn của tác giả Phùng Thị Thuận khảo sát khá công phu, từ đó có cái nhìn đối

sánh để chỉ ra sự vận động phát triển của thơ Dao, trong đó thơ Triệu Kim Vănđược đặt vào vị trí một chủ thể quan trọng của tiến trình vận động phát triển

ấy: “Nếu nhà thơ Bàn Tài Đoàn được ví là cây cao bóng cả của thơ Dao, thì

Triệu Kim Văn chính là người tếp tục vun trồng để cho bóng cây thơ ca dân tộc Dao mãi mãi xanh tươi” [38.25]; “Nhà thơ Bàn Tài Đoàn là người đã đặt nền móng cho thơ dân tộc Dao thời kì trước cách mạng tháng Tám Còn trong thời

kì hiện đại, nhà thơ Triệu Kim Văn là người kế thừa và phát triển thơ Dao Thơ của hai ông đã phản ánh rất chân thực và sinh động cuộc sống của dân tộc Dao, nó tồn tại như một món ăn tnh thần không thể thiếu đối với đồng bào Dao” [38.86].

Trang 15

Cùng với đó, một số bài viết cũng đã đóng góp những cách tiếp cận, nhậndiện thơ Triệu Kim Văn.

Bài bình tác phẩm Đá núi Đồng Văn của Vân Long chỉ ra cái thần, cái hồn

của một người con miền núi ngự trong sâu thẳm tâm thức rồi hiện lên trong

thơ Triệu Kim Văn Tác giả bài viết đánh giá: “tác giả đã tạo một thế liên lập

giữa con người (người Mông), thiên nhiên, (từ một hùng vĩ Đồng Văn đó mà có) văn hoá (văn Nguyễn Tuân, thơ Xuân Diệu) Ý tưởng không mới, nhưng cách nói hay” [24].

Bài viết Xuân của hương ngàn của Lâm Tiến trong cuốn sách Về một mảng

văn học dân tộc đã chỉ ra hồn thơ tươi tắn, giàu tin yêu và gắn bó tha thiết với

quê hương của Triệu Kim Văn: “Mùa xuân gắn với thiên nhiên, cuộc sống con

người miền núi Lời mùa xuân là lời của đất, của cây, của suối, của mây, gần gũi thân quen” [41.181].

Bài viết Người về theo lối cỏ của Tuệ Minh đã khẳng định một cách mạnh

mẽ, thuyết phục về tiếng nói dân tộc, giọng điệu dân tộc, tâm hồn dân tộc

trong thơ Triệu Kim Văn Tác giả viết: “với một nhà thơ - người viết ra những ý

tứ, nhịp điệu, rung động của tâm hồn mình thì văn hoá tộc người là một suối nguồn mát lành chở đầy phù sa bồi đắp nên những thức điệu tâm hồn Nhà thơ Triệu Kim Văn trên hành trình của mình đã đi, đã đến với dòng suối nguồn ấy,

đồng thời góp thêm một mạch nguồn khơi dậy những tnh tự dân tộc” [28].

Như vậy qua các công trình nghiên cứu, các bài viết chúng ta nhận thấycác tác giả đã có những đóng góp nhất định trong việc phát hiện ra một số đặcđiểm về nội dung, nghệ thuật nổi bật trong thơ Triệu Kim Văn Nhưng nhìnchung các bài viết này mới chỉ dừng lại nghiên cứu một khía cạnh, một mặt

Trang 16

sâu nghiên cứu, khảo sát toàn diện và có hệ thống về thơ ông, để từ đó rút ranhững đặc điểm khái quát về nội dung tư tưởng, nghệ thuật trong thơ TriệuKim Văn.

Trang 17

Tuy nhiên, đây là những nhận định hết sức đáng quý, gợi mở cho chúng tôi nhiều vấn đề tìm hiểu một cách hệ thống, toàn diện về thơ Triệu Kim Văn.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Tiến hành thực hiện luận văn, chúng tôi tập trung tm hiểu nét đặc sắc ởphương diện nội dung và hình thức nghệ thuật của thơ Triệu Kim Văn

Từ đó, luậnvăn chỉ ra thành công, hạn chế và đóng góp của thơ Triệu Kim Văn với thơ

ca các dân tộc thiểu số Việt Nam nói riêng, với thơ ca Việt Nam hiện đại nóichung

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Để thực hiện đề tài, chúng tôi nghiên cứu, khảo sát, phân tích, đánh giá 10

tập thơ của Triệu Kim Văn: Hoa núi (1989); Mùa sa nhân (1994); Lá tìm nhau (1999); Con của núi (Thơ song ngữ Dao- Việt- 2002); Lửa của mồ côi (2002); Lối

cỏ (2004); Suối nguồn du du (Thơ song ngữ Dao- Việt- 2010); Hoa nắng (2010); Trời về (2010); Sợi mưa hiền (2011).

