Chương 3: Một số phương diện nghệ thuật trong tiểu thuyết của Ma Trường Nguyên
3.3. Nghệ thuật ngôn từ
3.3.3. Thủ pháp so sánh ví von giàu hình ảnh
Một trong những đặc điểm về cách diễn đạt của người miền núi nói chung và người Tày nói riêng là hay so sánh, ví von, nói có hình ảnh. Ma Trường Nguyên đã đem cách diễn đạt ấy của người miền núi vào tác phẩm của mình.
Nhà văn đã sử dụng một lượng lớn so sánh trong tiểu thuyết của mình để tạo nên những câu văn, đoạn văn giàu hình ảnh. Thủ pháp so sánh được nhà văn dùng để miêu tả con người và thiên nhiên, qua đó làm sống dậy những hình ảnh sinh động của cuộc sống con người và thiên nhiên nơi núi rừng Việt Bắc. Những hình ảnh so sánh ấy không xa lạ, cầu kì mà rất gần gũi với tư duy của người miền núi.
Khi miêu tả con người, Ma Trường Nguyên đã sử dụng khá hiệu quả thủ pháp so sánh để khắc họa những nét ngoại hình, hành động và tâm lí nhân vật. Ảnh hưởng sâu sắc của văn học dân gian và văn học trung đại, khi miêu tả, nhà văn thường so sánh con người với thiên nhiên, lấy vẻ đẹp của thiên nhiên làm chuẩn mực. Những nét ngoại hình quen thuộc của con người như đôi mắt, mái tóc, khuôn ngực, nụ cười, giọng nói, giọng hát … thường được nhà văn ví với thiên nhiên.
Nhà văn nhiều lần miêu tả mái tóc. Đây là mái tóc của cô ca sĩ trẻ Ngọc Hoa:
“Còn mái tóc ư? Một áng mây mượt mà đen bóng phủ dài xuống tấm lưng thon thả” [19, tr.127]. Còn đây là mái đầu “đã bạc trắng như mây trời” của bà Cọ (Trăng yêu). Cũng là so sánh với mây trời, “áng mây mượt mà” đã diễn tả rất sinh động mái tóc đen mượt của một con người trẻ tuổi đang căng tràn sức sống, khác hẳn với mây trời “trắng lóa” là cách nói hình ảnh về tuổi tác của những người già.
Nhà văn miêu tả nụ cười của Va như “những cánh hoa nở tươi thắm”, khuôn ngực
“non tơ phập phồng” của Eng Liểu “nhọn như một chóp núi”. Đặc biệt, giọng hát, giọng nói của con người được so sánh nhiều với hình ảnh thiên nhiên. Giọng hát của Va khi thì “như ngàn vạn cánh hoa cứ tung nở tung nở”, khi lại “như những chùm quả ngọt cứ mọng muồi bay ra”, lúc “trong veo như nước suối chảy”, lúc lại
“như gió rừng xanh ngọt dịu ấm”… Giọng nói của Ma Loỏng mạnh mẽ âm vang khi thì được ví như “tiếng gió hú” lúc lại như “tiếng thác đổ trên núi”… Bên cạnh ngoại hình, những nét tâm lí của con người cũng được nhà văn đem ra để so sánh với thiên nhiên. Nói đến nỗi lòng đau đớn của ké Đông, của ông Roạn, nhà văn diễn tả: “lòng ké lại nhói lên đau như có cái gai móc trong lòng kéo từng khúc ruột ra ngoài” [18, tr.14], “lòng đau như có chùm chùm gai rừng móc vào quả tim đau nhói” [18, tr.62], “tim ông như có trăm sợi dây rừng cùng buộc thít lại” [18,
