1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm tiểu thuyết ma trường nguyên

108 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 832,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với lòng yêu mến văn học dân tộc thiểu số, với mong muốn được giới thiệu, quảng bá về các tác phẩm văn học và các nhà văn dân tộc thiểu số mà Ma Trường Nguyên là một đại diện khá tiêu bi

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

VŨ NGỌC KIM

ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT MA TRƯỜNG NGUYÊN

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số : 60220121

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đào Thủy Nguyên

Thái Nguyên, năm 2013

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các nội dung nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2013

Vũ Ngọc Kim

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Bằng sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn

PGS.TS Đào Thủy Nguyên, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em

trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, khoa Sau đại học, cán bộ phòng quản lý khoa học trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại trường

Xin chân thành cảm ơn nhà văn Ma Trường Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn này

Xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu trường Trung học phổ thông Lộc Bình, đồng nghiệp, bạn bè, gia đình và những người thân

đã động viên, quan tâm, chia sẻ và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành tốt khoá học

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2013

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Vũ Ngọc Kim

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Phần mở đầu 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Bố cục của luận văn 7

Phần nội dung 8

Chương 1: Văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại và tiểu thuyết của Ma Trường Nguyên 8

1.1 Khái quát về văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại 8

1.1.1 Sự phát triển lực lượng sáng tác văn xuôi dân tộc thiểu số 8

1.1.2 Sự phát triển trên các phương diện đề tài, chủ đề của văn xuôi các dân tộc thiểu số 11

1.1.3 Đặc điểm cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ văn xuôi dân tộc thiểu số 15

1.1.3.1 Đặc điểm cốt truyện 15

1.1.3.2 Đặc điểm nhân vật 17

1.1.3.3 Đặc điểm ngôn ngữ 20

1.2 Nhà văn Ma Trường Nguyên - cuộc đời, con người và sự nghiệp sáng tác 22

1.2.1 Vài nét về cuộc đời và con người nhà văn Ma Trường Nguyên 22

1.2.2 Tiểu thuyết trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn Ma Trường Nguyên 23

Chương 2: Những cảm hứng chủ đạo trong tiểu thuyết của Ma Trường Nguyên 28

2.1 Một số khái niệm liên quan 28

2.1.1 Khái niệm tiểu thuyết 28

2.1.2 Khái niệm cảm hứng chủ đạo 29

Trang 5

2.2 Cảm hứng chủ đạo trong tiểu thuyết của Ma Trường Nguyên 30

2.2.1 Cảm hứng về hiện thực cuộc sống và văn hóa miền núi 30

2.2.1.1 Cuộc sống cũ nghèo khổ, nhiều đau thương 30

2.2.1.2 Cuộc đấu tranh xây dựng cuộc sống mới, xóa bỏ lối sống lạc hậu 32

2.2.1.3 Văn hóa miền núi với những phong tục, tập quán, lễ hội mang đậm bản sắc dân tộc 36

2.2.2 Cảm hứng nhân đạo hướng về con người miền núi 43

2.2.2.1 Cảm thương với những số phận bi kịch của con người miền núi 43

2.2.2.2 Ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của con người miền núi 48

2.2.2.3 Phê phán những cái xấu, cái ác trong đời sống 53

2.2.2.4 Trân trọng những khát vọng tự do trong tình yêu của con người miền núi 56

2.2.3 Cảm hứng trữ tình về thiên nhiên miền núi 59

Chương 3: Một số phương diện nghệ thuật trong tiểu thuyết của Ma Trường Nguyên 64

3.1 Cốt truyện và các yếu tố ngoài cốt truyện ……… 64

3.1.1 Cốt truyện 64

3.1.2 Yếu tố ngoài cốt truyện 70

3.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 74

3.2.1 Khái niệm nhân vật văn học 74

3.2.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết của Ma Trường Nguyên 75

3.2.2.1 Khắc họa nhân vật qua ngoại hình 76

3.2.2.2 Khắc họa nhân vật qua đời sống nội tâm 79

3.2.2.3 Khắc họa nhân vật qua các tình huống thử thách 83

3.3 Nghệ thuật ngôn từ 87

3.3.1 Sử dụng hệ thống từ ngữ gắn với cuộc sống của đồng bào dân tộc miền núi 88

3.3.2 Câu văn ngắn gọn, giản dị, thể hiện lối tư duy của người miền núi 91

3.3.3 Thủ pháp so sánh ví von giàu hình ảnh 93

Kết luận 98

Thƣ mục tài liệu tham khảo 101

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Văn học dân tộc thiểu số là một bộ phận quan trọng của nền văn học

Việt Nam Cùng với văn học dân tộc Kinh, “văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam

đã góp phần xứng đáng vào công cuộc cách mạng, cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ và xây dựng chủ nghĩa xã hội và trở thành một bộ phận không thể thiếu của nền văn học Việt Nam xã hội chủ nghĩa”[32] Trải qua hơn nửa thế kỉ hình

thành và phát triển, văn học dân tộc thiểu số Việt Nam đã thực sự trở thành một bộ phận khăng khít, độc đáo, đặc sắc và có đóng góp lớn, tạo nên diện mạo chung của nền văn học dân tộc Nhiều tác phẩm văn học dân tộc thiểu số đã giành được những giải thưởng cao, được dư luận xã hội quan tâm và đón nhận

1.2 Ma Trường Nguyên là một nhà văn người dân tộc thiểu số Miệt mài

“trên cánh đồng chữ nghĩa”, viết như “con tằm trả nghĩa dâu tươi” cho dân tộc, quê

hương đất nước, tính đến nay ông đã cho ra đời 20 đầu sách (8 tiểu thuyết, 6 tập thơ, 1 trường ca, 1 truyện thiếu nhi, 1 tự truyện, 1 tập ký, 2 tập tiểu luận và phê bình) Sáng tác của nhà văn dân tộc Tày Ma Trường Nguyên mang đậm hơi thở cuộc sống và con người miền núi với những yếu tố nghệ thuật mang đậm bản sắc dân tộc Có lẽ đó cũng chính là lý do khiến ông đã nhận được nhiều giải thưởng văn học

Trong lĩnh vực tiểu thuyết, Ma Trường Nguyên đã gặt hái khá nhiều thành công Ông được nhận giải thưởng của Ủy ban toàn quốc các Hội Văn học nghệ

thuật Việt Nam với tiểu thuyết Rễ người dài, giải B Giải thưởng Văn học nghệ thuật 5 năm (1992-1997) của tỉnh Thái Nguyên cho tiểu thuyết Mũi tên ám khói,

giải B Giải thưởng Văn học nghệ thuật 5 năm (1997-2002) của tỉnh Thái Nguyên

cho tiểu thuyết Mùa hoa hải đường Những thành tựu đó phần nào cho thấy chiều

sâu và bề dày sáng tạo của nhà văn ở lĩnh vực tiểu thuyết Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện về thể loại tiểu thuyết trong sự nghiệp sáng tác của Ma Trường Nguyên Vì thế nghiên cứu về đặc điểm tiểu thuyết Ma Trường Nguyên là một việc làm cần thiết

Trang 7

1.3 Thể hiện sự quan tâm đối với văn hóa, văn học dân tộc thiểu số, ngày 20/10/2011, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ra Chỉ thị số 194/CT-BVHTTDL

về việc tổ chức triển khai thực hiện đề án “ Bảo tồn và phát triển văn hóa các dân

tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020” Nội dung Chỉ thị nêu rõ một công việc cần

thực hiện trong giai đoạn 2016 - 2020 là: “Giới thiệu quảng bá các tác phẩm văn

học nghệ thuật và các di sản văn hóa tiêu biểu của các dân tộc thiểu số”

Với lòng yêu mến văn học dân tộc thiểu số, với mong muốn được giới thiệu, quảng bá về các tác phẩm văn học và các nhà văn dân tộc thiểu số mà Ma Trường

Nguyên là một đại diện khá tiêu biểu, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “Đặc điểm

tiểu thuyết Ma Trường Nguyên”

2 Lịch sử vấn đề

Văn học dân tộc thiểu số là một bộ phận không thể thiếu của nền văn học dân tộc, song cho đến nay các nhà nghiên cứu, phê bình vẫn chưa quan tâm đúng mức tới bộ phận văn học này Người ta dễ dàng nhận ra rằng mảng nghiên cứu văn học dân tộc thiểu số vẫn còn thiếu cả bề rộng và bề sâu, hiện còn nhiều khoảng trống Trong tình hình chung ấy, tiểu thuyết của nhà văn Ma Trường Nguyên chưa thực sự được nhiều người quan tâm cũng là điều dễ hiểu Đến nay vẫn chưa có nhiều tài liệu nghiên cứu về tiểu thuyết của ông Có thể kể đến một số bài viết, công trình nghiên cứu về tiểu thuyết của Ma Trường Nguyên được đăng trên sách báo, kỉ yếu hội thảo văn học, luận văn tốt nghiệp đại học, đề tài nghiên cứu khoa học của các tác giả Lâm Tiến, Trần Thị Nương, Bùi Như Lan, Trần Văn Tác, Vũ Đình Toàn, Trần Thị Hạnh, Nguyễn Thị Lan Trong các tài liệu nghiên cứu ấy, các tác giả đã có những nghiên cứu, đánh giá khái quát về tiểu thuyết Ma Trường Nguyên trên hai phương diện nội dung và nghệ thuật

Về phương diện nội dung:

Cảm hứng về con người, thiên nhiên, cuộc sống văn hóa miền núi và tình yêu lứa đôi trong nội dung tiểu thuyết của Ma Trường Nguyên đã được một số tác giả

đề cập đến Về vấn đề thân phận và phẩm chất của con người miền núi trong tiểu

thuyết của Ma Trường Nguyên, tác giả Trần Thị Nương viết: “Ta gặp trong các tác

Trang 8

phẩm của ông các thế hệ, những thân phận con người miền núi vừa chân thật, cần mẫn, vừa đằm thắm sâu nặng nghĩa tình” và “họ không bằng lòng với nghèo nàn, lạc hậu, ham học hỏi, quyết đoán vượt lên trên hoàn cảnh và số phận để gieo những hạt giống ước mơ về một cuộc sống tươi đẹp” [27] Tác giả Lâm Tiến đã nhận ra

trong sáng tác của nhà văn Ma Trường Nguyên có nguồn cảm hứng “về những cuộc

đời, những số phận con người với niềm khát khao mãnh liệt về tình yêu và hạnh phúc Trong đó nổi bật là tình yêu đôi lứa” [34, tr.3] Và, theo nhà nghiên cứu,

những con người trong tiểu thuyết Ma Trường Nguyên“không những đẹp trong tình

yêu mà ngay cả con người họ cũng rất đẹp, nhất là đối với nhân vật nữ, không những đẹp về mặt hình thức mà còn có sức sống mạnh mẽ về mặt nội tâm” [34, tr.4]

Thiên nhiên và cuộc sống văn hóa miền núi cũng được tác giả Lâm Tiến đề

cập đến trong bài tham luận Ma Trường Nguyên - nhà văn, nhà thơ tình xứ mây

Trong tiểu thuyết Ma Trường Nguyên, những bức tranh thiên nhiên miền núi “ hiện

ra đẹp đẽ, thấm đậm tình người” [34, tr.4] Và đặc biệt là “những buổi lễ hội, lễ cưới, lễ kết tồng, lễ hội nàng trăng, hội giã cốm, những buổi hát lượn, những ngày chợ phiên đều diễn ra rất đẹp, rất thơ mộng” [34, tr.4], “những phong tục, tập quán, những lễ hội, lễ cưới, những câu chuyện cổ tích, huyền thoại hòa quyện trong các trang viết làm tăng thêm sức sống, làm phong phú, sâu sắc thêm tâm hồn, tính cách con người miền núi” [34, tr.5] Theo tác giả Lâm Tiến, những trang văn về

con người, thiên nhiên, văn hóa miền núi trong tiểu thuyết của Ma Trường Nguyên

có khởi nguồn từ “một tình yêu sâu đậm với con người, cuộc sống, thiên nhiên miền

núi” [34, tr.3]

Tác giả Vũ Đình Toàn cũng khẳng định nội dung tiểu thuyết của Ma Trường

Nguyên “không ngoài hai cảm hứng chính: tình yêu lứa đôi và vẻ đẹp của văn hóa

các dân tộc miền núi - chủ yếu qua văn hóa Tày - dân tộc xuất thân của anh Hai nguồn cảm hứng này luôn có mặt, đan xen, hòa quyện nhau trong từng cuốn truyện, tựa vào nhau mà thăng hoa, phát sáng” [37, tr.37]

Cảm hứng nhân văn cũng là một khía cạnh trong nội dung tiểu thuyết Ma Trường Nguyên được các nhà nghiên cứu quan tâm Tác giả Trần Văn Tác khẳng