- Các tác phẩm thơ của một số nhà thơ dân tộc khác nhằm so sánh, đốichiếu làm nổi bật những nét riêng trong thơ Triệu Kim Văn

4 Mục đích nghiên cứu:

Nghiên cứu đề tài “Thơ triệu Kim Văn”, luận văn nhằm chỉ rõ tínhtruyền thống trong thơ và sự kế thừa phát triển thơ Dao trong thời kỳ hiện đạicủa thơ Triệu Kim Văn Đồng thời, qua việc nghiên cứu đề tài, chúng tôi muốnkhẳng định những đóng góp của thơ Triệu Kim Văn đối với sự phát triển củathơ Dao nói riêng và thơ ca dân tộc chung

Trang 18

Luận văn tập trung nghiên cứu giá trị nội dung và nghệ thuật của thơTriệu Kim Văn, khẳng định tính truyền thống và tính hiện đại trong sáng táccủa nhà thơ này, từ đó chỉ ra những đóng góp, thành công và hạn chế, cũngnhư cá tính sáng tạo của thơ Triệu Kim Văn.

6 Phương pháp nghiên cứu:

Tiến hành luận văn, chúng tôi tích hợp đồng bộ một số

phương

pháp

sau:

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp đồng bộ phương pháp

nghiên cứu nghiên cứu lịch sử, nghiên cứu

- Phương pháp tếp cận văn hóa học: Văn hóa và văn học có những mối quan

hệ tương hỗ, biện chứng Muốn giải quyết vấn đề của luận văn, cần tiếp cận

từ giác độ văn hóa học Sử dụng phương pháp tiếp cận này, chúng tôi khaithác những vẻ đẹp và đặc trưng của văn hóa dân tộc thiểu số nói chung, vănhóa dân tộc Dao nói riêng thể hiện trong thơ Triệu Kim Văn

- Các thao tác nghiên cứu khác: Ngoài việc sử dụng thao tác phân tích tác

phẩm theo loại thể, chúng tôi kết hợp sử dụng một số thao tác như tổnghợp,

, so sánh nhằm khảo sát tác phẩm một cách chi tiết và hệ

Trang 19

Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên khảo sát, phân tích, đánh giá toàn

bộ sự nghiệp sáng tác thơ ca của nhà thơ Triệu Kim Văn Từ đó, khẳng địnhthành tựu, đóng góp cũng như hạn chế của thơ Triệu Kim Văn với nền văn học

Trang 20

thiểu số Việt Nam hiện đại nói riêng và nền thơ Việt Nam hiện đại nói chung.

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn có cấu trúc gồm 3 chương:

Chương 1: Thơ Triệu Kim Văn trong thơ dân tộc thiểu số Việt Nam hiện

đại.

Chương 2: Hệ thống biểu tượng trong thơ Triệu Kim Văn.

Chương 3: Ngôn ngữ và giọng điệu nghệ thuật trong thơ Triệu Kim Văn.

Trang 21

PHẦN NỘI DUNG Chương 1 THƠ TRIỆU KIM VĂN TRONG THƠ DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 1.1 Tiểu sử và quan điểm sáng tác

1.1.1 Tiểu sử

Tiểu sử đầy đủ và chân thật nhất của một nhà thơ nằm ngay trong chínhtác phẩm của nhà thơ đó Do vậy, những điều mà một nhà thơ tự viết về mìnhbao giờ cũng là một nguồn tư liệu quan trọng và đáng tin cậy để tm hiểu

tác giả ấy “Tôi tự hào là đứa con của đại ngàn, với những cánh rừng nguyên

sinh âm u, mây buông sương ủ, nơi núi đá tai mèo dựng đứng như bờm ngựa chiến Tôi sinh ra trên tay người mẹ nghèo hiền lành, buổi chập chững theo các anh chị lên nương ngơ ngác nghe kể đầy gùi cổ tích ” (Trích “Đối khúc đại ngàn”) Đó là những lời của nhà thơ dân tộc Dao đỏ Triệu Kim Văn -

nhà thơ người Dao đầu tiên của Bắc Kạn đang tự viết về mình Có thể nói, sauBàn Tài Đoàn, tên tuổi Triệu Kim Văn đã góp phần làm phong phú thêm chođời sống thơ ca dân tộc Dao nói riêng và thơ dân tộc thiểu số Việt Nam hiệnđại nói chung

