1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh bắc ninh

116 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 4,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổ chức lãnh thổ kinh tế TCLTKT là sự sắp xếp các thành phần trong mối liên hệ đa ngành, đa lãnh thổ ở một vùng nhằm đạt hiệu quả cao nhất về các mặt kinh tế, xã hội, môi trường và phát

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ THU HIỀN

TỔ CHỨC LÃNH THỔ KINH TẾ TỈNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ THU HIỀN

TỔ CHỨC LÃNH THỔ KINH TẾ TỈNH BẮC NINH

Ngành: ĐỊA LÍ HỌC

Mã ngành: 8 31 05 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Dương Quỳnh Phương

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các số liệu trích dẫn có nguồn gốc rõ ràng và không sao chép dưới bất kì hình thức nào Kết quả trong luận văn được thu thập trong quá trình nghiên cứu là trung thực, chưa được công bố trong bất

cứ công trình nghiên cứu nào khác

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thu Hiền

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới cô giáo PGS.TS Dương Quỳnh Phương, giảng viên khoa Địa lí, là người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian làm luận văn tốt nghiệp

Tôi xin cảm ơn các Thầy, Cô giáo đang công tác tại trường Đại học sư phạm -

ĐH Thái Nguyên đã giảng dạy tôi trong suốt thời gian học tập tại trường và tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Trong quá trình nghiên cứu, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến Ban giám hiêụ trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên; Ban Chủ nhiệm khoa Địa Li;́ Thư viện trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên; Sở Văn hóa, Thể thao và

Du lịch Bắc Ninh; Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Bắc Ninh; Ban quản lý các KCN tỉnh Bắc Ninh; Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh, Sở Công Thương Tỉnh Bắc Ninh cùng các ban ngành trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi thu thập thông tin, số liệu về vấn đề nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tuy đã có những cố gắng nhất định nhưng do thời gian và trình độ có hạn nên chắc chắn luận văn này còn nhiều thiếu sót và hạn chế nhất định Kính mong nhận được

sự góp ý của Thầy Cô và các bạn

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thu Hiền

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC HÌNH vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài 2

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Phạm vi nghiên cứu 7

5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu của đề tài 7

6 Những đóng góp chính của đề tài 11

7 Cấu trúc của luận văn 11

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ KINH TẾ 12

1.1 Cơ sở lí luận về tổ chức lãnh thổ kinh tế 12

1.1.1 Khái niệm, bản chất của tổ chức lãnh thổ kinh tế 12

1.1.2 Nguyên tắc, nội dung và nhiệm vụ chủ yếu của TCLTKT 14

1.1.3 Các loại hình tổ chức lãnh thổ 16

1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ kinh tế 17

1.1.5 Khái quát một số lí thuyết về tổ chức lãnh thổ kinh tế 22

1.2 Cơ sở thực tiễn 26

1.2.1 Các hình thức chủ yếu tổ chức lãnh thổ kinh tế và việc vận dụng vào thực tiễn ở Việt Nam 26

1.2.2 Đôi nét về tổ chức lãnh thổ kinh tế ở vùng Đồng bằng sông Hồng 29

Trang 6

Tiểu kết chương 1 31

Chương 2: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ THỰC TRẠNG TỔ CHỨC KHÔNG GIAN LÃNH THỔ KINH TẾ TỈNH BẮC NINH 32

2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức không gian LTKT tỉnh Bắc Ninh 32

2.1.1 Vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ 32

2.1.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 33

2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 37

2.1.4 Đánh giá chung về thuận lợi và khó khăn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh 41

2.2 Hiện trạng tổ chức không gian lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Ninh 42

2.2.1 Khái quát chung sự phát triển kinh tế tỉnh Bắc Ninh 43

2.2.2 Tổ chức không gian lãnh thổ các ngành kinh tế tỉnh Bắc Ninh 49

Tiểu kết chương 2 73

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TỔ CHỨC KHÔNG GIAN LÃNH THỔ KINH TẾ TỈNH BẮC NINH ĐẾN NĂM 2030 74

3.1 Các căn cứ định hướng tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Ninh 74

3.1.1 Quan điểm và mục tiêu phát triển KT - XH tỉnh Bắc Ninh đến năm 2030 76

3.2 Định hướng tổ chức không gian lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Ninh đến năm 2030 79

3.2.1 Định hướng tổ chức không gian lãnh thổ công nghiệp 79

3.2.2 Định hướng tổ chức không gian lãnh thổ nông - lâm - ngư nghiệp 81

3.2.3 Định hướng tổ chức không gian lãnh thổ dịch vụ 83

3.3 Các giải pháp chủ yếu đảm bảo TCLTKT đạt hiệu quả 84

3.3.1 Giải pháp về quy hoạch và phát triển cơ sở hạ tầng 84

3.3.2 Giải pháp về đầu tư 85

3.3.3 Giải pháp về phát triển nguồn nhân lực 86

3.3.4 Giải pháp về cơ chế, chính sách 87

Trang 7

3.3.5 Giải pháp về khoa học công nghệ và môi trường 88

3.3.6 Liên kết, hợp tác phát triển với các tỉnh trong vùng 89

3.3.6 Giải pháp cải thiện môi trường đầu tư, cải cách thủ tục hành chính 90

3.3.7 Các giải pháp cụ thể đối với một số hình thức TCLTKT: 90

Tiểu kết chương 3 94

KẾT LUẬN 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO 96 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 CCN Cụm công nghiệp

2 CMH Chuyên môn hóa

3 CN Công nghiệp

4 CNH - HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa

5 CNTT Công nghệ thông tin

6 ĐB Đồng bằng

7 ĐBSH Đồng bằng Sông Hồng

8 DN Doanh nghiệp

9 DV Dịch vụ

10 FDI Vốn đầu tư nước ngoài

11 GD - ĐT Giáo dục - Đào tạo

12 GTSX Giá trị sản xuất

13 HTX Hợp tác xã

14 KCN Khu công nghiệp

15 KH & ĐT Kế hoạch và Đầu tư

21 NSĐP Ngân sách địa phương

22 NSTW Ngân sách trung ương

23 NTM Nông thôn mới

24 PCI Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

25 PTNT Phát triển nông thôn

26 SXKD Sản xuất kinh doanh

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1: Sơ đồ tiếp cận nội dung của lãnh thổ kinh tế - xã hội 16

Hình 1.2 Các loại hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế 17

Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Bắc Ninh 33

Hình 2.2: Bản đồ nguồn lực phát triển kinh tế tỉnh Bắc Ninh 42

Hình 2.3: Biểu đồ so sánh tổng sản phẩm bình quân đầu người năm 1997 và 2017 tỉnh Bắc Ninh so với cả nước và các tỉnh 43

Hình 2.4: Biểu đồ tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm GRDP theo 3 khu vực kinh tế giai đoạn 1997 - 2016 (%) 44

Hình 2.5: Biểu đồ cơ cấu kinh tế tỉnh Bắc Ninh phân theo ngành kinh tế giai đoạn 1997 - 2016 45

Hình 2.6: Biểu đồ tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 1997 - 2016 50

Hình 2.7: Biểu đồ biến động diện tích lúa tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 1997 - 2016 51

Hình 2.8: Biểu đồ năng suất lúa bình quân hàng năm tỉnh Bắc Ninh giai đoạn từ 1997 - 2016 52

Hình 2.9: Biểu đồ sản lượng và nhu cầu tiêu dùng lương thực có hạt bình quân một nhân khẩu/năm của tỉnh Bắc Ninh so với ĐBSH và cả nước 52

Hình 2.10: Biểu đồ giá trị sản xuất công nghiệp theo giá hiện hành tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 1997-2016 62

Hình 2.11: Lược đồ các khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh năm 2016 64

Hình 2.12: Bản đồ tổ chức không gian và tuyến, điểm du lịch tỉnh Bắc Ninh 70 Hình 2.13: Hiện trạng phát triển du lịch tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005-2015 71

Hình 3.1: Bản đồ nguồn lực và quy hoach tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh đến năm 2030, tầm nhìn 2050 78

Hình 3.2: Sơ đồ điều chỉnh quy hoạch các khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh định hướng đến 2020 81

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong những năm gần đây, vấn đề tổ chức lãnh thổ kinh tế (TCLTKT) nổi lên

là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu bởi bất kì địa phương nào để phát triển cũng cần phải tiến hành tổ chức lãnh thổ nhằm thu đạt hiệu quả kinh tế cao, thực hiện được một cách thống nhất phát triển toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm trên địa phương mình Tuy nhiên tổ chức lãnh thổ vẫn còn là một khái niệm mới ở nước ta, nghiên cứu chuyên sâu về nó còn hạn chế, mang tính tổng quát cao và riêng biệt từng loại tổ chức lãnh thổ trên phạm vi cả nước, bản thân các địa phương đã hình thành các bản quy hoạch phát triển tỉnh, tuy nhiên, hầu như các tỉnh đều chưa tổng hợp nghiên cứu sâu chuyên đề tổ chức lãnh thổ cho địa phương mình Những công trình nghiên cứu vấn đề này hiện vẫn còn rất hạn chế dẫn đến tình trạng mơ hồ trong bước đi, cũng như lạc quan thái quá về sự phát triển của kinh tế, nhìn nhận chưa sâu sắc giữa thực tế

và lí thuyết

Tổ chức lãnh thổ kinh tế (TCLTKT) là sự sắp xếp các thành phần trong mối liên

hệ đa ngành, đa lãnh thổ ở một vùng nhằm đạt hiệu quả cao nhất về các mặt kinh tế,

xã hội, môi trường và phát triển bền vững trên cơ sở sử dụng hợp lý các nguồn lực TCLTKT hợp lí được xem là một trong những giải pháp có tính nghệ thuật hàng đầu để phát huy tốt nhất các nguồn lực phát triển và có thể khắc phục được tình trạng chồng chéo, quá tải về sức chứa lãnh thổ cũng như giải quyết tốt tình trạng phát triển rời rạc giữa các lãnh thổ với nhau và giữa các ngành trong một lãnh thổ để hướng tới sự phát triển bền vững

TCLTKT là một trong những kế hoạch và hành động nhằm phát huy tốt nhất các nguồn lực để phát triển kinh tế của mỗi quốc gia hay mỗi vùng lãnh thổ Đây là vấn

đề không mới đối với thế giới, nhưng đối với Việt Nam cũng còn nhiều vấn đề từ lí luận đến thực tiễn chưa được làm rõ và còn phải tiếp tục nghiên cứu Vì vậy cần phân tích đánh giá các hình thức TCLTKT một cách thấu đáo cả về lí thuyết và thực hành, nhận rõ thực trạng phát triển, cùng các ưu điểm, nhược điểm của các hình thức tổ chức,

để rồi đưa ra các giải pháp phù hợp để phát triển các hình thức này

Trang 12

Bắc Ninh là một địa phương với rất nhiều tiềm năng thích hợp cho các hình thức

tổ chức không gian lãnh thổ kinh tế Những năm gần đây kinh tế Bắc Ninh phát triển nhanh chóng và có những bước tiến mới Các hình thức TCLTKT đã bắt đầu phát huy tác dụng nổi bật là khu công nghiệp, cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp.Thực tế

