Lý do chọn đề tài Trong xu thế hiện nay, cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế thì du lịch DL đã dần trở thành một ngành quan trọng được ví là “công nghiệp không khói”, giữ vị t
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ––––––––––––––––––––
NGUYỄN THỊ THANH THÚY
NGHIÊN CỨU TỔ CHỨC LÃNH THỔ DU LỊCH TỈNH THÁI NGUYÊN
Ngành: Địa lí học
Mã số: 8.31.05.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Vân Anh
THÁI NGUYÊN, NĂM 2018
Trang 2
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này do chính bản thân tôi thực hiện, dưới sự hướng dẫn của TS Vũ Vân Anh Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa sử dụng để bảo vệ một công trình khoa học nào, mọi sự trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc Tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn
Tác giả
Nguyễn Thị Thanh Thúy
XÁC NHẬN CỦA KHOA CHUYÊN MÔN
XÁC NHẬN CỦA NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS Vũ Vân Anh
Trang 3hỗ trợ và cung cấp tài liệu để tôi có thể hoàn thành được luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, người thân và các bạn trong lớp Cao học Địa K24 đã luôn động viên, giúp đỡ tôi Đó là nguồn động lực rất lớn cho tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn! Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018
Học viên: Nguyễn Thị Thanh Thúy
K24 - Địa lí học
Trang 4iii
MỤC LỤC
Trang bìa phụ
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt iv
Danh mục bảng biểu v
Danh mục hình vẽ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu, nhiệm vụ và giới hạn của đề tài 1
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
4 Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu 4
5 Những đóng góp của luận văn 6
6 Cấu trúc luận văn 6
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ DU LỊCH 7
1.1 Cơ sở lí luận 7
1.1.1 Các khái niệm có liên quan 7
1.1.2 Các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch 9
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ du lịch 12
1.1.4 Vai trò và mục tiêu của tổ chức lãnh thổ du lịch 15
1.1.5 Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch cấp tỉnh 17
1.2 Cơ sở thực tiễn của tổ chức lãnh thổ du lịch 31
1.2.1 Tổ chức lãnh thổ du lịch ở Việt Nam 31
1.2.2 Tổ chức lãnh thổ du lịch vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ 34
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 37
Trang 5iv
Chương 2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ THỰC TRẠNG TỔ
CHỨC LÃNH THỔ DU LỊCH TỈNH THÁI NGUYÊN 38
2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Thái Nguyên 38
2.1.1 Vị trí địa lí 38
2.1.2 Tài nguyên du lịch 41
2.1.3 Cơ sở hạ tầng 54
2.2 Thực trạng phát triển và tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Thái Nguyên 56
2.2.1 Thực trạng phát triển du lịch theo ngành 56
2.2.2 Thực trạng phát triển du lịch theo lãnh thổ 63
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 76
CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG TỔ CHỨC LÃNH THỔ DU LỊCH TỈNH THÁI NGUYÊN ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030 VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN 77
3.1 Định hướng tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 77
3.1.1 Các cơ sở của định hướng 77
3.1.2 Định hướng phát triển du lịch tỉnh Thái Nguyên 79
3.2 Các giải pháp phát triển tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Thái Nguyên 81
3.2.1 Xây dựng các trung tâm, tuyến, điểm du lịch 82
3.2.2 Thị trường và sản phẩm du lịch 82
3.2.3 Xây dựng và phát triển các loại hình du lịch 83
3.2.4 Xây dựng cơ sở hạ tầng 83
3.2.5 Liên kết du lịch trong và ngoài tỉnh 84
3.2.6 Nhóm các giải pháp khác 84
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 89