Triệu Kim Văn (bút danh Hoa Sơn) sinh ngày 14.7.1945 ở vùng quê

Cao Sơn, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn Vùng đất ấy với “núi

cao sừng sững như đỡ lấy bầu trời, nơi bản làng ẩn trong mây núi bao phủ, nơi

có những bài láu ton (hát ru) độc đáo” [28] vừa là môi trường sống, vừa là

không gian văn hóa nuôi dưỡng tâm hồn con người, vừa là nguồn cảm hứngtrong các sáng tác của Triệu Kim Văn

Trang 22

Mười ba tuổi Triệu Kim Văn biết nói tiếng Kinh, lúc này ông đi học tạitrường thiếu nhi vùng cao Việt Bắc Ông tâm sự: Thuở ấy mọi người đặt choông biệt danh “con mọt sách” vì khi ông biết tiếng Kinh ông đã đọc rất nhiều,

Trang 23

cả kho sách văn học của thư viện nhà trường đều được ông đọc bằng hết Họchết lớp 7, ông tiếp tục sang trường Bổ túc Công - Nông học lớp 8, sau đó ônghọc sư phạm và giảng dạy tại trường trung cấp Công nghiệp nhẹ của Bộ côngnghiệp Năm 1973 ông thi vào đại học tổng hợp Hà Nội, ra trường ông về côngtác tại Ban dân tộc tỉnh ủy Bắc Thái, rồi công tác tại huyện ủy Bạch Thông.Đến năm 1997, ông được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam Từ đó, ông hoạtđộng chuyên bên văn học nghệ thuật và giữ chức chủ tịch hội Văn học nghệthuật tỉnh Bắc Kạn cho đến lúc nghỉ hưu.

Cuộc đời Triệu Kim Văn là một minh chứng sống động cho sự nỗ lực tựvượt lên chính mình, bằng nền tảng là cội nguồn cốt cách văn hóa của dân tộcDao để hòa mình vào dòng chảy chung của đời sống văn hóa – văn học ViệtNam Trong suốt cuộc đời sáng tạo nghệ thuật không ngừng nghỉ của mình, dù

ở đâu, dù lúc nào, dù làm gì, nhà thơ Triệu Kim Văn vẫn luôn như một conchim của núi rừng, uống nước khe ngậm lúa nương mà hót lên những bài

ca của quê hương xứ sở

1.1.2 Quan điểm sáng tác.

Dù đã đạt được những thành tựu đáng trân trọng và ghi nhận trongsáng tác thơ ca, nhưng khi được hỏi về quan điểm sáng tác thì nhà thơTriệu Kim Văn khiêm tốn: “Tôi chưa bao giờ nhận mình là nhà thơ” Suy nghĩ

về nghề văn, ông cho rằng: “Sáng tác là một phần của cuộc sống Và thơ là

tình yêu, là nhịp đập của trái tm”.[55.64] Đến với thơ, Triệu Kim Văn chỉ nghĩ

đơn giản và chân thành: Thơ là tiếng nói của tâm hồn, nghĩ sao thì nói vậy, chỉ

đơn giản thế thôi Là người “Con của núi”, ông nghĩ về sứ mạng cao cả của thơ

ca thật mộc mạc Suy nghĩ ấy được thể hiện khá rõ qua bài “Thơ củi” Trong bài, ông ví mình như cây củi và luận bàn về các thứ củi: Củi gộc, củi mòn, củi

Trang 24

cành và cả củi mục để rồi đi đến khẳng định về một thứ thơ gần gũi với

cuộc sống, phục vụ cuộc sống.:

Trang 25

“Củi tôi hái từ con tm/ Cánh rừng con tm rộng dài không đo được/ Lửa

cháy hết rồi tôi ngồi khóc/ Nhớ chàng mồ côi kiếm củi đổi hạt kê… /Câu thơ tôi cùng lầm lụi chốn quê”.