đã chứng minh các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp phối hợp cùng nhau giúp Bắc Ninh trở thành một trong những địa phương phát triển đứng đầu cả nước đặc biệt

là công nghiệp trở thành địa phương thứ 2 sau Hà Nội trong số các tỉnh phía Bắc, đứng thứ 5 trên cả nước về phát triển công nghiệp, tuy nhiên trong các hình thức TCLTKT vẫn còn một số hạn chế, trong bối cảnh đặt ra thì cần phải hoàn thiện hơn các hình thức này như : du lịch Bắc Ninh vẫn chưa thực sự phát huy bền vững tiềm năng du lịch nhân văn của mình, các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp bắt đầu có khởi sắc do được quan tâm đầu tư, tuy nhiên vẫn không thoát khỏi tình hình chung của cả nước, nhỏ lẻ, manh mún, và ít đem lại lợi nhuận cho nền kinh tế, vấn đề môi trường khu công nghiệp làng nghề đang trong tình trạng báo động, tình trạng việc làm, nhà ở trong các khu công nghiệp đang gặp nhiều khó khăn cần được quan tâm hơn nữa…

Nghiên cứu một cách hệ thống về “Tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Ninh” nhằm

đánh giá khách quan nguồn lực, thực trạng TCLTKT, làm cơ sở để TCLTKT hợp lý hơn, đảm bảo an ninh quốc phòng khu vực, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH - HĐH), sớm trở thành một tỉnh phát triển là nhiệm vụ cấp thiết và có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn

Do vậy, việc TCLTKT nhằm sử dụng một cách hợp lí các tiềm năng về tự nhiên, kinh tế và xã hội để đem lại hiệu quả kinh tế cao và nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo sự phát triển nhanh và bền vững là vấn đề hết sức quan trọng và cấp thiết Với những

lí do đó, tôi lựa chọn đề tài: “Tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Ninh”

2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài

2.1 Trên thế giới

Ngay từ đầu thế kỷ XIX, trên thế giới đã có những công trình mà sau này đã trở thành lý thuyết cơ sở để nghiên cứu và triển khai việc tổ chức nền sản xuất xã hội theo

lãnh thổ, như: Lý thuyết "Phát triển các vành đai nông nghiệp" của V.Thunen (1833),

lý thuyết "Định vị công nghiệp" của A.Weber (1909), lý thuyết "Vị trí trung tâm" của

Trang 13

W.Christaller (1933) Trong đó, công trình của W.Christaller đã dựa trên cơ sở của

“lực đẩy”, “lực hút” để xác định khoảng ảnh hưởng của các trung tâm trong từng vùng

và những khu vực trống vắng giữa các trung tâm đô thị Từ việc nghiên cứu thực tiễn

đã hình thành những lí thuyết khái quát có thể được coi là những lí luận cổ điển về TCLTKT quý báu để học tập và áp dụng, như W.Christaller với việc hình thành các trung tâm tạo vùng; Francoi-Perroux với vấn đề phát triển các cực tăng trưởng; Von Thunen với TCLT nông nghiệp theo các vành đai xung quanh các đô thị

Đến thế kỷ XX, các nghiên cứu về TCLT nền sản xuất được tiến hành sâu rộng

hơn, điển hình là lý thuyết: "Cực tăng trưởng" của Francoi Perroux (1950) nhấn mạnh

lợi thế của phát triển không cân đối theo lãnh thổ

Năm 1947, nhà bác học người Nga N.N Koloxopski đã đưa ra lý thuyết về phát

triển tổng hợp sản xuất lãnh thổ, trong đó ông đã đề xuất nhiều vấn đề lý luận và những

giải pháp thực tiễn về TCLT cho những vùng lãnh thổ giàu tài nguyên, xem tổ hợp nông - CN như những thành phố hạt nhân Nghiên cứu về tổ chức không gian cũng được coi trọng trong địa lý Hoa Kỳ vào những năm đầu thập niên 70 của thế kỷ XX

Điển hình cho sự nghiên cứu này là các công trình: “Tổ chức không gian, cách nhìn thế

giới của các nhà địa lý” của R.Abler, J.Adams và P.Gould

Cuối thế kỷ XX, nghiên cứu TCLTKT chú trọng đến việc định vị vùng Đại diện cho hướng nghiên cứu này là Paul Krugman - một nhà kinh tế học người Mỹ Trong nghiên cứu của mình, ông đã đề xuất mô hình phát triển kinh tế quốc gia lấy CN hóa làm nòng cốt và một nền nông nghiệp ngoại vi Theo ông, để tạo ra sự bứt phá trong phát triển kinh tế, các yếu tố đảm bảo là chi phí vận tải thấp, sản xuất bền vững và xác định vị trí vùng với nhu cầu ngày càng lớn hơn Việc xác định đó phụ thuộc vào tính chuyên môn hóa (CMH) của sản xuất Sự khởi sắc của vùng trung tâm hay ngoại vi phụ thuộc vào chi phí vận tải, các nguồn lực phát triển và đóng góp của sản xuất vào thu nhập quốc gia [46] [35]

Báo cáo phát triển thế giới 2009 - quan điểm địa kinh tế mới cũng cho thấy tầm quan trọng và xu hướng TCLTKT hiện nay là sự tích tụ - tập trung ở các thành phố với

sự di cư và CMH “Không nước nào trở nên giàu có mà không phải thay đổi…sản xuất theo không gian”, “các thành phố tăng trưởng, con người cơ động, thương mại sôi động

Trang 14

là những chất xúc tác cho sự tiến bộ của các nước phát triển trong hai thế kỷ vừa qua Ngày nay, chính những tác lực đó đang truyền lực cho những nơi năng động nhất trong khối các nước đang phát triển”

2.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam, TCLTKT là đối tượng nghiên cứu quan trọng của khoa học Địa lí

từ giữa thế kỉ XX Đã có nhiều luận án, bài báo, giáo trình về TCLTKT được công bố Viện chiến lược phát triển thuộc Bộ KH&ĐT đã nghiên cứu và công bố các quy hoạch phát triển cho cả nước cũng như cho từng vùng lãnh thổ Tuy vậy, những công trình đó phạm vi nghiên cứu có qui mô lớn, mặt khác các hình thức tổ chức sản xuất lãnh thổ cũng có nhiều thay đổi do tác động của nền kinh tế thị trường

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trong phát triển KT - XH đất nước, bắt đầu từ những năm 60 của thế kỷ XX, Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu về phân bố và TCLTKT, chẳng hạn nghiên cứu xây dựng KCN Việt Trì, khu gang thép Thái Nguyên, KCN Biên Hòa, Quy hoạch vùng lúa Đồng Bằng sông Hồng, vùng bò sữa Ba Vì…

Trong những năm 70, nghiên cứu TCLTKT tiếp tục được triển khai mà kết tinh

là Tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất Việt Nam thời kì 1986 - 2000 với sự giúp đỡ của Liên Xô Công trình đã lập tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực

lượng sản xuất cho cả nước, sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất cho các ngành, các vùng vĩ mô và các tỉnh Từ năm 2001 đến nay, công tác nghiên cứu lãnh

thổ được gọi là Quy hoạch tổng thể KT - XH vùng và tỉnh, thuộc sự chỉ đạo của Bộ Kế

hoạch và Đầu tư [43]

Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), nghiên cứu về TCLTKT được tiến hành rộng rãi và thu hút được sự tham gia đông đảo của các nhà khoa học Trong

đó, tiêu biểu là GS Lê Bá Thảo với đề tài độc lập và trọng điểm cấp nhà nước do ông

làm chủ nhiệm: “Cơ sở khoa học của TCLT Việt Nam” Trong công trình này, các nhà

khoa học tiếp cận một cách hệ thống về tổ chức không gian lãnh thổ Việt Nam, trả lời cho câu hỏi “Nên tổ chức không gian của lãnh thổ Việt Nam như thế nào để phục vụ mục tiêu CNH - HĐH làm cho Việt Nam đến năm 2020 có thể trở thành một nước công nghiệp” Cụ thể, các tác giả đã bàn về những khía cạnh ảnh hưởng đến sự phân bố và các mối liên hệ không gian giữa các ngành kinh tế, đưa ra sơ đồ định hướng tổ chức

Trang 15

lãnh thổ (TCLT) Việt Nam trên cơ sở đảm bảo tính bền vững của môi trường, thu hẹp khoảng cách giữa các vùng khác nhau [22]

Trong cuốn “Tổ chức lãnh thổ KT - XH: một số vấn đề lý luận và ứng dụng” và cuốn “Bàn về phát triển kinh tế (nghiên cứu con đường dẫn tới giàu sang)”, các tác giả

đã giới thiệu một cách tổng quát các vấn đề cơ bản về tổ chức không gian KT - XH

Trong đó, quan trọng nhất là đã xác định được nội dung, các hình thức TCLTKT, đưa ra các giải pháp để đảm bảo phương án tổ chức không gian được thực hiện và phân tích các mối quan hệ giữa tổ chức không gian KT - XH với các vấn đề như: phát triển cơ cấu lãnh thổ, xóa bỏ những vùng nghèo, lạc hậu, CNH - HĐH đất nước, bảo vệ môi trường và đẩy mạnh sự tham gia vào phân công lao động quốc tế [46]

Cơ sở lý luận và thực tiễn về TCLTKT nói chung và ở Việt Nam nói riêng cũng

đã được một số nhà khoa học trường Đại học Sư phạm Hà Nội trình bày trong các giáo

trình như Địa lý KT - XH đại cương, Địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam [13]

Nhiều đề tài nghiên cứu khoa học về TCLTKT cũng đã thực hiện ở quy mô cấp vùng, liên tỉnh…, xác định các trung tâm kinh tế - cực phát triển và các tuyến trục kinh

tế Một số đề tài luận văn thạc sĩ đã nghiên cứu như: Luận văn Th.S Hoàng Thị Huệ, năm 2014: Nghiên cứu một cách hệ thống về “Tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Hà Giang”

nhằm đánh giá khách quan nguồn lực, thực trạng TCLTKT, làm cơ sở để TCLTKT hợp lý hơn, đảm bảo an ninh quốc phòng khu vực biên giới, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH - HĐH), sớm trở thành một tỉnh phát triển khá là nhiệm vụ cấp thiết và có ý nghĩa cả về mặt lý luận

và thực tiễn Đề tài “Nghiên cứu tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang” của Th.S

Nguyễn Thị Loan, năm 2011: đề tài nghiên cứu tổng hợp những vấn đề cơ bản về lí luận và thực tiễn của tổ chức lãnh thổ kinh tế và vận dụng chúng vào việc nghiên cứu

tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang Đề xuất các giải pháp nhằm khai thác và phát huy hiệu quả các nguồn lực, thúc đẩy kinh tế tỉnh Bắc Giang để phát triển nhanh và

bền vững thời kì 2010 - 2020…

2.3 Ở tỉnh Bắc Ninh

Đối với tỉnh Bắc Ninh cũng cố một tác giả viết về địa lí KT-XH của tỉnh, trong

đó có liên quan ít nhiều đến vấn đề TCLT của các ngành kinh tế của tỉnh VD, GS.TS

Lê Thông đã giới thiệu tương đối cụ thể về tự nhiên, kinh tế, xã hội của Bắc Ninh

Trang 16

trong cuốn “Địa lí các tỉnh và thành phố Việt Nam”

Trong “Báo cáo tổng hợp rà soát, điều chỉnh qui hoạch tổng thể phát triển

KT-XH tỉnh Bắc Ninh 2020-2030” của UBND Bắc Ninh hay các báo cáo, thống kê khác

của Tỉnh Ủy, UBND Bắc Ninh, Sở NN&PTNT, Sở KH&ĐT Bắc Ninh các vấn đề phát triển KTXH của Bắc Ninh, và các vấn đề liên quan TCLT của các ngành kinh tế của tỉnh

