Như vậy, các công trình nghiên cứu xung quanh tiểu thuyết viết về nông thôn nói chung đã quan tâm đến nhiều khía cạnh của mảng văn học này từ bộ mặt toàn diện trong xu hướng phát tiển đế
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến Tiến sỹ Nguyễn Đức Hạnh, người thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo và động viên
em trong suốt quá trình làm luận văn
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, cán bộ, giảng viên Khoa Sau Đại học và Khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ em vượt qua những khó khăn, thách thức trong thời gian học tập, nghiên cứu tại trường
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Hội đồng giáo dục trường THPT Vũ Lễ, các anh chị, các bạn đồng nghiệp và gia đình đã khích lệ, động viên, tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Dù đã có nhiều cố gắng xong luận văn không tránh khỏi những thiếu xót, hạn chế Kính mong nhận được sự đóng góp của các thầy, cô giáo, các anh chị và tất cả các bạn để luận văn được hoàn thiện và có giá trị thực tiễn hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 8 năm 2010
Hoàng Thị Thuý Ngà
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
1 Văn xuôi Việt Nam hiện đại có nhiều tác phẩm đặc sắc viết về nông thôn Việt Nam trong những năm tháng trước và sau thời kỳ đổi mới 1986, phản ánh những nỗi đau do nghèo và lạc hậu, "căn bệnh” phe cánh họ mạc cục bộ,những hủ tục kéo dài từ thế hệ này sang thế hệ khác và cả những sai lầm vì cơ chế quan liêu bao cấp kéo dài…bên cạnh những tác giả, tác phẩm
nổi tiếng viết về đề tài này như Nguyễn Khắc Trường với "Mảnh đất lắm
người nhiều ma", Nguyễn Mạnh Tuấn với "Cù lao Tràm", Dương Hướng với
"Bến không chồng", Tạ Duy Anh với "Lão khổ", Hoàng Minh Tường với
"Thuỷ hoả đạo tặc" chúng ta không thể không nhắc tới các nhà văn địa
phương đã âm thầm viết và có những thành tựu đáng ghi nhận Trịnh Thanh Phong, hội viên Hội nhà văn Việt Nam, là một trường hợp như thế
2 Sau tiểu thuyết "Ma làng” được chuyển thể thành tác phẩm điện ảnh
và gây tiếng vang lớn trong công chúng, Trịnh Thanh Phong xuất bản tiếp tiểu
thuyết "Đồng làng đom đóm" Cả hai tiểu thuyết của ông đều viết về đề tài
nông thôn với những xung đột thế sự đời tư vừa lâu dài vừa mang tính thời
sự Nghiên cứu tiểu thuyết của Trịnh Thanh Phong chúng ta có thêm cơ sở khoa học để khẳng định xu thế vận động của văn xuôi Việt Nam đương đại trước và sau khởi điểm đổi mới 1986 ở đề tài nông thôn
3 Trong chương trình ngữ văn cấp Trung học cơ sở có 24 tiết dành cho văn học địa phương, theo khảo sát của chúng tôi thì phần văn học địa phương hiện nay vẫn còn là "khoảng trống” ở nhiều tỉnh thành trên cả nước Trong chương trình đào tạo ngành văn của khoa đào tạo giáo viên Trung học cơ sở - Đại Học Sư Phạm - Đại Học Thái Nguyên ở hai chuyên ngành Văn học Việt Nam hiện đại và Lí luận văn học đều có phần văn học địa phương của 6 tỉnh
Trang 5thuộc vùng Việt Bắc Thực hiện đề tài này chúng tôi hi vọng sẽ đóng góp thêm một tài liệu tham khảo bổ ích cho giáo viên và sinh viên trong trường Đại Học Sư Phạm nói chung, cho giáo viên và học sinh cấp Trung học cơ sỏ tại tỉnh Tuyên Quang nói riêng
II Lịch sử vấn đề
Đề tài nông thôn là đề tài tương đối rộng lớn trong văn học Việt Nam
Nó tồn tại tự nhiên trong đời sống văn học cũng như đời sống thường nhật của con người Vì đặc thù nước ta là nền văn hóa lúa nước và văn hóa làng xã, là mảnh đất màu mỡ cho văn học nhưng không phải là mảnh đất dễ khai thác vì nông thôn Việt Nam nói chung, nông thôn mỗi vùng miền lại có một bản sắc văn hóa đặc trưng Xung quanh mảng văn học viết về đề tài nông thôn có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết Các ý kiến nhìn chung rất phong phú
Tiêu biểu cho những công trình đã nghiên cứu về văn xuôi Việt Nam
viết về đề tài nông thôn là cuốn Văn xuôi viết về nông thôn tiến trình và đổi
mới của tác giả Lã Duy Lan, Nxb Khoa Học Xã Hội, H.2001 Trong cuốn
sách tác giả đã tổng kết toàn bộ tiến trình và xu hướng phát triển của văn xuôi viết về đề tài nông thôn đặt trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam Nội dung chủ yếu tác giả cuốn sách muốn đề cập đó là bộ mặt thật của nông thôn Việt Nam thời kì đổi mới được phản ảnh trong văn học Việt Nam như thế nào Cuốn sách là một cái nhìn tương đối toàn diện về mảng văn xuôi viết
về đề tài nông thôn Việt Nam
Bên cạnh đó có rất nhiều những bài tiểu luận, bài phỏng vấn của phóng viên các báo với các cây bút chuyên viết về đề tài nông thôn Trong đó có thể
kể đến các bài như: bài tiểu luận Nhà quê, nông thôn: Tự nó và về nó của tác
giả Mai Anh Tuấn in trên báo Văn nghệ trẻ số ra ngày 30.5.2009 Trong đó tác giả đã bàn về nhận thức về đề tài nông thôn của một số nhà văn, nhà thơ tiêu biểu như Nguyễn Bính, Nam Cao, Nguyễn Huy Thiệp…
Trang 6Các nhà văn chuyên viết về đề tài nông thôn cũng có nhiều ý kiến về
vấn đề này Bài viết Nhà văn với vấn đề “tam nông” của phóng viên Đỗ Ngọc
Thạch trên trang Phong Điệp net cũng đề cập đến vấn đề đề tài nông thôn với các nhà văn mới trong đó có ý kiến của nhà văn Nguyễn Khắc Trường cho
rằng: “Viết về nông thôn, viết về người nông dân là động đến cái mẫu số
chung, cái phần sâu thẳm nhất của dân tộc chúng ta… Còn nhiều vấn đề bức xúc ở nông thôn lắm, đây là một đề tài rộng lớn tưởng là dễ hiểu nhưng hết sức bí mật” Như vậy đề tài nông thôn là còn là một mảnh đất đầy bí mật
không chỉ với các nhà văn trẻ mà ngay cả đối với nhà văn đã có nhiều trải nghiệm về cuộc sống nông thôn
Như vậy, các công trình nghiên cứu xung quanh tiểu thuyết viết về nông thôn nói chung đã quan tâm đến nhiều khía cạnh của mảng văn học này
từ bộ mặt toàn diện trong xu hướng phát tiển đến những khía cạnh, góc nhìn nhỏ hơn như đề tài nông thôn trong các tiểu thuyết cụ thể của các nhà văn cụ thể: Kim Lân, Nam Cao, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Ngọc Tư… Trong đó
cũng có những bài viết nghiên cứu về tiểu thuyết Ma làng và Đồng làng đom
đóm của nhà văn Trịnh Thanh Phong
Tiểu thuyết Ma làng và Đồng làng đom đóm là hai tiểu thuyết tiêu biểu
của nhà văn Trịnh Thanh Phong Đây cũng là hai tiểu thuyết thành công của mảng văn xuôi viết về nông thôn cũng như của tác giả Trịnh Thanh Phong, tạo được sự hấp dẫn đối với nhiều độc giả Xung quanh hai cuốn tiểu thuyết này cũng có nhiều ý kiến bàn luận ở nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau Chúng ta có thể điểm qua một vài ý kiến tiêu biểu với những cái nhìn khác
nhau về tiểu thuyết Ma làng và Đồng làng đom đóm như sau:
Bài phỏng vấn tác giả “Ma làng” do Hà Anh thực hiện trên báo Viêtnam.net hé mở cho chúng ta nhiều vấn đề trong tác phẩm Ma làng
Trong cuộc trò chuyện với nhà văn Trịnh Thanh Phong, tác giả Hà Anh đã có
Trang 7dịp đề cập đến chất liệu, cảm hứng của nhà văn khi viết tiểu thuyết Ma làng
Về chất liệu, Tác giả Trịnh Thanh Phong đã khẳng định “chất liệu hiện thực
và những trải nghiệm thực tế để vẽ lên một bức tranh làng quê trong tiểu thuyết ma làng phải chiếm tới 90% và có những cảnh vật, con người vẫn còn nguyên sơ ở ngoài đời nơi tôi ở…” Đó cũng chính là những lời nhà văn đã
nói trong lời tựa của cuốn tiểu thuyết này: “Tất cả để dựng lên khuôn hình,
cảnh vật con người trong cuốn sách này tôi đã tìm nhặt ở làng quê lở lói, nghèo khổ bám quanh viền chân núi Châm chạy nhoài ra phái bờ sông Lô ở chỗ con gà gáy ba tỉnh cùng nghe thấy! Bỏ vào cái túi da, tôi về ngồi dưới căn nhà lá cọ ở cái phố “Hủng “thị xã Tuyên Quang sắp đặt lại Công việc tôi làm giống như người tập đan lát thêu thùa… Kỳ cạch mãi rồi cũng xong! ” [30.5] Qua lời tâm sự của nhà văn chúng ta thấy rằng tác phẩm Ma làng được dựng lên bằng chính những trải nghiệm thực tế của tác giả nơi làng
quê mình ở Bằng chính những trải nghiệm thực tế ở một làng quê cụ thể cộng với sự trải nghiệm cuộc sống của mình tác giả đã sáng tạo ra thế giới nhân vật cũng như cuộc sống thôn quê trong tác phẩm Điều này cũng được tác giả tâm
sự trong bài phỏng vấn Ví dụ khi nói về việc xây dựng nhân vật Tòng - nhân
vật tiêu biểu cho cái ác nhà văn nói: “Khi xây dựng nhân vật này, ngoài
những mẫu hình của cái ác ngoài đời mình vẫn gặp, tôi cũng phải tổng hợp, thống kê để chắt lọc và lựa chọn lấy những nét tiêu biểu nhất của cái ác để thổi vào nhân vật Tòng…” Bằng chính những tổng hợp này mà nhân vật trong
