1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm tiểu thuyết của inrasara

123 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ông là Inrasara – người được mệnh danh là “Đứa con của Tháp nắng”, “Kẻ lưu giữ văn hóa Chăm” Inrasara là một cây bút dân tộc thiểu số đã thành danh trong lĩnh vực thơ ca và nghiên cứu

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ THANH BÌNH

ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT CỦA INRASARA

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ THANH BÌNH

ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT CỦA INRASARA

Chuyên ngành : Văn học Việt Nam

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác Các thông tin, số liệu trích dẫn trong quá trình nghiên cứu đều được ghi rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Bình

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn được hoàn thành là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu

lí luận và tích lũy kinh nghiệm thực tế của tác giả Những kiến thức mà thày

cô giáo truyền thụ đã làm sáng tỏ những ý tưởng, tư duy của tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng sâu sắc đối với PGS.TS Đào Thủy Nguyên – Trưởng khoa Ngữ Văn trường ĐHSP Thái Nguyên và TS Dương Thu Hằng – Giảng viên khoa Ngữ Văn trường ĐHSP Thái Nguyên đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Sau đại học trường ĐHSP Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Có được kết quả này, tôi không thể không nói đến sự giúp đỡ của tác giả Inrasara, người đã cung cấp cho tôi rất nhiều tư liệu khách quan, chính xác, giup tôi có được những tài liệu tham khảo quý báu để nghiên cứu

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi lúc khó khăn, tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này

Thái Nguyên, năm 2012

Nguyễn Thị Thanh Bình

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2.Lịch sử vấn đề 2

2.1 Sơ lược về tình hình nghiên cứu văn chương của Inrasara 2

2.2 Tình hình nghiên cứu tiểu thuyết của Inrasara 5

3 Mục đích nghiên cứu 12

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12

4.1 Đối tượng 12

4.2 Phạm vi tài liệu nghiên cứu 12

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 12

6 Phương pháp nghiên cứu 13

7 Đóng góp mới của luận văn 13

8 Cấu trúc của luận văn 13

PHẦN NỘI DUNG 14

Chương 1: VĂN CHƯƠNG INRASARA TRONG DÒNG CHẢY CỦA VĂN HỌC DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM HIỆN - ĐƯƠNG ĐẠI 14

1.1 Phác thảo diện mạo văn xuôi (tiểu thuyết) của các cây bút dân tộc thiểu số Việt Nam hiện – đương đại 14

1.2 Vài nét về chủ nghĩa hậu hiện đại, ảnh hưởng của nó đến văn học Việt Nam và tư tưởng nghệ thuật của Inrasara 19

1.3 Đôi nét về nhà văn Inrasara và sự nghiệp văn học của ông 23

1.3.1.Tiểu sử và con người nhà văn Inrasara 23

1.3.2 Sự nghiệp văn chương của Inrasara 26

1.3.3 Tiểu thuyết và quan niệm về tiểu thuyết của Inrasara 29

Trang 6

Chương 2: NHỮNG CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO TRONG TIỂU THUYẾT

CỦA INRASARA 35

2.1 Cảm hứng về con người Chăm 35

2.1.1 Con người mang vẻ đẹp nguyên bản với số phận bí ẩn 35

2.1.2 Con người nhiều khát vọng, phát kiến nhưng cũng đầy ảo tưởng, bế tắc 39

2.1.3 Con người tài năng, giàu suy tư và nặng lòng với văn hóa Chăm 47

2.1.4 Con người bình dị, đời thường với bộn bề những lo toan thường nhật 55

2.2 Cảm hứng về văn hóa Chăm 59

2.2.1 Cảm hứng về ngôn ngữ và văn học Chăm 60

2.2.2 Cảm hứng về những giá trị văn hóa truyền thống và phong tục tập quán 68

2.3 Cảm hứng về thiên nhiên miền duyên hải 73

2.3.1 Thiên nhiên khắc nghiệt, và rờn rợn 74

2.3.2 Thiên nhiên gần gũi, gắn bó và sẻ chia với cuộc sống con người 76

Chương 3: MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT CỦA INRASARA 80

3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 80

3.1.1 Miêu tả ngoại hình 80

3.1.2 Xây dựng nhân vật dựa trên tâm thức dân tộc và cảm quan hậu hiện đại 83

3.2 Nghệ thuật xây dựng cốt truyện 89

3.2.1 Cốt truyện phân mảnh, cắt ghép và nới rộng không – thời gian 90

3.2.2 Cốt truyện cắt dán, hòa trộn tiến tới xóa nhòa ranh giới các thể loại 93

3.3 Ngôn ngữ, giọng điệu 95

3.3.1 Ngôn ngữ đời thường mang sắc thái bình dân, thông tục 95

3.3.2 Ngôn ngữ mang tính triết lí, chất chính luận, chất thơ; kết hợp ngôn ngữ Việt – Chăm 100

3.3.3 Giọng điệu giễu nhại, trào lộng, hài hước, phi nghiêm cẩn 104

KẾT LUẬN 110

TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

Trang 7

và tiểu thuyết nói riêng của một số cây bút dân tộc thiểu số Việt Nam gần đây

có sự mở rộng về đề tài, có nhiều dấu hiệu mới trong cách nhìn và tư duy nghệ thuật, trở thành mảng đề tài hấp dẫn, hứa hẹn những đóng góp nhất định

về khoa học và thực tiễn

Đội ngũ các nhà văn dân tộc thiểu số từ thời kì đầu cho đến nay không ngừng lớn mạnh về số lượng và trưởng thành trong từng trang viết Có những tài năng xuất sắc, cũng có những tác giả chưa định hình được phong cách riêng nhưng tất cả các văn nghệ sĩ đều nỗ lực, nghiêm túc trong sáng tạo nghệ thuật với mong muốn giữ ngọn lửa văn chương của dân tộc mình Có thể kể đến các tên tuổi tiêu biểu sau: miền Bắc có Triều Ân, Nông Minh Châu, Cao Duy Sơn, Vi Hồng…; miền Trung có La Quán Miên, Kha Thị Thường…; Tây Nguyên có Y Điêng, Hlinh Niê, Kim Nhất….Đặc biệt vùng duyên hải Nam Trung Bộ có một tác giả đã trở thành một hiện tượng trong giới sáng tác văn

học suốt thời gian vừa qua Ông là Inrasara – người được mệnh danh là “Đứa

con của Tháp nắng”, “Kẻ lưu giữ văn hóa Chăm”

Inrasara là một cây bút dân tộc thiểu số đã thành danh trong lĩnh vực

thơ ca và nghiên cứu, phê bình văn học Với ý thức tìm hiểu tâm hồn dân tộc cũng như giới thiệu để thế giới biết đến dân tộc Chăm, văn học Chăm,

Inrasara đã dành nhiều tâm huyết, không ngừng tìm tòi, sưu tầm để bảo tồn

Trang 8

kho tàng văn học Chăm; đồng thời có những thể nghiệm mới mẻ, cách tân làm cho nó trở nên phong phú hơn Ông vinh dự nhận được nhiều giải thưởng văn học trong nước và quốc tế cho lĩnh vực nghiên cứu, phê bình và thơ Gần đây, Inrasara đã cho ra mắt bạn đọc hai cuốn tiểu thuyết với phong cách riêng:

Chân dung cát và Hàng mã kí ức Từ khi được xuất bản và ra mắt công

chúng, hai cuốn tiểu thuyết này đã gây được sự chú ý với các nhà phê bình, nghiên cứu và sự quan tâm của bạn đọc yêu mến Inrasara Có nhiều những ý kiến bàn luận, thậm chí tranh luận xung quanh hai cuốn tiểu thuyết này Vậy tiểu thuyết của Inrasara có những đặc điểm gì về nội dung và nghệ thuật? Tiểu thuyết của ông có những tìm tòi, khám phá gì mới mẻ và những vấn đề

gì còn tồn tại? Đó là nội dung trọng tâm mà luận văn này sẽ đi sâu tìm hiểu

2.Lịch sử vấn đề

2.1 Sơ lược về tình hình nghiên cứu văn chương của Inrasara

Inrasara từng bộc bạch: “Mỗi cuộc đời có định mệnh của nó Định

mệnh mở ra ngay ở khởi đầu của hành trình đời người Với tôi, văn chương như là một định mệnh” Định mệnh ấy cùng với một tinh thần lao động nghệ

thuật nghiêm túc, một sức sáng tạo dồi dào, Inrasara xứng đáng là người lao

động cần mẫn, chăm chỉ trên “cánh đồng chữ nghĩa”, giống như “gã nông phu

mắc nợ văn chương, chàng thi sĩ mang khối óc học thuật”(Nguyễn Hàng

Tình) Nâng niu và sống hết mình với văn hóa dân tộc Chăm, ông đã khẳng định được cá tính sáng tạo độc đáo trong sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật của mình Được mệnh danh là “Đứa con Tháp Chàm” và vinh dự nhận được nhiều giải thưởng văn học trong nước và quốc tế cho lĩnh vực nghiên cứu và thơ, Inrasara là nhân vật tiêu biểu xuất hiện với tần số khá cao trên truyền hình và nhiều tờ báo với các cuộc tranh luận khác nhau Văn nghiệp của ông trở thành mảng đề tài thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, phê bình và là đối tượng chính của các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ Cụ thể là:

Trang 9

- Trần Xuân Quỳnh (2008), Thơ Inrasara, Luận văn thạc sĩ, Trường

Đại học Đà Lạt

- Võ Thị Hạnh Thủy (2008), Thế giới nghệ thuật thơ Inrasara, Luận văn

thạc sĩ, Trường Đại học sư phạm Hà Nội

- Lê Thị Việt Hà (2009), Hành trình cách tân thơ của Inrasara, Luận

văn thạc sĩ, Trường Đại học Vinh

- Trần Hoài Nam (2010), Inrasara ­ Từ quan niệm đến phong cách, Luận văn

thạc sĩ, Trường Đại học sư phạm Hà Nội

- Nguyễn Thị Thủy (2010), Đặc điểm nghệ thuật thơ Inrasara, Luận

văn thạc sĩ, Trường Đại học sư phạm Huế

- Nguyễn Thùy Dung (2010), Tinh thần hậu hiện đại trong thơ Inrasara,

Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội

Và hơn 20 khóa luận cử nhân khác cùng hàng trăm bài viết của các nhà nghiên cứu, các nghệ sĩ và các bài phỏng vấn Inrasara trên các báo, tạp chí

chuyên ngành như: Tạp chí nhà văn, Tạp chí nghiên cứu văn học,Tạp chí

Sông Hương, Báo Văn nghệ (Hội nhà văn Việt Nam), Báo Văn nghệ Thái Nguyên (Hội văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên), Báo Người lao động, Báo Sài Gòn… cũng như trên các tranh web: Phongdiep.net, Inrasara.com, Vanchuongviet.org, Tienve.org…

Inrasara còn là nhân vật chính trong các phim tài liệu của đài truyền hình, trên các kênh VTV1, VTV3, VCT1, HTV7, VOV1… Năm 2005, ông được đài truyền hình Việt Nam VTV bầu là nhân vật văn hóa trong năm