Trang 9

định: “Tiểu thuyết Gió hoang và Bến đời đã thành công trong việc khám phá thế

giới tâm hồn con người miền núi phong phú bằng niềm cảm thông sâu sắc Nhà văn

đi vào đời tư, số phận của từng nhân vật Nhà văn nâng niu từ hạnh phúc nhỏ nhoi, nhà văn đớn đau trước sự rạn nứt hay tan vỡ của tình yêu, nhà văn phẫn uất trước

sự tráo trở hay phản trắc của con người Ma Trường Nguyên nhìn đời tư bằng cái nhìn nhân hậu có tính nhân văn sâu sắc” [30, tr.36] Trong luận văn tốt nghiệp đại

học Hình tượng nhân vật phụ nữ trong một số tiểu thuyết của Ma Trường

Nguyên tác giả Trần Thị Hạnh cũng khẳng định: “Qua việc xây dựng hình tượng

người phụ nữ, tác giả thể hiện tình thương, sự cảm thông sâu sắc với số phận của những người phụ nữ và dường như còn có chút gì đó là sự nể phục, trân trọng đối với những phẩm chất cao quý của họ: đảm đang, tháo vát, giàu lòng vị tha, đức hi sinh Họ tuy nghèo nhưng không hèn, luôn giữ được lòng tự trọng và có ý thức bảo

vệ nhân phẩm, càng khó khăn càng cố gắng vươn lên bằng ý chí và nghị lực, không chịu khuất phục trước sóng gió cuộc đời” [5, tr.64]

Như vậy, về phương diện nội dung của tiểu thuyết Ma Trường Nguyên, một

số người nghiên cứu đã chú ý tới cảm hứng về cuộc sống, thiên nhiên, con người miền núi và cảm hứng nhân văn Tuy nhiên, vấn đề cảm hứng trong tiểu thuyết của

Ma Trường Nguyên mới chỉ được đề cập ở mức độ khái quát chứ chưa được nghiên cứu, phân tích ở mức độ chuyên sâu Chính vì thế, trong luận văn này, chúng tôi sẽ nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện hơn về những cảm hứng chủ đạo trong tiểu thuyết của Ma Trường Nguyên

Về phương diện nghệ thuật:

Cốt truyện và các yếu tố ngoài cốt truyện là một vấn đề được một số tác giả

đề cập đến Tác giả Lâm Tiến có nhận xét về nghệ thuật tiểu thuyết Ma Trường

Nguyên, dù chỉ mới ở nhận xét hết sức khái quát: “Cấu trúc trong tiểu thuyết

thường có sự đan xen giữa các nhân vật, các sự kiện, giữa không gian và thời gian làm cho câu chuyện khỏi đơn điệu Những phong tục, tập quán, những lễ hội, lễ cưới, những câu chuyện cổ tích, huyền thoại, hòa quyện trong các trang viết làm tăng thêm sức sống, làm phong phú, sâu sắc thêm tâm hồn, tính cách con người

Trang 10

miền núi” [34, tr.5] Trong đề tài nghiên cứu khoa học Đặc điểm tiểu thuyết của

Ma Trường Nguyên qua tiểu thuyết Rễ người dài, tác giả Nguyễn Thị Lan đã khai

thác và phân tích khá kĩ nghệ thuật xây dựng cốt truyện và các yếu tố ngoài cốt

truyện trong tiểu thuyết Rễ người dài của nhà văn Ma Trường Nguyên Tuy nhiên,

công trình nghiên cứu này mới chỉ dừng ở việc khảo sát một trong tám cuốn tiểu thuyết của nhà văn Ma Trường Nguyên

Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết của Ma Trường Nguyên được các tác giả Bùi Như Lan, Trần Thị Hạnh, Nguyễn Thị Lan quan tâm Tác giả Bùi Như Lan đã nhấn mạnh sự thành công trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của

Ma Trường Nguyên Đó là“thủ pháp nghệ thuật đồng hiện, bút pháp hiện thực, với

vài nét chấm phá ” [9, tr.21], là sự “khéo léo miêu tả môi trường thiên nhiên, kết hợp nhuần nhuyễn với hoàn cảnh cộng hưởng trong thế giới nội tâm của nhân vật”,

là “lối viết chân phương, giản dị nhưng sâu sắc trong cách nhìn nhận, thể hiện và

khám phá đời sống nội tâm nhân vật” [9, tr.22] Trong luận văn tốt nghiệp đại học

tác giả Trần Thị Hạnh khai thác nghệ thuật xây dựng nhân vật người phụ nữ trong

ba cuốn tiểu thuyết của Ma Trường Nguyên là Gió hoang, Bến đời và Mùa hoa hải

đường Đề tài nghiên cứu khoa học của tác giả Nguyễn Thị Lan nghiên cứu nghệ

thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Rễ người dài Như vậy, có thể thấy: nghệ

thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết của Ma Trường Nguyên cũng chưa được các tác giả nghiên cứu, khảo sát trên diện rộng trong toàn bộ hệ thống tiểu thuyết của nhà văn mà chỉ mới dừng ở việc tìm hiểu một vài cuốn tiểu thuyết

Nghệ thuật ngôn từ trong tiểu thuyết của Ma Trường Nguyên được các tác giả Vũ Đình Toàn và Nguyễn Thị Lan phát hiện và khai thác Theo tác giả Vũ Đình

Toàn thì: “Nhà văn đã bộc lộ trực tiếp những phẩm chất tinh thần, những quan niệm

về thiên nhiên, xã hội của người miền núi qua ngôn ngữ nhân vật” và “Nhà văn đã khai thác vẻ đẹp ngôn ngữ và kiểu tư duy độc đáo của người miền núi qua thành ngữ, tục ngữ, ca dao dân ca” [37, tr.42] Tác giả Nguyễn Thị Lan đã khai thác ngôn

từ nghệ thuật trong tiểu thuyết Rễ người dài theo hệ thống từ ngữ gắn với cuộc

sống và con người miền núi, ngôn từ giàu hình ảnh, giàu chất thơ Tác giả khẳng

Trang 11

định: “Ngôn ngữ trong tiểu thuyết của Ma Trường Nguyên mang đậm dấu ấn Tày

Ma Trường Nguyên chủ yếu sử dụng thứ ngôn ngữ tiếng Việt khá nhuần nhụy, uyển chuyển mà không làm mất đi cách cảm, cách nghĩ, điệu hồn của người miền núi Đồng thời ngôn ngữ của Ma Trường Nguyên giản dị, trong sáng, giàu hình ảnh so sánh, đậm chất thơ ” [10, tr.86]

Như vậy, qua khảo sát chúng tôi nhận thấy: Các công trình nghiên cứu về tiểu thuyết Ma Trường Nguyên ít nhiều đã đề cập đến những đặc điểm nội dung và nghệ thuật trong sáng tác của nhà văn này Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu về đặc điểm tiểu thuyết Ma Trường Nguyên trên

cơ sở khảo sát toàn bộ các sáng tác của ông Do vậy việc nghiên cứu mang tính chất

chuyên sâu và toàn diện về Đặc điểm tiểu thuyết Ma Trường Nguyên là một việc

làm cần thiết

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đặc điểm tiểu thuyết Ma Trường Nguyên trên hai phương diện nội dung và nghệ thuật

- Phạm vi tài liệu nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu toàn bộ các tác phẩm thuộc thể loại tiểu thuyết của Ma Trường Nguyên

Mũi tên ám khói (1991) Gió hoang (1992) Tình xứ mây (1993) Trăng yêu (1993) Bến đời (1995)

Rễ người dài (1996) Mùa hoa hải đường (1998) Phượng hoàng núi (2012) Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng đọc thêm tiểu thuyết của một số tác giả khác như: Vi Hồng, Cao Duy Sơn, Triều Ân để so sánh đối chiếu

Trang 12

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn chỉ ra và làm rõ những đặc điểm của tiểu thuyết Ma Trường Nguyên trên hai phương diện nội dung và nghệ thuật Từ đó góp phần khẳng định nét riêng trong phong cách và vị trí của nhà văn đối với văn học các dân tộc thiểu số nói riêng, với văn học Việt Nam hiện đại nói chung

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

Phương pháp thống kê, phân loại Phương pháp phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại Phương pháp khái quát, tổng hợp

Phương pháp so sánh, đối chiếu

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Thư mục tài liệu tham khảo, nội dung luận

văn gồm ba chương:

Chương 1: Văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam và tiểu thuyết Ma Trường Nguyên Chương 2: Những cảm hứng chủ đạo trong tiểu thuyết của Ma Trường Nguyên Chương 3: Một số phương diện nghệ thuật trong tiểu thuyết của Ma Trường Nguyên

Trang 13

PHẦN NỘI DUNG Chương 1 VĂN XUÔI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

VÀ TIỂU THUYẾT CỦA MA TRƯỜNG NGUYÊN 1.1 Khái quát về văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại

Văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam là một nền văn xuôi còn rất trẻ Bắt đầu hình thành từ những năm 50 của thế kỉ XX, trải qua hơn 60 năm vận động và phát triển, văn xuôi các dân tộc thiểu số đã có được một đội ngũ người viết khá đông đảo, đạt được một số thành tựu nhất định, góp phần làm giàu cho nền văn học Việt Nam hiện đại Với tâm huyết và sự tìm tòi không mệt mỏi của các cây bút, văn xuôi dân tộc thiểu số đã có những đổi mới căn bản trên các phương diện đề tài, chủ

đề, cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ,… theo hướng đa dạng, chuyên nghiệp, từng bước bắt kịp với đời sống văn học chung của cả dân tộc Không chỉ là làn gió mới được phả ra từ những cây bút trẻ mà ngay cả những cây bút gạo cội ở mảng văn học này cũng không ngừng cách tân, làm mới chính mình Chúng tôi lựa chọn góc độ bao quát sự phát triển của mảng văn học này từ những tiêu điểm cơ bản sau đây: sự phát triển và đặc điểm của lực lượng sáng tác qua các giai đoạn; những đặc điểm lớn trên phương diện đề tài, chủ đề; những đặc điểm về nghệ thuật xây dựng cốt truyện, xây dựng nhân vật, ngôn ngữ

1.1.1 Sự phát triển lực lượng sáng tác văn xuôi dân tộc thiểu số

Về lực lượng sáng tác, có thể nhận thấy số lượng tác giả văn xuôi dân tộc thiểu số đã phát triển và ngày càng đông đảo Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945,

sự phát triển của mảng văn học này được khơi nguồn bởi những tác giả người Kinh Các nhà văn Nam Cao, Tô Hoài, Nguyên Ngọc là những người có công trong việc khai phá mảng đề tài dân tộc thiểu số đầy hứa hẹn này, đồng thời cũng là những người đặt viên gạch đầu tiên cho một giai đoạn văn học mới, giai đoạn có sự đóng góp và vai trò quan trọng của chính các nhà văn người dân tộc thiểu số Những sáng tác về đề tài miền núi của họ như những dấu ấn đầu tiên, thôi thúc nhu cầu cần phải

có một mảng văn học viết về đồng bào các dân tộc thiểu số do chính những người

Trang 14

con của các dân tộc ấy sáng tác Đúng như Tô Hoài thừa nhận: “Cho tới nay tôi viết

một số tác phẩm đề tài miền núi Các anh liệt sĩ (Hoàng Văn Thụ, Vừ A Dính), cuộc chiến đấu của nhân dân Tây Bắc (Vợ chồng A Phủ, Họ Giàng ở Phiềng Sa) Tôi cho rằng dẫu tôi đã cố gắng, nhưng những tác phẩm ấy chỉ đạt tới đôi nét chấm phá của một bức kí họa thông qua cảm xúc mới mẻ của mình Tôi không thể có được tâm hồn và những hiểu biết để thể hiện như Đinh Ân (Mường), Vi Hồng (Tày), Mã Thế Vinh (Nùng), Mã A Lềnh (Mông) Văn học các dân tộc thiểu số có thực sự phong phú, lớn mạnh phải do chính các nhà văn dân tộc ấy xây dựng, góp phần vào nền văn học đa dân tộc của chúng ta” [33, tr.19] Sự khai phá, mở đường của các tác

giả người Kinh đã tạo điều kiện cho sự xuất hiện và ngày càng trưởng thành của

hàng loạt các cây bút người dân tộc thiểu số Bắt đầu là Nông Viết Toại với Boỏng

tàng tập éo (1952), tiếp đó là Nông Minh Châu với Ché Mèn được đi họp (1959),

Y Điêng với Em chờ bộ đội Awa Hồ (1960), Hoàng Hạc với Ké Nàm (1964), Triều

Ân với Tiếng khèn A pá (1968), Vi Thị Kim Bình với Những bông huệ (1968),…

Có thể nói, nhờ được đắm mình trong hiện thực lịch sử lớn lao, đầy say mê của dân tộc và cách mạng, lại hợp lưu cùng tinh thần lãng mạn của thời đại, các nhà văn đã sáng tạo nên những tác phẩm văn xuôi độc đáo, đầy chất thơ Những con người miền núi mạnh mẽ, tràn đầy sinh lực, giàu tình yêu quê hương, yêu đời, yêu người với một trái tim lãng mạn, hăng say đi từ khổ đau đến ánh sáng là mẫu nhân vật trung tâm trong các tác phẩm văn xuôi giai đoạn này Nói như các tác giả Trần Thị