Việc nghiên cứu đề tài về tổ chức không gian lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Ninh được hỗ trợ bởi nguồn tài liệu rât có giá trị Đó là các quyết định của Chính phủ về:

Hội thảo “Quy hoạch Vùng tỉnh Bắc Ninh đến năm 2030 - tầm nhìn 2050” Quyết định 1831-QD-TTg năm 2013 Quyết định phê duyệt: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh

tế - Xã hội tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020, định hướng đến năm 2030” [20]

Đặc biệt gốc giá trị về nội dung nghiên cứu đề tài là Báo cáo của UBND Tỉnh

Bắc Ninh vừa chính thức công bố đồ án: “Quy hoạch chung đô thị Bắc Ninh đến năm

2030, tầm nhìn năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1560/2015/QĐ-TTg” [20]

Tuy nhiên, đối với Bắc Ninh, từ trước đến nay chưa có tài liệu, báo cáo, công trình nào viết riêng, nghiên cứu sâu về cả vấn đề TCLT kinh tế của tỉnh Vì thế đề tài

nghiên cứu “Tổ chức không gian lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Ninh” của tác giả đã kế thừa

một phần từ các công trình nghiên cứu trên, đồng thời bổ sung, tổng hợp nhiều số liệu, chiến lược, báo cáo, mục tiêu, để có một cái nhìn tổng quát nhất về tổ chức không gian lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Ninh

Dựa trên những kết quả của các công trình nghiên cứu về TCLTKT trên thế giới

và ở Việt Nam cũng như tỉnh Bắc Ninh, đề tài đã kế thừa hệ thống cơ sở lí luận và thực tiễn về TCLTKT Từ đó, vận dụng, bổ sung, cập nhật những vấn đề về TCLTKT, làm

cơ sở cho việc nghiên cứu, đánh giá một cách đầy đủ, hệ thống về TCLTKT trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu

Mục tiêu của đề tài là phân tích các nhân tố ảnh hưởng và thực trạng TCLTKT theo ngành, theo không gian ở tỉnh Bắc Ninh, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác và phát huy hiệu quả các nguồn lực, thúc đẩy kinh tế tỉnh Bắc Ninh để phát

Trang 17

- Đánh giá các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến TCLTKT tỉnh Bắc Ninh

- Phân tích thực trạng TCLTKT tỉnh Bắc Ninh theo ngành và theo không gian trên địa bàn tỉnh

- Đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm phát triển và hoàn thiện các hình thức TCLTKT tỉnh Bắc Ninh một cách hợp lý, hiệu quả và bền vững

4 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Luận văn đánh giá các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến TCLTKT

tỉnh Bắc Ninh và một số hình thức TCLTKT tiêu biểu của tỉnh theo ngành: đề tài phân tích một số hình thức tiêu biểu của tổ chức lãnh thổ (TCLT) các ngành nông nghiệp,

CN, dịch vụ Trong đó, về CN, luận văn kế thừa và làm rõ thêm về khu CN; về nông nghiệp, hình thức được lựa chọn phân tích là trang trại; trong dịch vụ, TCLT du lịch được xác định là trọng tâm nghiên cứu với các hình thức: điểm du lịch, khu du lịch, đô thị du lịch, tuyến du lịch, trung tâm du lịch

- Về không gian: Đề tài nghiên cứu trong phạm vi toàn bộ lãnh thổ tỉnh Bắc

Ninh bao gồm 1 thành phố Bắc Ninh, 1 thị xã Từ Sơn và 6 huyện Gia Bình, Lương Tài, Quế Võ, Thuận Thành, Tiên Du, Yên Phong, trong đó có chú ý so sánh với vùng Đồng bằng Sông Hồng và cả nước

- Về thời gian: Đề tài tập trung phân tích đánh giá TCLTKT tỉnh Bắc Ninh 1997

- 2017 Định hướng, tầm nhìn đến năm 2030

5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu của đề tài

5.1 Các quan điểm nghiên cứu

5.1.1 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ

Mọi sự vật hiện tượng đều tồn tại trong một không gian nhất định và các hình thức TCLTKT không phải được tổ chức một cách độc lập, riêng rẽ mà chúng có sự gắn kết lẫn nhau, chịu sự chi phối của các quy luật phát triển, các nguồn lực phát triển trên

Trang 18

một lãnh thổ nhất định Do đó, khi nghiên cứu phải đặt chúng trong thể tổng hợp lãnh thổ mới thấy hết được hiệu quả cũng như tác động tương hỗ qua lại giữa các hình thức này

5.1.2 Quan điểm hệ thống

Mỗi hình thức TCLTKT là một bộ phận của cấp lãnh thổ chứa đựng nó Trong mỗi hình thức TCLTKT lại có các cấp tổ chức từ lớn đến nhỏ, tạo nên một hệ thống hoàn chỉnh với những mối quan hệ đa dạng Khi nghiên cứu phải đặt trong hệ thống ấy

để thấy được đặc thù cũng như sự so sánh hiệu quả và cách thức tổ chức của từng hình thức tổ chức Từ đó rút ra được những kinh nghiệm cần thiết trong TCLTKT để quá trình này mang lại những hiệu quả cao hơn

5.1.3 Quan điểm lịch sử, viễn cảnh

Các hình thức TCLTKT hình thành và phát triển chịu sự tác động của các nhân tố quá khứ, hiện tại cũng như tương lai Khi nghiên cứu phải đặt chúng trong thế vận động

và phát triển không ngừng Từ thực trạng phát triển để có thể dự báo, đề xuất các phương

án phù hợp với sự phát triển của tương lai Vận dụng quan điểm này vào nghiên cứu vấn

đề nhằm đảm bảo tính thích ứng lâu dài của các hình thức TCKGLTKT

5.1.4 Quan điểm phát triển bền vững

Phát triển kinh tế phải gắn với sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường sinh thái mới đảm bảo phát triển bền vững TCLTKT cũng phải đảm bảo nguyên tắc

đó Điều này đồng nghĩa với việc TCLTKT phải đặt ra kế hoạch và cơ chế quản lý phù hợp với việc khai thác các nguồn lực phát triển (bao gồm cả các nguồn lực tự nhiên và

KT - XH) đảm bảo cho các đối tượng này không bị suy thoái cả về số lượng cũng như chất lượng Do đó, khi xây dựng chỉ tiêu đánh giá TCLTKT, tác giả cũng chú trọng đến tính hiệu quả dựa trên việc khai thác hợp lý các nguồn lực phát triển và bảo vệ môi trường

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp thu thập, tổng hợp, xử lý phân tích tài liệu

Có rất nhiều công trình khoa học liên quan đến chủ đề nghiên cứu của tác giả, đây là những nguồn tư liệu quý giá làm tài liệu tham khảo quan trọng cho việc nghiên cứu vấn đề Để có được những tài liệu đó, tác giả đã tự thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, như: từ các báo cáo, thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các cơ quan ban ngành

Trang 19

ở Tỉnh Bắc Ninh: Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Công Thương, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở Văn hóa, thể thao và du lịch, Chi cục Thống Kê, ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh, UBND các huyện Quế Võ, Thuận Thành, Lương Tài, Gia Bình, Yên Phong, Tiên Du thành phố Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn; từ thầy cô giáo, các đồng nghiệp;

từ sách, báo, giáo trình; từ mạng Internet

Trên cơ sở các tài liệu thu thập được, tác giả đã tổng hợp, xử lý và phân tích các nội dung liên quan đến vấn đề nghiên cứu của mình theo hướng kế thừa có chọn lọc và phát triển mới

5.2.2 Phương pháp so sánh

Trong nghiên cứu địa lý nói chung, nghiên cứu TCKGLTKT nói riêng, việc sử dụng phương pháp so sánh là rất quan trọng, nó cho phép người nghiên cứu có những nhận định đúng đắn khi đặt các đối tượng, lãnh thổ nghiên cứu trong một thể tổng hợp (không gian) ở các cấp khác nhau (có điều kiện tương đồng), đồng thời có thể thấy được sự biến đổi phát triển theo thời gian, từ đó có được sự dự báo về xu hướng phát triển của đối tượng nghiên cứu

5.2.3 Phương pháp chuyên gia

Phương pháp này được tác giả sử dụng để làm rõ một số vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu mà trong các tài liệu thu thập được không có hoặc có nhưng chưa

rõ ràng, đầy đủ và thiếu cập nhật Các đối tượng tác giả phỏng vấn bao gồm: các cán

bộ chuyên trách ở các phòng ban, nông dân, công nhân, khách du lịch

Đồng thời, tác giả cũng đã trao đổi và tiếp nhận sự góp ý từ các nhà khoa học

am hiểu về lĩnh vực TCLTKT và các vấn đề liên quan Đặc biệt là từ các chuyên gia của Sở Kế hoạch và Đầu tư Bắc Ninh, các giảng viên chuyên ngành địa lý KT - XH của Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên Các vấn đề được tác giả đã lấy ý kiến bao gồm: Cơ sở lí luận của TCLTKT, quản lí tài nguyên thiên nhiên trong phát triển kinh

tế, phát triển các hình thức TCLTKT (thực tiễn và kinh nghiệm), phát triển liên ngành, liên lãnh thổ, một số định hướng và giải pháp phát triển TCLTKT Những kinh nghiệm của các chuyên gia trong lĩnh vực này đã góp phần làm sáng tỏ và hoàn thiện các nội nghiên cứu của đề tài

5.2.4 Phương pháp thực địa

Trang 20

Để phục vụ cho công tác nghiên cứu đề tài, tác giả đã tiến hành các đợt thực tế nhằm thu thập bổ sung thông tin, tài liệu và kiểm chứng những nhận định trong các báo cáo cũng như thấy được thực tế nguồn lực, mức độ khai thác nguồn lực và phát triển kinh tế ở một số địa bàn của tỉnh Bắc Ninh Thực tế ở phạm vi toàn bộ lãnh thổ tỉnh Bắc Ninh bao gồm 1 thành phố Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn và 6 huyện Gia Bình, Lương Tài, Quế Võ, Thuận Thành, Tiên Du, Yên Phong, khảo sát thực địa ở các khu công nghiệp (KCN) trên địa bàn toàn tỉnh như: KCN Quế Võ I, II, III, KCN Yên Phong, KCN Tiên Sơn, KCN Yên Phong 2, Khu công nghiệp Đại Kim, Khu công nghiệp Đại Đồng - Hoàn Sơn, KCN HANAKA, KCN Nam Sơn - Hạp Lĩnh, KCN Thuận Thành I,

II, III, KCN Gia Bình I -II, KCN Việt Nam - Singapore (VSIP)… Khảo sát thực tế tại các vùng nông nghiệp: trang trại, gia trại trên địa bàn toàn tỉnh để thấy rõ được sự phân hóa không gian các ngãnh kinh tế với những điều kiện phát triển của các ngành

5.2.5 Phương pháp bản đồ và hệ thông tin địa lý (GIS)

Để phục vụ cho việc phân tích thông tin và mô hình hóa không gian đối với các đối tượng trên lãnh thổ nghiên cứu, tác giả đã sử dụng các phần mềm Map Info và Arc View Nội dung và đối tượng được tác giả đưa lên bản đồ bao gồm: các đơn vị hành chính, tài nguyên thiên nhiên, dân cư và nguồn lao động, cơ sở hạ tầng, thực trạng phát triển các hình thức TCLTKT phổ biến, mô hình TCLTKT Bắc Ninh trong tương lai

