Yếu tố ngoài cốt truyện

Một phần của tài liệu Đặc điểm tiểu thuyết ma trường nguyên (Trang 75 - 79)

Chương 3: Một số phương diện nghệ thuật trong tiểu thuyết của Ma Trường Nguyên

3.1. Cốt truyện và các yếu tố ngoài cốt truyện

3.1.2. Yếu tố ngoài cốt truyện

Trong tác phẩm tự sự, cốt truyện là yếu tố hạt nhân, là cốt lõi của diễn biến câu chuyện. Tuy nhiên, để tạo nên một sinh mệnh nghệ thuật thực sự, bên cạnh cốt truyện còn có những yếu tố đan xen khác - yếu tố ngoài cốt truyện. Theo các tác giả cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, yếu tố ngoài cốt truyện là “chi tiết, bộ phận thuộc nội dung của các tác phẩm văn học thuộc loại hình tự sự, nằm ngoài hệ thống sự kiện tạo thành cốt truyện” [4, tr.370]. Đó là các thành phần có tính chất tĩnh tại nằm ngoài hệ thống sự kiện như: miêu tả ngoại cảnh, môi trường, đồ vật, giới thiệu lai lịch nhân vật, miêu tả chân dung, tái hiện tâm trạng, độc thoại nội tâm, hồi tưởng, các đoạn đối thoại, những lời trữ tình ngoại đề, những nhận xét mang tính triết lí, những bình phẩm đi sát nhân vật, những biểu tượng hoặc những câu chuyện nhỏ bổ sung hay giải thích cho một chi tiết, một nhân vật… Những yếu tố này đã làm cho toàn bộ câu chuyện kể có một diện mạo sinh động, một “bức tranh toàn cảnh về thế giới”. Bởi theo I.U. Lốtman, “cốt truyện không phải là một cái gì đó biệt lập được lấy trực tiếp từ đời sống hoặc khai thác một cách bị động từ truyền thống, nó có quan hệ hữu cơ với bức tranh thế giới” [40].

Những yếu tố ngoài cốt truyện này được gọi bằng những cái tên khác nhau.

Pôxpêlốp gọi là sự miêu tả tự sự có chức năng tạo hình khách thể. Trần Đình Sử gọi là thành phần tĩnh tại, dư thừa, hay thành phần xen. R. Barthes dùng thuật ngữ chất xúc tác. Thành phần này nằm ở khoảng giữa các sự kiện. Theo ông, trong tác phẩm nghệ thuật không có yếu tố thừa, cho dù sợi chỉ xâu chuỗi đơn vị cốt truyện với các đơn vị khác có thể rất dài, mong manh hay mảnh mai. Căn cứ vào chức năng của những đơn vị khác ấy, Barthes, đề xuất hai nhóm: nhóm chức năng cốt yếu (hay hạt nhân) và nhóm chức năng xúc tác bởi chúng mang tính phụ trợ. Về tầm quan trọng của chúng, Barthes đã nói: “Không thể lược bỏ một chức năng cốt yếu nào mà không làm ảnh hưởng đến cốt truyện cũng tương tự như vậy, không thể lược bỏ đơn vị xúc tác nào mà không làm ảnh hưởng đến ngôn bản tự sự” [39].

Các yếu tố này dù là phần phụ nhưng không thể thiếu, bởi chúng làm nên hơi thở, không khí, linh hồn và sự sống cho chính tác phẩm. Nói như các tác giả Từ

điển thuật ngữ văn học thì những yếu tố này “góp phần đáng kể vào việc soi sáng thêm chủ đề và tư tưởng của tác phẩm, bộc lộ những quan điểm, thái độ của tác giả, giúp người đọc tiếp cận sâu sắc hơn hệ thống tính cách, tăng cường sức hấp dẫn của cốt truyện” [4, tr.370].

Tiểu thuyết Ma Trường Nguyên có một đặc điểm khá thú vị là những yếu tố ngoài cốt truyện đã tạo nên một kiểu cốt truyện khác, một thời gian nghệ thuật khác, phù hợp với mục đích kể của nhà văn. Như chúng tôi đã trình bày, có rất nhiều yếu tố ngoài cốt truyện khác nhau. Tiểu thuyết của Ma Trường Nguyên chủ yếu sử dụng các yếu tố như: những đoạn miêu tả thiên nhiên; miêu tả tiếng hát, tiếng sáo; những câu chuyện, bài hát dân gian xen trong mạch truyện; những đoạn miêu tả về phong tục, tập quán, lễ hội miền núi…

Tiểu thuyết Ma Trường Nguyên hấp dẫn người đọc bởi những trang viết về phong tục tập quán, lễ hội, những trang viết về thiên nhiên. Những trang viết ấy đan xen trong mạch truyện với tần số khá cao. Trong chuyến đi khảo sát rừng Khau Dạ, câu chuyện giữa ông Roạn, chủ tịch xã, và Khuổi, cô sinh viên vừa tốt nghiệp đại học lâm nghiệp (Mũi tên ám khói) đã được xen vào bởi nhiều đoạn miêu tả cảnh thiên nhiên. Những đoạn miêu tả say sưa, đầy tự hào về cảnh núi rừng “ngào ngạt sức sống với bao màu xanh lá, sắc hoa kì lạ”, bao loài thú, loài chim, bao đặc sản