Thật đúng với lời nhận xét của Mai Liễu: “Triệu Kim Văn là thế, không

vồ vập, kiểu cách Cứ lặng lẽ trong đời mà lại làm được ít nhiều sự xáo trộn trong thơ.”[31.218] Những lời bộc bạch tâm tnh trong bài thơ trên là một âm

bản đáng tin cậy nhất để người đọc hiểu về quan niệm sáng tác của nhàthơ, một quan niệm giản dị, chân thành và sâu sắc Suy cho cùng, giản dịchính là tận cùng của mọi mĩ học Quan niệm thẩm mĩ ấy sẽ là ngọn đuốcbền bỉ trên con đường sáng tạo đầy chông gai thử thách nhưng cũng đầyhạnh phúc của nhà thơ Triệu Kim Văn

1.2 Quá trình sáng tác và các giải thưởng.

Tuy âm thầm lặng lẽ và giản dị trong lao động sáng tạo, nhưng TriệuKim Văn đã có cho mình một gia sản thơ ca rất đáng trân trọng Đây là kết quảcủa sự nỗ lực bền bỉ, của tài năng và tâm hồn một ý thức sáng tạo đầytâm huyết Chặng đường sáng tác văn học của Triệu Kim Văn bắt đầu từ khi

ông theo học “cái chữ” Là người yêu thích văn chương và ham mê sáng tác nên người con của núi này đã đến với thơ ca thật tự nhiên Những đứa con

tnh thần – sản phẩm đầu tay đã chào đời khi chàng trai người Dao này đang

ở độ hai mươi Năm năm sau, khi thấy những tác phẩm của mình đã đủ độ

chín nhà thơ mới ra mắt người đọc bài thơ đầu tiên: “Nhớ Bác ta trồng nhiều

cây” (Báo Việt Nam độc lập) Từ đó, ông viết nhiều, viết đều, viết khỏe,

nhưng chủ yếu là đăng trên báo và tạp chí Mãi đến năm 1989 ông mới ra mắt

tập thơ đầu tiên: “Hoa núi”.

Trang 26

Với lòng yêu văn chương và sự hăng say, miệt mài trong lao động nghệ

thuật, đến nay Triệu Kim Văn đã xuất bản 10 tập thơ: Hoa núi (1989) Mùa sa

nhân (1994) Lá tìm nhau (1999) Con của núi (Thơ song ngữ Dao- Việt 2002) Lửa

Trang 27

của mồ côi (2002) Lối cỏ (2004) Hoa nắng (Thơ thiếu nhi 2010) Suối nguồn du du

(Thơ song ngữ Dao- Việt 2010) Trời về (2010 ) Sợi mưa hiền (2011)

Quá trình phấn đấu không miệt mài của Triệu Kim Văn đã tạo nên nhữngtác phẩm mang đậm bản sắc dân tộc và phong cách sáng tác của riêng mình.Ông đã vinh dự nhận được nhiều giải thưởng như: Giải thưởng chính thức của

Ban văn học dân tộc Hội nhà văn Việt Nam cho tập thơ “Mùa sa nhân” (1997),

giải thưởng của Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam cho tập

thơ “Con của núi” (2002), giải thưởng của Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam cho tập thơ “Trời về” (2010) Huy chương vì sự nghiệp văn

học nghệ thuật Việt Nam, Huy chương vì sự nghiệp văn học nghệ thuật các dântộc thiểu số Việt Nam Đây là những ghi nhận xứng đáng cho một tài năng, mộthồn thơ đẫm cốt cách của dân tộc Dao

1.3 Thơ Triệu Kim Văn trong thơ dân tộc thiểu số văn học Việt Nam hiện đại

Với một đời sống văn hóa phong phú, sống động, đa sắc diện, Việt Nam

có một nền văn học đa dạng, nhiều dòng, nhiều mảng khối Bên cạnh sự hìnhthành và phát triển của thơ ca dân tộc Kinh (Việt) đạt đến đỉnh cao với nhiềutác giả, tác phẩm tiêu biểu thì còn tồn tại song hành một mảng thơ cakhông kém phần đặc sắc mà hiện nay đang thu hút được sự quan tâm tìm hiểucủa các nhà nghiên cứu, đó là mảng thơ ca của các dân tộc thiểu số Đây là mộtthế giới hấp dẫn, bí ẩn, giàu sức mời gọi, đang chờ đợi sự khám phá đầy hứahẹn