Qua những thống kê trên ta có thể thấy, cuộc đời và văn nghiệp của Inrasara đã thu hút được dư luận và sự quan tâm của giới nghiên cứu phê bình, báo chí, truyền hình và đông đảo độc giả yêu văn chương Đặc biệt thơ của Inrasara có một sức lan tỏa mạnh trong đời sống văn học dân tộc thiểu số nói riêng và văn học dân tộc đương đại nói chung Ngay khi tập thơ đầu tiên

Trang 10

được xuất bản (Tháp Nắng – 1996), ông đã được dư luận quan tâm và giới

nghiên cứu đánh giá như một hiện tượng văn học Sau này khi năm tập thơ tiếp theo lần lượt được xuất bản, Inrasara đã mang đến một hương vị lạ cho thơ Việt và góp phần không nhỏ vào công cuộc vận động cách tân của thơ Việt Nam đương đại

Thời kì đầu thơ ông đậm bản sắc dân tộc và mang phong cách hậu lãng mạn; sau đó dần dần được đổi mới cách tân theo tinh thần hậu hiện đại, đặc biệt ở phương diện nghệ thuật như việc sử dụng giọng điệu, ngôn ngữ, hình thức thơ, kết cấu văn bản lạ với nhiều thể nghiệm mới mẻ Các tác giả trong các công trình nghiên cứu của mình đã đi sâu tìm hiểu rất nhiều phương diện trong thơ của Inrasara Cụ thể là: các phương diện sáng tạo nghệ thuật trong thơ của Inrasara trong sự vận động phát triển thơ ca Việt Nam đương đại (Lê Thị Việt Hà); quan niệm nghệ thuật của Inrasara, các phương diện của cái tôi trữ tình, những đặc sắc nghệ thuật dưới cái nhìn hậu hiện đại trong thơ Inrasara (Võ Thị Hạnh Thủy); cái hay cái mới trong thơ Inrasara xuất phát

từ quan niệm nghệ thuật của nhà thơ (Trần Hoài Nam), tinh thần hậu hiện đại trong thơ Inrasara (Nguyễn Thùy Dung)…

Ở lĩnh vực phê bình, Inrasara cũng được đánh giá là đã tạo được một phong cách riêng độc đáo thể hiện trong giọng điệu, đề tài và phương pháp

phê bình: “Inrasara đã thành công khi tạo được cho mình một phong cách

phê bình riêng Điểm nổi bật của nhà phê bình Inrasara là tự tin, dũng cảm, dám nói thẳng, nói thật những điều mình biết, mình nghĩ mà không sợ mất lòng ai” [33] Quan tâm đến nhiều vấn đề của đời sống văn chương, đặc biệt

là văn học thiểu số, Inrasara đã có những bài phê bình thể hiện được tài năng cũng như những suy tư, trăn trở của mình đối với nền văn học nước nhà Tác

giả Trần Hoài Nam cho rằng: “Thưởng thức phê bình Inrasara, người đọc

cũng bị hấp dẫn như đọc chính thơ ông vậy Một chất lí luận vừa khúc triết

Trang 11

vừa cảm xúc Mỗi bài viết dù dài hay ngắn đều có bố cục chặt chẽ, mạch lạc với sự phân bố hợp lí các luận điểm, luận cứ, luận chứng” [33] Tiểu

thuyết của Inrasara cũng là một sự thể nghiệm hết sức mới mẻ của ông trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật và bước đầu nhận được sự quan tâm của dư luận Những nghiên cứu về tiểu thuyết của Inrasara chúng tôi sẽ làm

rõ thêm ở phần sau

Có thể thấy Inrasara đã mang đến một cơn gió lạ cho văn học thiểu số đương đại nói chung và văn học Việt Nam nói riêng Chính thức bước chân vào văn đàn chưa lâu, nhưng những sản phẩm của quá trình lao động nghệ thuật của ông đều đã tạo được những dấu ấn riêng Việc tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu sâu thêm về Inrasara và sự nghiệp văn chương của ông là một việc làm cần thiết Không chỉ là để có cái nhìn rõ ràng, đánh giá một cách toàn diện, chính xác về một cây bút dân tộc Chăm nói riêng mà còn để đánh giá, nhận xét một cách toàn diện và đầy đủ hơn về thành tựu và hạn chế của văn học dân tộc thiểu số đương đại nói chung trong tiến trình phát triển của văn học dân tộc

2.2 Tình hình nghiên cứu tiểu thuyết của Inrasara

Tiểu thuyết Chân dung cát (2006) và Hàng mã kí ức (2011) của

Inrasara sau khi được ra mắt độc giả đã thu hút được sự quan tâm của đông đảo dư luận và tạo được hiệu ứng trong đời sống văn chương Hai cuốn tiểu

thuyết “là nỗ lực mới của ông trong việc khắc họa diện mạo Chăm và cố gắng

chinh phục thể loại, để có một ý niệm “tiểu thuyết” của riêng mình” [14, 5]

Tiểu thuyết của Inrasara xuất bản chưa lâu; mặt khác chúng lại là sự thể nghiệm của ông theo lối hậu hiện đại, một điều rất mới mẻ trong văn xuôi (tiểu thuyết) dân tộc thiểu số Vì vậy mà các nghiên cứu, tìm hiểu về nó chưa nhiều Chủ yếu là các bài viết của các nhà nghiên cứu, phê bình, các bài phỏng vấn, các bài viết nhỏ, đăng rải rác trên các phương tiện thông tin đại

Trang 12

chúng Tuy vậy, một số phương diện trong đặc điểm tiểu thuyết của Inrasara cũng đã được các tác giả phát hiện và đề cập đến

Về cảm hứng sáng tác:

Bất kì một tác phẩm nào cũng được bắt nguồn từ sự kết hợp giữa nội dung hiện thực với cảm hứng sáng tác của nhà văn Tiểu thuyết của Inrasara cũng vậy Phương diện được nhiều tác giả chú ý đến nhất trong cảm hứng

sáng tác của Inrasara là cảm hứng về con người Trong lời giới thiệu Chân dung cát, Khánh Phương đã nêu nhận định khái quát về con người trong tiểu

thuyết của Inrasara: “Có thể gặp những câu chuyện éo le, bí ẩn về những thân

phận dường như phải gánh chịu nỗi bi thương, cái phi lí, khát vọng và sự bế tắc khủng khiếp của con người” [42] Tác giả đã nhận thấy và chỉ ra những

phức cảm tính cách của con người Chăm trong tiểu thuyết của Inrasara Đó là những con người Chăm bí ẩn, không thuần nhất, đầy mâu thuẫn mà đặc biệt

nhất là ở họ luôn ẩn chứa một nỗi buồn khó hiểu: “Con người Chăm mạnh

mẽ, bản lĩnh văn hóa nhưng “buồn đến muốn tìm gò mối lủi vào”” [42]

Chung quan điểm này với Khánh Phương, Trần Vũ trong lời giới thiệu nhân

dịp xuất bản cuốn tiểu thuyết Chân dung cát của Inrasara cũng khẳng định:

“Nỗi buồn Chăm, bí ẩn Chăm, có lẽ đó là điều mỗi bạn đọc có thể hướng tới

và sẻ chia với tác giả Chân dung cát” [14, 8]

Các tác giả cũng nhận thấy trong Hàng mã kí ức, cảm hứng đậm nét

nhất trong sáng tác của Inrasara là cảm hứng về con người: “Inrasara rủ rỉ

câu chuyện, như lời tâm tình, về cuộc đời mình, về bạn bè, về làng xóm…”

(47) Từ những câu chuyện đó mà số phận của con người hiện lên một cách vừa cụ thể lại vừa có gì đó khó hiểu mà Trần Can gọi đó là một “dấu chấm

hỏi”: “Hàng mã kí ức chỉ là một câu chuyện kể, những buồn vui của một

phận người hay nhiều phận người trong xã hội Chăm nhỏ bé trong một quãng thời gian lịch sử được vẽ nên như những dấu chấm hỏi” [2] Đó là những con

Trang 13

người có nguyên mẫu thật trong đời sống nhưng được Inrasara tái hiện lại trong một cuốn tiểu thuyết mang tính chất hư cấu Tuy nhiên, theo như Th.S

Lê Thị Việt Hà đánh giá thì ở đó “Inrasara không ngại phơi trần bản chất

thật của con người như nó vốn có, đặc biệt trong cuộc sống xô bồ hiện tại”

[8] Tác giả Đinh Trần Toán còn chỉ ra cảm hứng về con người trong sáng tác của Inrasara là xuất phát từ cội nguồn văn hóa của dân tộc Vì thế mà qua tiểu

thuyết “Ông vẽ gương mặt cha ông mình, thông qua đó vẽ gương mặt văn hóa

của dân tộc mình” [45]

Bên cạnh cảm hứng về con người, các tác giả cũng đã đề cập và chỉ ra trong tiểu thuyết của Inrasara còn chứa đựng cảm hứng về dân tộc, văn hóa

Chăm Trong Chân dung cát, Khánh Phương nhận định: “Có thể bắt gặp

những truyền thuyết xưa cũ vừa hào hùng vừa cay đắng của một cộng đồng mạnh mẽ, có bề dày văn hóa và trí tưởng tượng mãnh liệt trong chặng đường dài vươn mình huy hoàng và tàn lụi” [42] PGS.TS Đào Thủy Nguyên và TS

Dương Thu Hằng trong bài viết Văn xuôi dân tộc thiểu số Việt Nam trên hành trình hội nhập cũng chỉ ra có một Minh triết Chăm tồn tại đậm nét trong Hàng mã kí ức và Inrasara đang tìm trở lại trong quá khứ để vẽ lại diện

mạo của nó như vai trò một “phu phục sử” (Đinh Trần Toán) Vũ Xuân Tửu cũng nhận thấy có một “nền văn hóa tộc người Chăm Nam Trung Bộ” và

“những vỉa tầng văn hóa Chăm” [47] trong Hàng mã kí ức của Inrasara Tác

giả cho rằng thông qua cảm hứng về văn hóa, cộng đồng dân tộc ấy

Inrasara muốn gửi một bức thông điệp theo cách của mình: “Không ai tìm

về quá khứ, chỉ để chơi như một thứ cổ vật, Hàng mã kí ức muốn gửi một

thông điệp,về phát triển văn hóa Chăm trong thời hiện đại” [47]

Có thể thấy, các tác giả đã quan tâm và chỉ ra được hai cảm hứng lớn trong tiểu thuyết của Inrasara Tuy nhiên sự tìm hiểu còn chưa được kĩ lưỡng, chưa thật sâu và chưa có tính tổng hợp, khái quát Một số nhận định

Trang 14

mang tính chất cảm xúc, cảm nghĩ cá nhân Cảm hứng về văn hóa chỉ được nhắc đến thoáng qua, sơ sài Vì thế trong công trình này, chúng tôi sẽ tìm hiểu, nghiên cứu một cách cụ thể, toàn diện, tổng hợp và khái quát cảm hứng về con người và văn hóa Chăm trong tiểu thuyết của Inrasara Phần nào đó làm sáng tỏ nét khác biệt mang màu sắc dân tộc trong cảm hứng về con người và văn hóa dân tộc trong tiểu thuyết của Inrasara so với các cây bút dân tộc thiểu số ở các vùng miền khác, đặc biệt là ở miền núi phía Bắc (Cao Duy Sơn, Vi Hồng)