Việt Trung, Cao Thị Hảo thì “đây là giai đoạn mà ý thức dân tộc được nâng cao

trong từng cây bút dân tộc thiểu số” [38, tr.77]

Kể từ sau năm 1975, khi hòa bình, thống nhất đất nước, và đặc biệt là từ sau

1986, lực lượng sáng tác văn xuôi dân tộc thiểu số đã có bước phát triển mạnh mẽ

về cả số lượng và chất lượng Chính sự lao động miệt mài và tự đổi mới của các cây bút thế hệ thứ nhất và thứ hai, và sự xuất hiện của những cây bút trẻ đầy nhiệt tình

và tâm huyết đã góp phần làm nên diện mạo mới cho mảng văn học quan trọng này

Ở các vùng Việt Bắc và Tây Bắc là sự tiếp nối không ngừng của các thế hệ nhà văn Bắt đầu từ thời kì đổi mới, bên cạnh Triều Ân, Vi Hồng, Ma Trường Nguyên, Mã A

Trang 15

Lềnh, Sa Phong Ba những cây bút đang rất sung sức trong sáng tạo đã có sự xuất hiện thêm nhiều gương mặt văn xuôi mới Đó là các cây bút người Mường như Hà

Trung Nghĩa với Hoàng hôn (tập truyện, 1995) và Lửa trong rừng sa mu (tiểu thuyết, 1996), Bùi Minh Chức với Sự tích một câu nói (tập truyện, 2001) và Hà Lý với Ngọt đắng vị Mường (tập truyện, 2002) Trong lực lượng viết, tác giả người

Tày luôn chiếm số đông Ngoài các nhà văn đã nêu như Vi Hồng, Ma Trường

Nguyên, Hà Lâm Kỳ, Bùi Thị Như Lan, Hữu Tiến, còn có Đoàn Lư với Kỉ niệm về

một dòng sông (tập truyện, 1997) và Ngựa hoang lột xác (tập truyện, 1998); Hoàng

Hữu Sang với Người đánh gấu trên núi Suối Mây (tập truyện, 1997) và Cửa rừng

(tiểu thuyết, 2000) Ngoài ra có thể kể đến các cây bút Tày khác như Hoàng Luận, Nguyễn Minh Sơn, Hoàng Tương Lai, Đoàn Ngọc Minh, Vi Thị Thu Đạm, A Sáng Đóng góp cho văn xuôi còn có các cây bút người Nùng như Hoàng Quảng

Uyên với Vọng tiếng non ngàn (kí, 2001), Địch Ngọc Lân với Ngôi đình bản

Chang (tiểu thuyết, 1999) và Hoa mí rừng (tiểu thuyết, 2001) Như vậy, cho đến

nay Việt Bắc và Tây Bắc vẫn là hai miền đất vàng của văn chương miền núi, nơi ngưng tụ nguồn mạch chính của văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam Tuy chưa

có được những tài năng xuất sắc, những phong cách đích thực, nhưng những cây bút trên đã thực hiện được sứ mệnh nuôi giữ ngọn lửa văn chương của dân tộc mình Là nhà văn dân tộc Tày, hiện sống ở Hà Nội nhưng Cao Duy Sơn vẫn chung

thủy với đề tài miền núi Với một hành trình từ Người lang thang (1992), Cực lạc (1995), Những chuyện ở lũng Cô Sầu (1996), Hoa mận đỏ (1999), Những đám

mây hình người (2002), Đàn trời (2006) đến Ngôi nhà xưa bên suối (tập truyện

ngắn đoạt giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2008, giải thưởng văn học

ASEAN năm 2009), Chòm ba nhà (2009), Cao Duy Sơn đã khắc vào tâm khảm bạn

đọc những dư vị sâu lắng về các mối quan hệ của con người với đủ đầy ân oán, thiện ác, từ đó thể hiện những quan niệm nhân sinh, phương cách ứng xử nhân ái và cao thượng

Ở khu vực miền Trung, một số cây bút đại diện cho dân tộc mình cũng xuất hiện Đó là các cây bút dân tộc Thái ở Nghệ An như La Quán Miên với tập truyện

Trang 16

Hai người trở về bản (1996), Kha Thị Thường với tập truyện Lũ núi (2003) và

Lang Quốc Khánh với tập kí Những miền thương nhớ (2005) Truyện của La Quán

Miên đặt ra vấn đề nhân quả, báo ứng từ sự phá vỡ cân bằng trong mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, phát hiện cái bí ẩn thuộc về đời sống tâm linh ở miền núi Tôn trọng cõi tự nhiên linh thiêng, bảo tồn động vật hoang dã, đó là thông điệp mà nhà văn đề xuất Khu vực miền Trung còn có các cây bút dân tộc Mường ở Thanh

Hóa là Hà Thị Cẩm Anh và Bùi Nhị Lê Qua tập truyện Nước mắt của đá (2005),

Hà Thị Cẩm Anh thể hiện sự cảm thông với những con người là nạn nhân của hủ tục, định kiến ở bản mường Và cũng như La Quán Miên, nữ nhà văn đã cất lời kêu gọi bảo vệ môi trường sinh thái tự nhiên một cách đầy tâm huyết

Ở Tây Nguyên trước kia chỉ có Y Điêng, nay có Hlinh Niê (tức Linh Nga

Niê Kđăm, người Êđê) với tập truyện Con rắn màu xanh da trời (1997) và tập kí

Trăng Xí Thoại (1999), Kim Nhất (người Bana) với các tập truyện Động rừng

(1999), Hồn ma núi (2002) và Niê Thanh Mai (người Êđê) với tập truyện Về bên

kia núi (2007)

Ở phía Nam, lần đầu tiên có sự xuất hiện tác phẩm văn xuôi của một số dân

tộc như truyện kí Chân dung người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh (1994) của Lý Lan (người Hoa), tiểu thuyết Chân dung cát (2006) của Inrasara (nhà thơ dân tộc Chăm), tập truyện ngắn Chăm Hri (2008) của Trà Vigia (người Chăm)

Điểm qua lực lượng sáng tác và những thành tựu của các cây bút văn xuôi dân tộc thiểu số kể từ sau năm 1975, và đặc biệt là sau 1986, chúng ta nhận thấy tuy chưa có những tài năng lớn nhưng cũng có thể nhìn thấy từ đó những tín hiệu rất đáng mừng vì sự tiếp nối giữa các thế hệ người cầm bút, vì sự phân bố trên từng vùng miền, từng dân tộc để đặt niềm tin vào những bước bứt phá mạnh mẽ của mảng văn học này trong những năm đầu của thế kỷ mới này

1.1.2 Sự phát triển trên các phương diện đề tài, chủ đề của văn xuôi các dân tộc thiểu số

Trong hành trình phát triển của mình, văn xuôi các dân tộc thiểu số đã có sự

mở rộng đề tài, chủ đề, tuy chưa thực phong phú Giai đoạn trước năm 1975, khi

Trang 17

văn học dân tộc tập trung vào công cuộc đấu tranh giải phóng đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội thì văn xuôi dân tộc thiểu số cũng phản ánh cuộc đấu tranh cứu quốc vĩ đại với cảm hứng ngợi ca quê hương, con người miền núi trong chiến đấu,

lao động Tiêu biểu là tác phẩm Ché Mèn được đi họp (1959) của Nông Minh

Châu Truyện ngắn xoay quanh nhân vật Ché Mèn, một cô gái dân tộc thiểu số trẻ trung và sớm nhận thức được con đường tất yếu đưa quê hương cô đến với cuộc sống ấm no Với nghị lực và tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám đấu tranh với những trở lực, với khát vọng mang lại cuộc sống ấm no cho gia đình và quê hương, cô đã mạnh dạn áp dụng những tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất Vấp phải những cản trở từ những hủ tục đã tồn tại từ ngàn đời nhưng Ché Mèn vẫn không chịu đầu hàng Cô cùng với những thanh niên tiến bộ như Thoại, Nhạn vẫn kiên trì hành

động để xây dựng cuộc sống mới cho quê hương Truyện ngắn Ché Mèn được đi

họp tiêu biểu cho đề tài thế hệ trẻ đầy nhiệt huyết xây dựng quê hương giàu đẹp

Kể từ sau năm 1975, đặc biệt là sau 1986, đề tài đã được mở rộng, trở nên phong phú, đa dạng hơn Bên cạnh việc tập trung ngợi ca cái đẹp, cái thiện là sự cảnh tỉnh, đấu tranh chống lại cái ác, cái xấu Văn xuôi dân tộc thiểu số đã có những giá trị thẩm mĩ mới mẻ trong quá trình khắc họa số phận cá nhân của đồng bào dân tộc miền núi Một số tác phẩm trở lại khai thác hiện thực miền núi những năm đầu

cách mạng với cuộc đấu tranh gian khổ của nhân dân các dân tộc như Chuyện trên

bờ sông Hinh (1994) của Y Điêng, Gió Mù Căng (1995) của Hà Lâm Kỳ, Nhìn

chung các tác phẩm tìm cảm hứng ở quá khứ này đều xoay quanh những vấn đề phổ quát của chiến tranh, cách mạng: sức sống và bản lĩnh của dân tộc, tình đoàn kết và tinh thần cộng đồng, con đường thu phục lòng dân và cảm hoá tầng lớp lang đạo ở miền núi… Trong các tác phẩm ấy, chất sử thi đã nhạt hơn, nhưng vẫn chưa có dấu hiệu phản sử thi hay thể hiện nhu cầu nhận thức lại quá khứ một cách rõ rệt như trào lưu cách tân của văn xuôi Việt Nam nói chung Bên cạnh đề tài chiến tranh cách mạng, nhiều tác phẩm hướng về công cuộc xây dựng đời sống, phát triển kinh tế xã

hội ở miền núi như các tiểu thuyết: Mũi tên ám khói (1991), Gió hoang (1992) của

Ma Trường Nguyên, tập bút kí Cao nguyên trắng (1992) của Mã A Lềnh và các tập

Trang 18

truyện ngắn Vùng đồi gió quẩn (1995), Chuyện ở chân núi Hồng Ngài (2005) của

Sa Phong Ba

Ngoài hai mảng đề tài quen thuộc này, nhờ sự dân chủ hoá của văn học đổi mới, các phạm vi hiện thực được mở ra rộng rãi hơn Những mặt trái, những mảng tối của hiện thực đời sống mà văn học trước đây từng né tránh nay được phơi bày

Dồn dập trong nửa đầu thập kỉ 90, các tiểu thuyết Người trong ống (1990), Gã

ngược đời (1990), Vào hang (1990), Chồng thật vợ giả (1994)… của Vi Hồng

được dư luận quan tâm bởi những vấn đề có tính thời sự Các tác phẩm này đề cập tới sai lầm của mô hình hợp tác xã nông nghiệp, sự ấu trĩ của việc ngăn cấm làm giàu cá nhân và gióng hồi chuông cảnh báo về sự hoành hành ghê gớm của cái ác

Tái hiện chân thực một thời bao cấp, tiểu thuyết Xứ mưa (2000) của Hoàng Thế

Sinh phơi bày tình trạng đói nghèo, nhem nhuốc, túng quẫn của công chức nhà nước, thân phận bọt bèo vô nghĩa của giáo viên cùng sự hoang mang, đổ vỡ niềm tin của giới trí thức trước sự tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa Mạnh mẽ và táo

bạo, tiểu thuyết Đàn trời (2006) của Cao Duy Sơn công khai hé mở thực trạng về sự

nghèo đói truyền kiếp của người dân vùng cao, vạch trần thói mị dân, sự sa đọa cùng hành vi đen tối của quan tham cao cấp thời đại mới Cùng sự hiện hữu của cái nghèo, cái ác, tác động tiêu cực của kinh tế thị trường đối với vùng cao là vấn đề được nhiều tác phẩm quan tâm Sự xâm thực của thương trường phá vỡ trật tự rừng xanh, lối sống thực dụng làm nứt rạn nếp nghĩ truyền thống, cái xấu xa phi pháp khuấy đảo sự thanh bình của làng bản những dấu hiệu băn khoăn lo ngại trước sự biến chuyển của miền núi đương đại cũng là ám ảnh trên nhiều trang viết của các nhà văn dân tộc thiểu số Đáng chú ý là ngoài những vấn đề mang tính xã hội, một

số tác phẩm đã đi vào các khía cạnh của đời sống cá nhân Có thể kể đến tập truyện