tr.67]. Nỗi khát thèm của Nhá cũng được nhà văn nói rất hình ảnh: “Cả đời Nhá trai tráng vẫn thèm cái môi gái Kinh như gấu thèm mật ong khoái ở rừng” [25, tr.17]. Có thể nói, thủ pháp so sánh ở đây đã phát huy tác dụng trong việc phản ánh đời sống nội tâm của con người. Nhờ so sánh, con người hiện lên cụ thể hơn, sinh động hơn. Bên cạnh đó, thủ pháp so sánh làm cho câu văn trở nên giàu hình ảnh và nhờ đó gây được ấn tượng mạnh mẽ trong lòng người đọc. Với việc sử dụng so sánh với tần số cao, ngôn ngữ nghệ thuật tiểu thuyết Ma Trường Nguyên mang đậm chất hội họa. Nhờ so sánh, bức chân dung tộc trưởng Ma Loỏng hiện lên thật lẫm liệt, đầy chất sử thi nhưng đồng thời lại rất đỗi gần gũi, thân thương:
"Đứng dưới dãy núi Phượng Hoàng râm mát che tỏa, ông Ma Loỏng mặt vuông chữ điền gân guốc đen bóng. Với mái tóc rễ tre đã trắng lóa như mây trời, nhưng không hiểu sao bộ râu ông còn đen nhánh như tổ ong khoái bám vào cái cằm bạnh, mỗi khi nói lại động đậy theo nhịp thở của ông. Ông Ma Loỏng đã ngoài tám mươi tuổi đời phong trần mà cánh tay bắp chân vẫn còn cuồn cuộn săn chắc.
Ông tộc trưởng họ Ma là đại tá Ma Loỏng trong bộ quân phục xanh thẫm màu chàm chững chạc với quân hàm quân hiệu chỉnh tề đỏ chói như thời còn tại ngũ. Ông đứng lẫm liệt như cột gỗ rừng cháy dở đen quánh còn sót lại trên nương mùa tra hạt xuống đất nảy mầm. Giọng ông Ma Loỏng bỗng rít lên như tiếng gió hú, tiếng thác đổ trên núi âm vang" [25, tr.132-133].
Khi sử dụng thủ pháp so sánh, ngòi bút Ma Trường Nguyên có một điểm khá độc đáo. Nếu như các nhà văn dân tộc thiểu số khác thường lấy con người ra để so sánh với thiên nhiên thì Ma Trường Nguyên lại đem thiên nhiên ra để so sánh với con người và những sự vật có liên quan đến con người. Nhờ những so sánh như vậy, trong mối tương quan với con người, thiên nhiên không còn mang dáng vẻ lấn át con người mà giữa con người và thiên nhiên đã có sự hòa quyện, gắn bó mật thiết hơn. Điều này tạo nên một sự khác biệt và làm cho tiểu thuyết của nhà văn mang dáng dấp hiện đại.
Trong tác phẩm, có những lúc nhà văn đem thiên nhiên so sánh trực tiếp với con người. Có thể liệt kê một số ví dụ:
- “Thấy động, đàn nhện chạy lung tung trên tấm lưới trông như những nhà thể thao kỳ ảo, hay những nhà làm xiếc điêu luyện” [18, tr.52].
- “Những cây gỗ bị ngáng dọc đường lật ngược cái gốc lên, rễ tua tủa như bàn tay đỏ loét” [18, tr.83].
- “Tiếng gió chảy vi vu như tiếng hát ngân vọng của người xưa” [21, tr.19].
- “Những mùa trăng lại đến với họ, họ nhìn không còn giống hệt cái bánh đa tráng vừng mà lại vằng vặc như đôi mắt của con người yêu nhau” [21, tr.38].
Có khi nhà văn lại đem thiên nhiên ra để so sánh với những sự vật có liên quan đến đời sống của con người. Chẳng hạn:
- “Hai cây mác tôi cành lá vờn níu như hai cái ô chập đôi lại đang che bóng cho lứa tuổi hoa tuổi hương của hai mường núi gặp nhau” [18, tr.17].
- “Từ trên ngọn cây cao nhìn xuống, thấy tán cây thấp bên dưới xòe ra như cái võng, dây rừng mọc trên ngọn chằng chịt, sợi đan ngang dọc vào nhau như tấm vó” [18, tr.54].