Một phương diện khác trong cảm hứng sáng tác của Inrasara ở thể loại tiểu thuyết là cảm hứng về thiên nhiên thì gần như chưa có một công trình, một bài nghiên cứu, bài viết nào đề cập đến Ở đề tài này chúng tôi sẽ tìm hiểu, nghiên cứu phương diện này, giúp người đọc không chỉ nhận diện, có thêm kiến thức về dải đất Nam Trung Bộ mà qua đó còn thấy được cuộc sống

ở các plây Chăm và tâm hồn con người Chăm qua cảm hứng về thiên nhiên miền duyên hải trong tiểu thuyết của Inrasara

Về phương diện nghệ thuật:

Các phương diện nghệ thuật cơ bản trong tiểu thuyết của Inrasara được các tác giả chú ý và nghiên cứu là: nhân vật, cốt truyện, ngôn ngữ

và giọng điệu

Về nghệ thuật xây dựng nhân vật: Các tác giả đã chỉ ra những thủ pháp

mà Inrasara sử dụng để xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết của mình Tác giả

Trần Vũ kết luận: Trong Chân dung cát, Inrasara “Không tập trung vào

những biểu hiện cụ thể của tiến trình, của sự kiện đời sống, tính cách, thân phận…Inrasara khắc học chân dung Chăm bằng lát cắt bén ngọt: khắc họa tinh thần Chăm Mỗi chân dung hiện lên chủ yếu trên góc độ tinh thần; để làm nên một diện mạo “lập thể” tinh thần Chăm Cái nhìn hóm hỉnh, châm biếm thực sự đắc dụng trong trường hợp này” [14, 5] Vì thế hầu hết các nhân

Trang 15

vật trong Chân dung cát theo ông là những “chân dung hoạt kê, châm biếm

nhưng lại đượm nét đằm thắm, sâu lắng – đó là nét duyên riêng của Chân

dung cát” [14, 7] TS Phạm Duy Nghĩa trong công trình nghiên cứu Văn xuôi

Việt Nam hiện đại về dân tộc và miền núi cũng đồng tình với quan điểm trên Ông cho rằng tiểu thuyết Chân dung cát của Inrasara đã xây dựng nhân

vật bằng cách sử dụng “yếu tố nghịch dị (grotesque) và bỡn cợt (humour)…”

có tác dụng “góp phần làm giảm bớt không khí trang nghiêm, quan phương,

thiếu vắng chất hài khá lâu trong văn học” [39, 144]

Tác giả Hoài Nam trong bài viết Tản mạn từ Chân dung cát cũng

phân tích và chỉ ra rằng: nhân vật của tác phẩm này được xây dựng dựa theo

cảm thức dân tộc của Inrasara “Chân dung cát là một tập hợp các chân dung

Chăm, thì cũng rất cần phải nói một cách rõ ràng, đây là kết quả nghiên cứu dân tộc tính dài lâu của Inrasara” [32] Vì vậy mà những góc độ, diện mạo

tinh thần của các nhân vật đều được “Inrasara lí giải từ chiều sâu lịch sử văn

hóa xã hội Chăm và bởi thế, nó mở rộng tối đa khả năng trầm tư mặc tưởng,

đi sâu vào thế giới siêu hình và nghệ thuật, nhưng đòng thời cũng thu hẹp tối

đa khả năng chiếm lĩnh đời sống thực tế” [42]

Về cốt truyện: Các tác giả thống nhất ở cùng quan điểm cho rằng Inrasara đã sử dụng những kĩ thuật viết hậu hiện đại trong việc xây dựng cốt

truyện Phạm Duy Nghĩa nhận định: “Tiểu thuyết Chân dung cát của Inrasara

là trường hợp vận dụng triệt để thao tác “cắt dán”, ghép mảnh của hậu hiện đại đến mức khai tử cốt truyện, triệt tiêu sự kết nối thời gian và quá trình diễn biến sự kiện, tước bỏ thắt nút – mở nút…” [39, 126] Các tác giả khác ( Trần

Vũ, Khánh Phương, Phương Thủy, Như Hà, Hoài Nam…) cũng khẳng định tiểu thuyết của Inrasara có một hình thức tổ chức cốt truyện mới lạ Tác giả

Như Hà trong bài viết Truy tìm Chân dung cát đã nhận xét về cách thức tổ

chức, xây dựng cốt truyện của tác phẩm này: “Điều đặc biệt trong bút pháp

Trang 16

của Chân dung cát mà bất kì độc giả nào cũng nhận ra là sự xáo trộn về cột

mốc thời gian, xáo trộn về sự thật với hư cấu; và cắt dán những “bản tin” có sẵn từ các sách, các báo vào phần sáng tác” [9] PGS.TS Đào Thủy Nguyên

và TS Dương Thu Hằng trong bài viết Văn xuôi dân tộc thiểu số Việt Nam trên hành trình hội nhập cũng đã khẳng định điểm mới mẻ trong nghệ thuật xây dựng cốt truyện của Chân dung cát và Hàng mã kí ức là “truyện không

có cốt truyện, truyện lồng trong truyện, thơ trong truyện và truyện trong thơ cái chết của thời gian – không gian, nhân vật và không nhân vật…” [40]

Về ngôn ngữ, giọng điệu: Đây là một phương diện nghệ thuật góp phần tạo nên nét khác lạ trong tiểu thuyết của Inrasara Nhìn nhận về phương diện

này trong tiểu thuyết Chân dung cát có những quan điểm có vẻ trái ngược nhau Tác giả Phương Thủy trong bài viết Chân dung cát- chân dung Chăm thời hiện đại cho rằng: “Giọng điệu trong Chân dung cát là một sáng tạo

phong phú và hấp dẫn Trong một tác phẩm chứa đựng kiến thức văn hóa sâu rộng, Inrasara vẫn sử dụng thành công ngôn ngữ văn học hài hước, châm biếm mà đậm chất thơ” [50] Nhưng TS Phạm Duy Nghĩa lại cho rằng ngôn

ngữ trong tiểu thuyết Chân dung cát chưa đạt được hiệu quả nghệ thuật cao

Điều này được ông đề cập đến trong thế so sánh với cách sử dụng ngôn ngữ

của các cây bút tiểu thuyết dân tộc thiểu số hiện đại và nhận thấy: “Ở Chân dung cát của Inrasara có sự cách tân về ngôn ngữ một cách cực đoan Ngoài

ngôn ngữ nghệ thuật, một lượng không nhỏ từ ngữ thuộc các phong cách ngôn ngữ khác được đưa vào trang viết khiến cho văn bản được gọi là tiểu thuyết này mang dáng dấp một công trình nghiên cứu xã hội khô khan, tính khái niệm lấn át hình tượng” [39, 136] Nó gần giống sản phẩm tiểu thuyết

của một nhà thơ, một nhà nghiên cứu

Ngôn ngữ, giọng điệu trong Hàng mã kí ức theo Th.S Lê Thị Việt Hà

đánh giá là: “giàu màu sắc uy- mua, giọng văn khinh khoái với cái nhìn đa

Trang 17

chiều, qua tinh thần hậu hiện đại, tất cả nhẹ như không” [8].Theo tác giả Trần

Can, đó còn là “giọng văn khá duyên dáng, giản dị và lôi cuốn với những

buồn vui nhẹ nhõm của một người từng trải nỗi đời và nỗi người” [2]

Các tác giả cũng chỉ ra những hạn chế trong việc sử dụng ngôn ngữ của

Inrasara Trong bài viết Chân dung cát – chân dung Chăm thời hiện đại, tác

giả Phương Thủy nhận xét: “Đôi khi người đọc cảm thấy nhà văn đã quá tay

trong việc trình bày rất nhiều vốn từ ngữ trong kho kiến thức văn, sử, ngữ, triết, cả phương Đông lẫn phương Tây trong tác phẩm của mình…” [50]

Chính điều này khiến cho độc giả có cảm giác là tác giả “lạm dụng và nói hơi

dài dòng” [8] gây không ít khó khăn trong việc tiếp nhận

Có thể thấy, tuy các phương diện nghệ thuật cơ bản trong tiểu thuyết của Inrasara đều đã được tìm hiểu và đề cập đến nhưng còn sơ sài và chưa thành hệ thống Các thủ pháp và cách thức xây dựng nhân vật chưa được nghiên cứu đầy đủ, nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ, giọng điệu chưa được

quan tâm nhiều Đặc biệt là cuốn tiểu thuyết Hàng mã kí ức – tác phẩm ra

đời sau Các nghiên cứu, tìm hiểu của các tác giả chưa xác lập được một diện mạo hình thức nghệ thuật đầy đủ và cụ thể về tiểu thuyết của Inrasara Các tác giả mới chủ yếu nêu ra nhận xét chứ chưa có sự phân tích một cách sâu sắc Vì thế, ở đề tài này, chúng tôi trên cơ sở kế thừa, tham khảo những nhận định của những người nghiên cứu đi trước; đồng thời dựa trên cơ sở lí thuyết hậu hiện đại để tìm hiểu, nghiên cứu một cách cụ thể, rõ ràng, toàn diện đặc điểm nghệ thuật trong tiểu thuyết của Inrasara Từ đó thấy được những điểm mới mẻ, đột phá của Inrasara trong cách viết so với các cây bút tiểu thuyết dân tộc thiểu số khác cũng như nỗ lực của Inrasara trong việc đưa văn học dân tộc thiểu số đền gần hơn hòa nhập với văn học nước nhà nói riêng và văn học thế giới nói chung

Trang 18

Như vậy, tuy chỉ với hai cuốn tiểu thuyết được xuất bản nhưng nhà văn dân tộc thiểu số này đã tạo được những hiệu ứng khác nhau từ phía dư luận: vừa phê phán có chỗ đồng tình và ủng hộ, vừa tranh luận và có chỗ chưa đồng tình Các bài viết, các bài phỏng vấn, nghiên cứu nhỏ lẻ mới chỉ dừng lại ở mức độ nhận định, đánh giá ban đầu chứ chưa có một công trình nào có tính tổng hợp và chuyên sâu Vì thế ở luận văn này chúng tôi chọn tiểu thuyết của Inrasara để tìm hiểu, nghiên cứu, nhằm bước đầu tiếp cận một cách chuyên sâu và chỉ ra diện mạo cũng như đóng góp cụ thể của tiểu thuyết Inrasara đối với tiểu thuyết dân tộc thiểu

số nói riêng và tiểu thuyết đương đại Việt Nam nói chung

3 Mục đích nghiên cứu

- Giới thiệu về tiểu thuyết của Inrasara - mảng văn học còn ít người quan tâm và biết đến như một bộ phận của văn xuôi các dân tộc thiểu số nói chung và của tác giả này nói riêng