Tiếng chim kỷ giàng (2004) của Bùi Thị Như Lan với những mảnh đời phụ nữ bị

trói buộc bởi lương tâm và bổn phận, phải hi sinh hạnh phúc riêng vì người khác Vốn nhạt nhoà trong văn xuôi cách mạng, chuyện tình yêu gặp luồng gió đổi mới đã bừng nở trong không ít truyện ngắn, tiểu thuyết của Cao Duy Sơn, Hà Lý, Hoàng Thế Sinh Việc khai thác vấn đề số phận cá nhân đã làm giàu thêm chất văn xuôi,

Trang 19

chất tiểu thuyết cho các tác phẩm và nêu cao tinh thần nhân văn, nhân bản đang là

xu thế chung của văn học đổi mới

Có một điều đặc biệt trong sự vận động tiến tới hiện đại của văn xuôi các dân tộc thiểu số là sự đan xen nhiều tuyến đề tài Bên cạnh những tuyến đề tài chính trong từng tác phẩm như cuộc đấu tranh bảo vệ quê hương, đất nước trong các tác phẩm viết về chiến tranh, cuộc đấu tranh đầy cam go, thử thách trong các tác phẩm thế sự, phản ánh hiện thực miền núi trong những bước chuyển mình của lịch sử, trong công cuộc xây dựng cuộc sống mới, chống cái xấu, cái ác,… là những trang viết nên thơ về phong tục văn hóa độc đáo hay những khung cảnh thiên nhiên đầy lãng mạn Các nhà văn đã đưa vào tác phẩm của mình những bức tranh đa sắc của văn hóa lễ hội, tập tục, trang phục, ngôn ngữ,… của dân tộc mình và cắt nghĩa chúng như là cội nguồn sức mạnh của núi rừng Đây là một không gian thiêng của

người Ê đê trong các trang văn của Hlinh Niê: “Khách muốn vào nhà Êđê phải leo

cầu thang đằng trước, vịn tay lên bầu vú gỗ để đến với không gian mẫu hệ Nhà Mnông lại có hai cửa hình vòng cung cùng mở về hướng đông thấp lè tè Bước qua cửa nào cũng gặp bếp lửa cháy quanh năm Giữ gìn lửa là việc sống còn của con người giữa rừng đại ngàn Lửa soi sáng mọi việc làm trong nhà, lửa nấu chín thức

ăn Lửa xua cái lạnh giá những tháng mưa rừng Lửa phừng phừng da thịt gái trai thương nhau.” Đó còn là không gian của Lễ hội Lồng tồng, Lễ hội đâm trâu, Lễ

hội bỏ mả,… Bên cạnh đó là những bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, hoang dại, thanh khiết của núi rừng, nơi ươm mầm những ước mơ, nơi nuôi dưỡng tình yêu và niềm tin của con người

Có thể nói, mặc dù chưa thực sự phong phú nhưng qua các chặng đường phát triển, văn xuôi dân tộc thiểu số đã có sự mở rộng về đề tài Bên cạnh việc phản ánh công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, các nhà văn đã ngày càng chú ý hơn tới việc đi sâu khám phá những vấn đề phức tạp của cuộc sống miền núi, đặc biệt là vấn đề số phận cá nhân Điều đó đã đem lại cho các sáng tác văn xuôi dân tộc thiểu số chất tiểu thuyết và tinh thần nhân văn, nhân bản ngày càng đậm nét

Trang 20

1.1.3 Đặc điểm cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ văn xuôi dân tộc thiểu số

1.1.3.1 Đặc điểm cốt truyện

Văn xuôi dân tộc thiểu số thời kì đầu thường có cốt truyện tuyến tính với mạch thời gian kể xuôi chiều Cốt truyện tuyến tính theo dòng thời gian với việc

tổ chức các tình huống truyện đơn giản giúp cho các độc giả là người dân tộc thiểu

số miền núi dễ nắm bắt được nội dung ý nghĩa của truyện nhưng lại không đem lại hiệu quả thẩm mĩ cao Vi Hồng là nhà văn sớm nhận ra hạn chế ấy của văn xuôi

dân tộc thiểu số nên đã tạo ra những đảo lộn thời gian nhất định trong Vãi Đàng

Kiểu cốt truyện với thời gian gấp khúc ấy về sau xuất hiện nhiều hơn trong các tiểu thuyết của Vi Hồng, Ma Trường Nguyên, Cao Duy Sơn, Inrasara … Đặc biệt,

với việc “chối bỏ sự gò bó, sắp đặt của cốt truyện tuyến tính, cố ý tạo ra sự xáo

trộn, đứt gẫy của các yếu tố không gian, thời gian”, tiểu thuyết Inrasara đã “thể hiện quan niệm về một thế giới với đầy những vênh lệch, so le, biến ảo, không dễ nắm bắt và lý giải” [17] Sự phá vỡ lôgic thời gian này, mặc dù có đi xa tầm đón nhận của

người đọc dân tộc thiểu số nhưng phần nào đã thể hiện tinh thần tìm tòi của nhà văn

Inrasara

Cốt truyện trong văn xuôi dân tộc thiểu số thường là cốt truyện đơn tuyến với dung lượng nhỏ hoặc vừa Phần lớn các tác phẩm đều có ít nhân vật và nếu có phân tuyến cũng chỉ gồm hai tuyến cơ bản: chính - tà Có thể kể đến các tác phẩm của Vi Hồng, Triều Ân, Nông Minh Châu, Hoàng Hạc, Vi Hồng, Sa Phong Ba, Bùi Nguyên Khiết, Đặng Quang Tình… Theo tác giả Phạm Duy Nghĩa thì trong

văn xuôi dân tộc thiểu số những thập niên 50 - 80 của thế kỉ trước “có chung

môtíp cốt truyện: cái mới (thường được đại diện bởi một cô gái hoặc một lớp thanh niên) đấu tranh với cái cũ (thường là ông bố, phía sau là thầy mo và những

kẻ bảo thủ khác); cái mới đi tiên phong, năng động tìm tòi, dũng cảm vượt qua những cản trở, bài xích; cái cũ bị tác động, lay chuyển, dẫn đến thay đổi trong nhận thức hoặc buộc phải lùi bước trước cái mới” [15] Nhiều cốt truyện đã ra đời

từ lối mòn công thức này như Ké Nàm của Hoàng Hạc, Lòng rừng của Sa Phong

Ba, Lửa rừng của Đặng Quang Tình, Gió hoang của Ma Trường Nguyên …

Trang 21

Chính môtíp cái mới phải thắng cái cũ, ta phải thắng địch, nhân vật chính diện

gặp khó khăn thường dễ vượt qua trong sự phân tuyến rạch ròi tốt - xấu, chính - tà

đã khiến cho văn xuôi dân tộc thiểu số rơi vào sự đơn điệu

Cốt truyện trong văn học dân tộc thiểu số chịu ảnh hưởng của văn học dân gian đậm nét với kiểu kết thúc có hậu, với mô típ nhân vật bỏ làng bản, bỏ gia đình ra đi trong những tình huống bước ngoặt Vi Hồng, Ma Trường Nguyên, Triều Ân, Hà Thị Cẩm Anh, Cao Duy Sơn … đều có những tác phẩm kết cấu theo lối này Cốt truyện với kết thúc có hậu khiến văn xuôi miền núi mang sắc màu cổ tích, gần gũi với đồng bào dân tộc song nó cũng làm cho tác phẩm như có phần

sắp đặt mang tính lộ liễu, do đó trở nên dễ dãi Hai mẹ con, Nơi ấy biên thùy của Triều Ân, Như gốc gội xù xì của Hà Thị Cẩm Anh … là những tác phẩm như vậy

Điều này đã được các nhà văn cố gắng khắc phục trong thời gian về sau Nhân vật của Bùi Thị Như Lan với những kết thúc trong đau thương mất mát không gì hàn gắn nổi … là những ví dụ cho thấy văn học dân tộc miền núi đang bước đầu tiếp cận để đổi mới mình trong xu thế chung của văn xuôi dân tộc

Có thể nói, đây là phương tiện để nhà văn tái hiện các xung đột xã hội Thời

kì đầu, việc tổ chức các tình huống truyện của văn xuôi dân tộc thiểu số nhìn chung còn đơn giản trong khi hiện thực cuộc sống miền núi vốn không hiếm những chuyện đời dữ dội, những tình cảnh ngặt nghèo, những thử thách nghiệt ngã, những quyết định lớn lao Về sau, các nhà văn đã có những cố gắng trong việc tạo dựng các tình huống gay cấn làm cho tác phẩm của họ trở nên hấp dẫn

hơn Đoạn đường ngoặt của Nông Viết Toại đặt ra được tình huống khá đặc biệt:

trong giờ khắc nghiêm trọng của cuộc đời, nhân vật Lưu phải lựa chọn giữa hai

con đường: đi và ở, lí tưởng cách mạng và vợ con Tiểu thuyết Người trong

ống của Vi Hồng có tình huống đời thường mà li kì, độc đáo: nhân vật Tú (con

người khắc kỉ, gạt bỏ mọi cám dỗ để theo đuổi lí tưởng riêng của mình) phải thực hiện một phong tục kì lạ là ở chung ba đêm giữa chốn nhung lụa xa hoa với người

con gái quyền quý xinh đẹp, nếu không cưỡng được lòng mình mà “khai nụ, xâu

hoa” thì phải cưới nàng Tình huống thử nghiệm bản lĩnh này được tác giả thể

Trang 22

hiện trong một thời gian nghệ thuật hết sức căng thẳng, dồn nén, có sức dẫn dụ mạnh Đó là một số ví dụ cụ thể về những tình huống truyện đem lại hiệu quả nghệ thuật trong văn xuôi dân tộc thiểu số Ngoài ra, một số sáng tác của Kim Nhất, Cao Duy Sơn … cũng tạo dựng được những tình huống truyện có giá trị Tiếc rằng những tình huống như thế xuất hiện chưa nhiều trong văn xuôi dân tộc thiểu số

Trong quá trình phát triển, những năm gần đây văn xuôi miền núi vừa kế thừa những hình thức cốt truyện truyền thống vừa bổ sung thêm một số kiểu cốt truyện mới Có thể kể đến cốt truyện huyền ảo với sự đan xen giữa các yếu tố hoang đường và yếu tố thật, cốt truyện ghép mảnh với nhiều mảnh nhỏ ghép lại với nhau, cốt truyện bỏ ngỏ với kết thúc mở, bỏ lửng, không xác định (như truyện

ngắn Người săn gấu của Cao Duy Sơn), cốt truyện ngụ ngôn với sự nén chặt

trong một cấu trúc tiết kiệm, tối giản mà súc tích (như những truyện ngắn của La Quán Miên) … Những tìm tòi, thể nghiệm trong sáng tạo cốt truyện cùng với sự

hỗ trợ của các yếu tố ngoài cốt truyện trong các sáng tác văn xuôi dân tộc thiểu số

đã đem đến sức hấp dẫn cho các tác phẩm, góp phần làm cho mảng văn học này ngày càng có chỗ đứng trong lòng độc giả

1.1.3.2 Đặc điểm nhân vật

Có thể nhận thấy, nhân vật trung tâm trong văn xuôi các dân tộc thiểu số thường là người lao động các dân tộc thiểu số, về sau có bổ sung thêm các nhân vật trí thức và các giai tầng khác của xã hội Ngoài ra, còn có những nhân vật là những người cán bộ, bộ đội, giáo viên, nhân dân miền xuôi… lên vùng cao chiến đấu, lao động sản xuất Thế giới nhân vật mặc dù chưa thật phong phú nhưng cũng làm nên những nét đặc trưng riêng của văn xuôi dân tộc thiểu số

Với sự ảnh hưởng mạnh mẽ trong quan niệm của văn học dân gian, các nhân vật trong văn xuôi miền núi thường được xây dựng theo hai tuyến: thiện - ác, tốt - xấu Trong các tác phẩm, nhân vật hoặc thiện hoặc ác đều cố định và được đẩy đến tận cùng các thái cực tính cách ấy mà ít có sự phức hợp, thay đổi Những nhân vật thiện thường hội tụ trong con người mình nhiều phẩm chất tốt đẹp: chân thực, giàu