Một bộ phận khá nổi bật trong thơ ca dân tộc thiểu số Việt Nam là thơ

ca dân tộc Tày “Theo nhà thơ Hoàng Triều Ân thì từ thế kỷ thứ V, người Tày

Trang 28

đã có thơ viết bằng chữ Hán với tác phẩm “Cố hương từ” - Lê Thế Khanh (394-

460), người tổng Nhượng Bản, châu Thạch Lâm (nay là xã Bình Long, huyện Hòa An) tỉnh Cao Bằng” [45.57] Đến cuối thế kỷ XVI và đầu thế kỷ XVII có Bế

Văn Phụng (1567- 1637) và Nông Quỳnh Vân (1566- 1640) cũng là người

Trang 29

Tày ở Cao Bằng nổi tiếng là hay chữ và sáng tác thơ ca bằng chữ Nôm - Tày.Sau này đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX xuất hiện thêm các tác giả dân tộcTày sáng tác thơ bằng chữ Hán như: Hà Vũ Bằng, Bế Ích Bồng, Nông ĐìnhCấp, Lê Văn Dự Đặc biệt trong đó có Hoàng Đức Hậu (1890- 1945) sáng tác

cả ba thứ tiếng: Tày, Việt, Hán Điều đáng nói là những sáng tác của HoàngĐức Hậu không chỉ ảnh hưởng đến những người làm thơ cùng thời, mà nhữngnhà thơ sau này như Nông Quốc Chấn, Nông Viết Toại, Triều Ân, Y Phương,Dương Thuấn cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ Cũng vào khoảng cuối thế kỷXIX còn xuất hiện một số nhà thơ dân tộc Thái như: Ngầu Văn Hoan và LòVăn Thứ Đặc biệt là Ngầu Văn Hoan, với lời thơ gần gũi với lời ăn tiếng nóihàng ngày của dân tộc đã đưa văn học dân tộc Thái lên đỉnh cao mới, làm chothơ ca dân tộc Thái phong phú, trong sáng và giàu hình tượng hơn

Giai đoạn 1930- 1945, một mảng thơ cách mạng của các dân tộc thiểu

số ra đời cùng với thơ cách mạng của cả nước Các tác giả tiêu biểu như:Hoàng Văn Thụ, Lê Quảng Ba, Hoàng Đình Giang, Dương Công Hoạt Họ lànhững chiến sĩ người dân tộc thiểu số hoạt động cách mạng, vừa là người đemhiện thực cách mạng vào những trang thơ Cách mạng Tháng Tám thành công,cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thần thánh của dân tộc tinguồn cảm hứng cho thơ ca Việt Nam, trong đó có thơ ca các dân tộc thiểu

số Cùng với các nhà thơ đã xuất hiện từ trước năm 1945 đến nay là sự xuấthiện của các nhà thơ dân tộc thiểu số thời kì hiện đại, điều đó đã góp phần tạonên một đội ngũ sáng tác khá đông đảo cho thơ ca dân tộc thiểu số Việt Nam.Với tnh yêu quê hương đất nước, tnh yêu cuộc sống, tnh yêu đất và ngườimiền núi họ đã cất lên tiếng thơ chân chất, mộc mạc, hồn nhiên mà sôinổi, mà nồng nhiệt, phù hợp với cách cảm, cách nghĩ của đồng bào dân tộcthiểu số Các tác giả tiêu biểu giai đoạn này phải kể đến những tên tuổi như:

Trang 30

Quy Nhân (Thái), Bàn Tài Đoàn (Dao), Lò Ngân Sủn (Giáy), Pờ Sảo Mìn (PaDí).v.v

Trang 31

Cuộc trường chinh 9 năm chống thực dân Pháp kết thúc, miền Bắc bắttay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội và miền Nam vẫn tiếp tục cuộc đấu tranhchống đế quốc Mỹ xâm lược Giai đoạn này, hiện thực đời sống cũng khơinguồn cảm hứng sáng tác cho các nhà thơ dân tộc thiểu số để một loạt các tập

thơ của họ ra đời PGS TS Trần Thị Việt Trung đánh giá: “Đây là một thời kỳ

thăng hoa của thơ ca dân tộc thiểu số”.[45.107] Làm nên đời sống thơ ca dân

tộc thiểu số giai đoạn này vẫn là những gương mặt thơ quen thuộc như: NôngQuốc Chấn, Nông Viết Toại, Nông Minh Châu, Cầm Biêu, Lương Quy Nhân, BànTài Đoàn và được cộng hưởng bởi một lớp tác giả mới được đào tạodưới mái trường xã hội chủ nghĩa như: Mã Thế Vinh, Vương Anh, Mã A Lềnh,Triều Ân.v.v