5.2.6 Phương pháp dự báo

Trong việc xây dựng phương hướng phát triển TCLTKT Bắc Ninh, tác giả đã

tham khảo và sử dụng một cách có chọn lọc một số kết quả từ Trong “Báo cáo tổng

hợp rà soát, điều chỉnh qui hoạch tổng thể phát triển KT-XH tỉnh Bắc Ninh 2020-2030”

của UBND Bắc Ninh hay các báo cáo, thống kê khác của Tỉnh Ủy, UBND Bắc Ninh,

Sở NN&PTNT, Sở KH&ĐT Bắc Ninh các vấn đề phát triển KTXH của Bắc Ninh, và các vấn đề liên quan TCLT của các ngành kinh tế của tỉnh Các quyết định của Chính

phủ về: “Quy hoạch Vùng tỉnh Bắc Ninh đến năm 2030 - tầm nhìn 2050” Quyết định 1831-QD-TTg năm 2013 Quyết định phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế

- Xã hội tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020, định hướng đến năm 2030” Đồng thời sử dụng

phép ngoại suy trên cơ sở phân tích thực trạng để đưa ra được những dự báo có tính khả thi

Trang 21

- Đánh giá được các nhân tố ảnh hưởng đến TCLTKT tỉnh Bắc Ninh Xác định

rõ các thế mạnh và những hạn chế hay những lợi thế so sánh giữa tỉnh Bắc Ninh với các địa phương khác

- Phân tích được hiện trạng TCLTKT tỉnh Bắc Ninh, từ đó đánh giá những thế mạnh và những hạn chế cần khắc phục

- Phân tích, đánh giá được một số hình thức TCLTKT tỉnh Bắc Ninh, trong đó vận dụng hệ thống chỉ tiêu để làm rõ thực trạng của một số hình thức theo góc độ ngành

và theo không gian (KCN, vùng CN, điểm CN, dải CN, trung tâm kinh tế, vùng kinh tế) trong giai đoạn 1997 - 2017; định hướng tổ chức phát triển không gian lãnh thổ đến

2030

- Đề xuất được một số giải pháp phát triển kinh tế cho tỉnh Bắc Ninh đến 2030

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về tổ chức lãnh thổ kinh tế

Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng và thực trạng các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Ninh

Chương 3: Định hướng và giải pháp tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Ninh đến năm 2030

Trang 22

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ KINH TẾ 1.1 Cơ sở lí luận về tổ chức lãnh thổ kinh tế

1.1.1 Khái niệm, bản chất của tổ chức lãnh thổ kinh tế

Tổ chức lãnh thổ, hiểu theo cách chung nhất, là sự kiến thiết lãnh thổ Trong một lãnh thổ có rất nhiều thành phần (bộ phận) về tự nhiên, dân cư, kinh tế - xã hội… Vấn đề chính là phải tổ chức như thế nào để đạt được mục tiêu phát triển KT - XH TCLT được hiểu là sự sắp xếp các thành phần (đã hoặc dự kiến sẽ có) trong mối liên

hệ đa ngành, đa lãnh thổ ở một vùng nhằm sử dụng hợp lí các nguồn lực để đath hiệu quả cao nhất về mặt kinh tế - xã hội, môi trường và phát triển bền vững

Tổ chức ở đây là việc sắp xếp, bố trí các thành phần của hệ thống lãnh thổ (các ngành hay lĩnh vực kinh tế, cơ sở hạ tầng, các điểm dân cư…) trong tổng thể các mối quan hệ đa chiều Với cách hiểu như trên, một số nhà khoa học đã coi tổ chức lãnh thổ (tổ chức không gian) như là nghệ thuật sử dụng lãnh thổ đảm bảo đất nước phát triển thành công và hiệu quả Hơn nữa, việc tổ chức lãnh thổ được triển khai trên một lãnh thổ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và chủ thể tổ chức là chủ thể quản lý công tác phát triển vùng (Ngô Doãn Vịnh, 2003)[46]

Khái niệm thuật ngữ “tổ chức lãnh thổ” hay “tổ chức không gian” bắt nguồn từ

cơ sở lí thuyết kinh tế của Adam Smith và Ricardo, từ các công trình nghiên cứu của G.Thunen, A.Weber, W.Christaller… sau đó được phát triển về lí luận và được ứng dụng vào thực tiễn từ giữa thế kỉ XIX Thực tế cho thấy, trong lĩnh vực này, các nước trên thế giới sử dụng những thuật ngữ không giống nhau

Đối với lĩnh vực nghiên cứu khoa học, bản chất của tổ chức lãnh thổ kinh tế được

các nhà khoa học Liên Xô trước đây sử dụng thuật ngữ Phân bố lực lượng sản xuất Nền

tảng cơ sở lý luận của phân bố lực lượng sản xuất là lý thuyết về “Chu trình sản xuất - năng lượng” của N.N Kôlôxôpky và “Thể tổng hợp lãnh thổ sản xuất” của các nhà khoa

học Xô Viết Theo họ, phân bố lực lượng sản xuất là sự sắp xếp, bố trí và phối hợp các

đối tượng hay thực thể vật chất cụ thể (đó là các hệ thống sản xuất, hệ thống tự nhiên, hệ thống dân cư) trong một lãnh thổ xác định, nhằm sử dụng một cách hợp lý các tiềm năng

tự nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật của lãnh thổ để đạt hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường cao và nâng cao mức sống dân cư của lãnh thổ đó [35]

Trang 23

Ở phương Tây, các nhà khoa học của các quốc gia phát triển lại tiếp cận vấn đề này với một cách gọi khác: “Tổ chức không gian kinh tế - xã hội” Khái niệm này ra đời từ cuối thế kỉ XIX, nó được xem như nghệ thuật kiến thiết và sử dụng lãnh thổ một cách đúng đắn và có hiệu quả Nhiệm vụ chủ yếu của tổ chức không gian là xác định được sức chứa của lãnh thổ; tìm kiếm mối quan hệ tỉ lệ hợp lí và liên hệ chặt chẽ trong phát triển KT-XH giữa các ngành và giữa các lãnh thổ nhỏ hay tiểu vùng trong một vùng, cũng như đảm bảo mối quan hệ giữa các vùng trong một quốc gia có tính tới mối quan hệ giữa các quốc gia với nhau Nhờ có sự sắp xếp có trật tự giữa các đối tượng trong lãnh thổ mà tạo ra một giá trị lớn hơn, làm cho sự phát triển hài hòa và bền vững hơn [35]

Xét dưới góc độ Địa lý học, TCLT được xem như là một quy hoạch có chủ ý hướng tới sự công bằng về mặt không gian giữa trung tâm và ngoại vi, giữa các cực và các không gian ảnh hưởng, nhằm giải quyết ổn định công ăn việc làm, cân đối giữa quần cư nông thôn và quần cư thành thị, bảo vệ môi trường sống…

Như vậy, TCLT là tổ chức các hoạt động kinh tế, xã hội và cả môi trường trên

bề mặt lãnh thổ một cách đúng đắn, có căn cứ khoa học và mang lại hiệu quả cao Khái niệm về TCLT bao hàm 3 nội dung chính:

- Tổ chức: là việc sắp xếp các đối tượng (các xí nghiệp, công trình, các ngành, lĩnh vực, các điểm dân cư và kết cấu hạ tầng ) trong tổng thể các mối quan hệ đa chiều

- Việc tổ chức được tiến hành trên một lãnh thổ xác định theo yêu cầu của phát triển KT - XH

- Chủ thể tổ chức cũng là chủ thể quản lý phát triển vùng Đó là những cơ quan Nhà nước được quy định trong Hiến pháp và luật pháp hiện hành của quốc gia

Ở Việt Nam, nhiều ý kiến cho rằng tổ chức lãnh thổ và tổ chức không gian kinh

tế - xã hội được xem là như nhau và thuật ngữ TCLT được sử dụng nhiều hơn cả Từ

những quan điểm nêu trên, có thể hiểu “Tổ chức lãnh thổ kinh tế là sự sắp xếp và phối

hợp các đối tượng trong mối quan hệ liên ngành, liên vùng nhằm sử dụng một cách hợp lý các tiềm năng tự nhiên, lao động, vị trí địa lý kinh tế, chính trị và cơ sở vật chất

kỹ thuật đã và sẽ tạo dựng để đem lại hiệu quả KT-XH cao và nâng cao mức sống dân

cư, đảm bảo sự phát triển bền vững của một lãnh thổ” [35]

Trang 24

Có hai hình thức TCLTKT:

- TCLTKT theo các đối tượng quản lý và xây dựng kế hoạch phát triển của Nhà nước bao gồm: vùng kinh tế, các đơn vị hành chính (tỉnh, các thành phố tương đương cấp tỉnh, huyện, thị…);

- TCLTKT theo các khu vực đặc biệt là các đối tượng trọng điểm đầu tư, gồm có: theo không gian (vùng kinh tế trọng điểm, hành lang kinh tế, tam giác tăng trưởng, khu kinh tế, khu CN, khu du lịch, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên…), theo ngành (CN, NN, DV)

1.1.2 Nguyên tắc, nội dung và nhiệm vụ chủ yếu của TCLTKT

1.1.2.1 Những nguyên tắc chủ yếu của TCLTKT

- TCLTKT phải tạo ra một trật tự hợp lí có tính tới khả năng của tài nguyên và yêu cầu của thị trường, đảm bảo lợi ích của cộng đồng và đạt hiệu quả KT - XH cao

Khi TCLTKT phải xem xét tới các nguyên tắc phân bố sức sản xuất tạo ra một trật tự cho một hệ thống, đảm bảo phát huy tốt nhất các điều kiện của lãnh thổ để lựa chọn phương án phân bố từng ngành và lĩnh vực Mặt khác TCLTKT phải tính tới nhu cầu của thị trường để giảm thiểu chi phí, tối đa hiệu quả

Tổ chức lãnh thổ kinh tế phải thỏa mãn yêu cầu về khả năng tài nguyên và yêu cầu của thị trường nhằm đem lại lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường cho con người Thị trường có ý nghĩa quyết định đến sự lựa chọn địa điểm phân bố cơ sở sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư và quyết định đến hiệu quả và sự thành công của tổ chức lãnh thổ Tốc độ tăng trưởng, năng suất lao động, tiết kiệm đầu tư, sự bền vững về xã hội và môi trường… là thước đo tính hợp lí, tính hiệu quả của tổ chức lãnh thổ

- TCLTKT phải đảm bảo sự phát triển hài hòa và tương tác giữa các ngành, lĩnh vực và giữa các lãnh thổ

Trong một lãnh thổ, hài hòa là phát triển ngành này, tiểu lãnh thổ này phải tính tới những điều kiện để phát triển các ngành khác, các tiểu lãnh thổ khác và đảm bảo cho bản thân ngành đó, lãnh thổ đó cùng các ngành khác, lãnh thổ khác tồn tại và phát triển Đảm bảo được điều này sẽ tạo ra sự phát triển nhịp nhàng cho lãnh thổ, đây là điều rất quan trọng đối với việc tổ chức lãnh thổ kinh tế