Trang 23

lòng nhân ái, giàu đức hi sinh, tiềm tàng sức sống … Ngược lại, những nhân vật ác thì tàn nhẫn, độc ác, ti tiện, xấu xa đến cùng cực Có thể kể đến các nhân vật cực

thiện như: Đán (Núi cỏ yêu thương), ông lão Tạp Tạng (Vào hang), bà cháu Nọi Lai (Đọa đày), Lăng Thị Thu Lả (Lòng dạ đàn bà) trong các sáng tác của Vi Hồng; Lèng (Gió hoang), Thục, Ngát (Bến đời) trong sáng tác của Ma Trường Nguyên; Tài Pẩu, lão Phu (Hoa mận đỏ), Thức (Đàn trời) trong sáng tác của Cao Duy

Sơn… Đối lập với những nhân vật cực thiện ấy là những nhân vật cực ác như Đoác

trong Vào hang, Ba trong Người trong ống, Hỷ trong Gã ngược đời (Vi Hồng), chánh Han trong Mũi tên ám khói, lão Khóng trong Bến đời (Ma Trường Nguyên), Sài Vẳn trong Người săn gấu, Sáng Và trong Cực lạc, Chẩng trong Hoa mận đỏ, Lương Nhân trong Đàn trời (Cao Duy Sơn)… Sự phân chia nhân vật thành hai

tuyến rõ ràng như vậy cũng phần nào tạo nên tính chất đơn diện, thuần tính cách trong đặc điểm nhân vật của văn xuôi dân tộc thiểu số Về sau này, các nhà văn dân tộc thiểu số cũng đã có những cố gắng trong phát triển nghệ thuật xây dựng nhân vật với xu hướng đa dạng hóa tính cách Sự phát triển ấy là cả một quá trình dài với

sự đóng góp của nhiều cây bút Sự đa dạng hóa trong tính cách làm cho các nhân vật trong văn xuôi dân tộc thiểu số không còn cực đoan, một chiều Tuy nhiên, vẫn chưa có nhiều những nhân vật thực sự sâu sắc, thực sự ám ảnh người đọc

Nhân vật trong các tác phẩm văn xuôi dân tộc thiểu số mang những nét đặc trưng tính cách của con người miền núi Đó là những con người thật thà, chất phác, giàu lòng nhân ái… và cũng rất mạnh mẽ, quả cảm, luôn biết vươn lên Giữa rừng

núi đại ngàn, những con người ấy “hồn nhiên sống, chân thật, rạch ròi trong những

tình cảm yêu ghét Họ tin vào người khác như tin ở chính mình” [17] Điều đặc biệt

trong tính cách miền núi là sự tha thứ, khoan dung và độ lượng Những con người

ấy, dù có lúc bị lừa gạt, lợi dụng bởi sự hồn nhiên, chân thật nhưng họ không căm hận để tìm cách trả thù bằng mọi giá mà luôn biết tha thứ, thậm chí sẵn sàng mở rộng lòng mình cứu giúp chính những con người đã từng hại mình Nàng Thu

Khoan trong Dòng sông nước mắt (Vi Hồng), thầy Hạc trong Ngôi nhà xưa bên

suối (Cao Duy Sơn)… chính là những con người như thế Bên cạnh đó, nhân vật

Trang 24

trong văn xuôi miền núi còn là những con người giàu niềm tin, tiềm tàng sức sống, yêu đời, giàu khát vọng tự do và hạnh phúc Chính niềm tin và tình yêu ấy đã nâng

đỡ để họ vượt qua những đắng cay tủi hờn của số phận, để vươn tới một cuộc đời tươi sáng Với các nhân vật như vậy, văn xuôi dân tộc thiểu số đã trở thành những bài ca ngập tràn cảm hứng nhân văn ngợi ca con người

Xây dựng nhân vật, các nhà văn dân tộc thiểu số thường sử dụng một số thủ pháp nghệ thuật tiêu biểu Để tạo dựng những nhân vật cực thiện, nhân vật chính

diện, các nhà văn dùng thủ pháp so sánh theo xu hướng “thần hóa”, “tiên hóa”

Ngược lại, các nhân vật phản diện, nhân vật ác lại được xây dựng bởi thủ pháp so sánh “vật hóa” nhằm hạ thấp đối tượng Miêu tả ngoại hình để khơi gợi tính cách nhân vật, khắc họa hành động nhân vật để tính cách được bộc lộ cũng là những thủ pháp nghệ thuật được các nhà văn sử dụng Các hình ảnh đôi mắt, nụ cười … là những chi tiết ngoại hình mà các nhà văn chú ý tới

Thủ pháp nghệ thuật xây dựng nhân vật qua miêu tả tâm lý, qua đời sống nội tâm nhân vật được nhiều nhà văn sử dụng Nhân vật của Cao Duy Sơn thường có cuộc sống nội tâm phong phú, phức tạp, mạnh mẽ, dữ dội nhưng lại lặng lẽ kín đáo Bên cạnh Cao Duy Sơn, các nhà văn khác cũng rất chú ý đến miêu tả nội tâm nhân vật Tuy nhiên, trong nhiều tác phẩm văn xuôi dân tộc thiểu số, việc khắc họa nhân vật qua đời sống nội tâm vẫn còn những hạn chế khiến cho nhân vật chưa thật sự trở nên sâu sắc

Mượn yếu tố thiên nhiên để khắc họa vẻ đẹp và tính cách nhân vật cũng là một thủ pháp nghệ thuật mà các nhà văn dân tộc thiểu số thường dùng đến Vi Hồng, Ma Trường Nguyên thường sử dụng thiên nhiên như tấm phông nền cho nhân vật bộc lộ mình Vẻ đẹp của con người, những tâm tư tình cảm của con người thường được thể hiện một cách tự nhiên mà rõ nét qua thiên nhiên ấy Thiên nhiên

có khi là người bạn tâm tình tri kỉ của con người, là nơi con người kí thác tâm sự, cũng có khi thiên nhiên lại trở thành một yếu tố dự báo trước số phận của nhân vật Mượn yếu tố thiên nhiên, các nhà văn cũng đã có những thành công nhất định trong xây dựng các nhân vật của mình

Trang 25

Vẻ đẹp và tính cách nhân vật còn được bộc lộ qua các tình huống Các nhà văn dân tộc thiểu số thường đặt nhân vật của mình trong những tình huống thử thách để người đọc nhận ra tính cách nhân vật theo năng lực cảm thụ riêng của mình Một số tình huống trong sáng tác của Nông Viết Toại, Vi Hồng, Kim Nhất, Cao Duy Sơn, Ma Trường Nguyên… đã tạo được hiệu quả thẩm mĩ cao trong việc góp phần làm nên diện mạo nhân vật văn xuôi dân tộc thiểu số

1.1.3.3 Đặc điểm ngôn ngữ

Nhà nghiên cứu Lâm Tiến mở đầu bài viết Ngôn ngữ trong văn xuôi dân tộc

thiểu số với nhận định: “Trừ một số truyện ngắn đầu tiên của Nông Viết Toại, Nông

Minh Châu, Vi Hồng sáng tác bằng tiếng dân tộc, thì văn xuôi các dân tộc thiểu số sau này đều sáng tác bằng tiếng Việt Những tác phẩm đầu tiên đó thể hiện rất rõ tâm hồn, tư tưởng, tình cảm, tính cách của dân tộc Do đó, cũng mang đậm bản sắc dân tộc trong văn học Những tác phẩm sau này không viết bằng tiếng dân tộc nữa Điều đó có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân chính, tiếng dân tộc chưa thực sự phát triển (và trong điều kiện lịch sử - xã hội hiện nay, do các dân tộc sống xen kẽ nên ngôn ngữ dân tộc cũng khó có điều kiện để phát triển), do đó ngôn ngữ dân tộc có những trở ngại nhất định trong việc xây dựng hình tượng văn học và giao tiếp nghệ thuật” [36] Chúng tôi nhận thấy ở nhận định này một sự kiến giải,

đồng thời cũng là một cách đặt vấn đề cho ngôn ngữ của văn xuôi các dân tộc thiểu

số Đó có thể là khó khăn đồng thời cũng là một đích giá trị để đánh giá sự thành công của các tác giả trên phương diện ngôn từ nghệ thuật Cũng nói như Lâm Tiến trong công trình vừa dẫn thì viết văn bằng tiếng phổ thông của các nhà văn dân tộc miền núi cũng khó như việc dùng ngoại ngữ để sáng tác vậy Và nếu như viết văn với các nhà văn miền xuôi khó một thì công việc ấy với các nhà văn miền núi còn

khó mười Cái khó nằm chính ở chỗ, nhà văn phải lựa chọn trong kho tàng “ngoại

ngữ” ấy những từ ngữ diễn tả tốt nhất ý đồ nghệ thuật của mình, đồng thời không xa

lạ với văn hóa của đồng bào dân tộc miền núi và phải truyền được tinh chất văn hóa của đồng bào trên từng trang viết Như thế có thể hiểu được sự nhọc nhằn của từng cây bút Với những cố gắng không ngơi nghỉ, có thể nói, trên phương diện ngôn

Trang 26

ngữ, văn xuôi các dân tộc thiểu số đã có những bước tiến quan trọng trên bước đường hiện đại hóa của mình

Ngôn ngữ trong văn xuôi dân tộc thiểu số “mang vẻ đẹp mộc mạc, giản dị,

gắn với tư duy trực giác và cảm tính” [17] Người miền núi thường so sánh con

người với thiên nhiên và gán cho thiên nhiên những đặc điểm của con người Có lẽ

vì thế mà ví von, so sánh liên tưởng là một thủ pháp ngôn ngữ được các nhà văn dân tộc thiểu số sử dụng với tần số cao Các so sánh ấy thể hiện cách cảm, cách nghĩ, cách nói của người miền núi Chính nhờ so sánh, liên tưởng mà văn xuôi dân tộc thiểu số rất giàu hình ảnh và chất thơ Nhiều tác giả thường hay sử dụng các thành ngữ, tục ngữ, ngôn từ dân tộc hoặc xen vào những câu hát dân ca của dân tộc mình khiến các tác phẩm văn xuôi dân tộc thiểu số mang dấu ấn khá đậm nét của văn học dân gian Việc sử dụng so sánh, liên tưởng và sử dụng các thành ngữ, tục ngữ, dân

ca vừa là thành tựu song cũng lại là hạn chế trong nghệ thuật ngôn ngữ của văn xuôi dân tộc thiểu số Nó tạo ra những tác phẩm giàu hình ảnh và chất thơ nhưng đồng thời ít nhiều cũng tạo ra sự đơn điệu, sáo mòn Ngôn ngữ giàu chất thơ và giàu hình ảnh ấy làm đẹp tác phẩm song chính nó cũng làm thiếu đi chất lí tính vốn rất cần phải có của văn xuôi hiện đại

Nhìn chung, ngôn ngữ văn xuôi dân tộc thiểu số là thứ ngôn ngữ mực thước, trang trọng Nó tạo cho các tác phẩm một nét đặc trưng ngôn ngữ riêng Về sau này, Inrasara đã sử dụng trong tiểu thuyết của mình những ngôn ngữ của đời sống bình dân mộc mạc, giản dị, thậm chí có chỗ xô bồ, dung tục Điều này khiến cho các tác phẩm của Inrasara trở nên gần gũi, chân thực hơn Tuy nhiên, cũng phải chú ý đến việc sử dụng những ngôn ngữ bình dân này Trần trụi quá, xô bồ và dung tục quá sẽ ảnh hưởng lớn tới hứng thú thẩm mĩ của người đọc

Đến đây có thể kết luận, mặc dù còn có nhiều hạn chế song không thể phủ nhận rằng văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam ngày càng được nâng cao về chất lượng nghệ thuật Ngày càng nhiều tác phẩm có dấu hiệu đổi mới trong cách nhìn

và tư duy nghệ thuật với cái nhìn sâu hơn vào mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, chú ý soi chiếu nhân vật ở góc độ đời tư Sự đa dạng phong phú của thế giới

Trang 27

nghệ thuật, cách tổ chức cốt truyện, kết cấu tác phẩm, cách xây dựng nhân vật, nghệ thuật sử dụng ngôn từ trong không ít tác phẩm văn xuôi miền núi đã đóng góp vào thành tựu nghệ thuật chung của văn xuôi Việt Nam hiện đại

1.2 Nhà văn Ma Trường Nguyên - cuộc đời, con người và sự nghiệp sáng tác

1.2.1 Vài nét về cuộc đời và con người nhà văn Ma Trường Nguyên

Ma Trường Nguyên là tên thật, cũng là bút danh của nhà văn dân tộc Tày sinh ngày 17/5/1944 tại xã Phú Đình, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên Ông sinh

ra và lớn lên bên dòng Khuối Quỵnh nhỏ bé, nơi mà sau này, như nhà văn bộc bạch,

đã in dấu khuôn mặt của những người thân yêu của ông, nơi ghi dáng hình xứ sở, để rồi có những ảnh hưởng đến tâm hồn, đến quan niệm nghệ thuật của ông Quê hương ông cũng từng trải qua những biến dời của lịch sử, là nơi cuộc đời Ma Trường Nguyên được đắm mình, trải nghiệm với từng việc làm, từng sự kiện, cả những cái được và cái mất, cái vui, cái buồn của đồng bào dân tộc ông trong những biến động chung của đất nước trong thế kỷ XX