Ma làng không chỉ tiêu biểu cho làng quê ở vùng núi Tuyên Quang mà còn tiêu biểu cho nhiều làng quê khác Trong bài phỏng vấn còn đề cập đến cảm
hứng của nhà văn Trịnh Thanh Phong khi viết tiểu thuyết Ma làng: “Từ nguồn
mạch mình ấp ủ đã tạo thành cảm hứng chân thật nên chữ nghĩa cứ chảy ra
tự nhiên như vậy thôi.” Những ấp ủ của nhà văn chính là tình cảm và trách
nhiệm đối với người nông dân ở quê ông nói riêng và những người nông dân
Trang 8Việt Nam nói chung: “Hướng khai thác đề tài của tôi là nhằm vào những thân
phận, kiếp người thấp cổ bé họng bị vùi phủ, đày đọa suốt một thời có thể gọi
là xa vắng! Người nông dân vẫn chưa thoát ra được câu ca dao: “Con cò lặn lội bờ ao/ Ăn sung sung chát ăn đào đào chua”! Vì người nông dân suy cho cùng chỉ biết làm lụng nghe lời! Vấn đề nông thôn còn nhiều trăn trở lắm Có điều nhà văn khai thác như thế nào để viết đúng cuộc sống của họ, khát vọng của họ…” Như vậy cảm hứng để viết Ma làng chính là những trăn
trở của nhà văn về con người nông dân và cuộc sống nông thôn Chính những điều này đã ước thúc tác giả viết cuốn tiểu thuyết này Đây là những vấn đề
mà cuộc phỏng vấn của phóng viên Hà Anh trên báo Viêtnam net với nhà văn Trịnh Thanh Phong đã cung cấp cho chúng ta
Tiến sĩ Trần Lệ Thanh trong bài: “Ma làng “và sự trăn trở của một
ngòi bút với quê hương”, đã làm rõ hơn giá trị của “Ma làng”về cả phương
diện nội dung và nghệ thuật trong tiểu thuyết của nhà văn Trịnh Thanh Phong
Và những phát hiện trong bài viết của tác giả Trần Lệ Thanh cũng đã gợi hướng cho chúng tôi rất nhiều khi thực hiện đề tài này Trong bài viết tác giả
Trần Lệ Thanh cho rằng nội dung chính của tác phẩm Ma làng là: “Đằng sau
việc miêu tả những mâu thuẫn dai dẳng, sự tranh chấp, đố kị giữa làng trên xóm dưới, tộc này họ kia chi phối đời sống nông dân, đằng sau những mánh khóe hiểm ác những mưu mô toan tính của những người có thế lực, có quyền thế, lợi dụng đúng chỗ đứng của mình để thu lợi… Tác phẩm trong một chừng mực nào đó đã phản ánh được thực trạng khá đau đớn vẫn còn diễn ra trong đời sống tinh thần của một số làng quê nông thôn.”, tác giả bài viết cũng cho
rằng cái làm nên sức nặng của tiểu thuyết Ma làng là ở thái độ cách nhìn nhận của tác giả: “Cái làm nên sức hấp dẫn của Ma làng là ở tấm lòng của tác giả,
ở cái nhìn xã hội vừa nghiêm khắc vừa hiền lành đôn hậu của nhà văn Đặc biệt cái làm nên sức nặng của ngòi bút Trịnh Thanh Phong chính là ở chỗ, tuy
Trang 9luôn day dứt, trăn trở trước những số phận, những cảnh đời, mảnh đời vụn
vỡ, những tác giả không bao giờ thỏa hiệp với cái xấu” chính điều này chi
phối đến giọng điệu, nghệ thuật xây dựng nhân vật… Điều này gợi mở cho chúng tôi đi sâu khám phá quan niệm nghệ thuật của nhà văn về cuộc sống con người đặc biệt thông qua những phương tiện nghệ thuật Bên cạnh nội
dung tác giả bài viết cũng đề cập sơ bộ nhất vài nét nghệ thuật tự sự trong Ma
làng như lối trần thuật “Bằng nhiều chi tiết, qua lối trần thuật độc đáo giàu sức gợi”, giọng điệu “Nghe và cách miêu tả những nhân vật này, thấy được
thái độ vừa trân trọng, cảm giọng điệu khách quan thông vừa nghiêm khắc phán xử của nhà văn”, “giọng điệu mỉa mai bông tếu cũng trở thành một
phương thức khá quen thuộc của nhiều cây viết”, kết cấu tác phẩm của Trịnh
Thanh Phong được nhận xét “Trịnh Thanh Phong có được một phần kết luận
hợp lý”… Tuy đây là những đánh giá rất sơ lược về nghệ thuật trong Ma làng
nhưng nó cũng đã gợi ý cho chúng tôi trong khi tìm hiểu những phương diện nghệ thuật trong tiểu thuyết của Trịnh Thanh Phong
Triệu Đăng Khoa trong bài: Hỏi chuyện nhà văn tác giả “Ma làng”
Báo Nông nghiệp nông thôn số tháng 9 năm 2008: Khẳng định sức hấp dẫn
của tác phẩm “Ma làng” với mọi thế hệ người đọc Sức hấp dẫn mà tác phẩm
Ma làng có được do nội dung mà nó phản ánh đó chính là những mưu mô
toan tính, những biến thái tinh vi của bọn phú hào mới mang tư duy của người nông dân Cùng với đó là cách xây dựng nhân vật cũng như tấm lòng của nhà văn đối với người nông dân
Trung Trung Đỉnh trong bài: Tiểu thuyết ma làng và những thói tục
mới ở làng quê trên báo văn nghệ trẻ số tháng 3.2003 đã đề cập khá rõ nét về
nội dung cũng như những mâu thuẫn được đề cập đến trong tác phẩm Ma
làng Tác giả bài viết khẳng định nhà văn Trịnh Thanh phong đã viết về nông
thôn Việt Nam thời hiện đại với những thói tục xưa cũ được cải biến thành
Trang 10thói tục thời nay Đó là “những thói tục mâm trên mâm dưới, họ hàng chú bác
anh em cô dì giằng dịt lôi kéo nhau vào việc làng, việc nước… bọn phú hào mới của làng xã tranh thủ đục nước béo cò, xâu xé nhau bằng những chức vụ…” mâu thuẫn được phản ánh trong cuốn sách là : “một bên là thân phận những người nông dân ngàn đời nay vẫn chưa ra khỏi lũy tre làng… một bên
là bọn quan chức dùng mọi thủ đoạn mưu mô chước quỷ nắm các chức quyền trong làng ngoài xã” Đây cũng là nội dung bài viết Tiểu thuyết “Ma làng”- Bức tranh quê trước ngày đổi mới của tác giả Minh Hòa trên báo Tuyên
Quang số ra ngày 28 tháng 9 năm 2007 Đây cũng chính là những gợi ý cho chúng tôi tìm hiểu về con người, cuộc sống nông thôn khi phân tích sâu hơn
về tiểu thuyết Ma làng của nhà văn Trịnh Thanh Phong
Với tác phẩm Đồng làng đom đóm, tác phẩm ra đời muộn hơn so với tiểu thuyết Ma làng cũng có nhiều ý kiến bàn luận khác nhau Trong đó tiêu
biểu là ý kiến bàn luận của tác giả Hà Linh (Thạc sĩ Ngô Thu Hà) trên báo
Tuyên Quang số ra ngày 27.01.2010 qua bài: Ánh sáng từ đồng làng đom đóm (Đọc tiểu thuyết Đồng làng đom đóm của Trịnh Thanh Phong, Nhà xuất bản
Hội nhà văn, năm 2009) Bài viết đề cập đến cách xây dựng nhân vật chính của truyện, những khía cạnh về cuộc sống thời bình, thời chiến và hậu chiến của tác phẩm, về những dằn vặt, suy tư của con người thời chiến, những đóng góp của ông trong việc lý giải chiến tranh rất táo bạo trong những trang viết
về chiến tranh, đặc biệt, tác giả bài viết phát hiện ra đặc sắc về cách sử dụng chi tiết nghệ thuật “ánh sáng” của tác giả Trịnh Thanh Phong Bài viết cho thấy thêm một thành công nữa của nhà văn Trịnh Thanh Phong với thể loại tiểu thuyết Và đây cũng là cơ sở cho chúng tôi khi tìm hiểu nghệ thuật, quan
niệm nghệ thuật về cuộc sống và con người trong tiểu thuyết Đồng làng đom
đóm của nhà văn Trịnh Thanh Phong
Trang 11Với một số bài báo, bài phỏng vấn có tính chất giới thiệu tiểu thuyết
"Ma làng", “Đồng làng đom đóm” và tìm hiểu xuất xứ của 02 tác phẩm này,
chúng tôi thấy các bài viết đã có những giới thuyết cơ bản về hai tác phẩm này Tuy nhiên nghiên cứu tiểu thuyết Trịnh Thanh Phong trong một công trình chuyên sâu với những khía cạnh cụ thể thì chưa có một công trình nào dày công tìm hiểu Xuất phát từ tính cấp thiết của công tác giảng dạy phần văn học địa phương còn nhiều “khoảng trống”, từ sự ngưỡng mộ và yêu mến nhà văn chúng tôi lựa chọn đề tài: “Đặc điểm tiểu thuyết Trịnh thanh Phong”
qua hai tác phẩm “Đồng làng đom đóm” và “Ma làng”
III Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đặc điểm hai tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn của nhà văn Trịnh Thanh Phong:
- “Ma làng “Nhà xuất bản Hội Nhà văn năm 2001
- “Đồng làng đom đóm “Nhà xuất bản Hội Nhà văn năm 2009
+ Bức tranh xã hội và hình tượng người nông dân Việt Nam trước
và sau đổi mới 1986
- Đặc điểm nghệ thuật tự sự
+ Cốt truyện
+ Nghệ thuật xây dựng nhân vật
Trang 12+ Ngôn ngữ và giọng điệu nghệ thuật
IV Phương pháp nghiên cứu
1 Phương pháp phân tích tác phẩm văn học theo thể loại
2 Phương pháp thống kê phân loại
3 Đóng góp một tài liệu tham khảo cho công tác dạy và học phần văn học địa phương trong nhà trường
VI Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tài liệu tham khảo,nội dung chính của luận văn bao gồm ba chương
CHƯƠNG I Tiểu thuyết Trịnh Thanh Phong trong bộ phận tiểu thuyết Việt Nam về đề tài nông thôn sau đổi mới 1986
1.1 Nhà văn Trịnh thanh phong cuộc đời và sự nghiệp sáng tác
1.1.1Tiểu sử nhà văn
1.1.2 Sự nghiệp sáng tác của nhà văn Trịnh Thanh Phong:
1.2 Tiểu thuyết Trịnh Thanh Phong trong bộ phận tiểu thuyết Việt Nam về đề tài nông thôn sau đổi mới 1986
1.2.1.Diện mạo chung
1.2.2.Những điểm tương đồng
1.2.3.Những điểm khác biệt
Trang 13CHƯƠNG II Bức tranh hiện thực và con người nông thôn trong tiểu thuyết Trịnh Thanh Phong
2.1 Quan niệm nghệ thuật về cuộc sống và con người trong tiểu thuyết Trịnh Thanh Phong