- Chỉ ra và phân tích làm rõ những đặc điểm cụ thể về nội dung và nghệ thuật trong tiểu thuyết của Inrasara Qua đó góp phần khẳng định đóng góp đồng thời là những hạn chế của tác giả này trong bức tranh toàn cảnh về văn xuôi các dân tộc thiểu số nói riêng, tiểu thuyết đương đại Việt Nam nói chung

4 Đối tương và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng

Những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật trong tiểu thuyết của Inrasara

4.2 Phạm vi tài liệu nghiên cứu

Hai cuốn tiểu thuyết của Inrasara: Chân dung cát (2006) và Hàng mã

kí ức (2011)

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Trình bày những vấn đề khái quát về văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện – đương đại Phác thảo trên nét lớn diện mạo văn chương Inrasara

và vị trí của thể loại tiểu thuyết trong sự nghiệp văn học của ông

Trang 19

- Tìm hiểu, khám phá những đặc điểm chính về nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết Inrasara Trên cơ sở nghiên cứu đó rút ra những nhận định, đánh giá khách quan, khoa học về tiểu thuyết của Inrasara

- Trong chừng mực có thể, so sánh và chỉ ra nét khác biệt giữa Inrasara với các cây bút tiểu thuyết dân tộc thiểu số khác (Vi Hồng, Cao Duy Sơn)

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại

- Phương pháp phân tích, so sánh

- Phương pháp tổng hợp, khái quát

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành

7 Đóng góp mới của luận văn

- Là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện về tiểu thuyết Inrasara Chỉ ra được đặc điểm về nội dung và nghệ thuật trong hai cuốn tiểu thuyết “nóng hổi” của ông

- Có cái nhìn toàn diện, cụ thể, phong phú hơn về tiểu thuyết của các cây bút dân tộc thiểu số Việt Nam trên hành trình văn học đương đại Cụ thể là: thiểu thuyết của Inrasara mang tính hậu hiện đại cao – nét mới mẻ, đột phá đối với văn học dân tộc thiểu số

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Văn chương Inrasara trong dòng chảy của văn học dân tộc

thiểu số Việt Nam hiện - đương đại

Chương 2: Những cảm hứng chủ đạo trong tiểu thuyết của Inrasara Chương 3: Một số phương diện nghệ thuật trong tiểu thuyết của

Inrasara

Trang 20

PHẦN NỘI DUNG Chương 1 VĂN CHƯƠNG INRASARA TRONG DÒNG CHẢY CỦA

VĂN HỌC DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM HIỆN - ĐƯƠNG ĐẠI

1.1 Phác thảo diện mạo văn xuôi (tiểu thuyết) của các cây bút dân tộc thiểu số Việt Nam hiện – đương đại

Ra đời từ cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp cho đến nay, văn học dân tộc thiểu số đã đi được một chặng đường dài Hành trình ấy là một quá trình tự vận động không ngừng để

tự hoàn thiện, khẳng định vai trò và vị trí của văn học dân tộc thiểu số trong nền văn học dân tộc Những hạn chế, những khó khăn, thách thức vẫn còn và cần khắc phục nhưng những thành tựu của nó đã đóng góp không nhỏ vào việc hoàn chỉnh hơn bộ mặt văn học dân tộc

So với thơ, văn xuôi dân tộc thiểu số xuất hiện muộn hơn và cũng không phát triển mạnh bằng Nhưng với sự vận động của thể loại và nhiều nguyên nhân tác động, đến nay văn xuôi các dân tộc thiểu số đã có được một đội ngũ người viết tương đối đông và đạt được những thành tựu đáng kể Các tác giả thuộc nhiều dân tộc thiểu số anh em trên đất nước Việt Nam như: Tày, Nùng, Thái, Hoa, Êđê, Bahnar, Chăm … Đội ngũ tác giả văn xuôi dân tộc thiểu số được phân bố ở 03 khu vực: miền núi phía Bắc (Vi Hồng, Triều

Ân, Cao Duy Sơn, Nông Viết Toại, Vi Thị Kim Bình, Mã A Lềnh, Lò Văn

Sĩ, Bế Thành Long, Hữu Tiến, Đoàn Lư, Đoàn Minh Ngọc, Nông Minh Lập, Triệu Thị Mai, Bế Phương Mai…); khu vực Tây Nguyên (Y Điêng, Hlinh Niê, Kim Nhất, Niê Thanh Mai…) và Tây Nam Bộ (Lý Lan, Inrasara, Trà Vigia…) Trải qua quá trình hình thành và phát triển cho đến

Trang 21

nay đội ngũ các nhà văn dân tộc thiểu số đã tăng lên đáng kể và trưởng thành mau chóng Tuy nhiên đội ngũ sáng tác và thành tựu của văn xuôi dân tộc thiểu số ở từng khu vực có sự chênh lệch khá lớn Có thể thấy văn xuôi dân tộc thiểu số phát triển nhất ở miền núi phía Bắc với sự xuất hiện của những nhà văn có vai trò tiên phong, với bộ ba cái tên quan trọng: Nông Minh Châu, Vi Hồng, Triều Ân Còn cả một vùng rộng lớn của Tây Nguyên và Tây Nam Bộ thì số lượng tác giả lại quá mỏng và một số tác phẩm của họ cũng chưa được biết đến rộng rãi trong dư luận

Đời sống chính trị, xã hội, văn hóa và nhận thức trong tư tưởng có những biến động, thay đổi là điều kiện, nguyên nhân để văn học các dân tộc thiểu số thực sự vươn mình mạnh mẽ về mọi mặt và có bước trưởng thành rất đáng tự hào Đặc biệt thời kì đổi mới, các nhà văn dân tộc thiểu số luôn đứng trong đội ngũ chung, đã và đang có những sáng tạo đạt chất lượng cao về tư tưởng – nghệ thuật Gần một thế kỉ đóng góp và cống hiến, các nhà văn dân tộc thiểu số đã xây dựng được một diện mạo văn xuôi các dân tộc phong phú,

đa dạng, hiện đại mà vẫn đậm bản sắc dân tộc Đến thời điểm này có thể khẳng định, văn học dân tộc thiểu số nói chung và văn xuôi dân tộc thiểu số nói riêng là một mảng không thể thiếu của nền văn học nước nhà như lời

khẳng định của nhà thơ Mai Liễu: “Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số

là một bộ phận không thể tách rời của nền văn học nghệ thuật” nước nhà [12,

9] và sẽ tiếp tục đồng hành cùng dòng chảy văn học Việt Nam trong tiến trình hiện đại hóa Từ nền văn học dân gian đến văn học viết thời kì hiện đại, văn học các dân tộc thiểu số luôn có mặt và đã góp phần tạo nên diện mạo của một nền văn học dân tộc Việt Nam phong phú và giàu bản sắc

Trong văn xuôi dân tộc thiểu số, tiểu thuyết là một trong những tiểu loại được nhiều cây bút yêu thích và lựa chọn để thử sức mình Tiểu thuyết của các cây bút dân tộc thiểu số ra đời muộn hơn so với truyện ngắn, vào

Trang 22

khoảng những năm 60 của thế kỉ XX với cuốn Muối lên rừng của Nông Minh

Châu (1964) Nhưng sau đó ngay lập tức tiểu thuyết bị chững lại trong một khoảng thời gian khá dài (14 năm) rồi mới tiếp tục xuất hiện trở lại và dần khẳng định được vị trí cũng như giá trị của mình trên văn đàn với số lượng tác phẩm và tác giả ngày càng tăng dần Từ thập niên 80 đến nay hàng loạt cuốn tiểu thuyết của các cây bút dân tộc thiểu số đã ra đời Không chỉ là

tiểu thuyết của các cây quen thuộc như Vi Hồng (Đất bằng, Vãi đàng, Núi

cỏ yêu thương, Thung lũng đá rơi, Người trong ống, Gã ngược đời, Vào hang, Lòng dạ đàn bà…), Triều Ân (Dặm ngàn rong ruổi) mà còn xuất

hiện những cuốn tiểu thuyết của các cây bút mới, tài năng và tâm huyết

như: Ma Trường Nguyên (Mũi tên ám khói, Gió Hoang…), Hoàng Thị Cành (Làm dâu, Cướp chồng), Cao Duy Sơn (Người lang thang, Hoa mận đỏ, Đàn trời…), Hữu Tiến (Dòng đời), Y Điêng (Hơ Giang), Inrasara (Chân dung cát, Hàng mã kí ức)

Tiểu thuyết của các cây bút dân tộc thiểu số theo sự biến động của thời cuộc có nhiều đổi mới và ngày càng có sự cách tân theo hướng hiện đại nhằm hòa nhập vào nền văn học dân tộc và thế giới Thứ nhất là sự mở rộng về đề tài, chủ đề Nếu trước 1975 tiểu thuyết chủ yếu dựng lại bức tranh về cuộc chiến đấu anh dũng của dân tộc, về thiên nhiên và con người miền núi nói

chung thì sau này các tác giả đã “cố gắng tái hiện nhiều mặt về đời sống của

đồng bào các dân tộc – quá khứ cũng như hiện tại – trong đó khắc họa những

số phận được đổi đời từ chế độ cũ sang chế độ mới, từ “thung lũng đau thương ra cánh đồng vui”, từ chân trời một người đến chân trời tất cả”” [56,

21] Từ năm 1986 trở đi, đề tài trong tiểu thuyết của các cây bút dân tộc thiểu

số có nhiều điểm mới Một số tác phẩm tìm cảm hứng ở quá khứ, xoay quanh

vấn đề chiến tranh và cách mạng (Hơ Giang…) Bên cạnh đó là những tác

phẩm viết về công cuộc xây dựng, phát triển cuộc sống mới theo tinh thần của

Trang 23

đại hội Đảng lần thứ VI (Mũi tên ám khói, Gió hoang…) và cả những mảng tối của cơ chế xã hội bao cấp (Người trong ống, Gã ngược đời, Chồng thật

vợ giả, Xứ mưa, Đàn trời…); cuộc sống con người dân tộc thiểu số và số phận con người, văn hóa dân tộc cũng được đưa vào tiểu thuyết (Chân dung cát, Hàng mã kí ức)…Việc đi sâu khám phá những vấn đề phức tạp của đời

sống miền núi và khai thác vấn đề số phận cá nhân, đời tư làm cho tiểu thuyết dân tộc thiểu số ngày càng đậm chất nhân văn, nhân bản, vừa đậm bản sắc dân tộc vừa mang hơi thở hiện đại Cách nhìn và tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết của các cây bút dân tộc thiểu số cũng có sự đổi mới Thời kì đầu, tiểu thuyết dân tộc thiểu số còn không tránh được những hạn chế như: tính điển hình của nhân vật chưa cao, tâm lí nhân vật còn sơ sài, thậm chí mờ nhạt; cấu trúc đơn giản theo mạch thời gian tuyến tính, kết thúc đóng; ngôn ngữ còn sáo rỗng nhưng dần dần các tác giả có sự thay đổi và trưởng thành trong từng

trang viết “Nhiều tác phẩm xuất sắc trong số đó có được bản sắc dân tộc

riêng về dựng người, dựng cảnh, thể hiện ngôn ngữ nghệ thuật và tư duy nghệ thuật độc đáo Và đã hình thành những phong cách riêng, nhiều vẻ, nhiều giọng điệu với bút pháp văn xuôi hiện đại, góp phần làm phong phú bức tranh của đời sống văn học nước ta” [56, 22] Tiêu biểu như Vi Hồng, Cao Duy