Ma Trường Nguyên hội tụ trong tâm hồn những giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc của dân tộc mình Ngay từ nhỏ, nhà văn đã được đắm mình trong một không gian giàu nét văn hóa Ông nội của nhà văn là người thuộc rất nhiều câu chuyện cổ tích, những bài hát ví, hát lượn; cha là người hay chữ Nho, chữ Nôm Tày và hát lượn hay nhất vùng Vùng núi quê hương ông có thiên nhiên tươi đẹp, giàu truyền thống văn hóa và lịch sử Chính môi trường gia đình, quê hương đã khiến Ma Trường Nguyên có động lực mạnh mẽ để học tập, trau dồi vốn sống, vốn văn hóa, rèn luyện bút lực, sức sáng tạo Có thể nói tất thảy những giá trị văn hóa độc đáo ấy

đã góp phần tạo nên quan niệm thẩm mỹ của ông Chính tình yêu quê hương tha thiết, sự gắn bó máu thịt với dòng Khuối Quỵnh chảy từ chân núi Hồng, thác nước Hin Lạn nước tuôn trắng xóa, những đồi cọ, rừng sim,… đã làm nên cốt cách Ma Trường Nguyên thấm đậm trong những trang văn giàu chất dân tộc miền núi nói chung và dân tộc Tày của ông nói riêng

Hành trình đến với văn chương của Ma Trường Nguyên có lẽ là duyên nợ Môi trường văn hóa gia đình, quê hương, tố chất nhà văn trong Ma Trường Nguyên

Trang 28

và sự động viên, cổ vũ của bạn bè, đồng nghiệp đã giúp ông vững bước đi trên con đường văn chương đầy khó khăn, thử thách Cuộc đời của ông trải qua nhiều gian nan, gắn liền với công cuộc đấu tranh giải phóng, bảo vệ và xây dựng tỉnh Thái Nguyên Sau thời gian tham gia quân đội, phục vụ chiến đấu trong đơn vị pháo cao

xạ, Ma Trường Nguyên làm phóng viên báo Quân khu 3, là biên tập viên Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc Sau đó, Ma Trường Nguyên học Trường viết văn Nguyễn Du, ngôi trường đã đào tạo cho nền văn học nước nhà những tác giả tài danh Tốt nghiệp Trường viết văn Nguyễn Du, Ma Trường Nguyên về công tác tại tỉnh Thái Nguyên quê ông Trải qua quá trình công tác, nhà văn đã từng đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trong các cơ quan tỉnh Thái Nguyên: Phó giám đốc Sở Văn hóa-Thông tin (1985), Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên (1998 - 2003), Bí thư Đảng đoàn Hội Văn nghệ, Tổng biên tập báo Văn nghệ tỉnh Thái Nguyên Những trải nghiệm cuộc đời ấy đã giúp cho Ma Trường Nguyên có được một vốn sống, vốn văn hóa phong phú Chính vốn sống, vốn văn hóa thấm đẫm tinh thần dân tộc

ấy đã dệt thành những trang viết dạt dào tình yêu quê hương, xứ sở trong sáng tác của nhà văn Một điều đáng chú ý ở đời sống và đời viết của Ma Trường Nguyên là

dù bận rộn với những công việc từ hành chính đến quản lý thì ông vẫn dành phần lớn tâm lực cho văn chương, viết như một sự trải nghiệm, viết như một sự thôi thúc trả món nợ cuộc đời như ông đã từng chia sẻ

Có thể nói, chính tình yêu tha thiết cuộc sống, con người và văn hóa quê hương là động lực để nhà văn luôn học tập, tìm tòi, sáng tạo và đồng thời chính tình yêu ấy đã tinh lọc vốn sống, tạo nên cốt cách dân tộc miền núi thấm đẫm trong các sáng tác của Ma Trường Nguyên

1.2.2 Tiểu thuyết trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn Ma Trường Nguyên

Ma Trường Nguyên bắt đầu sự nghiệp của mình bằng thơ Bài thơ đầu tiên là

bài Cờ hồng được in trong tập thơ Tiếng trống đông - xuân, xuất bản năm 1960,

khi Ma Trường Nguyên mới 16 tuổi Từ đó đến nay, nhà văn đã cho ra đời 20 đầu sách thuộc các thể loại: thơ, tiểu thuyết, truyện vừa, tự truyện, kí, tiểu luận và phê bình

Trang 29

Trong một thời gian dài từ năm 1960, khi ra mắt bài thơ đầu tiên, đến năm

1990, Ma Trường Nguyên chỉ sáng tác thơ Nhà thơ đã lần lượt công bố các tập thơ

in chung: Đường qua kỉ niệm (1975), Rừng sáng (1980), Quê núi (1987) và các tập thơ in riêng: Mát xanh rừng cọ (1985), Trái tim không ngủ (1988)

Năm 1991, Mũi tên ám khói - cuốn tiểu thuyết đầu tiên của Ma Trường

Nguyên ra đời Và trong vòng 8 năm tiếp theo, Ma Trường Nguyên đã cho ra đời

liên tục 6 cuốn tiểu thuyết, 1 tập truyện kí Đó là Gió hoang (1992), Tình xứ mây (1993), Trăng yêu (1993), Bến đời (1995), Rễ người dài (1996), Mùa hoa hải

đường (1998), Cơn giông thời niên thiếu (Kí – 1997) Đến năm 2004, Ma Trường

Nguyên tiếp tục trở lại và gây ấn tượng ở những thể loại khác với tự truyện Dòng

suối tuổi thơ tôi, và ba tập thơ lần lượt: Câu hát vắt qua vai (2005), Cây nêu

(2006), Bắc cầu vồng thăm nhau (2007) Năm 2009, ông trình làng Những người

bạn (Kí ) Và gần đây nhất là tiểu thuyết Phượng hoàng núi xuất bản năm 2012

Có thể thấy, hành trình viết của nhà văn là hành trình đầy gian khổ với những suy tư, trăn trở, đau đáu thể hiện tinh thần, bản sắc của dân tộc trong từng tác phẩm Từ vốn liếng thơ ban đầu của chàng trai dân tộc Tày, cho đến nay, Ma Trường Nguyên đã thể hiện được tài năng của mình trên hầu hết các thể loại Và

như ông bộc bạch, nó là sản phẩm của sự “say” đến độ nồng nàn với văn chương,

chữ nghĩa, với quê hương sinh thành Có lẽ bởi vậy mà trong tác phẩm của nhà văn, người đọc có thể nhận ra những thế hệ, những con người miền núi vừa chân chất, cần mẫn, vừa đằm thắm, sâu nặng nghĩa tình Với tình yêu thương con người, yêu cuộc sống da diết, mãnh liệt, họ đang từng ngày vươn lên trong gian khó, trong những thử thách khắc nghiệt của thiên nhiên, trong cuộc đấu tranh gian khổ dành tự

do, trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo, xây dựng cuộc sống mới nơi vùng cao, để vượt lên trên cái tầm thường, nhỏ hẹp để vươn tới cái cao cả, để sống và để yêu thương Đặc biệt, Ma Trường Nguyên rất dụng công trong việc ca ngợi tình yêu của con người vùng cao Đây có thể coi là cảm hứng chủ đạo trong các tác phẩm của ông Tình yêu đôi lứa trở thành sợi dây xuyên suốt các tác phẩm để nhà văn kiến giải về nội lực, sức sống, phẩm giá của những người con dân tộc thiểu số giữa

Trang 30

những biến thiên cuộc đời Ở một góc độ nào đó, có thể coi đây là cái “duyên” trong

tiểu thuyết của nhà văn này Chúng tôi sẽ còn trở lại vấn đề này trong những kiến giải sâu hơn trên các phương diện của tiểu thuyết Ma Trường Nguyên ở những chương sau

Với những cố gắng vượt bậc trong văn nghiệp, các tác phẩm của Ma Trường Nguyên đã được bạn đọc đón nhận và trân trọng Ông cũng đã dành được sự ghi nhận, đánh giá cao của xã hội Sau Vi Hồng, Ma Trường Nguyên là nhà văn thứ hai của tỉnh Thái Nguyên tham gia Hội Nhà văn Việt Nam Chặng đường lao động nghệ thuật miệt mài với những tìm tòi, sáng tạo đã đem đến cho tác giả miền núi này nhiều giải thưởng cả ở trung ương và địa phương: Giải thưởng của Ủy ban toàn

quốc Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam (tiểu thuyết Rễ người dài), Giải thưởng của Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam (tập thơ Cây

nêu và tập tiểu luận Hiện đại mà dân tộc), 4 lần giải thưởng văn học 5 năm của tỉnh

Thái Nguyên (giải C cho tập thơ Trái tim không ngủ, giải B cho tiểu thuyết Mũi

tên ám khói và Mùa hoa hải đường, giải B cho tập thơ Câu hát vắt qua vai)

Trong sự nghiệp đa dạng và phong phú ấy của Ma Trường Nguyên, có thể khẳng định, tiểu thuyết chính là điểm nhấn quan trọng của ông Như lời bộc bạch của nhà văn: Trong hành trình viết như một sự níu giữ tâm hồn mình thì ông đến với tiểu thuyết qua một sự tình cờ Những năm tháng học ở khóa I của Trường viết văn Nguyễn

Du, được tiếp xúc với những lý luận tiên tiến của văn chương thế giới mà một trong số

đó là lý luận tiểu thuyết của M.Bakhtin, được nghe những bài giảng của các cây bút tiểu thuyết gạo cội của văn học Việt Nam, Ma Trường Nguyên đã âm thầm tích lũy kinh nghiệm cho mình Và từ sự gợi ý của nhà văn Vi Hồng, ông đã thử sức mình với

tiểu thuyết Mũi tên ám khói Sau này, Ma Trường Nguyên chia sẻ về cuốn sách: “Tôi

nghĩ đến đâu viết đến đấy Tôi không làm đề cương Tôi dựa vào nguyên mẫu là những người thân, trong đó có bố tôi, ông đã từng là cán bộ Việt Minh thời kháng chiến Những người tôi quen biết ở bản tôi, xã tôi, những người còn sống, những người đã mất” [26, tr.53] Và đúng như ông đã quan niệm, viết như một sự lao động đầy đam mê

và cực nhọc Ma Trường Nguyên đã lần lượt trình làng tổng cộng 8 tiểu thuyết, tạo

Trang 31

dựng được “tiếng nói riêng” trong mảng đề tài về dân tộc miền núi Tiểu thuyết của Ma

Trường Nguyên là bài ca ca ngợi tình yêu lứa đôi và vẻ đẹp văn hóa các dân tộc miền núi Đây là hai nguồn cảm hứng chủ đạo trong các tiểu thuyết của nhà văn dân tộc Tày này Nó thu hút tâm lực của ngòi bút Ma Trường Nguyên mạnh mẽ Những đoạn văn miêu tả cảnh tự tình của lứa đôi, những cảnh thiên nhiên, những lễ hội, chợ phiên, đám hát trở thành tâm điểm trong sáng tạo của nhà văn Hai cảm hứng ấy hòa quyện chân thật mà đầy mê hoặc, trở thành nơi nương tựa cho các mạch truyện, cho cách tổ chức tác phẩm của nhà văn Tất cả nhằm kết tinh các giá trị văn hóa dân tộc trong các trang viết của ông Chúng tôi sẽ còn trở lại những phương diện này trong các chương tiếp theo của đề tài

Trong tiểu thuyết của Ma Trường Nguyên, người đọc nhận ra nguồn cảm hứng bất tận về cuộc sống, thiên nhiên và con người miền núi với những nét văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc Đó là cuộc sống nhiều gian lao, vất vả nhưng sâu nặng nghĩa tình với những phong tục tập quán, những lễ hội đặc trưng cho miền núi

Đó là thiên nhiên miền núi thơ mộng mà hùng vĩ và thấm đậm tình người Đó là những con người miền núi với cuộc sống có nhiều bất hạnh song họ đẹp cả về hình thức và tâm hồn Bằng cách kể chuyện mộc mạc cùng với ngôn ngữ giản dị, trữ tình, và cách so sánh ví von giàu hình ảnh, nhà văn Ma Trường Nguyên đã viết về cuộc sống, thiên nhiên và con người miền núi với tất cả niềm say mê, yêu mến Tiểu thuyết của ông mang những giá trị nhân văn sâu sắc, một niềm tin yêu, quý trọng mãnh liệt với văn hóa dân tộc Đó chính là những đóng góp nổi bật của tiểu thuyết