Tương tác là sự kết hợp và trao đổi lẫn nhau giữa các ngành, lĩnh vực, tiểu lãnh thổ này với ngành, lĩnh vực, tiểu lãnh thổ khác để tạo ra sức mạnh tổng hợp cho lãnh thổ;

Trang 25

bổ sung giữa nơi thừa cho nơi thiếu về một mặt nào đó trong một lãnh thổ, làm cho nơi thừa không lãng phí, nơi thiếu thì có điều kiện để bù đắp cái mình thiếu Đảm bảo được

sự tương tác chính là điều kiện cần thiết để có được sự phát triển nhịp nhàng

- TCLTKT đảm bảo sự phù hợp với trình độ nguồn nhân lực và trình độ khoa học công nghệ Trình độ của những người hoạch định chính sách, của những người quản lí lãnh thổ cũng như trình độ mọi mặt của địa phương phải được tính đến trong TCLTKT Trình độ nguồn nhân lực và trình độ khoa học kĩ thuật có ý nghĩa quan trọng trong việc lựa chọn hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế

1.1.2.2 Nội dung của tổ chức lãnh thổ kinh tế

Ở nước ta, tiếp cận nội dung của tổ chức lãnh thổ kinh tế theo các bước và với những nội dung chủ yếu sau đây:

Bước 1: Kiểm kê và đánh giá các yếu tố, điều kiện của lãnh thổ và các đối tượng phải tổ chức trong phạm vi lãnh thổ được nghiên cứu

Bước 2: Đánh giá hiện trạng lãnh thổ có so sánh với những lãnh thổ tương tự, phát hiện những bất hợp lí, những xu thế có tính quy luật đối với tổ chức lãnh thổ được nghiên cứu

Bước 3: Giả định các phương án tổ chức không gian và lựa chọn phương án hiệu quả nhất

Bước 4: Tìm khả năng đáp ứng tài chính, xác định các giai đoạn phát triển lãnh thổ và kiến nghị phương án quản lí lãnh thổ

Quá trình nghiên cứu tổ chức lãnh thổ kinh tế đòi hỏi phải có sự phân tích các mặt, các khía cạnh một các kĩ lưỡng, khoa học Việc phân tích phải tuân thủ yêu cầu của tính khẳng định, tính giả định, tính liên ngành, tính liên vùng, tính đa phương án

và tính thỏa thuận

Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, tổ chức lãnh thổ kinh tế có hai nội dung cơ bản (theo Viện Chiến lược phát triển - Bộ kế hoạch và Đầu tư): Một là:

Dự báo về mặt phát triển (dự báo phát triển đối với các ngành, lĩnh vực trên phạm

vi lãnh thổ nghiên cứu); Hai là: Luận chứng các phương án tổ chức kinh tế - xã hội theo lãnh thổ

Trang 26

Hình 1.1: Sơ đồ tiếp cận nội dung của lãnh thổ kinh tế - xã hội

(Nguồn: Dẫn theo Ngô Doãn Vịnh, 2003, Viện Chiến lược phát triển)

1.1.2.3 Nhiệm vụ chủ yếu của tổ chức lãnh thổ kinh tế

TCLTKT có hai nhiệm vụ cơ bản là:

- Thứ nhất, TCLTKT dự báo về mặt phát triển (mục tiêu, phương hướng phát triển theo quan điểm thống nhất đối với các ngành, lĩnh vực trên phạm vi lãnh thổ nghiên cứu - nghĩa là sẽ sản xuất gì, quy mô bao nhiêu, cơ cấu thế nào)

- Thứ hai, TCLTKT đưa ra các phương án kiến thiết lãnh thổ (dự kiến phân bố

ở đâu cho có hiệu quả nhất) - tức là lựa chọn các hình thức TCLTKT cho tương lai

- XH tương ứng

Dự báo các phương án thiết kế lãnh thổ kinh

tế - xã hội

Các yếu tố bên trong lãnh thổ

Hiện trạng tổ chức kinh tế - xã hội

lãnh thổ

Các yếu tố bên ngoài lãnh thổ

Trang 27

- TCLTKT là sự “sắp xếp” và “phối hợp” các đối tượng trong mối quan hệ liên ngành, liên vùng nhằm sử dụng một cách hợp lí các tiềm năng tự nhiên, lao động, vị trí địa lí kinh tế, chính trị và cơ sở vật chất kĩ thuật đã và sẽ tạo dựng để đem lại hiệu quả KT- XH cao và nâng cao mức sống dân cư, đảm bảo sự phát triển bền vững của một lãnh thổ

b Tổ chức lãnh thổ xã hội

Tổ chức lãnh thổ xã hội chính là việc tổ chức các hoạt động xã hội ở lãnh thổ xác định một cách khoa học Các điểm dân cư và các hoạt động kinh tế, xã hội của người dân luôn luôn là đối tượng chủ yếu của việc tổ chức lãnh thổ xã hội

Hình 1.2 Các loại hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế

1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ kinh tế

1.1.4.1 Các yếu tố bên trong lãnh thổ

a Vị trí địa lí, tài nguyên thiên nhiên

Vị trí địa lí là nhân tố đặc biệt quan trọng, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế thì yếu tố vị trí địa lí càng được đánh giá cao

TCLTKT theo không gian

Tổ chức lãnh thổ xã hội

Trang 28

khi lựa chọn địa bàn để phát triển các lãnh thổ trọng điểm, các cực tăng trưởng và phát triển của mỗi lãnh thổ

Tạo ra những lợi thế (hạn chế) cho việc huy động các nguồn lực cho TCLTKT, tạo ra các mối liên hệ sản xuất, trao đổi sản phẩm, tiếp thu KH - CN, mở rộng quan hệ kinh tế Trong xu thế hội nhập, vị trí địa lí được đánh giá cao khi lựa chọn vị trí để xác lập các “cực” phát triển và tăng trưởng nhằm thúc đẩy sự hình thành các hình thức TCLT kinh tế điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên Là nhân tố tiền đề, nền tảng của TCLT kinh tế, không có điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên cần thiết thì không thể có hoạt động kinh tế

Những đặc trưng về điều kiện tài nguyên, nhất là tài nguyên thiên nhiên (đất, nước, khoáng sản, sinh vật, biển ) của lãnh thổ quy định đặc điểm lãnh thổ, cường độ và hướng

di chuyển các mối liên hệ và từ đó quy định việc lựa chọn các hình thức TCLT

b Dân cư - nguồn lao động

Con người vừa là chủ thể của các quá trình sản xuất, tạo ra của cải phục vụ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng (lực lượng lao động), lại vừa là đối tượng tiêu thụ sản phẩm (thị trường tiêu thụ) Dưới góc độ lực lượng sản xuất, lực lượng lao động có ý nghĩa quan trọng đến TCLT kinh tế ở từng lãnh thổ nhất định Quy mô và gia tăng dân số, phân bố dân cư, chất lượng dân cư và các dòng di dân quy định số lượng và chất lượng lao động, từ đó ảnh hưởng tới TCLT Dưới góc độ thị trường tiêu thụ, quy mô và cơ cấu dân số, truyền thống và tập quán tiêu dùng tác động trực tiếp, quy định đầu ra sản phẩm, ảnh hưởng đến vị trí hình thức TCLT

Dân cư và mật độ dân cư có ảnh hưởng lớn đến tổ chức lãnh thổ kinh tế Những nơi có mật độ dân cư đông đúc sẽ có nguồn lao động dồi dào và ngược lại, những nơi dân cư thưa thớt nguồn lao động sẽ bị hạn chế

c Kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật

- Kết cấu hạ tầng: gồm mạng lưới đường giao thông, hệ thống cấp điện, nước,

xử lí chất thải, hệ thống thông tin liên lạc có ảnh hưởng rõ rệt đến việc hình thành và phát triển các hình thức TCLT kinh tế, tạo khả năng hấp dẫn đầu tư, mức độ tập trung sản xuất, hiệu quả khai thác lãnh thổ

- Cơ sở vật chất kỹ thuật: là nền tảng cho phát triển và TCLT kinh tế Nơi nào

có cơ sở vật chất kỹ thuật tốt (Ví dụ các trạm giống, thú y, hệ thống thủy nông đối

Trang 29

với TCLT nông nghiệp; các cơ sở lưu trú đối với du lịch; hệ thống kho chứa, dịch vụ cung ứng nguyên, vật liệu đối với TCLT công nghiệp ) thì TCLT kinh tế sẽ đạt hiệu quả cao Ngược lại, nếu cơ sở vật chất kỹ thuật thiếu hoặc kém phát triển sẽ khó hình thành và thúc đẩy các hình thức TCLTKT

Hệ thống mạng lưới đường giao thông , hệ thống thông tin, mạng lưới cung cấp điện nước, hệ thống xử lý chất thải … ảnh hưởng rõ rệt đến việc hình thành và phát triển các hình thức TCLTKT , đến hệ thống cơ cấu lãnh thổ kinh tế : góp phần quyết định sự hấp dẫn đầu tư, mức độ tập trung sản xuất, hiệu quả khai thác lãnh thổ, quy mô khai thác lãnh thổ (tác động lan tỏa), sự phát triển của các đô thị…Thực tiễn cho thấy,

ở đâu có các điều kiện này tốt thì ở đấy càng thu hút được đầu tư và khả năng hình thành và phát triển các hình thức TCLTKT càng cao

d Khoa học - công nghệ

Công nghệ là biện pháp để con người thực hiện có hiệu quả các quá trình sản xuất kinh doanh, tạo ra của cải vật chất, đáp ứng nhu cầu của toàn xã hội Áp dụng khoa học công nghệ mới tạo ra những thành quả lao động mang tính đột phá, nhảy vọt Những tiến bộ khoa học công nghệ sẽ làm thay đổi khả năng khai thác lãnh thổ cả về chiều rộng và chiều sâu Những quy trình khai thác và sản xuất dựa trên công nghệ hiện đại sẽ làm giảm thiểu sự lãng phí tài nguyên và ô nhiễm môi trường, tiết kiệm chi phí sản xuất và tăng khả năng tập trung hóa sản xuất trong một không gian nhất định

Tiến bộ khoa học - công nghệ có vai trò quan trọng giảm thiểu mức độ phụ thuộc của phát triển lãnh thổ đối với tài nguyên không phải của lãnh thổ Do tiến bộ khoa học

- công nghệ có thể tiết kiệm được các yếu tố đầu vào nâng cao giá trị của các sản phẩm đầu ra Tiến bộ khoa học - công nghệ không chỉ làm tăng tổng sản lượng kinh tế, làm sâu sắc thêm phân công lao động xã hội, đa dạng ngành nghề và nâng cao năng suất lao động, mà còn tạo ra những tiền đề cho thay đổi cơ cấu kinh tế

Ảnh hưởng của khoa học và công nghệ có tính chất quyết định đến tổ chức lãnh thổ kinh tế Đối với những quốc gia phát triển, công nghệ chiếm vị trí hàng đầu trong việc gia tăng GDP, công nghệ giữ vai trò chủ đạo đối với phát triển Tiềm lực khoa học

- công nghệ là yếu tố quan trọng để thực thi các phương án tổ chức lãnh thổ Tiến bộ công nghệ đã tạo khả năng sử dụng các nguồn tài nguyên theo cả chiều rộng và chiều