Sơn, Triều Ân, Hữu Tiến….Đến Inrasara thì xu hướng hậu hiện đại đã bước đầu được thể nghiệm trong tiểu thuyết với lối kết cấu cắt dán, xáo trộn nhiều loại văn bản, mở rộng tối đa không – thời gian, ngôn ngữ mang nhiều sắc thái mới mẻ, giọng điệu phi nghiêm cẩn

Đội ngũ cây bút tiểu thuyết dân tộc thiểu số qua các thời kì cũng có sự tăng lên đáng kể Nếu thời kì đầu các cây bút tiểu thuyết dân tộc thiểu số chỉ

có ở miền Bắc thì dần dần khu vực Tây Nguyên và Nam Trung Bộ cũng xuất hiện những cây bút tiểu thuyết độc đáo và tài năng (Y Điêng, Inrasara) Ngay

cả ở khu vực miền Bắc, nếu thời kì đầu chỉ có một số cây bút tiêu biểu (Nông

Trang 24

Minh Châu, Vi Hồng, Triều Ân, Mã A Lềnh ) thì về sau xuất hiện rất nhiều gương mặt trẻ tài năng và tâm huyết (Hà Trung Nghĩa, Hoàng Hữu Sang, Ma Trường Nguyên, Hữu Tiến, Cao Duy Sơn , Đoàn Ngọc Minh,…) Hiện nay có thể thấy, trong nền văn xuôi dân tộc thiểu số, với thể loại tiểu thuyết thì ở miền Bắc Triều Ân, Vi Hồng, Cao Duy Sơn vẫn là những tên tuổi giữ vai trò quan trọng; Tây Nguyên và Nam Trung Bộ đang dần dần xuất hiện những tên tuổi triển vọng có những tư tưởng mới, cách tân tiểu thuyết, đưa tiểu thuyết dân tộc thiểu số hội nhập dần với xu thế hiện đại của nền văn học nước nhà và thế giới mà Inrasara là người đang đóng vai trò tiên phong

Qua những nét phác họa trên có thể thấy, văn xuôi các dân tộc thiểu số nói chung, tiểu thuyết nói riêng có sự phát triển khá phong phú với nhiều dấu hiệu mới, đặc biệt là từ thời kì đổi mới Nhiều vấn đề của đời sống hiện thực

đã được phản ánh chân thực và có chiều sâu, ngôn ngữ và hình thức tiểu thuyết cũng bước đầu có những cách tân mới Tuy nhiên số lượng tác giả và tác phẩm còn chưa nhiều, sự chênh lêch số lượng tác giả giữa các vùng miền còn lớn, chất lượng nghệ thuật giữa các tác phẩm của các tác giả hoặc cùng một tác giả chưa có sự đồng đều Có nhiều tác giả nhận được những giải thưởng cao trong khi nhiều tác giả dù viết nhiều nhưng vẫn chưa có sự bứt phá, mới mẻ Một số tác phẩm còn nhiều hạn chế về nghệ thuật, sơ sài về nội dung phản ánh

Văn xuôi dân tộc thiểu số đã tạo được dấu ấn riêng và nhận được những tình cảm trìu mến của độc giả Có những tác phẩm đoạt được giải thưởng văn học cao trong và ngoài nước đã cho thấy sức sống riêng và bản lĩnh của mảng văn học này Theo từng giai đoạn trưởng thành và phát triển, bức tranh văn xuôi dân tộc thiểu số ngày càng được hoàn chỉnh dần, thu hút được sự quan tâm, tìm hiểu của các nhà nghiên cứu, các cây bút phê bình và người yêu văn chương Có nhiều công trình nghiên cứu công phu, tâm huyết

Trang 25

về văn học dân tộc thiểu số nói chung và văn xuôi dân tộc thiểu số nói riêng

đã được công bố hoặc còn đang được ấp ủ cho thấy sức hút cũng như tầm quan trọng của mảng văn học này trong tổng thể nền văn học dân tộc Tuy vậy, các công trình vẫn chưa thật sự bao quát đầy đủ, nhiều chỗ còn chung chung chưa khắc họa rõ nét, diện mạo cụ thể của mảng văn học đặc sắc này Đặc biệt là bộ phận văn xuôi, trong đó có tiểu thuyết của các cây bút dân tộc thiểu số ở khu vực Tây Nguyên và Tây Nam Bộ Vì thế có thể thấy mảng văn xuôi dân tộc thiểu số nói chung và văn xuôi (tiểu thuyết ) ở khu vực Tây Nguyên và Tây Nam Bộ nói riêng vẫn đang đòi hỏi sự quan tâm đúng mực và sâu rộng hơn nữa

1.2 Vài nét về chủ nghĩa hậu hiện đại, ảnh hưởng của nó đến văn học Việt Nam và tư tưởng nghệ thuật của Inrasara

Thuật ngữ chủ nghĩa hậu hiện đại không phải là thuật ngữ mới mẻ Nó

đã xuất hiện cách đây hơn một thế kỉ Trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, với

tư cách là một khuynh hướng thì đã tồn tại được bốn mươi năm Vì thế mà nó

trở thành: “một không khí, một nếp nghĩ, một cách nhìn, một cách kinh

nghiệm và diễn dịch thực tại không chỉ trong phạm vi văn học nghệ thuật mà còn chi phối mọi sinh hoạt của nhân loại” [44] Thuật ngữ chủ nghĩa hậu hiện

đại chúng ta đang dùng ở đây là thuật ngữ bao hàm ý nghĩa để chỉ “các trào

lưu trong văn học và nghệ thuật ngoài chủ nghĩa hiện thực truyền thống và ngoài chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa ở nửa cuối thế kỉ XX” [3] Nó có

gốc rễ từ chủ nghĩa Đa Đa (đầu thế kỉ XX) Chủ nghĩa này coi văn học là một tiến trình và nhấn mạnh vào ý nghĩa của hành động sáng tạo chứ không đặt nặng vấn đề tác phẩm

Bắt dầu từ chủ nghĩa Đa Đa, văn xuôi của Franz Kafka và kịch phí lí từ những năm 1950, chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học thế giới thực sự bùng

nổ ở văn xuôi vào những năm 1960 Đây là khuynh hướng tiếp nối chủ nghĩa

Trang 26

hiện đại hòng giải quyết những vướng mắc của chủ nghĩa hiện đại Chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học thế giới gắn với sự bùng nổ cách mạng công nghệ thông tin, của sự phát triển kinh tế, khoa học, kĩ thuật được thể hiện ở cả 3 thể loại thơ, kịch, văn xuôi Những thành tựu của nó đã tác động không nhỏ đến

sự phát triển của đời sống xã hội, văn chương, tạo thành một khuynh hướng lớn ảnh hưởng đến đời sống xã hội và văn chương của nhiều quốc gia

Chủ nghĩa hậu hiện đại có những nét đặc trưng riêng Mỗi một tác phẩm văn chương hậu hiện đại phải chuyên chở cảm quan hậu hiện đại Đó là

sự hoài nghi về một thế giới lí tưởng, vĩnh viễn, đạp đổ thần thánh Tác phẩm

hiện lên như “là tổng thể của sự rối loạn, phi trật tự và vô chính phủ” (Đông

La) Họ ưa thích các tiểu tự sự, sáng tác theo lối phi trung tâm hóa Ở đó có sự phá vỡ trật tự thời gian, phá vỡ cấu trúc, tạo nên sự hỗn độn Họ đưa vào tác phẩm của mình yếu tố ngẫu nhiên Đặc biệt với tiểu thuyết thì có xu thế đập nát bốn yếu tố: nhân vật, cốt truyện, cảnh trí và đề tài Mọi đường biên thể loại bị phá bỏ Nhà văn coi việc sáng tác như một trò chơi, giọng điệu giễu

nhại được sử dụng như một chủ âm Với chủ nghĩa hậu hiện đại thì “giá trị

của những thi pháp và thủ pháp nghệ thuật của văn học, đặc biệt là tiểu thuyết đã được hình thành và được công nhận rộng rãi” [44]

Bản chất của văn chương là sáng tạo Vì thế mọi thể nghiệm là cần thiết

để tạo sự mới mẻ Dù thể nghiệm ấy thành công hay thất bại cũng cần được khuyến khích còn hơn là “nhai” mãi cái kiểu viết cũ đến mức quen, nhàm Văn học nghệ thuật nước ta, như vậy không có lí do gì để từ chối việc tìm hiểu và tiếp nhận các thử nghiệm của chủ nghĩa hậu hiện đại Ở Việt Nam, chủ nghĩa hậu hiện đại được tiếp cận gần như cùng chủ nghĩa hiện đại Bởi lẽ

“giới văn nghệ sĩ nước ta có sự hụt hẫng về chủ nghĩa hiện đại” [3] Nguyễn Hưng Quốc cho rằng chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam là “sự

kết hợp cùng lúc giữa chủ nghĩa hiện đại và chủ nghĩa hậu hiện đại, trong đó

Trang 27

yếu tố hậu hiện đại được đẩy lên thành yếu tố chủ đạo” [44] Vì thế chúng có

sự hòa quyện và trùng lặp lên nhau nên ông đã dùng chữ “h(ậu h)iện đại”

Còn PGS.TS Nguyễn Văn Dân lại cho rằng chủ nghĩa hậu hiện đại ở Việt

Nam là “giai đoạn kịch phát triển của chủ nghĩa hiện đại, trong văn học, là sự

“nối dài” của chủ nghĩa hiện đại” [3]

Xung quanh vấn đề chủ nghĩa hậu hiện đại và ảnh hưởng của nó với văn học Việt Nam còn không ít những tranh cãi: ủng hộ - phản đối, ghi nhận- nghi ngờ Thực tế là chưa có một thứ gọi là chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam theo đúng ý nghĩa đầy đủ của từ này nhưng dấu hiệu, dấu ấn của nó đã xuất hiện và khá đậm nét trong sáng tác của các tác giả như: Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Tạ Duy Anh, Nguyễn Việt Hà, Bùi Hoằng Vị, Nguyễn Bình Phương….Dấu hiệu hậu hiện

đại được thể hiện ở hai phương diện Thứ nhất là ở cảm quan hậu hiện đại “sự

đổ vỡ của những trật tự đời sống, tính áp đặt của các chính thống, của các phát ngôn lớn, sự đảo lộn các thang bảng giá trị đời sống, sự mất niềm tin, bơ

vơ, lạc loài, vong thân, tâm trạng hồ nghi và tình trạng bất an của con người”