Ma Trường Nguyên cho bức tranh chung của tiểu thuyết nói riêng và văn xuôi các dân tộc thiểu số nói chung

Tiểu kết

Qua nghiên cứu khái quát về văn xuôi các dân tộc thiểu số và cuộc đời, con người, sự nghiệp sáng tác của nhà văn Ma Trường Nguyên, chúng tôi nhận thấy: Với hơn 60 năm vận động và phát triển, mặc dù còn có những hạn chế song văn xuôi dân tộc thiểu số đã đạt được những thành tựu nhất định, góp phần làm giàu hơn cho nền văn học Việt Nam hiện đại Lực lượng sáng tác với các cây bút

Trang 32

là người của nhiều dân tộc thiểu số như Tày, Nùng, Hoa, Chăm, Thái, Ê đê, … phân bố trên nhiều vùng miền của đất nước đã làm cho các sáng tác văn xuôi dân tộc thiểu số trở nên phong phú và đa dạng với bản sắc dân tộc độc đáo Sự mở rộng đề tài theo hướng ngày càng đi sâu khám phá những vấn đề phức tạp của đời sống thế sự miền núi, sự phát triển trên các phương diện cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ … đã giúp cho văn xuôi dân tộc thiểu số từng bước vận động và ngày càng vững chắc hơn trên con đường phát triển của mình

Cuộc đời nhiều gian nan, thử thách tạo nên một vốn sống và vốn văn hóa phong phú, tố chất nhà văn, cùng với tình yêu quê hương miền núi sâu đậm đã giúp

Ma Trường Nguyên rất nhiều trong công việc sáng tác Với 20 đầu sách thuộc các thể loại: thơ, tiểu thuyết, truyện vừa, tự truyện, kí, tiểu luận và phê bình , nhà văn

đã có những đóng góp không nhỏ cho nền văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam Các giải thưởng văn học trung ương và địa phương là những món quà tinh thần mà nhà văn xứng đáng được hưởng và cũng là động lực để nhà văn tiếp tục sáng tạo trên con đường văn chương mà mình đã chọn

Trang 33

Chương 2 CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO TRONG TIỂU THUYẾT CỦA MA TRƯỜNG NGUYÊN

2.1 Một số khái niệm liên quan

2.1.1 Khái niệm tiểu thuyết

Tiểu thuyết là một thể loại văn học lớn tiêu biểu cho phương thức tự sự Kể

từ khi xuất hiện, thể loại văn học này đã có những tác động mạnh mẽ vào đời sống tinh thần của toàn xã hội và nó nhanh chóng trở thành một thể loại văn học chủ đạo

Các tác giả cuốn Từ điển thuật ngữ văn học cho rằng: tiểu thuyết là “Tác

phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng” [4, tr.277] Định nghĩa trên về tiểu thuyết cho thấy

tầm vóc lớn lao của tiểu thuyết trong phản ánh hiện thực và thể hiện thái độ, quan niệm của nhà văn trước hiện thực ấy

Tiểu thuyết là thể loại có cái nhìn cuộc sống từ góc độ đời tư Đây là đặc

trưng cơ bản có tính thẩm mĩ của tiểu thuyết, đã được hình thành ngay trong tiểu thuyết cổ đại Về sau cái nhìn đời tư của tiểu thuyết khá linh hoạt theo những biến động lịch sử Khi yếu tố đời tư càng phát triển thì chất tiểu thuyết càng tăng Tiểu

thuyết cũng là thể loại mang đậm chất văn xuôi Tức là tiểu thuyết tái hiện cuộc

sống một cách khách quan như nó vốn có chứ không thi vị hóa, lãng mạn hóa, lí tưởng hóa cuộc sống Tính chất đó đã tạo nên trường lực mạnh mẽ để thể loại dung chứa toàn vẹn hiện thực, đồng hóa và tái hiện chúng trong một thể thống nhất với những sắc màu thẩm mỹ mới vượt lên trên hiện thực, cho phép tác phẩm phơi bày đến tận cùng sự phức tạp muôn màu của hiện thực đời sống Bên cạnh đó, tiểu

thuyết còn là thể loại có tính hư cấu nghệ thuật cao, đa dạng về sắc độ thẩm mĩ, cấu

trúc linh hoạt, nhân vật có tính cách phong phú, đa dạng Đặc biệt, tiểu thuyết là

thể loại văn học có tính tổng hợp Qua ngôn từ nghệ thuật, tiểu thuyết có thể dung

nạp những phong cách nghệ thuật của các thể loại văn học và các loại hình nghệ

Trang 34

thuật khác nhau Những rung động tinh tế của thơ, xung đột xã hội của kịch, hiện thực đời sống của ký… và cả màu sắc của hội họa, thanh âm của nhạc, sự cân xứng, chi tiết của điêu khắc, khả năng liên kết các bức màn hiện thực của điện ảnh… đều

có thể xuất hiện trong tiểu thuyết Chính tính tổng hợp đã khiến cho tiểu thuyết trở thành một mảnh đất màu mỡ mà ở đó nhà văn có thể khai thác thế giới xung quanh

và phát huy tối đa tài năng của mình Cũng chính đặc trưng này đã làm cho thể loại tiểu thuyết luôn vận động, không đứng yên

2.1.2 Khái niệm cảm hứng chủ đạo

Cảm hứng chủ đạo là “trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác

phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận tác phẩm” [4, tr.38] Theo

Bielinxki thì cảm hứng chủ đạo là điều kiện không thể thiếu của việc tạo ra những

tác phẩm đích thực, bởi nó “biến sự chiếm lĩnh thuần túy trí óc đối với tư tưởng

thành tình yêu đối với tư tưởng, một tình yêu mạnh mẽ, một khát vọng nhiệt thành”[4, tr.38-39] Như vậy, có thể hiểu, cảm hứng chủ đạo là một yếu tố của bản

thân nội dung nghệ thuật, của thái độ, tư tưởng xúc cảm ở người nghệ sĩ đối với thế giới được miêu tả Theo nghĩa này, cảm hứng chủ đạo thống nhất với đề tài và tư tưởng của tác phẩm Cảm hứng chủ đạo mang lại cho cho tác phẩm một không khí xúc cảm tinh thần nhất định, thống nhất tất cả các cấp độ và yếu tố của nội dung tác phẩm Đó có thể xem là mức căng thẳng cảm xúc mà nhờ đó người nghệ sĩ khẳng định các nguyên tắc thế giới quan của mình trong tác phẩm Cảm hứng chủ đạo (lý luận văn học hiện đại đồng nhất với khái niệm cảm hứng) là một hiện tượng độc đáo, không lặp lại, gắn bó chặt chẽ với tình cảm của tác giả

Như trên chúng tôi đã đề cập, Ma Trường Nguyên là nhà văn có tình yêu tha thiết với dân tộc, quê hương Đây chính là yếu tố căn bản bên cạnh bối cảnh văn hóa chi phối và tạo nên cảm hứng trong tác phẩm của nhà văn này Đó là cảm hứng

về hiện thực cuộc sống miền núi trong những bước chuyển mình của lịch sử với hàng loạt các sự kiện, và trong bối cảnh ấy, con người miền núi hiện lên với những

Trang 35

phẩm chất cao quý Đó là cảm hứng nhân đạo sâu sắc mà nhà văn hướng đến cùng với tấm lòng trân trọng các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc

2.2 Cảm hứng chủ đạo trong tiểu thuyết của Ma Trường Nguyên

2.2.1 Cảm hứng về hiện thực cuộc sống và văn hóa miền núi

2.2.1.1 Cuộc sống cũ nghèo khổ, nhiều đau thương

Trong tiểu thuyết của Ma Trường Nguyên, cảm hứng về cuộc sống cũ nhiều đau thương không phải là cảm hứng nổi bật nhưng cũng để lại những ấn tượng khá sâu đậm trong lòng người đọc Chúng ta bắt gặp trong các tác phẩm của Ma Trường Nguyên nhiều cảnh đời cũ đầy đau khổ Đó là gia đình nghèo khổ của ông Roạn, là

cuộc sống li tán của vợ chồng Đông và Đao trong Mũi tên ám khói Đó là cuộc sống đi ở làm công, vì nghèo nên mất người yêu của Mưởn trong Trăng yêu Đó là cuộc đời cũ phiêu bạt của hai anh em Bồng, Bềnh trong Bến đời Đó là cuộc sống nghèo và nhiều bất hạnh của Sáy trong Mùa hoa hải đường Là những đau thương

do tình yêu bị chia rẽ trong nhiều tác phẩm… Có thể thấy, cảm hứng về cuộc sống

cũ nhiều đau thương cũng đã tạo ra cho tiểu thuyết của Ma Trường Nguyên một đặc điểm đáng chú ý

Tiểu thuyết Rễ người dài của tác giả kể về những đôi trai gái yêu nhau gặp

trắc trở, đau thương Đầu tiên phải kể đến là câu chuyện tình yêu của ông Pình và

bà Hay Đôi trai gái đang yêu nhau tha thiết thì mẹ Hay qua đời Bố Hay lầm lũi, âm thầm sống giữa núi rừng Trong khi đó, bố Pình lại bắt anh phải lấy vợ để phụng dưỡng bố mẹ già Hủ tục đã khiến cuộc sống thời trẻ của ông Pình và bà Hay đầy

đau buồn Đây là hoàn cảnh của đôi trai gái ấy: “Đối với Hay theo tục lệ quy định

phải sau ba năm mãn tang mẹ mới được lấy chồng Cuối năm ấy Pình cưới vợ, lấy một người con gái cùng mường Hay, mẹ chết, nỗi đau còn chưa nguôi, tiếp thêm người yêu đã từ bỏ mình, cô ngã bệnh ốm đến liệt giường, bệnh càng nặng, rụng cả làn tóc mây óng ả, héo hắt đến gần như điên loạn cả tâm trí” [23, tr.32] Bệnh tình

của Hay từ đấy càng nặng thêm, bố Hay tìm mọi phương cách, rồi cuối cùng khi cô nhận Pình làm anh em thì bệnh tình có thuyên giảm nhưng từ đấy cô chôn chặt mối tình trong lòng và lầm lũi sống Đến thế hệ tiếp theo, do ràng buộc tình cảm trong

Trang 36

một lễ kết tồng mà bao chàng trai cô gái phải sống trong đau khổ Pàng, Dàu và Lềnh là ba anh em kết tồng Diêu Anh và A Hoa là hai chị em nuôi Pàng và Dàu

đều yêu Diêu Anh nhưng Pàng là anh nên lấy Diêu Anh làm vợ Lềnh yêu A Hoa nhưng A Hoa lại yêu Pàng Khi Pàng lấy Diêu Anh thì Dàu và A Hoa lấy nhau mặc

dù giữa họ không có tình yêu và họ cùng rơi vào đau khổ Dàu đến với A Hoa như

một sự khỏa lấp, một sự buông xuôi: “Hai tâm hồn đang bị thất vọng, hụt hẫng về

tình yêu, họ như hai kẻ cô đơn, chới với chưa nơi nương tựa Với lại hai tâm trạng cũng muốn gạt bỏ nỗi buồn đã vướng víu họ đến khổ sở không còn hi vọng nào nữa

Tự nhiên hai người con trai con gái ủ rũ buồn đau tưởng chừng như không còn niềm sống lại có sự xui khiến nào đó mà hai trái tim bơ vơ gặp nhau trong một nhịp đập chán chường” [23, tr.107-108] Nhưng rốt cuộc sự chắp vá ấy đã không đem lại

hạnh phúc cho cả hai Trong khi đó Lềnh ôm trong lòng mối tình đau khổ với A Hoa Họ cứ sống trong khổ đau như vậy Cái chết của Pàng là một nút mở cho cuộc sống của họ Sau những khổ đau vì cái chết ấy, Dàu và Diêu Anh, A Hoa và Lềnh

đã đến được với nhau trong một cuộc sống mới tươi vui hơn

Không chỉ do hủ tục, cuộc sống cũ của những người dân miền núi còn đầy

khổ đau vì nhiều lý do khác Gia đình ông Roạn trong Mũi tên ám khói có 8 anh chị

em Người cha ốm yếu “nằm rên hừ hừ bên bếp lửa”, gạo hết, sắn cũng cạn nương, đàn con đi kiếm “rau má, rau gai, rau dớn, rau bọ mẩy và rau bò khai” về ăn, người mẹ đang ốm cũng “vùng dậy xuống sàn lấy thuổng đi vào rừng” Chưa lấy