.1.1.Con người cá nhân trong cảm hứng bi kịch và cảm thương
2.1.2.Con người lí tưởng trong cảm hứng ngợi ca
2.1.3 Con người cá nhân trong cảm hứng tâm linh
2.2 Bức tranh hiện thực nông thôn Việt Nam với hai gam màu sáng - tối 2.3 Hình tượng người nông dân Việt Nam trong cảm hứng thế sự - đời tư
2.3.1.Nhân vật người nông dân xuất hiện với tâm thế con người tự ý thức 2.3.2.Sự khám phá con người đời tư từ cái nhìn đa chiều và nhân bản
CHƯƠNG III Một số phương diện trong nghệ thuật tự sự của tiểu thuyết Trịnh Thanh Phong
3.1.Cốt truyện đơn tuyến
3.2.Nghệ thuật xây dựng nhân vật
3.2.1.xây dựng nhân vật qua ngoại hình và trang phục
3.2.2.Xây dựng nhân vật qua hành động và tâm lí
3.2.3.Xây dựng nhân vật qua miêu tả hành trình số phận
3.3.Ngôn ngữ và giọng điệu nhân vật
3.3.1.Ngôn ngữ đối thoại mang tính khẩu ngữ của người nông dân 3.3.2.Ngôn ngữ độc thoại
3.3.3 Các kiểu giọng điệu trần thuật
3.3.3.1.Giọng điệu cảm thương
3.3.3.2.Giọng điệu trào phúng
3.3.3.3.Giọng điệu ngợi ca
Phần kết luận
Phần thư mục tài liệu tham khảo
Trang 14PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I TIỂU THUYẾT TRỊNH THANH PHONG TRONG BỘ PHẬN TIỂU THUYẾT VIỆT NAM VIẾT VỀ ĐỀ TÀI NÔNG THÔN SAU ĐỔI MỚI 1986
1.1 Nhà văn Trịnh Thanh Phong - Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác 1.1.1 Tiểu sử nhà văn
Nhà văn Trịnh Thanh Phong còn có bút danh tác nghiệp là Hải Thanh Ông sinh năm 1950, quê gốc vốn ở làng Phủ Chính - Vĩnh Tường - Lập Thạch - Vĩnh Phúc nhưng được sinh ra và lớn lên ở làng Thông xã Lâm Xuyên huyện Sơn Dương - Tuyên Quang Chính vùng đất hài hòa giữa rừng núi với suối sông (Lâm Xuyên) này đã để lại dấu ấn sâu sắc trong cuộc đời và
sự nghiệp sáng tác của nhà văn
Tuổi thơ Trịnh Thanh Phong lầm lũi với rừng và lấm láp với sông ngòi, đồng ruộng quê hương Hoàn cảnh sống đó đã giúp nhà văn sớm tiếp cận và gắn bó với người nông dân, thấu hiểu những niềm vui nỗi buồn, cảm thông sâu sắc với những nhọc nhằn, lam lũ của họ Có lẽ chính vì vậy mà trong mỗi trang văn, Trịnh Thanh Phong vừa như muốn bày tỏ tấm lòng tri ân, tri kỷ với người nông dân chân chỉ hạt bột quê nhà vừa như muốn giải tỏa cho những tâm sự của chính mình vậy Chẳng thế mà ngay từ khi bắt tay vào nghề cầm bút, Trịnh Thanh phong đã viết:
Mẹ sinh con trên quãng sông này Mùa nước lũ phù sa ngàu đỏ Con đâu biết tháng ngày gian khổ
Mẹ hát ru cái vạc cái cò
Tuổi thơ con đằm trong cát đỏ Những mùa màng mẹ lặn lội lo toan
Trang 15Bãi ngô ngập dưới mùa mưa lũ Trận đói bò ngang lưng núi Châm
Những vần thơ dung dị ấy đã đánh dấu sự nghiệp sáng tác của Trịnh Thanh Phong suốt những tháng ngày tuổi trẻ, bởi lẽ ngay sau đó ông không có tác phẩm nào được công bố tiếp Đang học phổ thông, chàng trai 18 tuổi hăm
hở lên đường nhập ngũ Khi đó Trịnh Thanh Phong được biên chế vào sư đoàn 304 rồi chuyển sang trung đoàn 335 chiến đấu tại chiến trường Lào Đây
có lẽ chính là môi trường nuôi dưỡng những tâm tư, suy nghĩ, quan sát của nhà văn, là những tháng ngày ông thai nghén đứa con tinh thần tiếp theo của mình Trong điều kiện chiến trường đầy khắc nghiệt, đồng đội hầu hết đều là những người xuất thân từ nông thôn hoặc miền núi, những con người lam lũ, Trịnh Thanh Phong luôn mở rộng tấm lòng và tầm quan sát để sau này những trải nghiệm đó trở thành vốn quý và được thể hiện sâu sắc trong những trang viết của ông Là người rất nhạy cảm, hàng ngày phải chứng kiến nhiều những mất mát, hy sinh của đồng đội, Trịnh Thanh Phong càng thêm day dứt bởi ông hiểu hơn ai hết những con người ra đi từ đồng đất, bước vào kháng chiến từ những rãnh cày trên mọi miền quê Điều đó đã thôi thúc ông phải cầm bút, nhưng lần này ông không làm thơ nữa mà bắt đầu viết những trang ghi chép
trong chiến trận, sau đó là bút ký, truyện ngắn… Tiểu thuyết Đất cánh đồng
Chum cũng được ra đời trong giai đoạn này (1972) Viết xong, nhà văn -
người lính chỉ lặng lẽ đưa cho đồng đội đọc rồi lặng lẽ cất vào đáy ba lô, một phần vì ở chiến trường không có điều kiện để gửi đăng, mặt khác ông cũng nghĩ rất đơn giản và mộc mạc: “văn mình là của mình thôi…gửi để làm gì” Sau khi hiệp định Pari được ký kết (1973), Trịnh Thanh Phong được điều về học tiếp chương trình cấp 3 tại trường Văn hóa quân đội (Lạng Sơn), sau đó về học tại Học viện Hậu Cần Cuối năm 1976, một phần vì sức khỏe
Trang 16yếu, một phần do cái “nghiệp chướng giời đày” (như lời nhà văn thường nói), ông xin giải ngũ và về công tác tại Sở văn hóa thông tin Hà Tuyên
Thời gian này ông thường lui về làng Thông, gặp lại những người đồng đội cùng sống chết trong chiến tranh giờ phải đương đầu với những khó khăn, thiếu túng Nhiều người muốn bứt phá nhưng cơ chế hợp tác xã lại ngột ngạt khiến họ cũng phải lẫn vào sự đói nghèo của dân chúng Từ đó, thực tại gần như trở thành một nỗi ám ảnh,Trịnh Thanh Phong suy nghĩ rất nhiều về số phận con người gắn liền với những vùng quê nghèo đói Việc ông trở đi trở lại với làng quê để sống với những người nông dân chân chất có bận đã suýt khiến nhà văn phải điêu đứng Thật may trời đã không phụ lòng người, kết quả của những chuyến đi về vùng quê đó chính là những sáng tác khá thành công về đề tài nông thôn và người lính của Trịnh Thanh Phong sau này
1.1.2 Sự nghiệp sáng tác
Nhà văn Trịnh Thanh phong có những tác phẩm in trên báo trung ương
và địa phương từ những năm 1980 Những tác phẩm tiêu biểu có thể kể đến là
Bãi cuối sông - Tập truyện ngắn đầu tay xuất bản năm 1990, Gặp lại (1997),
Đôi mắt vầng trăng –thơ (1999), Lời ru ban mai (2000), Bao giờ chim vành khuyên bay về (2001), Bức tường xanh (2002), Ma làng (2002), Dưới chân núi Pắc Quan (2003), Vết thương thời bình (2006), Đất cánh đồng Chum
(2007), Đồng làng đom đóm (2009)
Từ khi còn ở chiến trường đầy lửa đạn cho đến hôm nay ở cái tuổi gần
60, Trịnh Thanh Phong vẫn lặng lẽ viết Với trên 10 đầu sách đã xuất bản, tác phẩm của Trịnh Thanh Phong chủ yếu bám chắc vào đề tài nông thôn và người lính Nhận xét về ông, tại hội nghị cấp Chi hội Nhà văn Sông Chảy năm 2010, nhà thơ Hữu Thỉnh nói: Một nhà văn sống ở miền núi Tuyên
Quang mà làm nên được một “Ma làng”gây xôn xao dư luận trong nước và
thế giới, rõ ràng đây không chỉ là thành công riêng của Trịnh Thanh Phong
Trang 17mà còn là đóng góp của văn học nước nhà cho công cuộc đổi mới Điều đó cũng cho chúng ta thấy rằng: nhà văn chỉ có khoảng cách về chỗ ở chứ không
có khoảng cách trong sáng tạo
Trong quá trình tìm hiểu những sáng tác của Trịnh Thanh Phong, chúng tôi có tìm gặp và trò chuyện cùng tác giả Trong câu chuyện vui vẻ ông nói: Như các bạn biết, mỗi nhà văn đều có vùng đất của mình Nhưng theo tôi khi lựa chọn, điều quan trọng là nhà văn phải biết vùng đất ấy có hợp với cái
“tạng” của mình không Khi thấy hợp rồi thì mình còn phải có biện pháp thích hợp để tiếp cận nó
Bản thân tôi khi chắc chắn vùng đất nông thôn với những người lính bước ra từ cuộc chiến hợp với mình, tôi bắt đầu bỏ công khai thác Nói vậy bạn sẽ hỏi: bằng cách nào? “Đơn giản thôi: sống và gắn bó với vùng đất đó, gắn bó với họ đồng thời phải hiểu họ… Hiểu được rồi phải biết biến những đều đó thành máu thịt trong cơ thể mình Trên cơ sở đó vận hành những nguồn lực đã có trong mình như vốn văn hóa, năng khiếu trời cho… để khơi
dòng chảy cho tác phẩm văn học.Quá trình sáng tác, nhất là khi viết Ma làng,
Đất cánh đồng Chum tôi đã làm như thế…” [16 ]
Quá trình nghiên cứu tác phẩm của Trịnh Thanh Phong sẽ cho ta thấy ý nghĩa của những lời tự bạch trên
1.2 Tiểu thuyết Trịnh Thanh Phong trong bộ phận tiểu thuyết Việt Nam về đề tài nông thôn sau đổi mới 1986
1.2.1 Diện mạo chung
Có thể nói, năm 1986 là dấu mốc quan trọng trong đời sống xã hội nói chung và đời sống văn học nghệ thuật Việt Nam nói riêng Thời điểm này chứng kiến sự đổi mới tư duy trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội trong đó có văn học nghệ thuật Đời sống văn học dần dần được “cởi trói”, không khí cởi mở, dân chủ tác động mạnh mẽ đến lực lượng sáng tác - văn
Trang 18nghệ sĩ, làm nảy sinh những quan niệm mới về nhà văn và dẫn đến sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người cùng sự thay đổi thi pháp thể loại của các thế hệ nhà văn Việt Nam Từ lớp nhà văn tiền chiến như Xuân Diệu, Nguyễn Tuân, Tô Hoài… đến những cây bút trẻ trưởng thành trong và sau kháng chiến chống Mỹ
Văn học viết về đề tài nông thôn cũng nằm trong quỹ đạo phát triển này