[48] Thứ hai là ở hình thức đặc thù của các tác phẩm Trong các sáng tác của

mình, các tác giả đã tạo được một nguyên tắc cấu trúc để thể hiện câu chuyện của họ: “sự đa dạng và dịch chuyển của điểm nhìn nghệ thuật”, “Rồi cốt

truyện của nhiều chuyện, văn bản của nhiều văn bản, tính phân mảnh của chủ thể, trần thuật phi trung tâm, cố ý lộ rõ sự can thiệp của tác giả vào câu chuyện, biến tiểu thuyết thành một trò chơi ngôn từ…” [48] Chất hài hước,

chất nghịch dị và nhại cũng được sử dụng như nguyên tắc tổ chức tác phẩm

Hậu hiện đại không từ bỏ hẳn truyền thống mà là sự kết hợp để vừa tiếp thu cái mới mà vẫn mang bản sắc dân tộc Văn chương theo khuynh hướng này vì vậy nên được cổ vũ, khích lệ nhằm đưa nền văn học nước nhà hòa nhập vào tiến trình văn học thế giới

Trang 28

Inrasara cũng là một người nghệ sĩ chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại Ông có sự tìm hiểu kĩ càng về hậu hiện đại và cho rằng nhà văn hậu

hiện đại không chỉ cần có cảm thức hậu hiên đại mà phải có “thái độ giải

trung tâm decentralization trong mọi hành động văn học (không phân biệt trung tâm và ngoại vi các loại), giải khu biệt hóa de- differentiation từ thể loại đến ngôn từ….giọng đặc trưng là giễu nhại parody với tinh thần văn phong phi nghiêm cẩn unseriousness thể hiện qua các thủ pháp đặc thù” [22]

Quan điểm này được đưa vào và lập luận trong các tiểu luận nghiên cứu của

ông: Chưa đủ cô đơn cho sáng tạo và Song thoại với cái mới Những khía

cạnh của vấn đề trung tâm/ngoại vi được đề cập và lật mở; những tác động

tiêu cực của nó đến nền văn học được phơi trần, từ đó “đấu tranh cho mọi

trào lưu văn học, mọi loại thơ cùng tồn tại” [15, 326]

Là một người luôn có những suy nghĩ mới và luôn nỗ lực tìm kiếm những cách tiếp cận, những khái niệm sáng tạo mới với nỗi khát khao bắt kịp thời đại Ông theo dõi kĩ tiến trình thơ ca Việt Nam đương đại và nhanh nhạy, nắm bắt kịp thời các hiện tượng mới của tiến trình đó Tìm cách soi sáng nó Lí giải nó dưới ánh sáng của lí thuyết hiện đại và hậu hiện đại Ông không giới hạn trong khuôn khổ truyền thống mà luôn song thoại với cái mới với tâm thế sẵn sàng hội nhập Thơ của ông cũng được sáng tác theo lí luận đó Chúng được cách tân dần dần và mang tinh thần hậu hiện đại thể hiện ở cái nhìn về cuộc sống, về nghệ thuật; ở việc sử dụng những thủ pháp hậu hiện đại như: giọng điệu giễu nhại, hình thức thơ vắt dòng, hình thức trình bày văn bản lạ và thứ ngôn ngữ đời thường Sang địa hạt tiểu thuyết, Inrasara cũng đang tìm cho mình một sự độc đáo, mới mẻ bằng việc sử dụng tối đa kĩ thuật viết hậu hiện đại, đặc biệt trong việc lựa chọn cho tiểu thuyết của mình một hình thức và ngôn ngữ mới mẻ Ông còn là

Trang 29

người đặt vấn đề văn chương mạng với mong muốn nó đến với độc giả ở nhiều nơi một cách nhanh nhất và dân chủ nhất

Văn chương hậu hiện đại theo ông cũng đòi hỏi một cách đọc, cách phê bình khác truyền thống Vì là một hệ thống lí thuyết mở nên hậu hiện đại không phải là dễ tiếp nhận với độc giả Việt Nam (vì vốn tri kiến không nhiều, tâm thế và ảnh hưởng nặng nề của truyền thống) nên khi đọc và phê bình tác

phẩm văn học hiện đại cần: trước hết là “tạm chấp nhận”, sau đó “kiên nhẫn

truy tìm hành trình sáng tác của tác giả, triết lí nằm ở bề sâu sáng tác đó”

[22] Phê bình một khuynh hướng, hay dù chỉ là một tác phẩm văn chương cũng cần căn cứ vào nền tảng triết học và lí thuyết mà nó tuân thủ để đánh giá, phê bình Nếu không, phê bình sẽ dẫn đến phiến diện, thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn

Như vậy có thể thấy, chủ nghĩa hậu hiện đại là một khuynh hướng lớn trong văn học thế giới Nó có ảnh hưởng đến nền văn học nghệ thuật nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam Việc các văn nghệ sĩ của chúng ta tiếp thu, thể nghiệm những trào lưu, khuynh hướng văn học lớn trên thế giới

để sáng tạo ra những tác phẩm mới mẻ là điều cần được khuyến khích Từ đó tạo ra một thứ văn học mới có khả năng soi rọi và phản ánh những vấn đề của

xã hội thời đại họ đang sống một cách chân xác nhất Đồng thời cũng thể hiện

sự nhạy bén, bản lĩnh và ý thức của người nghệ sĩ nhằm đổi mới văn học nước nhà, từng bước đưa nền văn học nước ta hòa nhập với văn học thế giới

1.3 Đôi nét về nhà văn Inrasara và sự nghiệp văn học của ông

1.3.1.Tiểu sử và con người nhà văn Inrasara

Inrasara tên Việt là Phú Trạm, sinh ngày 20 tháng 9 năm 1957 tại làng Chakleng – Mỹ Nghiệp, thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận Quê hương của ông là miền đất thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ,

là vùng đất văn vật của vương quốc Champa xưa Sinh ra trong một gia đình

Trang 30

nông dân nghèo có 6 anh chị em nhưng Inrasara được ưu ái hơn cả Ông từng tâm sự, ông có hai ân huệ là được học hành liên tục và có một người cha nông dân mẫu mực, hiền từ, cần cù và ham mê sách cổ nhân Có lẽ tình yêu với văn hóa, văn học Chăm của Inrasara được truyền cảm hứng từ người cha Ông kể:

“Chính trong những đêm trăng thơ mộng nơi thôn trang, nhiều lần được nghe

Người ngâm thơ mà tôi thuộc nằm lòng Ariya Glơng Anak (một trong ba tác phẩm xuất sắc nhất của văn chương Chăm) ngay thời tôi mới 5, 6 tuổi, khi còn chưa cắp sách tới trường” [16, 58, 59]

Thông minh và “luôn ở tư thế của kẻ sẵn sàng vứt bỏ tất cả Để lên

đường Nhập nhằng giữa phá/ xây, gom nhặt/ làm mới, nghiên cứu/ sáng tạo…” [15, 79] nên cuộc đời của Inrasara là một chuỗi những chuyển dời,

ngắt quãng đột ngột Năm 1969, ông đậu thủ khoa và được tỉnh cấp học bổng suốt những năm trung học Năm 1976 đang là sinh viên xuất sắc của trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh – niềm hãnh diện của cả plây Chăm thì sau 02 năm ông đột ngột thôi học để đọc Camus, Nietzsche, Krishnamurti, Dostoievski và làm thơ Với niềm say mê văn chương và chữ nghĩa, lòng tự hào là Chăm, ngay từ khi còn là sinh viên, Inrasara đã có một tập thơ sáng tác bằng tiếng Chăm và bắt đầu sưu tầm văn học cổ điển Chăm Đến năm 1982, ông được mời về làm việc ở Ban biên soạn sách chữ Chăm – Ninh Thuận Thời gian này, ông đã đi khắp các plây Chăm ở Ninh Thuận để sưu tầm văn học dân gian và tìm cảm hứng sáng tạo thơ Với ông, đó là

khoảng thời gian sáng tạo hứng thú nhất: “…Bước chân tuổi trẻ tôi rong ruổi

trên khắp ngõ hẻm quê hương Tâm hồn tôi mở ngõ đón nhận những mới lạ, ngạc nhiên tiếp ngạc nhiên: câu hát, giọng nói, phương ngôn, màu áo…Tôi hồn nhiên tắm trong không khí đời sống Chăm, như thế” [15, 77] Có lẽ chính

bầu sữa Chăm – nơi chứa đựng nhiều vỉa tầng văn hóa, những truyền thuyết

xa xưa, bí ẩn cùng một kho báu văn học đặc sắc và phong phú đã làm nên một

Trang 31

thứ mật ngọt có sức hút kì diệu với Inrasara, để ông đi tìm những giá trị văn hóa tưởng như đã bị lớp bụi thời gian phủ mờ và để sáng tạo tiếp làm cho nó thêm phong phú, giàu có hơn Sau 5 năm, ông thôi việc ở Ban biên soạn sách Chữ Chăm, làm đủ nghề để sống, làm thơ và tập trung nghiên cứu Ông đi và sưu tầm, sáng tác với cả “cái xốc nổi”, “tự ái tuổi trẻ”, với cả niềm yêu vô bờ,

lòng tự hào của đứa con Tháp Chàm Mặc dù với ông có lúc “…trong tay

không có lấy mảnh văn bản nào Chỉ với mớ chữ nghĩa được ông ngoại và cha dạy thủa chân đất…Dù chưa thấy trên lối đi bóng cây cho tôi đụt nắng Tôi biết trước mặt mình là một khu rừng hoang chứa đựng bao nhiêu hoa quả

lạ, ngọt Tôi đi với hưng phấn kì lạ” [15, 84] Năm 1992, Trung tâm nghiên

cứu Việt Nam – Đông Nam Á thuộc Đại học tổng hợp (nay là Đại học khoa học xã hội và nhân văn) thành phố Hồ Chí Minh mời ông tham gia vào nhóm nghiên cứu văn hóa Chăm Nhưng chỉ được 6 năm, ông lại ra đi làm nghề tự

do Lí giải về những sự ngẫu hứng, đột ngột trên, Inrasara nói: “Quan trọng

nhất, với tôi, là dám buông bỏ Bởi nhà văn là người không chọn sự an toàn”

Hiện tại, Inrasara sống ở Thành phố Hồ Chí Minh, tập trung nghiên cứu văn hóa Chăm, làm thơ, viết văn, dịch và viết tiểu luận, phê bình văn học Ông là thành viên Hội nhà văn Việt Nam, Hội văn nghệ dân gian Việt Nam, Hội văn học – nghê thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam Ông từng là Ủy viên Ban chấp hành Hội Văn học –Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, Trưởng ban Lí luận phê bình (2005-2010), Phó Ban Văn học Dân tộc của Hội Nhà văn Việt Nam nhiệm kì 2000-2005&2006-2010 Hiện nay, ông đang giữ chức

vụ Phó chủ tịch Hội đồng thơ của Hội Nhà văn Việt Nam

Qua tìm hiểu ta có thể thấy quê hương, gia đình là những yếu tố có ảnh hưởng không nhỏ đến sự nghiệp văn học của Inrasara Với Inrasara, văn hóa