Chiến tranh chống đế quốc Mĩ xâm lược thắng lợi, miền Nam đã hoàntoàn giải phóng, đất nước thống nhất và bước vào giai đoạn khôi phục, táithiết, xây dựng, phát triển Năm 1986 với công cuộc đổi mới toàn diện, sâu sắc,

trong đó có văn học nghệ thuật đã đưa đến một thời kì “trăm hoa đua nở” [45.107] của thơ ca các dân tộc thiểu số Việt Nam Nói “trăm hoa đua nở” là

bởi chưa bao giờ lại có một đội ngũ các nhà thơ dân tộc thiểu số lại đôngđảo và nhiều thế hệ đến thế Lớp sau nối tiếp lớp trước với sức sáng tạomạnh mẽ, sung sức đã cho ra đời hàng loạt những tác phẩm với nhiều giọngđiệu khác nhau, nhiều cách thể hiện khác nhau Ở giai đoạn văn học này, mộtđiều dễ nhận thấy là các nhà thơ dân tộc thiểu số trong quá trình sáng tác vẫnkhông ngừng tm tòi, sáng tạo về nội dung và nghệ thuật, nhưng đồng thờicũng vẫn đậm đà bản sắc dân tộc Cùng với các thế hệ nhà thơ lớp trước nhưNông Quốc Chấn, Nông Viết Toại, Triều Ân, Bàn Tài Đoàn , xuất hiện thêmmột đội ngũ tác giả như Y Phương, Lò Ngân Sủn, Nông Thị Ngọc Hòa, Lò CaoNhum, La Quán Miên, Inrasara.v.v

Trang 32

Có thể nói, mỗi một nhà thơ đã cất lên tiếng nói của tâm hồn dântộc mình, tạo nên một hương sắc riêng nhưng vẫn gắn bó và hòa chung vàodòng

Trang 33

sông thơ ca văn học Việt Nam hiện đại Tuy độ đậm, nhạt khác nhau nhưngsáng tác của các nhà thơ dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại là sự kết tinh củabản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc mình với bản sắc văn hóa Việt Nam.

Và như vậy cũng là sự gắn kết giữa tính truyền thống và hiện đại trong thơ củahọ

Thơ của các nhà thơ các dân tộc thiểu số có sự tương đồng cơ bản Nónằm ở sự mộc mạc, tinh tế và độc đáo; ở sự giao thoa giữa dân tộc mìnhvới văn hóa vùng miền một cách hài hòa nhuần nhuyễn Bên cạnh đó, thơ c

họ cũng vẫn thể hiện được sự khác biệt nhất định Sự khác biệt đó nằm ở bảnsắc văn hóa mang tính đặc trưng riêng của mỗi dân tộc; ở cá tính sáng tạo độcđáo riêng của mỗi tác giả Sự tương đồng và khác biệt đó tạo nên một nền thơcác dân tộc thiểu số vừa nhất quán lại vừa phong phú, đặc sắc

Hòa chung trong dòng mạch ấy là các nhà thơ dân tộc Dao Người concủa dân tộc Dao với sự kế tục xứng đáng thành tựu thơ ca của nhà thơ lớptrước Bàn Tài Đoàn là Triệu Kim Văn Với những sáng tác của mình, Triệu KimVăn cùng hòa vào nguồn mạch chung ấy mà không mất đi bản sắc riêng củamình Thơ ca Triệu Kim Văn có một vị trí riêng trong nền thơ ca dân tộc thiểu

số Việt Nam hiện đại Và nếu như không có thơ Triệu Kim Văn thì bức tranh thơchung ấy sẽ khuyết vắng đi một mảng quan trọng đậm sắc thái dân tộc Dao

Nếu như nói đến Bàn Tài Đoàn là nói đến hồn thơ đậm chất truyềnthống dân tộc Dao thì thơ Triệu Kim Văn là sự sáng tạo, đổi mới thơ Daotrong thời kỳ hiện đại Là người con của tỉnh Bắc Kạn, thơ Triệu Kim Văn dù vuihay buồn, dù viết về đề tài tự nhiên hay xã hội cũng là tiếng nói tâm hồncủa người Dao với những hình thức mới, dáng vẻ mới Vể bề ngoài, nhà thơTriệu Kim Văn là một người giản dị, kín đáo và ít nói, nhưng khi đọc những vần