Đề tài nông thôn là đề tài không bao giờ cạn đối với văn xuôi Việt Nam Phong cảnh nông thôn, con người nông thôn đã hiện hữu từ rất sớm trong tiểu tuyết của Tự lực văn đoàn, đặc biệt là vào thời kỳ năm 1936 - 1939 với hàng
loạt các tác phẩm như: Trống mái, Gia đình (1936) của Khái Hưng, Hai vẻ
đẹp(1936) của Nhất Linh, Con đường sáng (1938) của Hoàng Đạo Đề tài
nông thôn được chú ý và phản ánh sâu sắc hơn trong trào lưu văn học hiện thực phê phán với những cây bút tiêu biểu như Ngô Tất Tố, Nam Cao, Kim
Lân, Nguyễn Công Hoan với hàng loạt các tác phẩm: Tắt đèn, tiểu luận Việc
Làng và Tập án cái đình - Ngô Tất Tố, Bước đường cùng, Nông dân và địa chủ - Nguyễn Công Hoan, Làng - Kim Lân Đặc biệt đề tài nông dân đã trở
thành một đề tài chính trong sáng tác của Nam Cao với những tác phẩm quen
thuộc như: Nghèo, Chí Phèo, Điếu văn, Lão Hạc, Dì Hảo, Nửa đêm, Tư cách
mõ… các cây bút của trào lưu này đã tỏ ra am hiểu và cảm thông với người
nông dân, có cái nhìn hiện thực sâu sắc và nhân đạo hơn với số phận của những người nông dân tội nghiệp đáng thương Mỗi người một có phong cách, một nét riêng nhưng nhìn chung trong những tác phẩm này các nhà văn
đã đi sâu, phản ánh rõ nét cuộc sống người nông dân với những hủ tục, những nghèo khổ, đói khát, những gánh nặng trong cuộc sống mà người nông dân phải chịu đựng, cũng như những biểu hiện trong bản chất người nông dân cả phần tốt và xấu Đề tài nông thôn còn tiếp tục được khai thác nhiều trong văn xuôi giai đoạn kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ, và sau hoà bình Do giai
Trang 19đoạn này yêu cầu phục vụ chiến đấu, phục vụ nhiệm vụ xây dựng đất nước được đặt lên hàng đầu nên hầu hết các nhà văn viết về đề tài nông thôn để phục vụ nhiệm vụ Trước năm 1986, đề tài nông thôn được tiếp tục mạch cảm
hứng này với những cây bút như Bùi Hiển, Nguyễn Thi, Nguyễn Khải, Ma
Văn Kháng và đặc biệt là Nguyễn Minh Châu nhà văn có những đóng góp to lớn trong việc đổi mới tư duy nghệ thuật trong đề tài viết về nông thôn nói
riêng với những tác phẩm như Khách ở quê ra, Phiên chợ Giát, Bến Quê,
Chiếc thuyền ngoài xa Nhà văn đã có cái nhìn về con người và cuộc sống của
người nông dân, không còn là cái nhìn giai cấp, con người được nhìn với cái nhìn đa chiều và nhân bản vì vậy ngòi bút của ông đã len lỏi vào từng góc khuất, phản ánh những biến ảo tinh vi trong tâm hồn con người, và các tác phẩm cũng có kết cấu mở theo xu hướng đối thoại Đây là những đóng góp to lớn của Nguyễn Minh Châu cho nền văn xuôi Việt Nam Nhưng phải đến sau năm 1986 thì những đổi mới này mới được phát huy mạnh mẽ và trở thành xu hướng chủ đạo của văn xuôi nói chung, văn xuôi viết về đề tài nông thôn nói riêng Với hàng loạt tên tuổi nổi tiếng như: Trịnh Thanh Phong với tác phẩm
Ma làng và Đồng làng đom đóm, Nguyễn Khắc Trường với tác phẩm Mảnh
đất lắm người nhiều ma, Phùng Gia Lộc - Cái đêm hôm ấy đêm gì, Dương
Hướng - Bến không chồng, Lê Lựu - chuyện làng Cuội, Nguyễn Ngọc Tư -
Cánh đồng bất tận… Giai đoạn này các nhà văn đã có sự đổi mới về quan
niệm nghệ thuật về cuộc sống và con người Con người ở giai đoạn này là con người đời tư, con người với suy tư, dằn vặt thế sự với những nhu cầu vật chất, tự do, luyến ái, tình dục… được đề cao, các vấn đề nhạy cảm của cuộc sống nông thôn Việt Nam cũng được vạch trần theo hướng dân chủ hoá Cùng với đó là sự đổi mới đa dạng trong phương thức biểu hiện con người Những đổi mới này đã đem lại cho văn xuôi viết về đề tài nông thôn những khám phá mới cùng những giới hạn và chiều sâu mới trong sáng tạo nghệ thuật
Trang 20Quá trình đổi mới văn học ở Việt Nam diễn ra hết sức sôi động và đa dạng trên các thể loại: văn xuôi, thơ, kịch, lý luận phê bình, văn học dịch,…
và đạt được nhiều thành tựu ở thể tài văn xuôi Đây là những thể loại được hình thành, tạo tác trong khu vực tiếp xúc trực tiếp với đời sống hàng ngày, với một hiện thực đang vận động, không ngừng biến chuyển Nổi lên hàng đầu là sự hiện diện của thể ký Thể phóng sự sau nhiều năm đứt đoạn, vắng bóng nay đồng loạt ra quân như một sự hồi sinh của thể loại, gây chấn động
dư luận với ý thức nhìn thẳng vào sự thật: Cái đêm hôm ấy đêm gì (Phùng Gia Lộc), Tiếng kêu cứu của một vùng văn hoá (Võ Văn Trực), Suy nghĩ trên
đường làng (Hồ Trung Tú),
Bên cạnh ký là sự khởi sắc của truyện ngắn, từ sự đổi mới tư duy nghệ thuật và bút pháp của các cây bút Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Bùi Hiển, Ma Văn Kháng, Đoàn Lê, Lê Minh Khuê cùng sự xuất hiện của những cây bút mới như Nguyễn Huy Thiệp, Hòa Vang, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Ngọc Tư,…Có thể nói sự thay đổi trong bút pháp nghệ thuật đã đem lại phẩm chất nghệ thuật đích thực cho truyện ngắn và phần nào thu hút được công chúng trở lại với văn học Thể loại tiểu thuyết với những tác phẩm mở đường
cho thời kỳ đổi mới như Chuyện làng Cuội (Lê Lựu), Chim én bay (Nguyễn
Trí Huân) và tiếp đó là những tiểu thuyết đặc biệt thành công như: Mảnh đất
lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Bến không chồng (Dương
Hướng), Ma làng của Trịnh Thanh Phong Như vậy, văn xuôi Việt Nam viết
về đề tài nông thôn phát triển khá mạnh mẽ trên hầu hết các thể loại Không chỉ đa dạng về thể loại mà còn phong phú về nội dung Cuộc sống, con người nông thôn được khắc hoạ rất sâu sắc ngay cả những góc khuất tận sâu tâm hồn, những biến thái tinh vi của cuộc sống hiện đại cũng được đề cập đến bởi những cây bút sắc lạnh, tỉnh táo, nhạy cảm, đầy nhiệt huyết và trách nhiệm
Trang 21Văn học Việt Nam từ sau 1986 đặc biệt quan tâm tới số phận con người với những gấp khúc trong đường đời Vấn đề thân phận trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhà văn Đặc biệt nhiều trang sáng tác, con người được đặt trong mối quan hệ giữa cá nhân và nhân loại; mỗi người là sự kết hợp, hoà quyện giữa con người xã hội, con người tự nhiên và con người tâm linh
Trong những thành tựu chung của văn xuôi Việt Nam, tiểu thuyết viết về
đề tài nông thôn đóng một vai trò không nhỏ Trước hết chúng tôi xin điểm qua diện mạo của bộ phận sáng tác này Cũng như những bộ phận khác của văn học, văn xuôi vết về đề tài nông thôn được tạo đà từ bầu không khí đổi mới Nhà văn vì thế có điều kiện để thể hiện những trăn trở, suy tư của mình một cách tương đối trực diện và thấu đáo cộng với những điều kiện mới về in
ấn, phát hành, dư luận… khiến cho bộ phận sáng tác này thực sự có điều kiện
để bộc lộ sự mởi mẻ
Mặc dù vậy, mốc 1986 không phải là thời điểm của sự “biến hóa kỳ diệu”, thời điểm làm thay đổi toàn bộ bộ mặt của văn xuôi nói chung và văn xuôi viết về đề tài nông thôn nói riêng mà sự thay đổi đó giống như một dòng chảy ngầm từ những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ XX Thời gian năm năm từ 1980 đến 1985 - giai đoạn cuối của thời kỳ bao cấp là thời gian nhiều nhà văn đã có những suy tư, trăn trở về tình hình đất nước, về những vấn đề nhân sinh, nhân quyền… Mặc dầu vậy trong quãng thời gian này, những hạn chế nhất định của cơ chế và của dư luận xã hội chưa cho phép họ bứt phá, nói thẳng, nói thật…tất cả mới chỉ là những “cựa quậy”, những dấu hiệu bước đầu của đổi mới
Trong bộ phận văn xuôi viết về nông thôn thời kỳ này phải kể đến công lao của cây bút tiên phong Nguyễn Minh Châu Năm 1987, trong một bài tiểu
luận đầy tâm huyết và bản lĩnh, có sức chấn động dư luận Hãy đọc lời ai điếu
cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ, Nguyễn Minh Châu đã đặt ra vấn đề:
Trang 22“Chẳng lẽ mãi mãi thế hệ nhà văn chúng ta vẫn cứ yên tâm sản xuất ra toàn
những sản vật không bao giờ được ngó đến trong nền văn học thế giới Chẳng
lẽ Việt Nam ngày nay chỉ hưởng của thiên hạ mà không làm ra được cái gì góp vào của chung thiên hạ”. Chính sách mở cửa đã giúp cho văn học Việt Nam từng bước tháo gỡ vấn đề mà nhà văn Nguyễn Minh Châu đã từng bức
xúc Trước đó ông viết xong Khách ở quê ra từ tháng 3 - 1984 và trong suốt
thời kỳ 1980 - 1985 ông có một loạt truyện ngắn như Chiếc thuyền ngoài xa,
Bến quê, Một lần đối chứng, Bức tranh… Những truyện ngắn nói trên thể
hiện một khả năng quan sát hiện thực rất sắc sảo và sự cảm nhận cuộc sống có chiều hướng ngày càng gần gũi với thực tế cuộc sống Mặc dù thời kỳ đầu, những sáng tác của Nguyễn Minh Châu còn mang nhiều hàm ý, chưa thể bộc
lộ một cách trực tiếp và thẳng thắn những trăn trở, suy ngẫm của nhà văn, nhưng càng gần với thời điểm 1986, khi chiều hướng dân chủ hóa xã hội trở nên rõ ràng thì những tác phẩm của ông (tiêu biểu như Khách ở quê ra) đã nói
rõ được những điều mà tác giả muốn nói Có lẽ một phần vì thế mà Nguyễn Minh Châu được đánh giá là “người mở đường anh minh và tài hoa “cho văn học thời kỳ đổi mới Bên cạnh Nguyễn Minh Châu, có một tác giả mà tác phẩm của ông cũng có thể coi là “mới mẻ” từ rất sớm là Lê Lựu với Thời xa
vắng (viết xong tháng 9 - 1984) Có thể nói, thời điểm sáng tác của Khách ở
quê ra và Thời xa vắng đã thể hiện được sự mẫn cảm, tinh nhạy của hai nhà
văn trước công cuộc đổi mới
Bước hẳn sang giai đoạn “mở cửa”, độc giả nhanh chóng được tiếp xúc với sự đổi thay trong các sáng tác về đề tài nông thôn Với cái nhìn đa chiều
về hiện thực, mọi khía cạnh phức tạp, những ẩn khuất tinh vi, những vấn đề nhạy cảm của con người, của cuộc sống nông thôn đều được các nhà văn khám phá, đào sâu khai thác ở những tầng bậc, góc cạnh khác nhau Điều này
Trang 23đem lại cái nhìn mới mẻ cho độc giả về đề tài nông thôn Có thể tạm thời chia
đề tài nông thôn thời kỳ này theo các chủ đề khác nhau như sau:
Chủ đề thói tục làng quê thời hiện đại có thể nói là chủ đề gây được nhiều chú ý và tạo nhiều thành công trong đề tài viết về nông thôn Tiêu biểu
là tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của nhà văn Nguyễn Khắc Trường (viết xong tháng 3 - 1988),xuất bản năm 1990, Tiểu thuyết Ma làng
của Trịnh Thanh Phong năm 2007, Dương Hướng với tiểu thuyết Bến không chồng (in năm 1990) Chuyện làng Cuội của Lê Lựu (in năm 1993) Những
thói tục của làng quê Việt Nam còn vương vấn đến tận thời nay được phản ánh khá đậm đặc trong những cuốn tiểu thuyết viết về chủ đề này Những thói tục mâm trên, mâm dưới, một miếng giữa làng bằng một sàng góc bếp, phân biệt dòng tộc, họ hàng chú bác anh em cô dì dằng dịt lôi kéo nhau vào việc làng, việc nước, chuyện phân biệt dân ngụ cư dẫn đến việc tranh chấp, thanh trừng giữa các phe cánh, dòng tộc để lợi dụng chức quyền kiếm trác, thu lợi về mình Đặc biệt các tác giả đã rất thành công khi phản ánh sự méo mó của mô hình làng xã thời kỳ đầu đổi mới - là sự kết hợp của những thói tục xưa cũ, những di hại thời chiến tranh với mô hình mới khi nó chưa có da thịt mà chỉ là
bộ khung, điều này nảy sinh ra bọn phú hào mới với những mưu mô, tính toán sảo quyệt Nó làm nghiêng ngả đời sống dân sinh thời hiện đại Trong bối cảnh
ấy hiện lên số phận của những con người là người nông dân có tâm hồn, có cá
tính như Tâm, Ló, Mưa, Dỏ trong Ma làng, Hạnh trong Bến không chồng, Đào, Tùng trong Mảnh đất lắm người nhiều ma, không những thế họ còn là những
con người có tấm lòng đầy nhân ái Tuy cuộc đời nhiều bất hạnh, khổ đau nhưng họ là những điểm sáng của tác phẩm Đây cũng là thành công của các nhà văn so với giai đoạn trước đây
Một chủ đề nữa cũng là tâm điểm trong đề tài nông thôn đó chính là những tác phẩm viết về sai lầm trong công cuộc đổi mới và cải cách ruộng
Trang 24đất Đây vốn là vấn đề nhạy cảm và bị né tránh trong văn học những giai đoạn trước Bước sang giai đoạn này, nhu cầu nhận thức lại lịch sử được đặt ra, bằng sự tinh nhạy, thẳng thắn, dũng cảm và trách nhiệm của người cầm bút nhiều nhà văn đã gặt hái được thành công trong chủ đề này Với chủ đề này, nhiều cây bút đã khẳng định tính sắc nhọn và từng trải của mình Tiêu biểu là
tác phẩm: Lời nguyền hai trăm năm của Khôi Vũ, Ác mộng, Sắp cưới của Ngô
Ngọc Bội Những sai lầm trong cải cách ruộng đất như: đấu tố địa chủ, đánh đồng các tầng lớp địa chủ, phú hộ, thu hết ruộng đất và trừng phạt một cách
dã man, nguyên tắc cứng nhắc cứ bần nông là trong sạch, càng nhiều đời bần nông thì lí lịch càng tốt, sự nhầm lẫn trong việc tạo nếp sống mới với việc tạo
tệ nạn xã hội Điều này được phẩn ánh toàn vẹn và chân thực trong tác phẩm
Ác mộng và Sắp cưới Những sai lầm này cũng được phản ánh trong nhiều tác
phẩm viết về đề tài nông thôn, tuy nó không phải là chủ đề chính của tác phẩm nhưng cũng để lại dấu ấn sâu sắc cho người đọc như sai lầm đánh đồng
địa chủ - xấu, bần nông - tốt trong Đồng làng đom đóm của Trịnh Thanh
Phong Việc khoán sản với việc quản lí lỏng lẻo gây ra bất công, người chăm làm cho người lười hưởng, cũng được phản ánh trong nhiều tác phẩm Trong
phóng sự Suy nghĩ trên đường làng của Hồ Trung Tú ngoài sai lầm trên còn
đề cập đến lề lối quản lí, tệ cường hào.…Với chủ đề này thì các nhà văn đã thể hiện một cái nhìn tương đối toàn vẹn và chân thực về những sai lầm, tồn tại của một thời kỳ lịch sử, cung cấp cho người đọc một lượng thông tin tương đối chuẩn xác
Chủ đề đóng vai trò trung tâm trong hầu hết các tác phẩm viết về đề tài nông thôn thời kì này là số phận của người nông dân Đây là điều mà các nhà văn viết về đề tài nông thôn không riêng ở giai đoạn này mà cả ở những giai đoạn trước đều quan tâm Nhưng điều đáng chú ý ở đây là khi miêu tả cuộc sống cơ cực của người nông dân với những số phận bi kịch đáng thương,
Trang 25bằng cái nhìn cảm thương, quan niệm nghệ thuật nhân bản, tác giả khắc họa thành công con người cá nhân thế sự đời tư với những suy tư, dằn vặt đời
thường và riêng tư Những tác phẩm tiêu biểu như Chuyện làng Cuội của Lê Lựu, Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư… mỗi người một cảnh đời éo
le, một nỗi khổ riêng nhưng họ đều là nạn nhân của chiến tranh, của những hủ tục, của những người lợi dụng chức quyền thu lợi về mình Câu hỏi đặt ra trong chủ đề này là số phận người nông dân sẽ đi về đâu khi họ phải chịu sự
bóc lột tinh vi của “địa chủ mới” Các tác phẩm Ma làng, Mảnh đất lắm người
nhiều ma cũng phản ánh rõ vấn đề này Người nông dân không chỉ khổ bởi
những thói tục xưa cũ đã biến dạng tinh vi mà còn khốn khổ bởi tình trạng
“bóc lột kiểu mới “hết sức nghiệt ngã ở nông thôn, phản ánh trong Cái đêm
hôm ấy… đêm gì (ký) của Phùng Gia Lộc đề cập tới việc thu sản phẩm khá
nghiệt ngã sau thu hoạch.Trong chủ đề này ngoài việc phẩn ánh hiện thực đau
khổ nhức nhối, các tác giả còn thể hiện sự cảm thương, trân trọng đối với người nông dân và hơn nữa đó là niềm tin vào số phận của họ
Còn rất nhiều chủ đề được đề cập đến trong đề tài nông thôn như chủ đề viết về người lính - nông dân trong các tác phẩm của Trịnh Thanh Phong Trong chủ đề này tác giả thể hiện những trăn trở của người lính sau chiến tranh là làm thế nào để giúp cho người nông dân có cuộc sống ấm no, qua đó thể hiện tấm lòng nhân ái của nhà văn với người nông dân Cùng với đội ngũ nhà văn lão thành, những cây bút trẻ cũng xuất hiện Có thể kể đến Tạ Duy
Anh với Bước qua lời nguyền, Xưa nay chị đẹp nhất làng, Lão Khổ… Nguyễn Huy Thiệp với những truyện ngắn đáng chú ý như: Những người thợ xẻ,
Những bài học nông thôn…
Đề tài viết về nông thôn là đề tài không bao giờ vơi cạn đối với văn học Việt Nam Xã hội phát triển hiện đại với không ít những biến ảo tinh vi, phức tạp kéo theo đó là sự phức tạp trong mỗi con người Cuộc sống nông thôn
Trang 26cũng nằm trong vòng xoáy qui luật này Vì vậy chủ đề trong đề tài nông thôn cũng ngày càng hấp dẫn, phong phú hơn Việc chia tách chủ đề trên chỉ là tương đối và không thể khái quát được đầy đủ chủ đề của một đề tài lớn và phức tạp như đề tài nông thôn
Với những tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn sau đổi mới, chúng tôi tiến hành khảo sát, chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt với sáng tác của Trịnh Thanh Phong, lấy đó làm cơ sở để tìm hiểu tư tưởng nghệ thuật của nhà văn thể
hiện trong hai tiểu thuyết Ma làng và Đồng làng đom đóm
cụ thể nào… Đọc Đồng làng đom đóm, Ma làng hay những tác phẩm khác
(bao gồm cả truyện ngắn) của Trịnh Thanh Phong, hình ảnh làng quê cũng
Trang 27hiện ra với những nét bình dị và thân thuộc Tưởng như trong nhiều tác phẩm của các tác giả khác ta cũng gặp sự bình dị muôn đời ấy, tuy nhiên điều đó không có nghĩa là Trịnh Thanh phong lặp lại bất cứ sáng tác nào Trong đề tài nông thôn, những xung đột bức xúc nhất, nổi cộm nhất trong nông thôn Việt Nam ví dụ như mâu thuẫn dòng họ, sự tha hoá của quan chức đối với người nông dân là điều được nhiều nhà văn quan tâm phản ánh Bởi đây là vấn đề vừa mang tính thời sự vừa là vấn đề phổ biến ở hầu hết các vùng nông thôn Việt Nam trước và sau đổi mới Tác phẩm viết về nông thôn của nhà văn Trịnh Thanh Phong cũng đi vào khai thác và phản ánh khá thành công khía cạnh này Chúng ta thấy một xóm Giếng Chùa với sự tranh chấp thù oán vì tiếng tăm, chức quyền giữa hai dòng Trịnh Bá và Vũ Đình cùng với
nó là những âm mưu quỷ quyệt hòng lừa miếng nhau của hai dòng họ trong
Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, sự tranh giành,
ganh ghét giữa những con người trong làng như: Chuyện làng Cuội của Lê Lựu, Bến không chồng của Dương Hướng… cũng thấy một làng Thông với
những toan tính thanh trừng nhau giữa hai phe Phạm Tòng cùng con cháu và
dòng họ Trương trong Ma làng của Trịnh Thanh Phong, rồi “cảnh thuế máu” trước thời kì đổi mới, sự bóc lột tàn nhẫn của bọn “địa chủ mới” trong Cái
Đêm hôm ấy đêm gì của Phùng Gia Lộc…
Phản ánh chân thực điển hình số phận người nông dân còn nhiều nhọc nhằn gian khó thiếu thốn chính là điểm tương đồng thứ ba giữa tiểu thuyết Trịnh Thanh Phong với tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn nói chung Đằng sau sự bình dị kia, Trịnh Thanh Phong thể hiện mối quan tâm sâu sắc tới từng
số phận con người trong vòng xoáy khốc liệt của cuộc sống thời mở cửa đang từng ngày từng giờ tác động đến cuộc sống và bộ mặt của làng quê Cũng giống với nhiều nhà văn khác, Trịnh Thanh Phong viết về đề tài nông thôn với những đau đáu về nhân sinh, về những con người của chính làng quê
Trang 28mà mình yêu dấu Chẳng hạn trong cuốn Ma làng, theo tâm sự của chính nhà văn, “cuốn tiểu thuyết tái hiện một phần nông thôn miền núi trước thời
kỳ đổi mới đầy cam go, thách thức (…) Ma làng tái hiện bức tranh nông thôn miền núi trong “đêm trở dạ “với những thói tục xưa cũ, lối sống làng
xã truyền thống, những toan tính nhỏ nhen, manh mún…Ma làng phản ánh cuộc chiến giữa cái thiện và cái ác, giữa cái đúng và cái sai… mà cuối cùng phần thắng thuộc về cái thiện” [16]
Qua nhân vật, số phận của những con người trong tác phẩm chúng ta nhận thấy rõ quan điểm, thái độ của tác giả đối với cuộc sống và con người Cái nhìn vừa nhân ái vừa nghiêm khắc về người nông dân cũng là điểm chung của các nhà văn viết về đề tài nông thôn Điều này thể hiện sự tỉnh táo, khách quan công bằng trong việc đánh giá những điểm mạnh yếu của người nông
dân Việt Nam của các nhà văn Trong Chuyện làng Cuội, Lê Lựu thể hiện sự
cảm thông sâu sắc của mình với số phận đau khổ, đầy bất hạnh của bà cụ Đất
- từng là một hoa khôi của làng Cuội nhưng tác giả cũng không vì thế mà không chỉ ra nguyên nhân dẫn đến số phận bi đát ấy, đó là sự cả tin, ngây thơ
và tâm lí nhút nhát không dám đấu tranh của Đất, hay đối với nhân vật ông cu
Mỡ, ông cu Từ là những người nông dân hiền lành, ăn ở tình nghĩa, đã từng
có công lớn với cách mạng nhưng họ cũng có những điểm xấu, tính cách phổ biến ở người nông dân là gia trưởng, tâm lí “một miếng giữa làng bằng một sàng góc bếp”,chậm đổi mới hay sống với quá khứ… Đó cũng là thái độ của
Nguyễn Khắc Trường với nhân vật như: Son, Đào, Tùng trong Mảnh đất lắm
người nhiều ma Nhà văn Trịnh Thanh Phong cũng thể hiện cái nhìn này đối
với những người nông dân trong tác phẩm của mình như: lão Bành trong
Đồng làng đom đóm, Mưa, Ló, Dỏ trong Ma làng
Như vậy cũng giống như các tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn khác, tác giả Trịnh Thanh Phong chú tâm vào xây dựng một bức họa chân thực về
bộ mặt nông thôn để qua đó thể hiện qua niệm riêng của chính bản thân mình
Trang 29Các tác phẩm viết về nông thôn đã gióng lên một tiếng chuông cảnh báo cần đẩy mạnh sự quan tâm hơn nữa đến đời sống và tinh thần của người nông dân Chính sách tam nông của Đảng hiện nay là sự giải quyết thực trạng ấy và nâng cao đời sống tinh thần của người nông dân
1.2.3 Những điểm khác biệt
Cùng viết về đề tài nông thôn nhưng mỗi nhà văn chọn cho mình một mảnh đất để đặt bút, để tâm huyết Vì thế, bên cạnh nét chung của làng quê nông thôn Việt Nam là những nét riêng của mỗi làng quê được tác giả chọn đưa vào tác phẩm của mình Nét khác biệt này xuất phát từ màu sắc địa phương, đánh dấu bởi dấu ấn văn hóa riêng của từng làng, từng miền quê, thể hiện đầu tiên ở chính hình ảnh nông thôn được miêu tả trong các tác phẩm
Nếu trong tác phẩm Chuyện làng Cuội là bức tranh nông thôn với những lễ
hội đông vui, phong tục thờ thành hoàng của người miền xuôi, cảnh sống của người dân những ngày lụt lội (khu vực Đồng bằng sông Hồng), trong tác
phẩm Lời nguyền hai trăm năm của Khôi Vũ là cảnh sắc phong tục lối sống của người dân miền biển Nam Bộ thì trong tác phẩm Đồng làng đom đóm và
Ma làng của mình, Trịnh Thanh Phong đã phác họa một vùng miền núi với
những đặc trưng riêng về không gian, về phong tục, về con người và lối sống
Trong lời tựa cuốn Ma làng, nhà văn tâm sự “tất cả chất liệu để dựng nên
khuôn hình, cảnh vật, con người trong cuốn sách này tôi đã tìm nhặt ở cái làng quê lở lói, nghèo khổ bám quanh viền chân núi Châm chạy noài ra phía
bờ sông Lô ở chỗ con gà gáy ba tỉnh cùng nghe thấy Bỏ vào túi da, tôi trở về dưới căn nhà lá cọ ở cái phố “Hủng “thị xã tuyên Quang sắp đặt lại Công việc tôi làm giống như người đan lát, kỳ cạch mãi cũng xong” Điều này ta
cũng gặp trong tác phẩm Đồng làng đom đóm với hình ảnh làng Thông nhỏ bé
dưới chân núi Châm nơi quê hương tác giả Có lẽ chính điều đó đã làm nên cái “chất” riêng của Trịnh Thanh Phong, khiến cho những sáng tác của ông
Trang 30vừa mang đậm hơi thở mộc mạc, giản dị của quê hương vừa thể hiện được những trải nghiệm riêng của nhà văn về cuộc sống và con người của chính vùng quê ấy
Nhân vật trung tâm thường trở đi trở lại trong các truyện ngắn của Trịnh Thanh Phong là thân phận người lính sau chiến tranh Họ ở hầu hết các mặt trận trở về quê cha đất tổ của mình với những dằn vặt trăn trở thời hậu chiến Đây là điểm khác biệt thứ hai - khác biệt về nhân vật trong sáng tác của Trịnh Thanh Phong so với tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn khác Cũng viết về nông thôn với những con người khổ sở trước sự tranh chấp quyền hành giữa
các phe cánh, dòng họ nhưng ta thấy sự khác biệt về nhân vật giữa Ma làng
của Trịnh Thanh Phong và Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc
Trường Trong thế giới nhân vật Ma làng, Trịnh Thanh Phong đã rất thành
công khi xây dựng nhân vật người lính nông dân Tâm - đây chính là một điểm sáng trong bóng đêm Ma làng Cũng viết về nông thôn và chiến tranh, tiểu
thuyết Bến không chồng của nhà văn Dương Hướng, Chuyện làng cuội của Lê
Lựu số lượng nhân vật là người lính - nông dân không nhiều, Hai nhân vật người lính đó là Vạn (thời kháng chiến chông Pháp), Nghĩa (thời kháng chiến
chống Mỹ) (Bến không chồng), trong Chuyện làng Cuội của Lê Lựu chủ yếu
là dân quân, du kích Còn trong những tác phẩm của Trịnh Thanh Phong chúng ta thấy hầu hết nhân vật chính trong các câu chuyện đều là những người nông dân - người lính Họ bước lên từ luống cày đi vào chiến trường đạn lửa rồi lại trở về từ đạn lửa để hòa nhập với cuộc sống đầy những thử
thách cam go như Hoàng, Thái, Trăng, Tư, Bồng trong Lời ru ban mai - tác phẩm được mệnh danh là “bài ca người lính”, Hữu, Thăng, Dần trong Đồng
làng đom đóm, Sơn, Tuấn, Hai Boi…trong Bãi cuối sông Viết về người lính
chính là sở trường, thế mạnh của Trịnh Thanh Phong Nhà giáo Lã Hồng
Minh sau khi đọc tác phẩm của Trịnh Thanh Phong cũng nhận định: “Nhân
Trang 31vật trở đi trở lại trong truyện của Trịnh Thanh Phong là số phận của những người lính sau chiến tranh về làm nông dân, từng nếm trải nhiều cay đắng nhưng không bao giờ gục ngã” Trong Kỷ yếu nhà văn Việt nam xuất bản
năm 2007 Trịnh Thanh Phong tâm sự: “Gắn bó với người nông dân, người
lính sau chiến tranh lại về làm nông dân Những nhục nhằn của họ trong sinh sống đời thường luôn là nỗi day dứt trong tôi Giúp đỡ họ về vật chất, bàn tay mình bé quá Thế là tôi tìm đến văn học nhưng không phải động cơ để trở thành nhà văn mà tôi muốn nhờ văn học để sẻ chia với họ, từ họ lại viết ra văn để nhớ nhau, yêu thương nhau, cùng nhau vượt qua những nhục nhằn, thua thiệt và vươn lên cuộc sống làm người Lý do đó khiến tôi cầm bút viết văn Vẫn biết văn mình chưa hay, chưa đáp ứng với họ nhưng tôi còn viết nữa”.Những lý do đó khiến cho tiểu thuyết của trịnh Thanh Phong viết ra như
viết cho chính mình, viết ra cho những người thân thiết và chinh phục được trái tim độc giả
Những khác biệt nói trên còn dẫn đến một sự khác biệt thứ ba, đó là khác biệt về giọng điệu Mỗi nhà văn lựa chọn cho mình một giọng điệu phù hợp với tác phẩm và mục đích sáng tác Cùng viết về một chủ đề nhưng cũng
có nhiều giọng điệu khác nhau Đến với Nguyễn Thị Ngọc Tư qua tập truyện
Cánh đồng bất tận là đến với giọng điệu dân dã mộc mạc, đôn hậu, ấm áp, trữ
tình sâu lắng trong những trang viết về cảnh vật thiên nhiên, cuộc sống sinh hoạt, hay những số phận éo le bất hạnh gần gũi với con người vùng đồng bằng Nam bộ Ngược lại giọng điệu dân dã mộc mạc nhưng mang đậm dấu ấn
của con người vùng Đồng bằng Bắc bộ thể hiện rất rõ trong tác phẩm Bến
không chồng của Dương Hướng Gần gũi hơn với những tác phẩm của Trịnh
Thanh Phong, đặc biệt là hai tác phẩm Ma làng, và Đồng làng đom đóm về
phạm vi khai thác đề tài(cùng viết về nông thôn vùng miền núi) là tác phẩm
Mảnh đất lắm người nhiều ma của nhà văn Nguyễn Khắc Trường Nhưng hai
Trang 32tác giả vẫn có giọng điệu riêng biệt Nguyễn Khắc Trường chủ yếu đi vào
khai thác mâu thuẫn xung đột giữa các phe cánh, dòng họ (Mảnh đất lắm
người nhiều ma) vì vậy ngôn ngữ và giọng điệu có độ căng nhất định nhằm
phục vụ việc thể hiện những mâu thuẫn xung đột, còn Trịnh Thanh Phong lại
đi sâu vào phản ánh số phận bi kịch của những người dân lao động nghèo khổ
(Ma làng), cuộc sống sinh hoạt đời thường với những suy nghĩ, dằn vặt của con người một vùng miền núi (Đồng làng đom đóm), có lẽ vì thế mà giọng
điệu của ông mộc mạc, tâm tình mang đậm dấu ấn người dân miền núi hơn
Để diễn tả được hình tượng nhân vật người nông dân ở một vùng nông thôn miền núi, trong sáng tác của mình Trịnh Thanh Phong sử dụng một giọng điệu mộc mạc, dân dã gần gũi với người dân miền núi Trong hai tiểu thuyết
Ma làng và Đồng làng đom đóm, có nhiều từ ngữ khá đắc địa, mang bản sắc
riêng của làng quê miền núi Những từ ngữ ấy được sử sụng rất “riêng” làm nên sự độc đáo của nhà văn
Nghiên cứu tiểu thuyết của Trịnh Thanh Phong chúng tôi nhận thấy trong cái nhìn đối sánh tiểu thuyết Trịnh Thanh Phong có những điểm chung và những điểm riêng khi viết về đề tài nông thôn Những đặc điểm này chúng tôi sẽ làm sáng tỏ hơn ở phần sau trong chương nội dung
Như vậy, đặt tiểu thuyết của Trịnh Thanh Phong trong hệ thống tiểu thuyết Việt Nam viết về đề tài nông thôn sau đổi mới năm 1986, chúng ta thấy được vị trí cũng như những đóng góp của ông cho tiểu thuyết Việt Nam nói chung, bộ phận tiểu thuyết này nói riêng Tiểu thuyết Trịnh Thanh Phong đã góp phần không nhỏ vào việc hình thành nên diện mạo chung cho tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn sau đổi mới cả về nội dung phản ánh (những vấn đề nổi cộm đầy bức xúc, trăn trở đang diễn ra trong lòng nông thôn Việt Nam những tháng ngày trước và sau đổi mới) lẫn các phương thức nghệ thuật biểu hiện (nhân vật, giọng điệu, không thời gian, điểm nhìn
Trang 33cũng như quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người) Tạo sức mạnh thúc đẩy bộ phận tiểu thuyết này phát triển mạnh mẽ theo xu hướng đổi mới của nền văn học nói chung Không chỉ góp phần tạo nên cái chung mà tiểu thuyết của Trịnh Thanh Phong còn góp phần làm phong phú thêm cho văn học viết về nông thôn bởi những điểm khác biệt của mình (bức tranh nghệ thuật, nhân vật, giọng điệu) Nét khác biệt này tạo nên đặc trưng tiểu thuyết cũng như tên tuổi của nhà văn đồng thời thể hiện tâm huyết của nhà văn với mảnh đất mà ông đã chọn để đưa vào tác phẩm của mình Như vậy khai thác tiểu thuyết Trịnh Thanh Phong trong cái nhìn hệ thống với các tác phẩm khác trong bộ phận tiểu thuyết Việt Nam viết về đề tài nông thôn sẽ
mở ra nhiều thú vị mới mẻ
Trang 34CHƯƠNG II BỨC TRANH HIỆN THỰC VÀ CON NGƯỜI NÔNG THÔN TRONG
TIỂU THUYẾT TRỊNH THANH PHONG
2.1 Quan niệm nghệ thuật về cuộc sống và con người trong tiểu thuyết Trịnh Thanh Phong
Quan niệm nghệ thuật về con người là cách hiểu, cách cảm nhận về con người được hóa thân vào các nguyên tắc, thủ pháp, phương tiện thể hiện con người trong tác phẩm nghệ thuật Quan niệm nghệ thuật về con người không phải là phạm trù riêng của văn học mà thể hiện ở mọi ngành nghệ thuật Chẳng hạn, trước đây khi vẽ truyền thần một người, hoạ sĩ một mặt phải quan sát đối tượng cụ thể để vẽ cho giống, cho “truyền thần”, mặt khác, bao giờ cũng vẽ người toàn thân có đủ cả hai tay, hai chân, hai tay thì đủ cả mười ngón Trong quan niệm thẩm mĩ của họ không chấp nhận vẽ nửa người, bởi nguời ta có thể hiểu lầm là người có khuyết tật Cách vẽ toàn thân đó là quan niệm nghệ thuật về con người Còn trong văn chương, nhà văn dù sáng tác ở lĩnh vực nào cũng đều có một quan niệm nghệ thuật nhất định làm cơ sở Sáng tác dân gian, do truyền miệng, dấu ấn tác giả bị mờ đi, song vẫn có quan niệm nghệ thuật về con người Người mới sáng tác khi chưa tự mình tạo ra quan niệm nghệ thuật riêng của mình cũng sử dụng quan niệm nghệ thuật thịnh hành mà mình chịu ảnh hưởng Nhà văn có tài năng tất nhiên có quan niệm nghệ thuật độc đáo Quan niệm nghệ thuật là cái mẫu số chung để chúng ta nhìn nhận, đánh giá sáng tác nghệ thuật Trên mẫu số chung ấy, các nhà văn có tài sẽ nổi lên với những khám phá mới, mở ra những giới hạn mới, chiều sâu mới trong sáng tạo nghệ thuật
Tóm lại, quan niệm nghệ thuật về con người là một công cụ cần thiết để đánh giá thành công hay hạn chế của sáng tác văn học, bởi vì văn học là nhân
Trang 35học; qua đó nó giúp chúng ta đánh giá chiều sâu trong việc khám phá về con người của một nhà văn Khái niệm đó cũng cho thấy hướng phấn đấu của nhà văn là đi tìm cách hiểu mới, sâu sắc về con người, đột phá các giới hạn thông thường trong việc miêu tả con người của người đi trước, sáng tạo những tác phẩm mới xứng đáng với mong đợi của người đọc
Văn học nước nhà từ đầu thế kỷ XX đã vận động trên tất cả các phương diện, đương nhiên trong đó có phương diện quan niệm nghệ thuật về con người Nếu như trước 1945, quan niệm con người tha hóa, con người lãng quên, con người nghĩa hiệp … xuất hiện trong sáng tác của nhiều nhà văn như Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân, các cây bút Tự lực văn đoàn thì đến giai đoạn cách mạng và kháng chiến kéo dài suốt 30 năm (1945 - 1975), mẫu người phổ biến trong cuộc sống và trong văn chương phù hợp với yêu cầu cơ bản của lịch sử là người anh hùng Họ chủ yếu là con người hiện thực, con người hành động, con người xã hội, con người giai cấp, con người cộng đồng và con người phi thường Sở dĩ con người trong giai đoạn này được xây dựng như vậy là bởi chiến tranh có quy luật riêng của nó Muốn vượt qua những thử thách khắc nghiệt, con người cần sống một cách thực tế, không thể quá suy tư và đa cảm, phải giản ước mọi ham muốn, không được mơ hồ về kẻ thù, không được phép nghĩ nhiều tới lợi ích và nguyện vọng riêng tây, và nhất
là cần huy động mọi phẩm chất cao đẹp tiềm ẩn trong bản thân mình Để phục
vụ cho sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc
Tuy nhiên, từ sau năm 1975, tình hình văn học ở cả hai quá trình sáng tác và tiếp nhận đã đổi khác rất nhiều Giờ đây, với nhà văn, cuộc sống đã mở
ra những triển vọng cao hơn cùng những đòi hỏi lớn hơn Để đáp ứng những nhu cầu thẩm mĩ mới của công chúng, văn chương cần trở về với đặc trưng vốn có của mình, cần tuân thủ những “quy luật muôn đời” của các kiệt tác trong lịch sử văn chương dân tộc và nhân loại Đặc biệt, bệnh đơn giản, một
Trang 36chiều trong quan niệm nghệ thuật về con người nên sớm được chấm dứt Đã đến lúc cần lưu tâm đến tính toàn diện của bản chất người, tính đa dạng của quan hệ người Cùng với con người hiện thực, con người hành động, con người xã hội, con người giai cấp, con người cộng đồng, nhà văn cần coi trọng
thêm tới con người siêu việt, con người tâm linh, con người tự nhiên, con
người nhân loại, con người cá thể và con người đời thường - những phương
diện và những quan hệ mà trước đây do nhu cầu của đời sống thời chiến đã không được chú ý một cách thích đáng
Song hành với sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người là sự thay đổi trong phương thức biểu hiện nghệ thuật về con người Các nhà văn
đã sử dụng mọi phương tiện nghệ thuật để đạt được mục tiêu sáng tạo của mình Họ học hỏi từ nhiều phía, có người tiếp thu biện pháp thể hiện của các ngành khác như thủ pháp đồng biện của điện ảnh, tính tư liệu của báo chí có tác giả lại tiếp nhận những ảnh hưởng tích cực từ các trào lưu hiện đại phương Tây …tạo nên sự đa dạng về màu sắc thẩm mĩ, sự nhiều chiều về thời gian và không gian, sự đa thanh về giọng điệu và âm hưởng
Trong xu hướng đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người như vậy, hai tác phẩm viết về đề tài nông thôn của Trịnh Thanh Phong, cũng thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người thông qua hệ thống những thủ pháp miêu tả, cắt nghĩa con người xuyên suốt toàn bộ hai tác phẩm
Vì trong quá trình khai thác nội dung của luận văn, chúng tôi có đề cập đến một số những yếu tố thi pháp đóng vai trò là những phương thức nghệ thuật cơ bản của tác phẩm, nên trong phần này chúng tôi sẽ không phân tích một cách tỷ mỷ những phương thức đó mà chỉ tiến hành đánh giá một cách khái quát quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn thông qua hệ thống những phương thức, thủ pháp và phương tiện nghệ thuật được nhà văn sử dụng
Trang 372.1.1 Con người cá nhân trong cảm hứng bi kịch và cảm thương
Thực tế, quan niệm nghệ thuật về con người trong hai sáng tác Đồng
làng đom đóm và Ma làng của Trịnh Thanh Phong được thể hiện chưa thực
sự đậm nét Người đọc nhận ra quan niệm ấy chủ yếu qua một số nhân vật tiêu biểu Điều này cũng là dễ hiểu, bởi không phải ở bất cứ cây bút nào, việc bộc lộ quan điểm nghệ thuật về con người cũng thật sự độc đáo và rõ nét Việc nhà văn chỉ thể hiện quan niệm của mình ở một góc độ nào đó là một đặc điểm nhiều hơn là nhược điểm
Có thể nói, cái làm nên sức hấp dẫn trong tác phẩm của Trịnh Thanh Phong chính là cái nhìn xã hội vừa nghiêm khắc, vừa hiền lành, đôn hậu của nhà văn Đặc biệt, ông luôn trăn trở, day dứt trước số phận, những cảnh đời, mảnh đời vụn vỡ ở làng quê Đó chính là những người nông dân suốt đời thì thụt với cái đói, cái nghèo
Ông quan tâm, chắt lọc những yêu thương để xây dựng lên số phận của những con người cụ thể từ suy nghĩ, cử chỉ, hành động, … Để Phản ánh chân thực số phận bi kịch của họ
Trong tác phẩm Đồng Làng Đom Đóm, cảm hứng bi kịch và cảm thương
khi xây dựng con người cá nhân thể hiện ít hơn trong tác phẩm Ma Làng
Cảm hứng bi kịch thuyên giảm dần và mất hẳn khi kết thúc tác phẩm Cảm hứng này thể hiện nhiều nhất trong những trang viết về “tuổi thơ dữ dội” của Hữu, một cậu bé đã mồ côi cha lại mồ côi thêm cả mẹ và phải sống với bố dượng - lão Bành - con quỷ thực sự Đây là những tháng ngày đoạ đày về cả thể xác và tâm hồn đối với Hữu Hàng ngày, Hữu phải mò mẫm tìm con cua cái ốc cho người bố dượng, chịu đòn roi tàn ác của hắn Những tháng ngày tuổi thơ của Hữu là những tháng ngày lặng lẽ, những đêm nằm co quắp trong cái nong bên cái trai thuỷ tinh, chịu những trận mưa roi có khi còn quyềnh quàng trong cơn mơ ngủ Số phận bi kịch của Hữu chỉ chấm dứt sau khi chính
Trang 38lão Bành nhận thức ra việc làm sai trái của bản thân mình Cái khiến cho lão Bành thay đổi chính là tình yêu thương, sự hiếu thuận của Hữu Như vậy, trong cái nhìn của tác giả ẩn chứa quan điểm nhân đạo Số phận bi kịch của con người sẽ được giải quyết bằng tình thương Tình thương có thể chữa lành vết thương trong tâm hồn con người, biến những tâm hồn “quỷ dữ “trở lại với tâm hồn con người
Trong Ma Làng, đằng sau việc miêu tả những tranh chấp, đố kỵ giữa
làng trên, xóm dưới, tộc này, họ kia chi phối người nông dân, đằng sau những mánh khoé hiểm ác, những mưu mô toan tính của những người có thế lực, có quyền thế, lợi dụng chỗ đứng của mình để thu lợi là tấm lòng của tác giả luôn hướng về người nông dân thấp cổ, bé họng như cô Mưa, anh Dỏ, chị Ló, cái
Lở, bà Bẹo, anh Nghiệp, bà Lâm… Họ là người có số phận đau khổ, có người phải chết trong uất ức, có người phải sống cuộc sống không phải của con người, có những người phải sống trong sự khinh thường của làng xóm, hầu hết họ phải sống cuộc đời nghèo khổ, cơ cực Nhưng rồi, cuối cùng họ cũng
có hạnh phúc của mình,số phận của họ hết dần bi kịch Giải pháp cho số phận
bi kịch của những người nông dân chính là công ăn việc làm, và quan trọng hơn đó chính là tình thương Tình thương của anh Tâm, một người luôn trăn trở làm thế nào để hết được những mảnh đời như Ló, như anh Dỏ đã góp phần giải quyết bi kịch của những người nông dân Ngoài ra cứu giúp cuộc đời họ còn dựa vào sự đoàn kết, yêu thương nhau của những con người cùng khổ Trong thế giới quan của nhà văn thì tình yêu thương giữa những con người chính là giải pháp giúp con người vượt ra khỏi những khổ đau oan trái Trong khi miêu tả số phận bi kịch của những con người nhỏ bé tội nghiệp, nhà văn thể hiện nhiều quan điểm mang tính nhân đạo về con người Ông cho rằng người ta không phải sinh ra đã xấu, họ chính là sản phẩm của xã hội ấu trĩ:
“Những người như cô Ló, anh Dỏ, anh Nghiệp đâu phải đẻ ra là họ đã thế
Trang 39Họ là sản phẩm của một thời ấu trĩ, một thời còn mông muội Nếu ta ngoảnh mặt đi thì làng xã còn mãi quẩn quanh, luân hồi” [30.165] Cuộc đời bi kịch
của họ chính là hậu quả của những toan tính mưu mô nham hiểm của chính đồng loại của mình Chính những hoàn cảnh sống xấu đã tác động đến làm tha hoá con người, và tình thương yêu, sự cảm thông có thể cứu vớt họ Đây là cái nhìn đầy trân trọng đối với con người Và trong khi lí giải nguyên nhân dẫn đến bi kịch của con người, tác giả cũng có cái nhìn công bằng, khách quan Đó là một cái nhìn đa chiều về con người và cuộc sống Trong nhiều trường hợp, con người vừa là nạn nhân, lại vừa là thủ phạm của tấn bi kịch đời họ Họ phải chịu trách nhiệm về chính số phận mà có lúc không vượt qua được cái xấu họ đã gây nên cho mình Trường hợp cô Mưa, nếu không buông thả quá trớn thì làm gì cái đến mức bị dân làng hất ra rìa làng với đứa con
hoang trong bụng Chị Ló nếu không thoả hiệp “nhắm nghiền mắt kệ người
ta muốn làm gì thì làm” [30.52] thì đã không đến nỗi rơi vào thiên tình sử
vừa đam mê, hoang dã, như vậy Như vậy, hoàn cảnh có tác động đến con người nhưng không phải có ý nghĩa quyết định Con người vừa là nạn nhân lại cũng chính là thủ phạm của cuộc đời mình, cũng chính vì vậy con người phải có thái độ tích cực với cuộc sống hiện tại,tự chịu trách nhiệm với cuộc đời của mình
Trong hai tác phẩm Đồng Làng đom đóm và Ma làng, những con người
bé nhỏ tội nghiệp là những con người của đời tư, của những lo toan, cuộc sống đời thường Số phận bi kịch của họ là sản phẩm của hoàn cảnh, đồng thời phần nào cũng chính là hậu quả của bản thân họ Chỉ có tình thương, sự cảm thông chia sẻ của đồng loại mới có thể cứu giúp họ và cũng chính tình thương của những con người đau khổ đó có thể cứu giúp chính bản thân họ
ra khỏi cuộc đời đầy bi kịch này Đây cũng chính là cái nhìn đầy nhân đạo,
Trang 40sự cảm thông chia sẻ, cũng là cái nhìn khách quan đối với số phận con người của nhà văn
2.1.2 Con người lí tưởng trong cảm hứng ngợi ca
Con người lí tưởng là con người có phẩm chất cao quí luôn đặt lợi ích công đồng lên trên lợi ích cá nhân, mọi việc làm và suy nghĩ đều hướng đến hạnh phúc của người xung quanh,sẵn sàng đấu tranh với cái xấu cái ác để bảo vệ cái đẹp cái thiện
Trong tác phẩm Đồng làng đom đóm và Ma làng, nhà văn Trịnh Thanh
Phong cũng xây dựng những nhân vật lí tưởng Trong số phận rộng lớn của nhân vật lí tưởng chứa đựng nhiều quan niệm khác nhau về thế giới và con người của nhà văn
Trong Đồng làng đom đóm, tác giả xây dựng hai nhân vật lí tưởng đó
là Hữu và Dần - một đại đội trưởng bị thương trong một trận đánh trên sông Thạch Hãn mùa hè năm 1972 và một bác sĩ giàu lòng nhân ái Dù trong mọi hoàn cảnh từ cuộc sống nghèo túng, cay cực, thiếu thốn thời thơ ấu và gian khổ ác liệt thời quân ngũ Hữu vẫn luôn giữ một tâm hồn cao cả Thuở nhỏ, luôn bị đòn roi của lão Bành, Hữu vẫn cứu sống lão, dùng một đồng bạc duy nhất, lặn lội đường xa để lấy thuốc chữa bệnh cho lão Và khi quyết định làm việc tốt thì thằng Hữu thấy lòng mình mát mẻ lạ thường Trong suốt những tháng ngày đi trọ học, Hữu luôn là người suy nghĩ cho người khác Có lần, đôi vai Hữu toạc máu chỉ vì kiếm tiền ăn và tiền đóng học cho cả nhóm Tình thương yêu đối với những người xung quanh của Hữu còn được khẳng định một lần nữa khi cậu bé Hữu quẳng năm hào bạc và vội cướp lấy lạng đường cho bà cụ Vuông đang ốm nặng Sau này trong chiến trận cũng vậy, Hữu luôn hoàn thành nhiệm vụ một cách suất sắc nhất Như vậy, với nhà văn Trịnh Thanh Phong, mọi hoàn cảnh dù khó khăn, gian khổ chỉ là điều kiện cho những con người lý tưởng làm những việc tốt và khẳng định mình Đặc biệt,