…. đã làm thức dậy một bức tranh quê hương miền núi giàu đẹp. Những đoạn tả cảnh rừng bị phá chứa đựng bao nỗi xót xa, căm phẫn. Trong tiểu thuyết Trăng yêu, khi miêu tả cảnh chờ đợi của Gịng với Cọ trong buổi hẹn của hai người, Ma Trường Nguyên đã lồng ghép cảnh thiên nhiên như để kéo dài thời gian và bộc lộ rõ tâm trạng bồn chồn của chàng trai. “Mặt trăng đã treo trên đỉnh núi Đao Chắp. Phía dưới chân núi một dải đất thoai thoải mọc nhiều sim mua. Những bụi dây hồng tiên quấn quýt từng lùm từng búi. Từng chùm quả lủng liểng như cái đèn lồng nhỏ xíu kề cuống lá to bản mọc lông lơ phơ rung rung như xà lên trong ánh trăng. Những quả chín mọng ấy có thể mang về vò hết nhớt nấu ăn làm rau hoặc sắc lấy nước uống làm thuốc an thần cho những người khó ngủ. Gịng đứng nấp vào bụi cây ngóng đợi Cọ từ phía nhà đi lên. Anh bồn chồn không hiểu Cọ có dám lên thật không ? Hay để

anh đợi khắc khoải một mình” [21, tr.40-41]. Có thể nói, những đoạn văn miêu tả thiên nhiên ấy đã góp phần làm phong phú thêm nội dung tác phẩm đồng thời cũng làm cho nhịp điệu trần thuật trở nên chậm lại, rất phù hợp với không khí và mạch truyện.

Cũng có khi, mạch truyện được đan xen bởi những diễn giải về phong tục, tập quán của người dân tộc. Ví dụ, trong tiểu thuyết Phượng hoàng núi, Ma Trường Nguyên viết về đoạn ông của Lâm Thạch hấp hối và truyền lại chức vị trưởng tộc cho bố của anh: “Và bây giờ ông lại nói với bố Thạch những câu tím bầm gan ruột tức tối rằng: “Bọn họ Ma người Tày truyền kiếp truyền lại câu: “Ò Nồng nả đăm căm hăm câu nẻo” (thằng Nùng mặt đen cầm chim tao đái)”. Nhục lắm con ơi! Bố Thạch nói lại với ông rằng: “Thôi, bố à! Giờ khác, trước khác. Ta nên quên đi lời đau lời buốt ấy đi bố ơi!”. Ông của Thạch mắt mở trừng trừng nhìn bố Thạch không biết nói gì. Thạch còn nghe bố nói với ông: “Bố ơi! Câu nói xấu xa của thực dân, đế quốc ấy mà, bây giờ ta đã độc lập tự do rồi. Ta cũng nên quên câu nói độc địa ấy đi thôi”. Ông nằm lả đi thở hổn hển rồi chợt nhớ lại câu nói ông cho là chí lí của họ Lâm ta đã bảo họ Ma người Tày, cũng không biết tự bao giờ truyền lại: “Ò Tày nả lài kin nặm nhài câu phí” (Thằng Tày mặt rỗ, ăn nước rãi tao khạc nhổ)”.

Nói xong ông cười nhăn nhó méo mó như khóc. Bố Thạch tay vỗ vỗ vào người ông an ủi: “Ông Thạch ơi! Ông Thạch… quên… quên đi thôi! Ông Thạch ơi!”. Được con trai mình gọi bằng tên cháu, ông tự thấy mãn nguyện lắm. Đối với người Tày và người Nùng có thói quen theo phong tục hay gọi theo tên con tên cháu. Nếu như ai đó đến già mà vẫn không có con cháu để gọi tên thì coi như bất hạnh, như nỗi nhục.

Người miền núi có câu: “Mạy đoóc bấu rủn cần rại bấu bủn đạy lục” (cây khô không lộc người độc không đẻ được con). Nên được gọi theo tên con cháu đối với người già là hãnh diện, hạnh phúc lắm. Ông đưa bàn tay khẳng khiu nắm lấy tay cháu đích tôn đang ngồi kề, nắm lại lắc lắc nhẹ bảo: “Cháu Thạch cả ông cháu phải học chữ của các thầy nhiều nhiều vào nhé. Học đến bao giờ các thầy hết chữ để cho mới được thôi. Nhớ chưa Thạch?”. Thạch đăm đăm nhìn vào mắt ông mở hấp háy thưa: “Dạ, cháu ghi nhớ suốt đời lời ông ạ!”. Ông mở to con mắt để nhìn