Trang 34

yêu, là nhịp đập của trái tim” [55.64] cho nên dù nếu không có tác phẩm

“vượt đoạn trường” thì ông cũng vẫn vui vẻ:

Trang 35

“Dẫu ta rớt ở ngay đầu chặng

Cũng vui lòng bởi cuộc sống mến thương”

(Cuộc sống nhà văn)

Có thể thấy, thơ ca dân tộc Dao khá phong phú, với nhiều tên tuổi khácnữa còn cần phải kể đến như Đặng Phúc Lường, Bàn Thị Cúc, Phùng Trang

Hồng Nhưng tựu chung lại “Nói đến thơ ca dân tộc Dao thì có hai cái tên án

ngữ cả chặng đường 60 năm sau cách mạng tháng Tám Đó là Bàn Tài Đoàn và Triệu Kim Văn” [46.74] Nếu nhà thơ Bàn Tài Đoàn được ví là “cây cao bóng cả” của thơ Dao, thì Triệu Kim Văn chính là “người tếp tục vun trồng” [38.25]

để cho cây thơ ca dân tộc Dao mãi mãi xanh tươi Như vậy, đây là một sự kếthừa, tiếp nối và nâng cao phù hợp với quy luật phát triển tự nhiên tất yếu củamột nền thơ ca Nhìn nhận và đánh giá thỏa đáng vị trí của một tác giả cũng làviệc làm quan trọng, cần thiết để giữ gìn, trân trọng các giá trị của một nền thơ

1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến thơ Triệu Kim Văn

1.4.1 Bản sắc văn hóa dân tộc Dao

Đặt văn hóa dân tộc Dao trong văn hóa Việt Nam, có thể coi đó nhưmạch riêng giữa nguồn chung Dân tộc Dao là một trong 54 dân tộc anh em cómặt từ rất lâu đời ở Việt Nam Mặc dù sống phân tán và trải qua nhiều cuộcthiên di trong lịch sử nhưng người Dao vẫn duy trì được bản sắc dân tộc mình.Trong tiến trình lịch sử, dân tộc Dao chẳng những góp phần vào sự nghiệpdựng nước và giữ nước mà còn sớm hình thành một nền văn hóa đặc sắc, làmphong phú thêm nền văn hóa của dân tộc Việt Nam Cũng như các dân tộcthiểu số khác, người Dao có một kho tàng truyện cổ tích, truyện thơ tạo nêntruyền thống thơ ca khá phong phú và đặc sắc Kho tàng ấy chính là nơi cất giữ

Trang 36

nghĩa đó, có thể thấy bản sắc văn hóa dân tộc Dao là căn cốt, là điểm tựa,là

Trang 37

mạch nguồn để Triệu Kim Văn kế thừa, từ đó thăng hoa thành những giá trị riêng đặc sắc trong thơ ca của mình.

Trong thơ của Triệu Kim Văn, có thể thấy những dấu ấn rõ nét của bảnsắc văn hóa dân tộc Dao Phong tục tập quán, những ngày lễ tết, lễ hộicủa người Dao trở thành âm hưởng vang vọng và ẩn sâu trong tâm thứccủa nhà thơ Cùng với đó, nguồn cội văn học dân gian Dao như thành ngữ, tụcngữ, dân ca, truyện cổ đã trở thành một nguồn chất liệu vô giá để nhà thơ đúcrút và kết tinh nên những giá trị riêng đặc sắc Đồng thời, đời sống lao độngsản xuất gắn với các giá trị văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của người Dao

đã trở thành mạch nguồn cảm hứng sâu sắc và sống động để nhà thơ sáng tạo

1.4.2 Truyền thống văn hóa - văn học quê hương Bắc Kạn

là khu bảo tồn đất ngập nước có tầm quan trọng của thế giới và là 1 trong 20

hồ nước ngọt đẹp nhất thế giới Hội xuân Ba Bể được tổ chức vào tháng giêng

âm lịch hàng năm, tạo thành một nét đẹp truyền thống đặc trưng cho Bắc Kạn.Căn cứ địa cách mạng CATK hợ Đồn là một trong những khu căn cứ củachủ tịch Hồ C h í Minh và các cán bộ cấp cao của Đảng Cộng Sản Việt Namtrong kháng chiến chống t h ực d ân P há p Khu di tích lịch sử Nà Tu, xã Cẩm