Trang 30

sâu; sự phát triển công nghệ khai thác và sử dụng tổng hợp tài nguyên có thể nâng cao

tỉ lệ hữu ích của tài nguyên, đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn

e Đường lối chính sách

Là nhân tố gốc tạo ra các phản ứng dây chuyền tác động đến phân bố các cơ sở sản xuất, cơ sở hạ tầng của lãnh thổ Đường lối chính sách định hướng phát triển lãnh thổ trong hệ thống các hình thức TCLTKT Đóng vai trò quan trọng đối với sự thành công hay thất bại của TCLTKT Sự điều hành vĩ mô của Nhà nước với các chính sách,

cơ chế, biện pháp đúng đắn sẽ thúc đẩy các hình thức TCLT KT phát triển Ngược lại, nếu đường lối chính sách không phù hợp sẽ kìm hãm, thậm chí đẩy lùi quá trình phát triển của các hình thức TCLT KT

f Nguồn vốn đầu tư

Nếu nguồn vốn đầu tư huy động từ bên trong lãnh thổ đảm bảo sự chủ động đầu

tư cho phát triển Song do khả năng tích lũy có hạn, quy mô nền kinh tế còn nhỏ bé thì thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài lãnh thổ là quan trọng và rất cần thiết Nó không chỉ giải quyết khó khăn về nguồn vốn tài chính, mà còn phát triển cơ sở hạ tầng, nâng cao trình độ quản lí và tiếp thu khoa học công nghệ

Các dòng vốn đầu tư và công nghệ từ bên ngoài cũng ảnh hưởng ngày càng rõ rệt, đặc biệt đối với các quốc gia, các vùng lãnh thổ kém phát triển, nó đã góp phần làm thay đổi hình thức, nội dung của TCLTKT Sự thu hút nguồn vốn và công nghệ phụ thuốc rất nhiều vào cơ chế chính sách của Nhà nước trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài

và thương mại quốc tế

g Trình độ phát triển của nền kinh tế:

Trình độ phát triển kinh tế thể hiện qua nhiều yếu tố, như: quy mô nền kinh tế;

cơ cấu kinh tế; trình độ của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất; khả năng áp dụng khoa học kĩ thuật trong sản xuất, trong quản lí và trong kinh doanh…Đây là những yếu

tố ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển của một lãnh thổ, bởi vì trình độ phát triển của nền kinh tế là nhân tố chứng tỏ khả năng về phương tiện vật chất cho tổ chức lãnh thổ và cũng có điều kiện tạo ra nhu cầu mới lớn hơn, cao hơn Mặt khác, nó là cơ sở, tiền đề và là điều kiện để tái tổ chức lãnh thổ kinh tế

1.1.4.2 Các yếu tố bên ngoài lãnh thổ

Trang 31

Trong cơ chế kinh tế thị trường và xu thế toàn cầu hóa mạnh mẽ như hiện nay, thì các yếu tố bên ngoài tác động đến sự phát triển hay việc tổ chức kinh tế ở một lãnh thổ là rất mạnh mẽ, trong đó phải kể đến các nhóm yếu tố sau:

a Nhóm các yếu tố về chủ trương, đường lối phát triển của Nhà nước:

- Các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội quốc gia, các quy hoạch phát triển vùng, ngành Đây là nhóm yếu tố căn bản tác động đến việc hình thành và phát triển

cơ cấu lãnh thổ Nó tạo ra sự thống nhất của nền kinh tế trong cái đơn lẻ của mỗi vùng lãnh thổ Ngoài ra còn có các chiến lược phát triển KT-XH quốc gia, các quy hoạch

phát triển vùng, ngành Đây là nhóm yếu tố căn bản tác động đến việc hình thành và phát triển cơ cấu lãnh thổ Nó tạo ra sự thống nhất của nền kinh tế trong cái đơn lẻ của

mỗi vùng lãnh thổ

b Nhóm các yếu tố về thị trường và các mối liên hệ kinh tế liên vùng:

Nhu cầu của thị trường là nhân tố thúc đẩy việc khai thác, phát huy các thế mạnh của lãnh thổ theo hướng chuyên môn hóa, từ đó góp phần xác định các hình thức TCLT

KT phù hợp Các mối quan hệ kinh tế liên vùng phát huy được lợi thế, khắc phục được những hạn chế của một lãnh thổ, đồng thời tạo ra sự phối kết hợp trong phát triển kinh

tế giữa các lãnh thổ để đảm bảo sự phát triển ổn định và lâu dài

Bất kì một lãnh thổ cụ thể nào không thể tách khỏi mối quan hệ với các lãnh thổ khác, nhất là đối với các lãnh thổ lân cận trên nhiều phương diện Thông qua nhu cầu tiêu thụ sản phẩm hàng hóa từ các vùng khác, những quan hệ về dùng chung mạng lưới giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, những quan hệ nguyên liệu - sản phẩm giữa các vùng lãnh thổ…mà tác động đến TCLTKT

c Nhóm yếu tố về nguồn đầu tư và công nghệ từ bên ngoài:

Các dòng vốn đầu tư và công nghệ từ bên ngoài cũng ảnh hưởng ngày càng rõ rệt, đặc biệt đối với các quốc gia, các vùng lãnh thổ kém phát triển, nó đã góp phần làm thay đổi hình thức, nội dung của tổ chức lãnh thổ kinh tế Sự thu hút nguồn vốn và công nghệ phụ thuốc rất nhiều vào cơ chế chính sách của Nhà nước trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài và thương mại quốc tế

d Xu thế phát triển kinh tế - chính trị - xã hội trong khu vực và quốc tế

Trang 32

Tạo nên những điều kiện đầu vào (vốn, nguồn nhiên liệu, trang thiết bị, máy móc ) và đầu ra (thị trường tiêu thụ)

- Sự hỗ trợ phát triển về kinh tế, khoa học - công nghệ tạo nên khả năng hợp tác, chuyển giao công nghệ giữa các quốc gia, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tại các hình thức TCLT kinh tế ở các nước đang phát triển có cơ hội tiếp cận và ứng dụng những thành tựu tiên tiến trong sản xuất kinh doanh từ các nước phát triển

- Sự hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng khiến các quốc gia ngày càng mở rộng hoạt động sản xuất nhằm hướng đến thị trường quốc tế, làm cho các hình thức TCLT kinh tế trở thành mắt xích trong hệ thống sản xuất thế giới TCLT kinh tế chịu ảnh hưởng đồng thời và tổng hợp bởi 2 nhóm nhân tố Sự ảnh hưởng của các nhân tố đến TCLT kinh tế không giống nhau về thời gian và không gian Có những nhân tố tác động mạnh, có tính trội đối với TCLTKT trong thời gian này nhưng lại giảm sút vai trò trong giai đoạn khác

1.1.5 Khái quát một số lí thuyết về tổ chức lãnh thổ kinh tế

1.1.5.1 Lí thuyết tăng trưởng vùng

Về tăng trưởng vùng có khá nhiều lí thuyết, có thể nghiên cứu những lí thuyết chủ yếu:

- Lí thuyết tăng trưởng nội sinh: Trên cơ sở các kết quả quan sát thực nghiệm, G.B.Fisher (1939) và C.Clark (1940) đưa ra thuyết tăng trưởng nội sinh Lí thuyết nhấn mạnh đến năng lực sản xuất bên trong của vùng, khả năng cung của các yếu tố “đầu vào” như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, lao động và công nghệ để xác định năng lực đó Một hướng khác, thuyết tăng trưởng nội sinh cho rằng đầu tư là cấu phần cơ bản trong tổng cầu và là động lực cơ bản của tăng trưởng vùng, vì đầu tư sẽ làm phát sinh lợi nhuận mới, tăng năng lực sản xuất và thúc đẩy tăng trưởng vùng Do vậy, để đạt được tăng trưởng kinh tế vùng thì ngoài việc sử dụng hiệu quả các yếu tố đầu vào như đã kể trên, còn cần phải tiết kiệm tiêu dùng để có vốn đầu tư, tức là hạn chế tiêu dùng ở hiện tại để tạo ra mức tiêu dùng cao hơn trong tương lai

- Lí thuyết tăng trưởng ngoại sinh hay lí thuyết dựa vào xuất khẩu để phát triển vùng Lí thuyết này xây dựng trên giả thuyết cơ bản là các vùng đều sản xuất hàng hóa

và dịch vụ để đáp ứng cho nhu cầu của bản thân vùng và bán sang các vùng khác (xuất

Trang 33

khẩu) Lí thuyết khẳng định sự tăng trưởng vùng (được xác định bởi sự khai thác các lợi thế của vùng và gia tăng xuất khẩu dựa trên sự quay vòng) chịu ảnh hưởng rất lớn của mức cầu bên ngoài, bao gồm từ các vùng khác trong nước và từ nước ngoài Vì vậy, muốn nâng cao tiềm lực kinh tế của mình, vùng cần phải thu hút được các luồng từ bên ngoài vào Để làm được điều này, hiệu quả nhất là gia tăng xuất khẩu Điều này làm tăng sức sản xuất trong vùng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vùng [46]

1.1.5.2 Lí thuyết phát triển các vành đai nông nghiệp

Tư tưởng lí thuyết phát triển các vành đai nông nghiệp ( V.Thunen, 1826) thể hiện trong tác phẩm “Nước cô lập” Trong đó địa tô chênh lệch là nhân tố then chốt, dẫn đến sự phân chia lãnh thổ của quốc gia thành các vùng sử dụng đất nông nghiệp khác nhau xung quanh thành phố hạt nhân Tư tưởng của V.Thunen coi thành phố, các cửa vào - ra (cảng biển, sân bay, đầu mối giao thông lớn…) là những “nút”, những trọng điểm của lãnh thổ có sức hút và sức đẩy ảnh hưởng đối với vùng xung quanh Ý nghĩa quan trọng là nó lập luận cho việc xác định vai trò của một trung tâm và thiết lập các vành đai nông nghiệp biểu trưng cho những khu vực mà kinh tế còn chậm phát triển Qua đó, các nhân tố động làm cho sự phân hoá lãnh thổ nông nghiệp trở thành sự

tổ chức lãnh thổ nông nghiệp, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế và bảo đảm cho phát triển bền vững [46]

1.1.5.3 Lí thuyết định vị công nghiệp của A.Weber (1909)

Tác phẩm Uber den Standort der Industrie (Theory of the Location of Industries

- Lí thuyết về vị trí của ngành công nghiệp) vào năm 1909, A Weber (1868-1958) đưa

ra lí thuyết đầu tiên về định vị công nghiệp Mô hình của ông đã tính toán các nhân tố không gian cho việc tìm kiếm vị trí tối ưu và chi phí tối thiểu cho các nhà máy sản xuất

Lí thuyết này đưa ra mô hình không gian phân bố công nghiệp trên cơ sở nguyên tắc cực tiểu hóa chi phí và cực đại hóa lợi nhuận Lí thuyết này ra đời đã giải thích công nghiệp tập trung vào một địa điểm nhất định là do ba lí do, đó là: hướng theo vận tải (nghĩa là các xí nghiệp công nghiệp phân bố hướng đến các khu vực với chi phí vận tải thấp nhất); hướng theo lao động (nghĩa là các xí nghiệp công nghiệp phân bố hướng đến các khu vực có giá nhân công rẻ) và tích tụ (nghĩa là các xí nghiệp công nghiệp phân bố hướng đến các khu vực đã tập trung nhiều xí nghiệp công nghiệp)

Trang 34

Như vậy, có thể nhận thấy trong điều kiện của nước ta hiện nay, nhất là đối với một tỉnh như Bắc Ninh đang có tốc độ phát triển quy mô lãnh thổ công nghiệp cả về chiều rộng, chiều cao và chiều sâu; thì lí thuyết này có giá trị thực tiễn cao và có thể vận dụng vào việc phân bố và phát triển công nghiệp [46]

1.1.5.4 Lí thuyết về “Điểm trung tâm”

Lí thuyết này được hai nhà bác học là W.Christaller và A.Losch đưa ra năm

1933 dựa trên những ý tưởng và mô hình của V.Thunen và A.Weber cũng như những luận điểm cơ bản của Niutơn về lực hấp dẫn

Theo quan điểm của W.Christaller, thành phố là một trung tâm cho tất cả các điểm dân cư khác của vùng, bảo đảm cho chúng về các hàng hóa của trung tâm; thành phố là cực hút, là hạt nhân của sự phát triển, là đối tượng để đầu tư có trọng điểm trên cơ sở nghiên cứu mức độ thu hút và mức độ ảnh hưởng của vị trí trung tâm A.Losch đưa thêm vào nội dung lí thuyết của W.Christaller, ông cho rằng có một vị trí trung tâm chung, đó

là thành phố quan trọng nhất, là đầu mối của toàn hệ thống các điểm dân cư

Lí thuyết các “điểm trung tâm” là cơ sở cho việc bố trí các điểm đô thị mới tại các vùng lãnh thổ còn trống vắng đô thị Tuy nhiên cần phải xác định được phạm vi ảnh hưởng của các vị trí trung tâm, tức là khu vực lãnh thổ nằm trong phạm vi khống chế, chi phối của trung tâm đó Theo nghiên cứu của các nhà kinh tế thì càng xa vị trí trung tâm ảnh hưởng càng giảm dần và sẽ chấm dứt tại điểm mà sự ảnh hưởng bắt đầu mạnh hơn của một trung tâm gần nhất khác [46]

1.1.5.5 Lí thuyết cực phát triển của F.Perroux

Một vùng không thể phát triển kinh tế đều đặn ở tất cả các nơi trên lãnh thổ của

nó theo cùng một thời gian, mà nó có xu hướng phát triển ở một hoặc vài nơi, trong khi

đó thì ở những nơi khác lại chậm phát triển hoặc bị trì trệ Các nơi phát triển nhanh là những trung tâm có lợi thế so với toàn vùng trên cơ sở lực hút và lực đẩy

Lý thuyết chú trọng vào những điểm làm phát sinh sự tăng trưởng KT của lãnh thổ Quan điểm này do Francoi Perroux - nhà kinh tế học người Pháp đề xướng vào đầu những năm 50 thế kỉ XX Theo ông, trong một vùng không thể phát triển KT đồng đều ở tất cả các điểm trên lãnh thổ của nó theo cùng một thời gian mà luôn có xu hướng hợp tác chặt chẽ với nhau thông qua các mối quan hệ đầu vào - đầu ra xung quanh một

Trang 35

ngành CN dẫn đầu hay CN mũi nhọn Nhờ có những ưu thế về công nghệ hiện đại, tốc

độ đổi mới sản phẩm (cả về chất lượng, mẫu mã… theo nhu cầu thị trường) và có phạm

vi thị trường tiêu thụ rộng lớn, nên ngành CN này ngày càng phát triển nhanh, kéo theo các ngành liên quan đến nó tăng trưởng nhanh hơn các bộ phận khác của nền KT, tạo

ra tác động lan tỏa ảnh hưởng theo cấp số nhân đến các bộ phận khác của nền KT

Những năm sau đó, lý thuyết này được Albert Hirshman, Myrdal, Friedman và Harry Richarson tiếp tục nghiên cứu và phát triển, trên cơ sở nhấn mạnh vai trò to lớn của CN và dịch vụ (DV) đối với sự tăng trưởng và phát triển của vùng; chính sự tập trung CN và DV ở các đô thị (các cực) giữ vai trò hạt nhân phát triển

Theo Harry Richarson và Benjamin Higgins, một cực phát triển trước hết cần được hiểu đó là tập hợp các ngành CN có khả năng tạo ra động lực tăng trưởng cho nền

KT, có quan hệ tương đó ngày một nhiều hơn Sự tập trung hóa về lãnh thổ đạt tới một mức nhất định và sau đó hiệu ứng lan tỏa sẽ làm cho các cơ hội phát triển mới bắt đầu xuất hiện ở nhiều địa phương khác Kết quả là từ sự phát triển của một cực - một lãnh thổ trọng điểm sẽ kéo theo sự phát triển của các vùng lãnh thổ khác, tạo điều kiện cho nền kinh tế của cả vùng lãnh thổ lớn phát triển [46]

1.1.5.6 Lí thuyết về chu trình sản xuất năng lượng

Lí thuyết này của nhà khoa học người Nga N.N Koloxopxki, 1947 và những lí thuyết về phân bố lực lượng sản xuất của các nhà khoa học Xô Viết (Liên Xô) trước đây Lí thuyết chu trình sản xuất năng lượng dựa trên các nguồn tài nguyên thiên nhiên

có tính chất “cầm trịch”, trước hết là nguồn năng lượng N.N Koloxopxki đưa ra 14 chu trình sản xuất năng lượng, trong đó các chu trình điển hình như: chu trình của các kim loại đen dựa trên các cơ sở khai thác và sử dụng quặng sắt, mangan, crôm, kẽm và các hợp kim; chu trình sản xuất các kim loại màu liên quan đến việc khai thác khối lượng đất, đá lớn, chi phí cao để làm giàu quặng, tiêu thụ nhiều nước, năng lượng điện… Lí thuyết này cũng khẳng định về tính liên tục giữa các khâu trong quá trình sản xuất khép kín để có giải pháp tổ chức sản xuất theo lãnh thổ [46]

1.1.5.7 Lí thuyết đầu tư tập trung

Nội dung của lí thuyết tập trung thể hiện với những điểm chính dưới đây:

- Điều kiện ràng buộc: Nguồn vốn đầu tư có hạn; lao động kĩ thuật, điều kiện kết cấu hạ tầng tập trung vào một số nơi

Trang 36

- Chủ trương cả đầu tư tập trung: Tập trung đầu tư để đạt được hiệu quả nhanh, tạo gia tốc cho sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế, giảm bớt số cư dân khó khăn, tạo

ra sự ổn định cần thiết cho quá trình tăng trưởng Chủ trương đầu tư tập trung gắn liền với chủ trương phát triển kinh tế động lực

1.1.5.8 Lí thuyết phát triển phi cân đối

Lí thuyết phát triển phi cân đối với thực tiễn Trung Quốc không chỉ với lựa chọn các ngành kinh tế mũi nhọn, mà còn lựa chọn những vùng lãnh thổ động lực để tập trung đầu tư phát triển chúng Khắc phục sự mất cân đối lãnh thổ và hình thành định hướng mới cho chiến lược phát triển vùng trên phạm vi cả nước [46]

1.1.5.9 Lí thuyết về địa - kinh tế mới của Paul Krugman

Lí thuyết điạ-kinh tế mới: Nội dung mới trong thuyết Thương mại mới - địa kinh

tế mới của Paul Krugman, Giải thưởng Noben Kinh tế năm 2008 Theo đó, “thương mại nội ngành” hoàn toàn có thể là hậu quả của (sự đa dạng) chủng loại sản phẩm và đặc tính sản xuất Tại sao? Lí do chính là một số CN có đặc tính mà kinh tế học gọi là

“tính tiết kiệm do quy mô” (economies of scale): số lượng sản xuất càng cao thì giá chi phí bình quân càng thấp Đối với loại hàng hóa có tính này thì thế giới chỉ cần vài cơ xưởng sản xuất là đủ Những cơ xưởng này tất nhiên phải tọa lạc ở nơi nào đó, và quốc gia nào “may mắn” có chúng thì sẽ xuất khẩu những loại hàng ấy, còn các quốc gia khác thì phải nhập khẩu từ họ Rất nhiều loại hàng có tính “tiết kiệm do quy mô”; quốc gia nào cũng có một số hàng như vậy; mọi chi tiết khác (có thể là do tình cờ của lịch sử) đều không là quan trọng Quan trọng là cái bức tranh toàn cảnh của thương mại thế giới: Bức tranh ấy được định đoạt bởi những yếu tố như tài nguyên và khí hậu (như trong thuyết thương mại “cũ”), nhưng thêm vào đó là rất nhiều những chuyên biệt hóa căn cứ trên tính tiết kiệm do quy mô Quan điểm địa kinh tế mới có giá trị rất quan trọng trong tổ chức không gian kinh tế [35]

Trang 37

thực tiễn tổ chức lãnh thổ kinh tế trên thế giới và Việt Nam trong những năm qua, có thể nhận thấy các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế rất đa dạng theo ngành cũng như theo không gian, về cơ bản một số hình thức TCLTKT phổ biến ở nước ta hiện nay là:

Các hành lang kinh tế được coi như các trục kinh tế động lực, với ý nghĩa là đầu tàu lôi kéo sự phát triển chung của một vùng rộng lớn Mỗi hành lang kinh tế hay vành đai kinh tế kéo dài đến hàng trăm km, đi qua nhiều tỉnh, thành phố Các cơ sở sản xuất

và dịch vụ của mỗi tỉnh, thành phố là một bộ phận, là một mắt xích trong tổng thể kinh

tế của mỗi hành lang

về mô hình “khu kinh tế phát triển”

Thực tế cho thấy, hình thức khu kinh tế mang tính tổng hợp, vừa có hoạt động công nghiệp, vừa có hoạt động thương mại, du lịch, nhà ở và các công trình công cộng; trên cơ sở đó phát huy được sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các loại hình tổ chức lãnh thổ kinh

tế Nó có khả năng khắc phục được nhược điểm của hình thức khu công nghiệp chỉ có hoạt động công nghiệp mà không có hoạt động thương mại và không có nhà ở cũng như các công trình kết cấu hạ tầng phục vụ đời sống dân sinh

Ngoài các khu kinh tế ven biển đã nêu trên, ở nước ta còn tồn tại hai loại khu

Trang 38

kinh tế tổng hợp nhưng tính chất tổng hợp và mức độ phức tạp ít hơn so với khu kinh

tế ven biển Đó là khu kinh tế cửa khẩu và khu kinh tế quốc phòng Khu kinh tế cửa khẩu hình thành và phát triển trên cơ sở có sự tồn tại của một cửa khẩu biên giới với một nước láng giềng và nhờ có sự phát triển của giao thương KT và khách du lịch Khu kinh tế quốc phòng do quân đội quản lí và làm nhiệm vụ bảo vệ quốc phòng là chủ yếu,

bộ đội cùng nhân dân phát triển kinh tế và bảo vệ an ninh quốc phòng

Khu công nghiệp tập trung; Trung tâm công nghiệp; Cụm công nghiệp; Điểm

công nghiệp; Dải công nghiệp; Vùng công nghiệp

e Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp

Ở Việt Nam, hình thức tổ chức lãnh thổ trong NN hiện nay phổ biến là khu nông nghiệp công nghệ cao và vùng chuyên môn hóa cây trồng gắn với công nghiệp chế biến (tổ hợp nông - công nghiệp);Khu nông nghiệp công nghệ cao;Vùng trồng cây chuyên môn hóa gắn với công nghiệp chế biến (tổ hợp nông - công nghiệp); Hợp tác xã; Trang trại

f Tổ chức lãnh thổ dịch vụ

- Đối với ngành du lịch, các hình thức tổ chức lãnh thổ rất phong phú và từ thấp đến cao là: điểm du lịch, trung tâm du lịch, tiểu vùng du lịch, á vùng du lịch và vùng

du lịch

Trang 39

hoạt động xuất nhập khẩu là những biểu hiện cụ thể

- Đối với lĩnh vực giao thông vận tải thì tổ chức lãnh thổ được thể hiện cụ thể qua mạng lưới đường giao thông và đầu mối giao thông

g Tổ chức lãnh thổ kinh tế cấp tỉnh/thành phố

Trong hệ thống phân vùng KT - hành chính Việt Nam hiện nay chấp nhận rộng rãi hệ thống các cấp kế hoạch và dự báo vĩ mô, gồm: Trung ương/tỉnh - TP/huyện - thị xã/xã - phường - thị trấn Trong đó cấp tỉnh/TP được coi là mắt xích quan trọng trong hoạch định chính sách phát triển vùng

Hầu hết 63 tỉnh/TP đã hoàn thành việc lập qui hoạch tổng thể phát triển KT-XH đến năm 2020 Tiến xa hơn nữa, đại bộ phận các huyện/thị xã cùng hoàn thành lập qui hoach tổng thể phát triển KT-XH đến năm 2030, tầm nhìn 2050

1.2.2 Đôi nét về tổ chức lãnh thổ kinh tế ở vùng Đồng bằng sông Hồng

Là đồng bằng phù sa liền dải, diện tích 1,5 triệu ha (1/3 ĐB sông Cửu Long),

ĐB có hướng nghiêng từ tây bắc - đông nam Do được khai thác sớm cho nên đồng ruộng cơ bản đã thuỷ lợi hoá, đất đai được sử dụng ở mức độ cao Có hệ thống đê điều

để ngăn lũ, hạn chế việc bồi đắp phù sa vào đồng bằng (có nhiều ô trũng, sâu) Nét đặc sắc của đồng bằng là có mùa đông lạnh (luân phiên các ngày lạnh và các ngày nắng ấm) Vì vậy, vùng có điều kiện phát triển các loại cây trồng - vật nuôi đa dạng cả nhiệt đới, cận nhiệt và ôn đới Mật độ dân cư tập trung đông nhất cả nước Người dân cần

cù, có kinh nghiệm thâm canh, có các làng nghề thủ công rất phát triển Là nơi có mật

độ các đô thị dày đặc nhất cả nước, có nhiều TP lớn

- Sản phẩm nông nghiệp CMH: Lúa gạo (là vùng trọng điểm LT - TP số 2 cả

nước, sản lượng lương thực chiếm 18% cả nước, nhưng BQLT/ng lại thấp hơn mức TB của cả nước) Các loại thực phẩm (đàn lợn, gia cầm, các loại rau vụ đông là thế mạnh của vùng, bò sữa ven các TP lớn) Cây CN (đay, cói, )

Theo Quy hoạch phát triển công nghiệp vùng Đồng bằng sông Hồng đến năm

2025, tầm nhìn đến năm 2035 vừa được Bộ trưởng Bộ Công Thương phê duyệt, có 5 hành lang công nghiệp sẽ được phát triển gồm hành lang kinh tế Hà Nội-Hải Phòng;

Hà Nội-Nội Bài-Hạ Long; Hà Nội-Việt Trì qua thành phố Vĩnh Yên; Hà Nội-Lạng Sơn

và hành lang kinh tế ven biển

Để thực hiện được các mục tiêu trên, giai đoạn đến năm 2025, Quy hoạch định hướng phát triển công nghiệp vùng ĐBSH phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế,

Trang 40

hướng vào những ngành có lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh như công nghiệp điện tử,

cơ khí chính xác, ô tô, xe máy, sản xuất dụng cụ y tế, công nghiệp dược, hóa mỹ phẩm; tiếp tục phát triển một số ngành công nghiệp hóa chất, khai thác than, vật liệu xây dựng, dệt may, da giày và công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản; liên kết nội vùng, ngoại vùng để hình thành mạng lưới sản xuất công nghiệp và phân phối hàng hóa một cách đồng bộ nhằm sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm các nguồn lực, nâng cao chất lượng, khả năng cạnh tranh của ngành công nghiệp; khuyến khích phát triển công nghiệp hỗ trợ cho các ngành công nghiệp chủ lực như: Cơ khí chế tạo, dệt may, sản xuất ô tô ô xe máy, điện tử, tạo ra mạng lưới vệ tinh cho các công ty lớn; phát triển công nghiệp bền vững, cơ sở hạ tầng đồng bộ, chú trọng đến xây dựng các công trình bảo vệ môi trường

Về phát triển các khu công nghiệp, tiếp tục đầu tư hoàn thiện các khu công nghiệp hiện có trên địa bàn các tỉnh trong vùng; hình thành có chọn lọc một số khu dựa trên các cơ sở công nghiệp đã có sẵn nhằm giải quyết tốt vấn đề bảo đảm hạ tầng cho phát triển công nghiệp, nâng cao hiệu quả sản xuất công nghiệp; phát triển các khu công nghiệp dọc theo các tuyến hành lang Quốc lộ 18, 5, 1; các khu vực có điều kiện thuận lợi về hạ tầng, có dự trữ đất xung quang Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Quảng Ninh và trên địa bàn các tỉnh khác trong vùng; hình thành một số khu công nghiệp gắn với trục Quốc lộ 10, đường ven biển đi qua các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình; khai thác quỹ đất phèn chua không thích hợp cho trồng lúa.Về phát triển các hành lang công nghiệp, Quy hoạch phát triển hành lang kinh tế Hà Nội-Hải Phòng; hành lang kinh tế Hà Nội-Nội Bài-Hạ Long; hành lang kinh tế Hà Nội-Việt Trì qua thành phố Vĩnh Yên (theo cao tốc mới); hành lang kinh tế ven biển (Quảng Ninh-Hải Phòng-Thái Bình- Nam Định-Ninh Bình) và hành lang kinh tế Hà Nội-Lạng Sơn (theo tuyến Quốc lộ 1)

Ngày đăng: 24/03/2021, 09:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban quản lý dự án tỉnh Bắc Ninh, “ Một số kế hoạch dự án phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kế hoạch dự án phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh
2. Ban quản lý KCN tỉnh Bắc Ninh, Trích báo cáo “Tình hình thực hiện nhiệm vụ 6 tháng đầu năm và nhiệm vụ, giải pháp 6 tháng cuối năm 2017” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tình hình thực hiện nhiệm vụ 6 tháng đầu năm và nhiệm vụ, giải pháp 6 tháng cuối năm 2017
3. Báo cáo năng lực cạnh tranh cấp tỉnh Việt Nam 2016. WEBSITE : http://www.goole.com/PCI Vietnam 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo năng lực cạnh tranh cấp tỉnh Việt Nam 2016
4. Báo cáo năng lực hội nhập kinh tế cấp tỉnh Việt Nam năm 2016 WEBSITE : http://www.goole.com/PCI Vietnam 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo năng lực hội nhập kinh tế cấp tỉnh Việt Nam năm 2016
5. Chính phủ (2010), Hoàng Hữu Bình (1998), Các dân tộc ở miền núi phía Bắc Việt Nam và môi trường, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc ở miền núi phía Bắc Việt Nam và môi trường
Tác giả: Chính phủ (2010), Hoàng Hữu Bình
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1998
7. Cục thống kê tỉnh Bắc Ninh (2017), Niên giám thống kê tỉnh Bắc Ninh năm 2017, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Bắc Ninh năm 2017
Tác giả: Cục thống kê tỉnh Bắc Ninh
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2017
8. Đỗ Thị Minh Đức (2008), Giáo trình địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam, tập 1, Nxb ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thị Minh Đức
Nhà XB: Nxb ĐHSP
Năm: 2008
9. Lê Thu Hoa (2007), Kinh tế Vùng ở Việt Nam, Nxb Lao động – xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Vùng ở Việt Nam
Tác giả: Lê Thu Hoa
Nhà XB: Nxb Lao động – xã hội
Năm: 2007
10. Vũ Đình Hòa (2013), Phát triển hành lang kinh tế quốc lộ 18 trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, luận văn Tiến sĩ Địa lí học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển hành lang kinh tế quốc lộ 18 trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Đình Hòa
Năm: 2013
11. Vũ Tự Lập (2008), Địa lý tự nhiên Việt Nam, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý tự nhiên Việt Nam
Tác giả: Vũ Tự Lập
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2008
12. Nguyễn Phương Liên (chủ biên) (2013), Giáo trình phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Địa lý tự nhiên, Địa lý kinh tế xã hội, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Địa lý tự nhiên, Địa lý kinh tế xã hội
Tác giả: Nguyễn Phương Liên (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2013
13. Lê Văn Miều (2010), Sự phân hóa lãnh thổ kinh tế tỉnh Cao Bằng, Hội nghị Địa lí toàn quốc lần thứ V, Nxb KHTN&CN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phân hóa lãnh thổ kinh tế tỉnh Cao Bằng
Tác giả: Lê Văn Miều
Nhà XB: Nxb KHTN&CN
Năm: 2010
14. Đặng Văn Phan (2007), Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp Việt Nam, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp Việt Nam
Tác giả: Đặng Văn Phan
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2007
15. Đặng Văn Phan, Vũ Như Vân (2008), Tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội Việt Nam: nhận thức và hành động hướng tới phát triển bền vững. Hội nghị quốc tế Việt Nam học lần II Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội Việt Nam: "nhận thức và hành động hướng tới phát triển bền vững
Tác giả: Đặng Văn Phan, Vũ Như Vân
Năm: 2008
17. Dương Quỳnh Phương (2006), Cộng đồng các dân tộc với việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên vì mục tiêu phát triển bền vững, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cộng đồng các dân tộc với việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên vì mục tiêu phát triển bền vững
Tác giả: Dương Quỳnh Phương
Nhà XB: Nxb Văn hoá dân tộc
Năm: 2006
19. Ngô Thúy Quỳnh (2009), Giáo trình Tổ chức lãnh thổ kinh tế, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tổ chức lãnh thổ kinh tế
Tác giả: Ngô Thúy Quỳnh
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2009
20. Nguyễn Quang Thái, Ngô Thắng Lợi (2004), Phát triển bền vững ở Việt Nam: Thành tựu, cơ hội, thách thức và triển vọng, Nxb Lao Động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển bền vững ở Việt Nam: "Thành tựu, cơ hội, thách thức và triển vọng
Tác giả: Nguyễn Quang Thái, Ngô Thắng Lợi
Nhà XB: Nxb Lao Động
Năm: 2004
21. Lê Bá Thảo (2007), Những công trình khoa học địa lí tiêu biểu, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những công trình khoa học địa lí tiêu biểu
Tác giả: Lê Bá Thảo
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2007
22. Nguyễn Viêt Thịnh, Đỗ Thị Minh Đức (2003), Gíáo trình Địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam, tập 1, NXB Giáo Dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gíáo trình Địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Viêt Thịnh, Đỗ Thị Minh Đức
Nhà XB: NXB Giáo Dục Hà Nội
Năm: 2003
23. Lê Thông (chủ biên) & nnk (2010), Tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp trên thé giới, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp trên thé giới
Tác giả: Lê Thông (chủ biên) & nnk
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w