Chăm không phải là “xác trâu cho diều hâu tôi sà đến rỉa rói, trục lợi” [15,

107], vì thế ông không khai thác mà ngụp lặn và lớn dậy từ giữa lòng nền văn

Trang 32

hóa ấy, để sáng tạo cái mới Văn chương với ông như là một định mệnh, “nhà

văn là kẻ sống thời đại mình, phơi trần toàn bộ con người mình ra với nó – trọn vẹn” [20, 11] và đến khi “một hoát ngộ nổ ra nơi sâu thẳm tâm hồn kẻ sáng tạo” (Inrasara) thì nhà văn đứng trước trang viết với một sự cô đơn toàn

phần, khi ấy nhà văn nhìn thấy quê hương của mình Điều này cho thấy Inrasara yêu và nặng lòng với Chăm biết nhường nào Cùng với đó là yếu tố

tự thân, là sự cố gắng, tâm huyết và miệt mài, nghiêm túc trong lao động nghệ thuật đã làm nên một trí thức Chăm, một nhà “Chăm học” và hơn hết là một nghệ sĩ sáng tạo Với những sinh phận cao cả đó, Inrasara đã cất công đi tìm những giá trị văn hóa Chăm để bảo tồn và sáng tạo làm mới chúng Nỗ lực này vừa là tiếng nói đáp trả với cha ông, vừa như một thể hiện tâm huyết của người nghệ sĩ bằng tất cả niềm đam mê, lòng tự tín của mình

1.3.2 Sự nghiệp văn chương của Inrasara

Dân tộc Chăm đã để lại những di sản văn học vô cùng quý giá Ngoài một nền kiến trúc và điêu khắc phong phú, đặc sắc, nền văn học Chăm như là một mảng của nền văn hóa – văn minh của dân tộc này, đóng góp không nhỏ vào nền văn hóa phức hợp nói chung, văn học nói riêng của dân tộc Việt Nam ngày nay Theo thống kê của các nhà nghiên cứu thì văn học Chăm đặc sắc, chứa đựng những nội dung hết sức phong phú về đời sống tinh thần của người Chăm Nhưng hiện nay theo dòng xoáy của văn minh vật chất, nhiều giá trị truyền thống văn học tốt đẹp trong quá khứ của cha ông để lại dường như đang bị bào mòn, mất mát Với ý thức, tinh thần trách nhiệm bảo tồn di sản

văn học của cha ông và mong muốn – như Inrasara từng tâm sự: “Tôi muốn

tìm hiểu tâm hồn dân tộc mình và tôi nghĩ văn chương là biểu hiện trọn vẹn nhất Bên cạnh đó, tôi cũng muốn giới thiệu với thế giới bên ngoài về một nền văn chương có một bề dày truyền thống đang có nguy cơ thất truyền” [16, 64]

mà Inrasara đã bỏ thời gian, công sức để sưu tầm, nghiên cứu văn hóa Chăm

Trang 33

nói chung, văn học Chăm nói riêng Các công trình nghiên cứu, sưu tầm, dịch thuật, các tập tiểu luận phê bình liên tiếp được hoàn thành cho thấy một hành trình lao động nghệ thuật say mê, miệt mài, đầy tâm huyết và nghiêm túc của Inrasara Những giải thưởng được trao tặng là sự ghi nhận tài năng và sự đóng góp của ông trong việc nghiên cứu, sưu tầm văn hóa, văn học Chăm Có thể

kể đến các công trình tiêu biểu của Inrasara như:

- Về ngôn ngữ, Inrasara là tác giả - đồng tác giả của bốn công trình

có giá trị: Từ điển Chăm – Việt (1995), Từ điển Việt – Chăm (1996), Tự học tiếng Chăm (2003), Từ điển Việt – Chăm dùng trong nhà trường

(2004) Đây là những cuốn sách công cụ giúp ích một cách thiết thực cho những người học tập và nghiên cứu tiếng Chăm, đồng thời góp phần đưa

sự giao lưu văn hoá có truyền thống lâu đời giữa hai dân tộc Việt – Chăm

đi vào chiều sâu

- Về văn hoá Chăm, Inrasara đã cho xuất bản hai cuốn: Các vấn đề văn hoá – xã hội Chăm (1999) và Văn hoá – xã hội Chăm, nghiên cứu và đối thoại (2003) Cuốn sách thứ hai này đã đem lại cho tác giả giải thưởng chính

thức của Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam

- Về văn học Chăm, ông đã có công sưu tầm, dịch thuật, tổng hợp, khảo cứu và quảng bá cả văn học truyền khẩu lẫn văn học thành văn Những công trình ghi dấu tên tuổi của ông như một nhà văn hoá tiêu biểu có công bảo tồn

và phát huy văn hoá dân tộc mình là: Văn học dân gian Chăm: tục ngữ, câu

đố (1995), Văn học Chăm, tập I – Khái luận (1994), Văn học Chăm, tập II

- Trường ca (1996), Akayet - sử thi Chăm (2009), và gần đây nhất là Ariya Cam – Trường ca Chăm ( 2006).Tập I và tập II của công trình Văn học Chăm đã lần lượt nhận được giải thưởng của Trung tâm Lịch sử và văn minh

Đông Dương thuộc Trường Đại học Sorbonne (Pháp)

Trang 34

Các công trình trên được xem là một đóng góp đáng kể vào việc giới thiệu với thế giới bên ngoài một vốn chữ nghĩa quý báu của dân tộc Chăm, là nguồn tư liệu tham khảo quý báu cho việc dạy và học chữ Chăm Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh (2009) là một phần thưởng xứng đáng cho những

nỗ lực và cống hiến của Inrasara trong lĩnh vực nghiên cứu

Bên cạnh các công trình nghiên cứu – sưu tầm, Inrasara còn là tác giả của nhiều tập tiểu luận – phê bình được đánh giá cao, cổ súy cho những cái mới trong văn học nghệ thuật như tân hình thức hay hậu hiện đại Tiêu biểu

như: Chưa đủ cô đơn cho sáng tạo (2006), Song thoại với cái mới (2008)…Gần đây, ông mới cho ra đời tập tiểu luận phê bình văn học Mười căn bệnh phê bình của văn học hôm nay tạo được sự quan tâm của giới

nghiên cứu Ngoài ra ông còn quan tâm tới sự phát triển của văn học Chăm đương đại Tuyển tập sáng tác, sưu tầm, nghiên cứu văn hoá văn học Chăm:

Tagalau và Tủ sách văn học Chăm do ông làm chủ biên hơn 10 năm qua với

mục đích giới thiệu văn học Chăm, nâng đỡ và khuyến khích các cây bút Chăm trẻ tuổi, chấp nhận những thể nghiệm mới mẻ trong văn chương đã chứng minh cho tấm lòng và nhiệt huyết của Inrasara với văn hóa, văn học dân tộc mình

Không chỉ dừng lại ở việc sưu tầm nghiên cứu văn hóa, văn học Chăm, Inrasara còn tiếp tục thực hiện vai trò sáng tạo và phát triển văn hóa Chăm Hàng loạt các tập thơ đậm chất Chăm ra đời và giành được những giải thưởng cao quý trong và ngoài nước là minh chứng rõ nhất cho vai trò vừa là “người coi kho” vừa là “kẻ sáng tạo” của Inrasara Các tập thơ đã xuất bản:

- Tháp nắng – thơ và trường ca (1996), giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam

- Sinh nhật cây xương rồng (1997), giải thưởng của Hội Văn học nghệ

thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam

- Hành hương em (1999)

Trang 35

- Lễ tẩy trần tháng Tư – thơ và trường ca (2002), giải thưởng của Hội

nhà văn Việt Nam và giải thưởng Văn học Đông Nam Á

- Inrasara (2003)

- Chuyện 40 năm mới kể & 18 bài thơ tân hình thức (2006)

Thơ ông được đánh giá là giàu ý tưởng và mang nhiều tính ẩn dụ Nó

có một quá trình vận động, cách tân đổi mới từ chỗ mang đậm hơi thở dân tộc đến những triết luận, đối thoại, biện giải cuộc sống theo hướng hậu hiện đại,

ẩn chứa nhiều suy tư Sau khi thành danh ở lĩnh vực thơ ca, Inrasara tiếp tục thử thách mình ở một địa hạt mới là tiểu thuyết nhằm gửi gắm những tư tưởng mới Hai cuốn tiểu thuyết sau nhiều năm được ấp ủ, thai nghén đã được xuất

bản, thu hút được làn sóng quan tâm của đông đảo dư luận Đó là Chân dung cát (2006) và Hàng mã kí ức (2011) Như vậy có thể thấy dù là ở mảng sáng

tác văn chương hay nghiên cứu, sưu tầm, phê bình, Inrasara cũng tạo được dư luận Ông được xem là một trong những nhà thơ cách tân nhất hiện nay, rồi lại được khẳng định là một trong những nhà phê bình sáng giá Với sự cách tân trong sáng tác và sự nghiêm túc, nỗ lực trong việc sưu tầm, dịch thuật, nghiên cứu phê bình văn học, Inrasara vinh dự nhận được nhiều giải thưởng

trong và ngoài nước cho những “đứa con tinh thần” của mình Ông cũng là

chủ nhân của những danh hiệu cao quý: Huy chương vì sự nghiệp văn học - Nghệ thuật Việt Nam 2004 của Liên hiệp các hội Văn học nghệ thuật Việt Nam; Nhân vật văn hoá trong năm 2005 của VTV; Nghệ sĩ tiêu biểu năm

2005 của VTV1; Kỉ niệm chương Vì thế hệ trẻ 2009 của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh…Đó là niềm hạnh phúc không dễ gì có được trong cuộc đời lao động nghệ thuật của người nghệ sĩ

1.3.3 Tiểu thuyết và quan niệm về tiểu thuyết của Inrasara

Với quan điểm: “con người hôm nay phải sáng tạo phần mình để đóng

góp vào kho văn hóa dân tộc” [42], Inrasara luôn là người mẫn cán trong

Trang 36

việc thực thi công việc sáng tạo và phát triển văn hóa, văn học của dân tộc mình Chuyển từ thể loại thơ, nghiên cứu và phê bình sang tiểu

thuyết, Inrasara đã cho ra đời hai tác phẩm dày dặn: Chân dung cát và Hàng mã kí ức

Inrasara từng là tên tuổi đã được khẳng định và vinh danh ở lĩnh vực thơ, nghiên cứu văn hóa, văn học Chăm, phê bình văn học Vậy bước sang lĩnh vực tiểu thuyết – một thể loại dài hơi đòi hỏi người viết phải có một vốn kinh nghiệm, vốn sống và hiểu biết không nhỏ thì liệu Inrasara có tạo được dư luận và đột biến không? Điều này phần nào đã được trả lời bởi sau khi xuất bản hai cuốn tiểu thuyết của ông đã thu hút được sự quan tâm của đông đảo dư luận