được củ mài về làm bữa ăn cho gia đình, người mẹ đã bị hổ ăn thịt Khi người cha

và người con trai lớn tìm đến thì người mẹ “đã bị hổ xé nát, không còn ra hình

người, thịt mỗi chỗ một phần, lẫn trong lá khô” Đau đớn, tan nát cõi lòng, hai cha

con lặng lẽ “gom lại thành đống, tìm lá chuối gói mang về nhà” chôn cất Cũng

trong Mũi tên ám khói, nhà Đông nghèo không có tiền cưới vợ Vì yêu Đông nên

Đao bỏ mường Thung đến mường Cốc Tát sống cuộc sống vợ chồng Nhà nghèo,

họ ở với nhau mà không có lễ trình làng Chánh Han tìm đến bắt vạ, thấy Đao đẹp nên cướp Đao về làm vợ ba Vợ chồng Đông Đao sống trong li tán, Đao phải sống

trong tủi nhục làm vợ kẻ tàn ác Trong khi đó Mưởn (Trăng yêu) là chàng trai

Trang 37

nghèo phải đi ở làm công cho nhà Gắm Vì nghèo cho nên Mưởn không đến được với Thau, phải chứng kiến cảnh Thau bị ép gả cho Gắm Đau đớn Mưởn đã bỏ quê nhà đi vùng khác sinh sống Còn Bồng và Bềnh, hai anh em mang số phận như chính cái tên của họ, không rõ cha mẹ là ai, sống phiêu bạt bằng nghề sông nước

(Bến đời) Sáy (Mùa hoa hải đường) mồ côi mẹ, sống với cha, từ nhỏ đã phải đi

làm thuê kiếm sống Do nhà nghèo, bố Sáy đã phải bán con đi làm người ở cho nhà chủ Khút từ khi Sáy mới hơn 10 tuổi Từ đó Sáy sống cảnh bị đánh đập, hành hạ, bị chủ tìm cách cưỡng đoạt May mắn thoát nạn nhưng cuộc đời của Sáy tiếp tục phải đối mặt với những khúc đoạn trường, phải cho đi đứa con mình đứt ruột đẻ ra, chứng kiến người ta cướp trên tay đứa con của chính mình,…

Sống nơi đại ngàn nhiều khắc nghiệt và đầy rẫy những khó khăn, những người dân miền núi thật khó tránh khỏi những thiệt thòi Nhưng quan trọng hơn là nếu cuộc sống còn có những con người độc ác, những hủ tục lạc hậu tồn tại thì con người không thể có được hạnh phúc cho mình Viết về cuộc sống cũ nghèo khổ, nhiều đau thương, nhà văn Ma Trường Nguyên vừa muốn người đọc sống lại những ngày tháng ấy của đồng bào dân tộc, để mà thấu hiểu và chia sẻ, đồng thời cũng muốn lí giải nguyên nhân những đau khổ của người dân Có thể xem đây là minh chứng xác đáng về tình yêu con người luôn thường trực trong trái tim nhà văn

2.2.1.2 Cuộc đấu tranh xây dựng cuộc sống mới, xóa bỏ lối sống lạc hậu

Hiện thực về cuộc đấu tranh xây dựng cuộc sống mới, xóa bỏ lối sống lạc hậu là hiện thực được nhà văn Ma Trường Nguyên đi sâu miêu tả Không gian trong tiểu thuyết của Ma Trường Nguyên không rộng nhưng thời gian nghệ thuật lại rất dài, đó là thời gian của thế hệ Và cảm hứng nghệ thuật đã tạo ra cấu trúc rất riêng trong tiểu thuyết của ông Trở đi trở lại trong thế giới tiểu thuyết Ma Trường Nguyên là sự tiếp nối các thế hệ, vượt lên trên cuộc sống lạc hậu, vượt lên cái xấu, cái ác với niềm tin mạnh mẽ về sự chiến thắng, ước vọng hạnh phúc Và bao giờ cũng vậy, thế hệ sau chính là đại diện, chính là chủ nhân của cuộc sống được tạo dựng, vun đắp vững chãi bởi tình thương yêu giữa con người với con người

Trang 38

Trong tiểu thuyết Mũi tên ám khói, không khí đấu tranh chống lại những thế

lực xấu để dựng xây cuộc sống mới được nhà văn khắc họa khá rõ nét Khi đến ở cho nhà chánh Han, chứng kiến cảnh Đao bị chánh Han trói vào thành giường để cưỡng làm vợ, Roạn đã rất căm tức Anh trốn khỏi nhà vào rừng sâu gặp cán bộ Việt Minh, được tuyên truyền giác ngộ Qua thử thách Roạn đã được kết nạp vào Đảng Cộng sản, sau đó trở thành bí thư chi bộ, cán bộ cốt cán của địa phương Các đồng chí trong đội du kích của Roạn đã có rất nhiều sáng kiến, vượt qua biết bao gian khổ để hoàn thành nhiệm vụ Và khi nhận được mệnh lệnh của cấp trên, chính ông Roạn đã phân công Đông phục kích ở gốc đa làng để trừ khử tên chánh Han Mũi tên tẩm độc phi thẳng vào tim chánh Han là một chi tiết đắt giá nói lên sự căm hờn và ý chí quật cường, đấu tranh chống lại cái ác để giành lấy cuộc sống tự do Cũng trong tiểu thuyết này, để bảo vệ và phát triển rừng, ngăn chặn những kẻ xấu muốn chặt phá rừng, đã có bao bàn tay cùng chung tay góp sức Ông Roạn, chủ tịch

xã Khau Dạ đã dành bao tâm huyết cho kế hoạch thành lập lâm trường San là chủ nhiệm hợp tác xã mường Cốc Tát đã quên cả việc gia đình riêng để lo lắng cho công việc chung Sum là đội trưởng bảo vệ rừng của hợp tác xã mường Cốc Tát Khuổi tốt nghiệp đại học lâm nghiệp và mong muốn về quê hương công tác Cô nung nấu

về một “đề án kinh tế” trong đó có kế hoạch tu bổ và cải tạo rừng Tình cảm tha

thiết với quê hương của những con người này đã tạo thành bài ca từ sự đấu tranh giành độc lập đến sự phấn đấu quên mình để mang đến cái đẹp, cái thiện, để xây dựng cuộc sống ấm no cho quê hương của họ

Tiểu thuyết Gió hoang cũng phản ánh cuộc đấu tranh chống lại lối sống lạc

hậu để dựng xây cuộc sống mới Mo Ngàu là phần tử xấu đã gieo rắc tư tưởng lạc hậu và là kẻ cản trở cuộc sống mới Chính lão đã xúi giục mọi người không tham gia xây dựng xưởng sản xuất hàng thủ công, chế biến lâm sản Lợi dụng sự thiếu

hiểu biết và niềm tin của dân bản, Mo Ngàu tuyên truyền: “ Chỗ đất ở Cò Luồng tức

là cả cái mường ta đây là cái cổ họng của cả con rồng Mà cổ họng rồng đã bị chặt

đi hoặc chẹn lại con rồng không ăn được nữa sẽ chết Mà con rồng chết là cả cái mường Cốc Lồm này sẽ bị tuyệt diệt Nghĩa là chết hết cả giống nòi, cái mường này

Trang 39

sẽ thành đất chết, cỏ cây héo khô, suối cạn, người sẽ chết hết không còn ai sống sót

để mà chôn ai Mường Cốc Lồm này từ bản Nà Tẩu cho đến bản Tổng Chang lên bản Nặm Tút như một nấm mồ chung” [19, tr.86] Không chùn bước trước những

phần tử xấu, Lèng, Muồn và những cán bộ ở Cốc Lồm quyết tâm và đã hoàn thành việc xây dựng xưởng sản xuất hàng thủ công, chế biến lâm sản Sự ăn nên làm ra của xưởng sản xuất đã chứng tỏ sức mạnh của việc dám nghĩ dám làm, dám chống lại cái lạc hậu để xây dựng cuộc sống mới cho bản làng

Trong Mùa hoa hải đường ta cũng bắt gặp cuộc đấu tranh chống lại cái lạc

hậu để xây dựng cuộc sống mới Là hiệu phó phụ trách chuyên môn, chịu trách nhiệm về việc học tập của học sinh, cô giáo Ngần xót xa trước cảnh sân trường bị biến thành bãi bán trâu, học sinh bỏ học đi xem chợ, chất lượng dạy, học bị giảm

sút Với tinh thần trách nhiệm cao, Ngần đã “ đề nghị với phòng nông nghiệp, với

chủ tịch huyện về việc quy hoạch lại đất đai thuộc thị trấn quản lý Thị trấn cần chuyển khu chợ trâu hiện nay tại sân trường sang phía bãi đất sát kề chân núi Phja Đán.” [24, tr.13] Để tránh việc học sinh bỏ học đi xem chợ, Ngần đề xuất phương

án chuyển ngày nghỉ của học sinh vào các ngày chợ phiên Đề xuất của cô là giải pháp hợp lý nên được Phòng giáo dục chấp nhận Mặc dù rất thương con, Ngần vẫn

kiên quyết không cho con mình được lên lớp vì “Cô biết chắc chắn thằng Báu

không thể học nổi Thà rằng để nó học lưu ban một năm cho vững kiến thức sẽ lên lớp còn hơn” [24, tr.124] Việc làm của Ngần thể hiện rõ cái tâm của một nhà giáo

nhưng cô gặp phải sự phản ứng gay gắt từ bố mẹ chồng Mẹ chồng cô mắng cô là “đứa

bội bạc” và “chẳng còn bố mẹ con cái gì nữa Chúng tôi xin từ mặt chị từ đây” [24,

tr.125] Những việc làm ấy của Ngần thể hiện tâm huyết của một người giáo viên hết lòng vì sự nghiệp giáo dục của miền núi, hết lòng vì cuộc sống mới của quê hương

Trong tiểu thuyết Phượng hoàng núi, cuộc đấu tranh đã mở rộng đến phạm

vi cả nước trong cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm nhưng đồng thời cũng ngồn ngộn bản sắc của quê hương miền núi Tiểu thuyết mang âm vang sử thi nhưng cũng rất nhiều chi tiết đời thường, điểm đã tạo ra nét phong cách của Ma Trường

Trang 40

Nguyên Trải suốt từ cuộc kháng chiến chống Pháp đến cuộc kháng chiến chống

Mỹ, những người con ra chiến trận ấy đã sống trong lòng đồng bào dân tộc như những vị anh hùng của dòng họ Ma lẫy lừng Cuộc chiến đấu đầy gian khổ, hi sinh nhưng cũng đậm chất nhân văn Mối tình của Ma Loỏng với nữ quân y Trần Thị Thành là một biểu hiện tiêu biểu Cho đến khi Ma Hoàng, thế hệ thứ ba của quê hương lên đường nhập học Học viện quân sự, tiếng của Ma Loỏng vang lên giữa núi rừng như một lời thề, một nguồn mạch không dứt của tinh thần đấu tranh bất khuất của đồng bào vùng cao:

“Ông tộc trưởng họ Ma là đại tá Ma Loỏng trong bộ quân phục xanh thẫm màu chàm chững chạc với quân hàm quân hiệu chỉnh tề… Giọng ông Ma Loỏng bỗng rít lên như có tiếng gió hú, tiếng thác đổ trên núi âm vang:

Hỡi lũ làng! Hỡi bà con… anh em mường ta! Hôm nay quê núi ta rất kiêu hãnh được tiễn con trai ta là chàng trai Tày Ma Hoàng Nó là đứa con của chiến trường, cũng là đứa con của mường Phượng Hoàng xứ núi ta… và xa xôi nữa là trai Tày Ma Hoàng cũng là thuộc dòng tộc lâu đời từ thời thượng cổ tướng quân

Ma Khê, một tướng mưu lược của Hùng Vương bốn nghìn năm trước Hôm nay trai Tày lên đường nhập học Học viện quân sự là để làm tròn bổn phận của một người con trai của quê hương Phượng Hoàng cùng với các trai tài cả nước bảo vệ vững chắc Tổ quốc thân yêu” [25, tr.133]

Có thể thấy được vì sao những con người miền núi lại mạnh mẽ và quyết liệt đến như vậy trong cuộc đấu tranh chống lại cái ác, cái lạc hậu để xây dựng cuộc sống mới Từ bao đời nay, cuộc sống con người nơi núi rừng vốn chìm trong nhiều nỗi khổ Thiên nhiên khắc nghiệt, điều kiện kinh tế xã hội còn đặc biệt khó khăn, nhận thức của con người còn nhiều hạn chế Tuy nhiên, người miền núi lại rất mạnh

mẽ bởi họ đã quen đối mặt với trở ngại Trong sâu thẳm con người họ luôn khao khát một cuộc sống tốt đẹp hơn, cuộc sống mà nơi ấy cái ác, cái lạc hậu bị đẩy lùi Chính bản chất con người mạnh mẽ và khao khát cháy bỏng ấy đã giúp họ trụ vững trong cuộc sống còn nhiều đau khổ, để rồi vững bước trên con đường đấu tranh xây

Ngày đăng: 24/03/2021, 18:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w