rõ cháu một lần cuối rồi ông nhắm lại không bao giờ mở ra được nữa” [25, tr.35- 36]. Chúng tôi lựa chọn đoạn trích dẫn này vì nó khá tiêu biểu cho lối kể chuyện của Ma Trường Nguyên. Nó bao hàm trong đó những điểm mạnh và cả những mặt hạn chế của nhà văn này. Trong đoạn miêu tả cảnh ông nội Lâm Thạch hấp hối, Ma Trường Nguyên đã chen vào mạch chuyện hai lần giải thích những yếu tố thuộc về văn hóa của các dân tộc miền núi. Đó là phần giải thích hai câu nói cửa miệng mang đậm sự hận thù giữa hai dòng họ và phần giải thích về phong tục gọi tên ông, bố theo tên cháu, tên con. Theo chúng tôi, cách chen yếu tố ngoài cốt truyện trong đoạn này, mặc dù có tác dụng giới thiệu về phong tục tập quán, cho người đọc hiểu và trân trọng tình yêu một đời của nhà văn đối với phong tục, với quê hương mình nhưng lại không mang lại hiệu ứng thẩm mỹ tích cực. Nó tạo cảm giác nhà văn là người chi phối tuyệt đối đến nhân vật và tạo ra sự dài dòng không cần thiết. Điểm hạn chế này cũng xuất hiện khá nhiều trong các tiểu thuyết của Ma Trường Nguyên.

Những yếu tố ngoài cốt truyện trong tiểu thuyết Ma Trường Nguyên nhiều khi có vai trò quyết định đến ý nghĩa và cả những dư âm của câu chuyện. Tiêu biểu có thể kể đến là môtíp tiếng sáo, tiếng hát của văn học dân gian. Tiếng sáo, tiếng hát như một yếu tố tham gia thúc đẩy sự vận động cốt truyện ở một số tiểu thuyết của Ma Trường Nguyên. Trong Mũi tên ám khói, Đông lớn lên ở mường Cốc Tát, thời trẻ đã vượt sang bên kia dãy núi Khau Dạ để hát lượn. Và trong những đêm hát ấy, Đông đã kết được Đao, một cô gái trẻ đẹp của mường Thung. Đây chính là biến cố mở đầu cho chuỗi sự kiện trong tiểu thuyết này. Trong Gió hoang, Va vốn là con của một người đàn bà hát then nổi tiếng. Và cuộc đời cô thay đổi cũng bởi điệu then ấy. Khi Va ở nhà mo Ngàu, một buổi chiều, cô đã lấy cây đàn thiêng nhà mo để hát then cho đám trẻ chăn trâu nghe và vì vậy mà bị đuổi ra khỏi nhà. Để rồi từ đây, cuộc đời cô gái ấy gắn chặt với Lèng, một người mê sáo đến độ như bị ma ám.

Tiếng đàn của Va, tiếng sáo của Lèng xuất hiện trong tác phẩm như một nỗi ám ảnh. Có thể nói, tiếng đàn, tiếng sáo ấy là những yếu tố ngoài cốt truyện rất quan trọng giúp nhà văn hoàn thiện kết cấu tác phẩm của mình.

Bên cạnh các yếu tố ngoài cốt truyện đã nói ở trên, trong tiểu thuyết của Ma Trường Nguyên, người đọc còn thấy sự xuất hiện của các câu chuyện dân gian và những bài hát xen vào mạch truyện. Điều thú vị là các câu chuyện dân gian ấy thường gắn với tình yêu đôi lứa. Tình yêu ấy hòa vào đất trời, hóa vào dáng hình xứ sở. Trong Mũi tên ám khói, câu chuyện tình yêu của chàng trai mường Cốc Tát với nàng tiên Út của mường Trời khiến cho “tự nhiên suối đang cạn khô, nước lại đầy dòng, thác đổ ầm ầm. Dòng nước chảy đến đâu vạn vật lại hồi sinh đến đấy” [18, tr.11]. Chuyện tình của nàng công chúa Lẹng với hai chàng trai Ma Moóc và La Muôi trong Tình xứ mây đã tạo thành mường Moóc Muôi và dòng suối Lẹng. Cái chết của đôi trai gái dưới gốc trám già trong Phượng hoàng núi đã làm nên gò Đon Cưởm… Đây cũng là điểm độc đáo của nhà văn Ma Trường Nguyên so với các nhà văn dân tộc thiểu số khác. Chính những câu chuyện dân gian mang đậm màu sắc tình yêu ấy khiến tác phẩm của nhà văn trở nên gần gũi, giàu chất trữ tình, mang đậm cảm hứng lãng mạn. Về điểm này, quả thật Ma Trường Nguyên xứng đáng với tên gọi “nhà văn tình xứ mây”.

Tóm lại, yếu tố ngoài cốt truyện trong tiểu thuyết Ma Trường Nguyên khá phong phú, được sử dụng một cách tương đối phù hợp. Mặc dù còn có những hạn chế nhất định như đã nói ở trên song chúng ta không thể phủ nhận rằng: các yếu tố ngoài cốt truyện đã góp phần không nhỏ trong việc tạo nên sức hấp dẫn cho tác phẩm của nhà văn miền núi này.

Một phần của tài liệu Đặc điểm tiểu thuyết ma trường nguyên (Trang 75 - 79)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(108 trang)