Trang 38

4 câu thơ vào năm 1951 "Không có việc gì khó/ Chỉ sợ lòng không bền/ Đào núi và lấp biển/ Quyết chí ắt làm nên" Bắc K

Trang 39

ở đây chủ đạo là các hình thức m , p

như l , hát giao duyên… dân gian truyền thống có t

Tất cả những yếu tố đó góp thành mộtvùng quê Bác Kạn phong phú và độc đáo về các giá trị văn hóa Đây là mộtmạch nguồn quý giá để tâm hồn thơ Triệu Kim Văn kế thừa, kết tinh, sáng tạo

Trong ngôi nhà chung của nền văn học Việt Nam, mỗi địa phương vùngmiền lại có những đặc trưng riêng Văn học quê hương Bắc Kạn là nền văn họcđậm đà bản sắc văn hóa dân tộc và có nhiều thành tựu Đã có nhiều nhà văn làcon em các dân tộc Bắc Kạn thuộc thế hệ tiên phong đặt nền móng cho nềnvăn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại Nông Minh Châu có thể coi là nhà

văn mở đường cho văn xuôi thiểu số nơi Việt Nam Nông Viết Toại thành

công ở cả ba mảng: sáng tác, khảo cứu, phê bình, nghiên cứu văn học dângian Nông Quốc Chấn không chỉ nổi tiếng với văn học Bắc Kạn mà còn ghi dấuvới nền văn học dân tộc thiểu số Việt Nam Tiếp theo là Dương Thuấn - mộttrong ba nhà thơ dân tộc Tày xuất sắc nhất hiện nay: Y Phương, Mai Liễu,Dương Thuấn Sau khởi điểm đổi mới 1986, Văn học Bắc Kạn đang cùng vớivăn học cả nước tiếp tục phát triển Trong xu hướng đổi mới phát triển củathời kì mới, văn học Bắc Kạn xuất hiện thêm những cây bút trẻ hứa hẹn nhiềutriển vọng: Dương Khâu Luông, Hoàng Chiến Thắng Như vậy, văn học BắcKạn có bề dày nền tảng trong truyền thống, có sự kế thừa phát triển và tiếpnối trong hiện tại, có cơ sở để hi vọng những bước phát triển mới trong tương

Trang 40

lai Và chính từ cái nôi văn chương ấy, nhà thơ Triệu Kim Văn xuất hiện vàtrưởng thành, đóng góp thêm một giá trị quan trọng vào nền văn học tỉnh nhà.

Ngày đăng: 08/03/2019, 01:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Văn An. 2007. Nét đẹp văn hóa trong thơ văn và ngôn ngữ dân tộc, NXB Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nét đẹp văn hóa trong thơ văn và ngôn ngữ dân tộc
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
2. Lại Nguyên Ân (biên soạn).1999. 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia
3. Jean Bellemin – Noel. 2004. Phân tâm học và văn học, NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tâm học và văn học
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
4. Nguyễn Phan Cảnh. 1987. Ngôn ngữ thơ, NXB ĐH &THCN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Nhà XB: NXB ĐH &THCN
5. Nông Quốc Chấn. 1995. Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam, NXB Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
6. Jean Chevalier – Alain Gheerbrant. 2002. Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, NXB Đà Nẵng.7. . 09/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển biểu tượng văn hóa thếgiới
Nhà XB: NXB Đà Nẵng.7. . 09/2009
10.Nguyễn Đăng Điệp. 2005.Thơ chống Mỹ - thành tựu và những kinh nghiệm nghệ thuật, Báo Thơ, số 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ chống Mỹ - thành tựu và những kinh nghiệmnghệ thuật", Báo "Thơ
11. Nguyễn Đăng Điệp. Vọng từ con chữ, NXB Văn học, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vọng từ con chữ
Nhà XB: NXB Văn học
12. Hà Minh Đức. 1987. Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Nhà XB: NXB Giáo dục
13. Hà Minh Đức.2002. Những thành tựu của Văn học Việt Nam trong thời kì Đổi mới, Tạp chí Văn học, (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thành tựu của Văn học Việt Nam trong thời kìĐổi mới

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w