- “rừng cũng giống như một quyển sách mới lạ, hấp dẫn” [18, tr.57].
- “Vào mùa xuân hoa đỏ ối như ngọn lửa cháy rừng rực chen trong đám lá.
Nhìn xa vòm hoa như những ngọn lửa liếm kiềng lập lòe đỏ xanh trên bếp nhà sàn”
[24, tr.6].
- “Mây từng đàn xám hồng như những mảnh chăn sui rách ra từng mảng bay là là trên ngọn cây lá xào xạc mênh mang trong chiều hiu quạnh” [21, tr.57].
Có thể nói, thủ pháp so sánh ví von giàu hình ảnh được rất nhiều nhà văn sử dụng để tạo nên những trang viết sinh động, có hồn. Thủ pháp này lại rất phù hợp với lối nói và lối tư duy của người miền núi. Nhờ so sánh, hình ảnh thiên nhiên, cuộc sống, con người vùng cao trong tiểu thuyết Ma Trường Nguyên hiện ra hết sức sinh động, cụ thể và hồn nhiên, chất phác. Nó cũng giúp nhà văn chuyển tải ý đồ nghệ thuật của mình vào văn chương một cách dung dị, tự nhiên. Tuy nhiên, lối so sánh ví von trong lời văn nghệ thuật của Ma Trường Nguyên nói riêng và các tác giả dân tộc miền núi nói chung cũng có một số hạn chế: Nhiều “so sánh nên chất văn xuôi chưa được nổi rõ, các nhân vật thường được xây dựng theo kiểu nhân vật
chức năng hoặc loại hình như trong các truyện cổ tích, thần thoại hoặc nhân vật cổ mà thiếu chiều sâu phân tích, lý giải để nhân vật có được tính cách riêng” [38, tr.157]. Nói như vậy nhưng chúng ta vẫn phải thừa nhận rằng: “nếu nhìn từ góc độ tiếp nhận với tầm tiếp nhận của độc giả, sự tiếp thu kế thừa các yếu tố văn hóa văn học dân gian là một trong những con đường để tác phẩm của nhà văn dân tộc thiểu số đi vào công chúng miền núi một cách hiệu quả. Nên chăng vẫn có thể coi đây là một thế mạnh của nhà văn miền núi?” [38, tr.157].
Tiểu kết
Ma Trường Nguyên đã có những nỗ lực đổi mới trong nghệ thuật tiểu thuyết. Những cách tân trên phương diện tổ chức cốt truyện với kiểu truyện gấp khúc thể hiện ý thức sáng tạo theo hướng hiện đại của nhà văn. Bên cạnh đó, các yếu tố ngoài cốt truyện đã tham gia tích cực tạo nên giọng điệu riêng cho các tác phẩm. Nghệ thuật xây dựng nhân vật là những cố gắng nhằm gây ấn tượng thẩm mĩ và biểu lộ quan niệm nghệ thuật về con người của Ma Trường Nguyên. Đi cùng với đó, hệ thống từ ngữ mang đậm bản sắc dân tộc cũng góp phần tạo ấn tượng cho những trang viết của nhà văn. Tuy nhiên, cũng phải khẳng định, đã có những giới hạn trong nghệ thuật tiểu thuyết Ma Trường Nguyên. Đó là những ảnh hưởng quá nhiều yếu tố dân gian (và rộng hơn là quan niệm) đã khiến cách kết thúc truyện của Ma Trường Nguyên có phần gượng ép. Nhân vật của nhà văn đơn phiến và chưa có những cá tính phức tạp,... Mặc dù vậy, đặt trong sự vận động chung của văn xuôi dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại, vẫn có thể khẳng định, tiểu thuyết Ma Trường Nguyên là tiếng nói riêng, một tiếng nói góp phần quan trọng vào mảng văn học vốn khởi động muộn màng này.