Ở vai trò là nhà thơ, nhà nghiên cứu, phê bình văn học Inrasara luôn được đánh giá cao và ông luôn tự làm mới mình, cách tân, tìm tòi hướng đi mới cho sáng tác của mình Trong dòng sáng tạo đó, tiểu thuyết cũng là một

cách để ông thể nghiệm chính mình, làm “giàu vốn sống ta, đa dạng ngôn

ngữ ta” (Inrasara) Mỗi bắt đầu là một khó khăn mới, thử thách mới, điều đó

không tránh được Chân dung cát và Hàng mã kí ức là nỗ lực mới của

Inrasara trong việc thể hiện nguồn cảm hứng mãnh liệt về văn hóa Chăm, số phận Chăm, con người Chăm và cũng là cố gắng chinh phục thể loại sau khi

đã thành danh ở những thể loại khác Vì với ông muốn thay đổi chỉ có cách phá hủy Phá hủy để sáng tạo, phá hủy là sáng tạo

Theo quan niệm của ông: “Tiểu thuyết, ngoài khám phá tâm hồn con

người trong cách thế khác,còn là kho lưu trữ sinh hoạt một dân tộc trong thời đại đó,vừa đứng biệt lập vừa bổ sung cho thiếu hụt của lịch sử Làm tốt chức năng đó, hình thức tiểu thuyết cũng cần được thay đổi/ trương nở để đáp ứng trúng nhịp thời đại mình đồng thời với mỗi đề tài mà nó nhắm tới” [30] Từ

quan niệm đó Inrasara luôn có ý thức tìm kiếm một cách thức thể hiện mới để

Trang 37

có một ý niệm tiểu thuyết độc đáo của riêng mình Tiểu thuyết của ông khá phức tạp và mang tinh thần hậu hiện đại rõ nét ở nhiều phương diện: kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu, nhân vật….Vì thế người đọc tiếp cận tác phẩm của Inrasara nếu không có sự tìm hiểu thấu đáo về lí thuyết hậu hiện đại trong văn học sẽ rất bất ngờ và khó hiểu trước sự phá cách của Inrasara so với tiểu thuyết truyền thống của các cây bút dân tộc thiểu số trước đây.Tuy nhiên trong tiểu thuyết của Inrasara vẫn bàng bạc một nền văn hóa Chăm bí ẩn và cuốn hút, vẫn có một minh triết Chăm ẩn hiện trên từng trang văn của ông Có chăng cái mới, cái phá cách, kể cả cái rối tung trong tiểu thuyết của Inrasara

là một kiểu “lập biên bản” tinh thần dân tộc của kẻ sáng tạo; và cũng đòi hỏi

một kiểu phê bình tương tự như vậy – “phê bình lập biên bản”: “Lập biên bản

có nghĩa là chấp nhận mọi hiện tượng văn chương xảy ra trong thời đại ta đang sống Bày nó ra như là nó thế, tìm hiểu triết lí trên đó thơ văn nảy sinh…Các quan điểm sáng tác ấy chưa hẳn đã cùng lối suy nghĩ của tôi hay tôi đã đồng tình hoàn toàn với nó, nhưng tôi cố gắng nhìn nhận nó như là nó

là thế” [23] Như vậy có thể thấy giữa lập ngôn và thực tế sáng tác của

Inrasara có sự thống nhất Ông hướng tới tiểu tự sự, nghĩa là những câu chuyện kể mang tính chất địa phương, tạm bợ, không đòi hỏi mọi người tin và làm theo nó, không phải là một chân lí phổ quát Với hai cuốn tiểu thuyết đã xuất bản, Inrasara đã thử kể câu chuyện khác về Chăm, ở đó theo như tác giả

thì “ thừa tri thức về văn hóa xã hội Chăm đồng thời không thiếu chất khôi

hài, giễu nhại” và với tinh thần đó ông đã kể câu chuyện về dân tộc mình, về

mảnh đất mình đang sống với độc giả ở các nơi theo cách riêng của mình

Chân dung cát là tiểu thuyết đầu tay của ông và được chăm chút, chỉnh

sửa khá lâu trước khi ra mắt chính thức độc giả trong hình hài là cuốn tiểu thuyết như hiện nay Ban đầu tác phẩm này được Inrasara dự dịnh sẽ là một

bộ tiểu thuyết sử thi bao quát xã hội Chăm từ 1932 – 1990 với nhan đề Con

Trang 38

đường vô tận (khoảng 1500 trang) Năm năm sau ông viết lại và thay đổi

truyện thành một tiểu thuyết kí sự xã hội, lấy tên là Đi tìm chân dung Chăm

Và phải đến năm 2001, lần thứ ba Inrasara viết lại và chỉnh sửa hoàn thiện rồi

được Hội Nhà văn ấn hành năm 2006 với nhan đề Chân dung cát Chân dung cát là câu chuyện về những huyền bí của đời sống Chăm hiện đại, Chăm

đương sống cuộc sống kì diệu của ngày hôm nay nhưng lại được kể qua truyền thuyết lịch sử, huyền sử; qua hàng loạt chân dung hoạt kê, mỗi người một nét tính cách và tổng hợp lại làm nên diện mạo của tinh thần Chăm đương đại trong đời sống cộng đồng Qua chuyện kể này, Chăm và văn hóa văn minh Champa hiển lộ và sống giữa cộng đồng nhân loại

thay dổi khá nhiều Lúc đầu, tác phẩm có tựa đề là Cõi người ma với tiểu đề

“tự sự h[ậu h]iện đại” nhưng sau đó lại được đổi thành Thằng Trạm mát,

gồm 15 chương và có 02 phần Phần một tác giả viết về tâm hồn con người Chăm và tinh thần văn hóa Chăm Phần hai viết về tinh thần văn học Việt Nam đương đại Cuối cùng ông bỏ hẳn phần hai và chỉnh sửa, thay đổi thành

Hàng mã kí ức với tiêu đề tiểu thuyết Tác phẩm được Nhà xuất bản Văn học

ấn hành năm 2011 Hàng mã kí ức thử kể câu chuyện khác về Chăm theo tinh

thần hậu hiện đại: không tin vào những sự lớn lao, to tát, không tham vọng xây dựng một chân lí phổ quát, đòi hỏi mọi người tin vào nó mà Inrasara chỉ

kể lại những câu chuyện về “…cuộc đời tôi và mảnh đời của những người

xung quanh thế giới tôi, sự kiện hay sự việc tôi biết, tôi trải nghiệm, cuốn sách tôi đọc” [15, 8] mà vẫn làm hiển hiện lịch sử một dân tộc, những vỉa

tầng văn hóa của tộc người Chăm - Nam Trung Bộ Tác giả dù khách quan,

vô tư đi nữa thì những thứ kia vẫn chỉ là hàng mã - hàng mã của kí ức mà thôi Ai cũng biết hàng mã là đồ giả nhưng vẫn chấp nhận nó Lịch sử, dù là của một dân tộc hay chỉ là của cá nhân vẫn cần được kể lại, chỉ có điều bằng

Trang 39

cách khác mà thôi Inrasara đã kể lại điều đó và mong muốn người đọc cũng tiếp nhận nó bằng cách khác đi, bằng “con mắt mở” của một nhân loại đã trưởng thành

Trong Chân dung cát và Hàng mã kí ức mênh mông những câu

chuyện kể và được kể lại bằng một cách thể hiện mới lạ, khá rắc rối nhưng lại giúp con người nhận ra và trải nghiệm nhiều điều trong cuộc sống, không chỉ

là với Chăm mà là của con người ở mọi nơi Có thể nói, với tiểu thuyết, ở chừng mực nào đó, Inrasara đã làm được cái điều mà ông từng tuyên bố: “

Hãy viết như công dân thế giới” Tức là: “Phá bỏ bức ngăn văn chương ngoại

vi với văn chương (lâu nay được cho là) trung tâm Là chặt đứt thứ tư duy chật hẹp như thể quyết một lần cho mọi lần bước ra khỏi ao làng chật chội từng gò bó lối viết ta Là từ bỏ mặc cảm nước nhược tiểu, mặc cảm ngôn ngữ nhược tiểu, phức cảm tự tôn, tự ti dân tộc Chúng ta học tập thế giới và sẵn sàng cống hiến trở lại cái tinh túy nhất của chúng ta cho văn chương thế giới” [30] Như vậy, tiểu thuyết của Inrasara nói riêng và sáng tác của

Inrasara nói chung nhằm cố gắng xóa nhòa ranh giới giữa văn chương dân tộc thiểu số với văn học Việt Nam, cũng thể hiện tư tưởng hội nhập của ông với văn chương thế giới

* Tiểu kết: Văn học dân tộc thiểu số nói chung và văn xuôi dân tộc

thiểu số nói riêng, đặc biệt trong thời kì đổi mới đã có những bước phát triển vượt bậc và đạt được những thành tựu đáng kể Đội ngũ các nhà văn ngày càng được tăng cường và có ý thức đổi mới, cách tân trong sáng tạo nghệ thuật Đề tài, chủ đề, tư duy và cái nhìn nghệ thuật trong tiểu thuyết dân tộc thiểu số theo những biến động, thịnh suy, thăng trầm của đời sống xã hội cũng thay đổi để có thể đáp ứng nhu cầu phản ánh hiện thực, tâm tư, tình cảm của con người thời đại đó

Trang 40

Chủ nghĩa hậu hiện đại đã có sức ảnh hưởng lớn trên nhiều lĩnh vực của đời sống nhân loại trong đó có văn học nghệ thuật Mầm mống và những dấu hiệu của nó đã xuất hiện trong văn học Việt Nam, đặc biệt là từ sau 1986, chủ yếu trong tác phẩm của các nhà văn dân tộc Kinh Hiện nay một số cây bút dân tộc thiểu số cũng đang mạnh dạn thử sức mình với khuynh hướng này

và đang tạo được sự quan tâm của dư luận Nhà văn Inrasara là một trong số

đó Các sáng tác của ông từ tiểu luận nghiên cứu, phê bình văn học đến thơ và tiểu thuyết đều mang tinh thần hậu hiện đại kết hợp với hơi thở nồng đượm của dân tộc Chăm

Trong dòng chảy của văn học dân tộc thiểu số, Inrasara đã và đang nổi lên như một hiện tượng độc đáo Ông là một tài năng nhiều mặt Và ở thể loại nào cũng tạo được hiệu ứng với dư luận Không chỉ thể hiện ý thức bảo tồn bản sắc dân tộc, văn hóa dân tộc thông qua hoạt động trước tác (nghiên cứu, sưu tầm, dịch thuật) mà ông còn luôn nỗ lực trong việc phát huy và làm phong phú vốn văn hóa truyền thống ấy của cha ông bằng các sáng tác của mình ở các lĩnh vực phê bình văn học, thơ và tiểu thuyết Ở thể loại tiểu thuyết, với một quan niệm mới mẻ, Inrasara đã có những thể nghiệm trong kĩ thuật viết theo xu hướng hậu hiện đại mà trước hết là ở hình thức tổ chức tác phẩm nhằm chuyển tải tư tưởng trong tư duy nghệ thuật của ông: làm mới chính mình và làm mới tiểu thuyết để đưa tiểu thuyết dân tộc thiểu số hòa nhập với văn học của cộng đồng dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam và vươn ra tầm thế giới

Ngày đăng: 24/03/2021, 18:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN