Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Quá trình hình thành địa lý du lịch như một khoa học bắt đầu từ nửa sau những năm 1930 của thế kỷ XX, với đối tượng nghiên cứu mở rộng từ địa lý các luồng du lịch đến tài nguyên du lịch và phân vùng du lịch Các công trình đầu tiên trong lĩnh vực này tập trung vào nghiên cứu các luồng du lịch và khai thác địa phương nhằm mục đích tham quan, tìm hiểu, thăm dò thị trường và tìm cơ hội truyền bá giáo lý.
Khi lượng du khách toàn cầu gia tăng, việc lập kế hoạch và quản lý hoạt động du lịch trở nên cần thiết Nghiên cứu hiện tại tập trung vào việc xác định nguồn lực và mức độ chuyên môn hóa du lịch ở các vùng khác nhau, từ đó tiến hành phân vùng du lịch nhằm tối ưu hóa cơ cấu lãnh thổ của ngành Trong những năm gần đây, lợi ích kinh tế từ ngành du lịch ngày càng rõ ràng, cùng với những tác động tích cực mà nó mang lại.
Số hóa do Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin - ĐHTN thực hiện, nhấn mạnh rằng sự phát triển của ngành du lịch cần thiết phải được nghiên cứu gắn liền với phát triển vùng, đặc biệt khi các vấn đề toàn cầu ngày càng trở nên quan trọng.
Nghiên cứu phát triển du lịch theo không gian đã được nhiều nhà khoa học như N.X.Kandaxkia (1973) và B.N.Likhanov (1973) thực hiện, tập trung vào sức chứa và sự ổn định của các điểm du lịch cũng như tài nguyên giải trí theo lãnh thổ M Buchovazov (1975) đã xây dựng sơ đồ hệ thống lãnh thổ du lịch với bốn phân hệ, trong khi I.I Pirojnik (1985) nhấn mạnh khái niệm "tổ chức lãnh thổ du lịch" và mối quan hệ giữa phát triển du lịch với phân bố không gian Các nghiên cứu này đã xác định vùng thích hợp cho nghỉ dưỡng, đánh giá tài nguyên phục vụ du lịch và đưa ra tiêu chí xác định sức chứa và sự ổn định của các điểm du lịch.
Các công trình đầu tiên về tổ chức lãnh thổ du lịch (TCLTDL) bao gồm đề tài khoa học cấp Bộ của Vũ Tuấn Cảnh mang tên “Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam” Năm 1995, Vũ Tuấn Cảnh và Lê Thông đã nêu ra vấn đề quy hoạch phát triển du lịch trong bài báo “Một số vấn đề về phương pháp luận và phương pháp quy hoạch du lịch” đăng trên tạp chí Du lịch và Phát triển Các nhà địa lý học như Lê Thông và Nguyễn Minh Tuệ đã đóng góp quan trọng trong việc định hướng phát triển ngành địa lý du lịch Việt Nam qua các tác phẩm của họ.
Tổ chức lãnh thổ du lịch là một chủ đề quan trọng trong nghiên cứu địa lý, với nhiều luận án tiến sĩ đã được thực hiện Các nghiên cứu của Đặng Duy Lợi (1992) và Đào Ngọc Cảnh (2003) đã đóng góp đáng kể vào việc giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn trong phát triển du lịch Việt Nam.
Từ đầu thế kỷ XXI, các nhà địa lý du lịch Việt Nam đã tiến hành nhiều nghiên cứu về chiến lược phát triển du lịch Một trong những công trình tiêu biểu là của tác giả Phạm Trung Lương (1999) với tác phẩm "Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam".
NXB Giáo dục, Hà Nội, dưới sự chủ biên của Phạm Trung Lương (2002), đã xuất bản cuốn sách "Du lịch sinh thái: Những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam." Tác phẩm này tập trung vào các khía cạnh lý thuyết và thực tiễn của du lịch sinh thái, đóng góp quan trọng cho sự phát triển bền vững trong ngành du lịch Việt Nam.
Nguyễn Đình Hòe đã đóng góp vào lĩnh vực du lịch bền vững từ năm 2001, cùng với sự quan tâm của Nhà nước về quy hoạch du lịch Trong “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030” của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, nước ta đã xác định các chiến lược quan trọng để phát triển ngành du lịch một cách bền vững.
Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN đã chia đất nước thành 7 vùng du lịch, bao gồm: Trung du Miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc, Bắc Trung Bộ, duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng Bằng Sông Cửu Long Các địa phương cũng đã xây dựng quy hoạch chi tiết để phát triển du lịch một cách thực tiễn và hiệu quả.
Nghiên cứu và phát triển du lịch đóng vai trò quan trọng trong chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước Nó không chỉ là nguồn lực mạnh mẽ cho khoa học địa lý mà còn gắn kết với thực tiễn cuộc sống xã hội, mở ra cơ hội mới cho sự đổi mới và phát triển của địa lý học.
2.3 Ở vùng Trung du Miền núi phía Bắc và tỉnh Bắc Giang
Nghiên cứu hoạt động du lịch tại vùng Trung du miền núi phía Bắc (TDMNPB) đã được thể hiện qua các công trình quan trọng như "Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng Trung du miền núi phía Bắc đến năm 2020" do Tổng cục du lịch công bố vào năm 2006, cùng với “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030” của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Những quy hoạch này đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng phát triển du lịch bền vững cho khu vực.
Tỉnh Bắc Giang, nằm trong vùng TDMNPB, sở hữu nguồn tài nguyên du lịch đa dạng và là nơi sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số với văn hóa đặc sắc Sự phát triển du lịch tại đây mang những nét riêng biệt Nhiều công trình nghiên cứu về địa lý du lịch tỉnh Bắc Giang đã được thực hiện, bao gồm các nghiên cứu của sinh viên và nghiên cứu sinh, cùng với sự hỗ trợ từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Trong số đó, đề tài đáng chú ý nhất là “Nghiên cứu tiềm năng, đề xuất phương án xây dựng mô hình quản lý phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa, sinh thái và phát triển kinh tế bền vững tỉnh Bắc Giang”, do Nguyễn Thế Chính làm chủ nhiệm.
Giám đốc Sở VH, TT&DL tỉnh Bắc Giang
Nghiên cứu về du lịch Bắc Giang đã chỉ ra những tiềm năng phát triển du lịch ở các lĩnh vực và địa phương cụ thể Những đề tài này đóng góp ý nghĩa quan trọng cho sự phát triển du lịch của tỉnh.
Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu TCLTDL ở Bắc Giang cần vận dụng lí luận và thực tiễn, cùng với hệ thống tiêu chí đánh giá các điểm, cụm, tuyến du lịch Từ đó, cần đưa ra các định hướng và giải pháp cụ thể nhằm phát triển TCLTDL tại Bắc Giang một cách hiệu quả hơn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Tổng quan về lý luận và thực tiễn trong việc phát triển du lịch cộng đồng (TCLTDL) là cần thiết để xây dựng hệ thống tiêu chí xác định các hình thức TCLTDL tại địa phương, bao gồm điểm, khu, không gian du lịch và tuyến du lịch Việc này không chỉ giúp đánh giá hiệu quả mà còn tạo cơ sở cho sự phát triển bền vững của ngành du lịch địa phương.
- Kiểm kê và bước đầu đánh giá TNDL phục vụ cho việc phát triển và TCLTDL ở tỉnh Bắc Giang
- Đánh giá hiện trạng phát triển du lịch và các hình thức TCLTDL ở Bắc Giang trên cơ sở các tiêu chí đã được xây dựng
- Đề xuất các định hướng và giải pháp cho phát triển và TCLTDL ở tỉnh Bắc Giang.
Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Lãnh thổ nghiên cứu của bài viết tập trung vào tỉnh Bắc Giang, đồng thời mở rộng nghiên cứu để liên kết với các tuyến du lịch tại các tỉnh lân cận như Quảng Ninh, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hà Nội và Hải Dương.
Bài viết tập trung vào việc xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá các hình thức tourism and cultural heritage (TCLTDL) tại cấp tỉnh, đồng thời phân tích tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch ở Bắc Giang Ngoài ra, bài viết cũng đề xuất các giải pháp khả thi nhằm quy hoạch TCLTDL của tỉnh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành du lịch địa phương.
- Về thời gian: Nghiên cứu chủ yếu hiện trạng phát triển từ năm 2010 đến 2016, định hướng phát triển và tầm nhìn đến năm 2030.
Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
Du lịch tỉnh Bắc Giang, nằm trong vùng TDMNPB và trên tuyến hành lang phát triển du lịch Hà Nội - Bắc Giang - Lạng Sơn, đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối với các khu vực du lịch khác như Đồng bằng sông Hồng và Duyên hải Đông Bắc Sự phát triển du lịch tại Bắc Giang không chỉ ảnh hưởng đến các tỉnh lân cận mà còn nhận được sự tác động từ chúng, qua đó đa dạng hóa sản phẩm du lịch Bắc Giang được xem là cầu nối giữa các tuyến du lịch miền núi và đồng bằng, đồng thời tạo ra mối quan hệ gắn bó với các hoạt động du lịch trong khu vực Quan điểm hệ thống giúp phân tích và xác định mối quan hệ tương tác trong hoạt động du lịch tại Bắc Giang.
Sử dụng quan điểm tổng hợp trong nghiên cứu sự phát triển du lịch tỉnh Bắc Giang giúp phân tích các nhân tố ảnh hưởng, sự phát triển theo ngành và lãnh thổ Mặc dù có sự phân loại, nghiên cứu TNDL vẫn cần được xem xét một cách tổng hợp để có cái nhìn toàn diện hơn về ngành du lịch.
Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin - Đại học Thái Nguyên đã thực hiện số hóa tài liệu và tiến hành đánh giá tổng hợp các đối tượng du lịch Thông tin chi tiết có thể được tìm thấy tại website của trung tâm: http://lrc.tnu.edu.vn.
Nghiên cứu sự phát triển du lịch tỉnh Bắc Giang cần xem xét trong một lãnh thổ nhất định, nơi mà các yếu tố tự nhiên, văn hóa, lịch sử và kinh tế, dân cư tương tác lẫn nhau, ảnh hưởng đến hoạt động du lịch Tài nguyên du lịch gắn liền với địa điểm, với các điểm du lịch phân bố không gian và mối quan hệ giữa chúng được kết nối qua các tuyến du lịch trên các lãnh thổ cụ thể Việc áp dụng quan điểm lãnh thổ sẽ hỗ trợ hiệu quả cho nghiên cứu và khai thác tài nguyên du lịch, từ đó thúc đẩy sự phát triển du lịch tỉnh Bắc Giang.
5.1.4 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Việc áp dụng quan điểm lịch sử - viễn cảnh trong nghiên cứu sự phát triển của đối tượng là rất quan trọng, giúp hiểu rõ quá trình diễn biến theo thời gian và không gian tại từng địa bàn lịch sử cụ thể Đồng thời, từ những tình hình thực tế, chúng ta có thể xác định và dự báo hướng phát triển phù hợp, liên kết xu hướng phát triển du lịch Bắc Giang với xu thế chung của du lịch Việt Nam và thế giới.
Trong khu vực nghiên cứu, tồn tại nhiều điểm du lịch và tài nguyên, bao gồm cả những địa điểm đã được khai thác trước đây, những điểm mới hình thành và những khu vực chưa được khai thác Việc áp dụng quan điểm này trong nghiên cứu và khai thác tài nguyên du lịch là rất quan trọng, giúp luận văn xác định các quy luật, hướng phát triển và chiến lược khai thác tài nguyên hiệu quả.
5.1.5 Quan điểm phát triển bền vững
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp với sự chú trọng đến tài nguyên thiên nhiên và văn hóa Nhu cầu du lịch ngày càng tăng cao, yêu cầu phát triển bền vững để bảo vệ tài nguyên du lịch Việc khai thác các yếu tố tự nhiên và văn hóa xã hội cần được thực hiện cẩn thận, tránh gây tổn hại đến môi trường và xâm phạm tài nguyên du lịch Khi được quản lý đúng cách, du lịch có thể trở thành công cụ hiệu quả để bảo đảm sự bền vững cho tài nguyên du lịch.
Trong nghiên cứu này, việc áp dụng quan điểm thị trường là rất quan trọng Qua phân tích và đánh giá thực trạng về đặc điểm, nhu cầu, sở thích và khả năng chi tiêu của thị trường du lịch tỉnh Bắc Giang trong những năm qua, nghiên cứu đã chỉ ra những ưu điểm và lợi thế cũng như ảnh hưởng của thị trường du lịch địa phương.
Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN đóng vai trò quan trọng trong việc số hóa tài liệu, góp phần nâng cao hiệu quả khai thác nguồn tài nguyên du lịch (TNDL) trong ngành du lịch Việc này không chỉ giúp bảo tồn thông tin mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc truy cập và sử dụng tài liệu trong nghiên cứu và phát triển du lịch.
5.2 Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu
5.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
Thông tin thứ cấp trong luận văn được thu thập từ nhiều nguồn đáng tin cậy như tài liệu chuyên ngành, quy hoạch tổng thể, các đề tài nghiên cứu khoa học liên quan, số liệu từ Viện nghiên cứu phát triển du lịch, và báo cáo của Sở VH, TT&DL tỉnh Bắc Giang Những tài liệu này đã được cập nhật, nghiên cứu và phân tích để tiếp cận vấn đề nghiên cứu từ nhiều khía cạnh khác nhau, giúp xác định các vấn đề trọng tâm Việc tổng hợp các nguồn tài liệu này đảm bảo luận văn có hệ thống tài liệu hoàn thiện nhất, phục vụ hiệu quả cho quá trình nghiên cứu.
Phương pháp này được áp dụng để phân tích và xử lý dữ liệu từ các tài liệu điều tra, nhằm thống kê và nghiên cứu thông tin Nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp từ các cơ quan ban ngành tỉnh Bắc Giang được tổng hợp và phân tích để rút ra những nội dung chính Đồng thời, phương pháp này còn giúp kế thừa các công trình nghiên cứu trước đó, từ đó xây dựng hệ thống bản đồ và định hướng không gian du lịch cho khu vực.
5.2.2 Phương pháp thang điểm tổng hợp
Phương pháp thang điểm tổng hợp được áp dụng để định lượng hóa đối tượng nghiên cứu, thông qua việc khai thác hệ thống các điểm du lịch, khu du lịch và tuyến du lịch.
Xây dựng tiêu chí đánh giá nội dung chính của luận văn liên quan đến điểm du lịch, khu du lịch và tuyến du lịch là rất quan trọng Phương pháp này yêu cầu xem xét từng tiêu chí đánh giá và xếp hạng chúng theo mức độ quan trọng bằng các bậc số và hệ số từ cao xuống thấp Sau đó, tiến hành cho điểm dựa trên thang đánh giá, với kết quả được phân loại từ cao xuống thấp tương ứng với các mức độ như rất tốt, khá, trung bình và kém.
Phương pháp thang điểm tổng hợp là công cụ hiệu quả trong việc đánh giá quy mô và chất lượng của các điểm du lịch, khu du lịch và tuyến du lịch Luận văn này cung cấp kết quả định lượng cụ thể cho nghiên cứu.
Phương pháp bản đồ và GIS đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu địa lý, không chỉ là đối tượng nghiên cứu mà còn thể hiện toàn bộ hoạt động nghiên cứu Việc áp dụng phương pháp này giúp khai thác thông tin từ các hệ thống bản đồ đã được xây dựng, cho phép luận văn khảo sát và định vị các đối tượng du lịch liên quan, phục vụ hiệu quả cho công tác nghiên cứu.
Những đóng góp của luận văn
Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển TCLTDL và vận dụng chúng vào địa bàn tỉnh Bắc Giang
Xác định hệ thống tiêu chí đánh giá điểm du lịch, khu du lịch, tuyến du lịch áp dụng cho tỉnh Bắc Giang
Bài viết phân tích và đánh giá tình hình phát triển du lịch cộng đồng (TCLTDL) tại tỉnh Bắc Giang, đồng thời đề xuất định hướng và các giải pháp cụ thể nhằm thúc đẩy sự phát triển của TCLTDL gắn liền với việc khai thác tiềm năng du lịch của các địa phương lân cận.
Cấu trúc luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của tổ chức lãnh thổ du lịch
Chương 2 phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Bắc Giang, bao gồm tài nguyên du lịch, hạ tầng cơ sở và chính sách phát triển Chương 3 đề xuất định hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh, tập trung vào việc phát triển bền vững và tăng cường kết nối giữa các điểm du lịch.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TỔ CHỨC LÃNH THỔ
Cơ sở lí luận của tổ chức lãnh thổ du lịch
1.1.1 Các khái niệm liên quan đến du lịch
Thuật ngữ “du lịch” trong ngôn ngữ nhiều nước bắt nguồn từ tiếng
Hy Lạp có nghĩa là "đi một vòng", từ đó thuật ngữ này được Latinh hoá thành "Tornus" và phát triển thành "tourisme" trong tiếng Pháp và "tourism" trong tiếng Anh Trong tiếng Việt, "tourism" được dịch từ tiếng Hán, với "Du" mang nghĩa là đi chơi và "lịch" có nghĩa là trải nghiệm.
Luật Du lịch Việt Nam năm 2017 định nghĩa du lịch là các hoạt động liên quan đến chuyến đi của con người ra ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm Mục đích của du lịch bao gồm tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu và khám phá tài nguyên du lịch, hoặc kết hợp với các mục đích hợp pháp khác.
Khách du lịch, hay còn gọi là du khách, lần đầu tiên được định nghĩa tại Pháp vào cuối thế kỉ XVIII và hiện nay có hàng trăm định nghĩa khác nhau Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), khách du lịch được xác định bởi các đặc trưng: họ là những người rời khỏi nơi cư trú của mình, không nhằm mục đích kinh tế, và lưu trú từ 24 giờ trở lên Tại Việt Nam, khái niệm khách du lịch cũng được quy định rõ ràng trong Luật Du lịch.
Khách du lịch là những người tham gia vào hoạt động du lịch, không bao gồm việc học tập hay làm việc để kiếm thu nhập tại địa điểm đến Họ được chia thành hai nhóm chính: khách du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa.
+ Khách du lịch quốc tế: Khái niệm khách du lịch quốc tế được quy định tại điều
10, chương 2 của Luật Du lịch “Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch” [17]
Khách du lịch nội địa, theo Luật Du lịch Việt Nam, được định nghĩa tại Điều 10, Chương 2 là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam khi tham gia du lịch trong lãnh thổ quốc gia.
+ Khách du lịch ra nước ngoài: “Khách du lịch ra nước ngoài là công dân Việt
Nam và người nước ngoài cư trú ở Việt Nam đi du lịch nước ngoài” (Theo Luật Du lịch Việt Nam [17])
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Du lịch là một trong những ngành có sự định hướng tài nguyên rõ rệt TNDL ảnh hưởng trực tiếp đến TCLTDL, hiệu quả hoạt động du lịch
Khái niệm về TNDL được quy định cụ thể tại khoản 4 điều 3 chương I của Luật
Du lịch Việt Nam năm 2017 nhấn mạnh tầm quan trọng của TNDL, bao gồm cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa, trong việc hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch và điểm du lịch TNDL được chia thành hai loại chính: TNDL tự nhiên và TNDL văn hóa, nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách.
TNDL bao gồm các yếu tố tự nhiên, văn hóa và giá trị nhân văn, tất cả đều phục vụ cho nhu cầu du lịch của con người.
TNDL được chia làm hai nhóm cơ bản: TNDL tự nhiên và TNDL văn hóa Luật
Du lịch Việt Nam cũng quy định rõ tại khoản 1 điều 15 mục I chương III như sau:
TNDL tự nhiên và TNDL văn hóa là hai yếu tố quan trọng trong ngành du lịch TNDL tự nhiên bao gồm các cảnh quan thiên nhiên, địa chất, khí hậu, thủy văn và hệ sinh thái, trong khi TNDL văn hóa bao gồm di tích lịch sử, kiến trúc, lễ hội và các giá trị văn hóa truyền thống Cả hai loại tài nguyên này đều có thể được khai thác để phục vụ mục đích du lịch, góp phần phát triển kinh tế và bảo tồn di sản văn hóa.
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, bao gồm nhiều bộ phận kinh doanh nhằm phục vụ nhu cầu đa dạng của du khách Theo Michael M Coltman, sản phẩm du lịch bao gồm các thành phần hữu hình và vô hình, tạo nên một tổng thể phong phú.
Theo Luật Du lịch Việt Nam (2017), sản phẩm du lịch được định nghĩa là tập hợp các dịch vụ được phát triển dựa trên việc khai thác giá trị tài nguyên du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch.
Sản phẩm du lịch bao gồm các dịch vụ và hàng hóa cung cấp cho du khách, được hình thành từ sự kết hợp giữa khai thác các yếu tố tự nhiên và văn hóa cùng với nguồn lực cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một địa phương hoặc quốc gia Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên tự nhiên và văn hóa Dịch vụ du lịch, từ góc độ tiêu dùng của khách, có thể được phân loại thành các nhóm cơ bản như dịch vụ vận chuyển, lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, hàng hóa tiêu dùng và đồ lưu niệm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Thị trường du lịch được xem như một phần của thị trường hàng hóa tổng thể, nơi diễn ra các hoạt động trao đổi hàng hóa và dịch vụ nhằm phục vụ nhu cầu du lịch của con người.
Thị trường du lịch bao gồm hai yếu tố chính: cung và cầu Cầu du lịch đại diện cho nhu cầu xã hội có khả năng chi trả cho các sản phẩm du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí, khám phá và chữa bệnh Trong khi đó, cung du lịch là tổng hợp các dịch vụ và hàng hóa du lịch được cung cấp trong một khoảng thời gian nhất định để phục vụ nhu cầu của xã hội.
1.1.2 Tổ chức lãnh thổ du lịch (TCLTDL)
Khái niệm TCLTDL được xuất phát từ các khái niệm về tổ chức không gian kinh tế của các nước Châu Âu và Bắc Mĩ
TCLTDL là sự phân hóa không gian du lịch dựa trên các điều kiện tự nhiên, hiện trạng hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động trong ngành Nó còn liên quan đến mối quan hệ giữa ngành du lịch với các ngành khác, các địa phương và cả các quốc gia trong khu vực và toàn cầu TCLTDL được coi là nghệ thuật sắp xếp các đối tượng du lịch trên một lãnh thổ cụ thể nhằm tối ưu hóa hiệu quả khai thác lãnh thổ.
TCLTDL là một hệ thống liên kết không gian giữa các đối tượng du lịch và cơ sở phục vụ liên quan, tối ưu hóa nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và văn hóa, kết cấu hạ tầng, cùng các yếu tố khác để đạt hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường cao nhất.
1.1.2.2 Các hình thức biểu hiện của tổ chức lãnh thổ du lịch a) Điểm du lịch
Cơ sở thực tiễn của tổ chức lãnh thổ du lịch
1.2.1 Vai trò của du lịch đối với nền kinh tế
Du lịch hiện đang là một trong những ngành dịch vụ phát triển nhanh nhất, góp phần vào sự thịnh vượng của các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển Tại Việt Nam, ngành du lịch không chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn giúp xóa đói, giảm nghèo và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Sự tăng trưởng của ngành này đã tạo điều kiện khai thác tốt hơn tài nguyên thiên nhiên và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống Hơn nữa, du lịch còn đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an sinh xã hội, bảo vệ môi trường và giữ vững an ninh, quốc phòng đất nước.
Du lịch còn quảng bá hình ảnh quốc gia, góp phần nâng tầm vị thế quốc gia trên thế giới
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
1.2.2 Tình hình phát triển du lịch và TCLTDL ở Việt Nam
1.2.1.1 Tình hình phát triển du lịch ở Việt Nam
Bối cảnh sau đổi mới, Việt Nam mở rộng quan hệ với nhiều quốc gia, giai đoạn
Từ năm 1986 đến 1990, ngành du lịch Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ, với số lượng khách du lịch quốc tế tăng đáng kể Cụ thể, số lượng khách quốc tế đến Việt Nam đã tăng từ 1.816 khách vào năm 1970 lên 54.353 khách vào năm 1986, và đạt 187.526 khách vào năm 1989.
Năm 1992, Tổng cục Du lịch được tái lập, đánh dấu bước khởi đầu quan trọng cho sự phát triển du lịch Việt Nam Nhiều nghị quyết và chỉ thị của Chính phủ, như Nghị quyết 45/CP ngày 22/6/1993 và chỉ thị 46-CP/TW, đã được ban hành nhằm đổi mới ngành du lịch Từ năm 1995, với tư cách là thành viên của ASEAN, du lịch Việt Nam đã khẳng định vai trò ngày càng quan trọng trong xu thế hội nhập quốc tế.
Bước vào thế kỷ XXI, du lịch Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ, khẳng định vị thế là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, đồng thời quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới một cách hiệu quả.
Bảng 1.5 Số lượng khách quốc tế vào Việt Nam giai đoạn 2000 - 2016
(Đơn vị tính: Nghìn lượt khách)
Năm Số lượng khách Năm Số lượng khách
Tốc độ tăng trưởng GDP du lịch luôn vượt trội so với nhiều ngành kinh tế khác, với tỷ lệ GDP du lịch trong tổng GDP đạt 6,3% vào năm 2015.
Theo Báo cáo thường niên Du lịch Việt Nam 2016, ngành du lịch Việt Nam đã đạt mốc 10 triệu lượt khách quốc tế, tăng 26% so với năm 2015, và 62 triệu lượt khách nội địa, tăng 8,8% Tổng thu từ khách du lịch đạt 417 nghìn tỷ đồng, phản ánh nỗ lực của toàn ngành trong việc cải thiện chất lượng dịch vụ, từ lữ hành, lưu trú đến xúc tiến quảng bá và đào tạo nhân lực, nhằm vượt qua khó khăn và phát triển bền vững.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Bảng 1.6 Tổng doanh thu du lịch Việt Nam giai đoạn 2000 - 2016
Tổng doanh thu (nghìn tỷ đồng)
Tổng doanh thu (nghìn tỷ đồng)
Nguồn: Tổng cục du lịch [dẫn theo 25]
Vào ngày 22/12/2016, trong buổi họp báo về hoạt động du lịch, ông Nguyễn Văn Tuấn, Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch, đã thông báo rằng ngành du lịch Việt Nam đã đạt được "kỳ tích tăng trưởng" với 10 triệu khách quốc tế, tăng 25,4% so với năm trước.
Năm 2016, du lịch Việt Nam không chỉ đón 10 triệu lượt khách quốc tế mà còn phục vụ 62 triệu lượt khách nội địa, tổng thu từ ngành du lịch đạt khoảng 400.000 tỷ đồng, tăng 18,6% so với năm 2015.
1.2.1.2 Tổ chức lãnh thổ du lịch (TCLT DL) ở Việt Nam Ở nước ta, TCLTDL được thể hiện rõ ngay trong Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Theo đó Việt Nam được chia thành 7 vùng du lịch:
Vùng du lịch Trung du và Miền núi Bắc Bộ bao gồm 14 tỉnh thành như Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, và nhiều tỉnh khác, với tổng diện tích 95.388,8 km², chiếm 28,8% diện tích cả nước Theo thống kê năm 2015, dân số trong khu vực này đạt 11.800.000 người, tương đương 14% dân số cả nước Vùng này nổi bật với các sản phẩm du lịch đặc trưng như du lịch về nguồn, du lịch văn hóa, tham quan, du lịch sinh thái, thể thao, và khám phá.
Vùng du lịch Đồng bằng sông Hồng và Duyên hải Đông Bắc bao gồm 11 tỉnh thành: Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Hải Phòng, và Quảng Ninh Với diện tích tự nhiên 21.060 km², vùng này chiếm 6,4% tổng diện tích cả nước và có dân số khoảng 20,9 triệu người (22,8% dân số cả nước) tính đến năm 2015 Các sản phẩm du lịch nổi bật tại đây bao gồm du lịch lễ hội, tâm linh, biển đảo và sinh thái nông nghiệp, thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước.
Vùng du lịch Bắc Trung Bộ bao gồm 6 tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế, với tổng diện tích tự nhiên lên tới 51.456 km².
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Với 16% diện tích cả nước và dân số 10.473.000 người (chiếm 12% tổng dân số), khu vực này nổi bật với các sản phẩm du lịch đa dạng như du lịch di sản, biển đảo, văn hóa - lịch sử và du lịch sinh thái.
Vùng du lịch Duyên hải Nam Trung Bộ bao gồm 8 tỉnh thành: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận Với diện tích tự nhiên 44.377 km², vùng này chiếm 13,4% tổng diện tích cả nước và có dân số 9.185.000 người (10,1% dân số cả nước) vào năm 2015 Các sản phẩm du lịch nổi bật của khu vực bao gồm du lịch biển đảo, tham quan di tích và du lịch văn hóa.
Vùng du lịch Tây Nguyên bao gồm 5 tỉnh: Kom Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng, với tổng diện tích 54.641 km², chiếm 16,5% diện tích cả nước Dân số khu vực này vào năm 2015 đạt 5.608.000 người, tương đương 6,1% dân số cả nước Tây Nguyên nổi bật với các sản phẩm du lịch đặc trưng như di sản văn hóa, du lịch nghỉ dưỡng và du lịch sinh thái, thu hút nhiều du khách đến khám phá.