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92 PHỤ LỤC
Trang 6TDMNBB Trung du miền núi Bắc Bộ
iv
Trang 7vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Bảng đánh giá tổng hợp điểm du lịch 23
Bảng 1.2 Bảng đánh giá mức độ thuận lợi của điểm du lịch 24
Bảng 1.3 Bảng đánh giá tổng hợp cụm du lịch 27
Bảng 1.4 Bảng đánh giá mức độ thuận lợi của cụm du lịch 27
Bảng 1.5 Bảng đánh giá tổng hợp tuyến du lịch 30
Bảng 1.6 Bảng đánh giá mức độ thuận lợi của tuyến du lịch 31
Bảng 2.1 Diễn biến khách du lịch đến tỉnh Thái Nguyên từ năm 2010 – 2016 56
Bảng 2.2 Diễn biến khách du lịch do các cơ sở lưu trú và khách tại các điểm tham quan trong tỉnh Thái Nguyên từ năm 2010 – 2016 57
Bảng 2.3 Thời gian khách du lịch lưu trú tỉnh Thái Nguyên từ năm 2010 – 2016……….58
Bảng 2.4 Doanh thu của các cơ sở lưu trú và các cơ sở lữ hành đến 59
Bảng 2.5 Các cơ sở lưu trú của tỉnh Thái Nguyên từ năm 2010 – 2016 62
Bảng 2.6 Tổng số buồng của tỉnh Thái Nguyên từ năm 2010 – 2016 62
Bảng 2.7 Tổng số lao động trong các doanh nghiệp du lịch (người) 63
Bảng 2.8 Kết quả đánh giá mức độ thuận lợi của các khu du lịch 74
v
Trang 8vii
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Sơ đồ hệ thống lãnh thổ du lịch (M.Bưchơvarốp, 1975) 10
Hình 1.2 Các điểm, tuyến, khu du lịch vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ 36
Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Thái Nguyên 40
Hình 2.2 Tài nguyên du lịch tỉnh Thái Nguyên 46
Hình 2.3 Biểu đồ thể hiện lượt khách du lịch đến Thái Nguyên 57
Hình 2.4 Biểu đồ thời gian khách du lịch lưu trú tỉnh Thái Nguyên 58
Hình 2.5 Bản đồ tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Thái Nguyên 65
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong xu thế hiện nay, cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế thì du lịch
(DL) đã dần trở thành một ngành quan trọng được ví là “công nghiệp không khói”, giữ
vị trí then chốt mang lại hiệu quả kinh tế xã hội (KTXH) và môi trường (MT) ở nhiều quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng
Thái Nguyên là một tỉnh thuộc Trung du miền núi Bắc Bộ (TDMNBB) có thế mạnh về tài nguyên tự nhiên và nhân văn, nguồn lao động, cơ sở hạ tầng (CSHT) và cơ sở vật chất kỹ thuật (CSVCKT) Thái Nguyên đã tận dụng được nguồn tài nguyên về DL để phát triển mạnh các loại hình DL trong thời gian gần đây và đã đạt được kết quả đáng kể trong lĩnh vực này, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế của tỉnh Vì thế trên đường hội nhập, DL Thái Nguyên có nhiều lợi thế để phát triển nhiều loại hình DL mà đông đảo khách DL quốc tế đang hướng tới hiện nay đó là: DL tham quan nghỉ dưỡng, DL mạo hiểm, DL sinh thái và DL cộng đồng… Ngành DL Thái Nguyên đã bắt đầu khởi sắc và đạt được những kết quả bước đầu Tuy nhiên, trong điều kiện tỉnh còn nhiều khó khăn, hoạt động DL hiện còn nhiều hạn chế mà một trong những nguyên nhân của tình trạng đó
là việc tổ chức lãnh thổ du lịch (TCLTDL) Lãnh thổ du lịch (LTDL) nếu được tổ chức tốt
sẽ mang lại hiệu quả cao về kinh tế - xã hội - môi trường trên cơ sở khai thác tốt nguồn lực của tỉnh, tận dụng tối đa các nguồn lực bên ngoài
Với những lý do trên tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài "Nghiên cứu hình thức
tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Thái Nguyên" làm đề tài luận văn thạc sỹ
2 Mục tiêu, nhiệm vụ và giới hạn của đề tài
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở có chọn lọc những vấn đề lí luận và thực tiễn về TCLTDL đề tài tập trung nghiên cứu các tiềm năng phát triển DL của tỉnh Thái Nguyên, trong đó đi sâu vào tìm hiểu thực trạng TCLTDL tỉnh Thái Nguyên Từ đó đưa ra những định hướng và giải pháp nhằm phát huy tiềm năng DL của tỉnh một cách bền vững và đạt hiệu quả cao
2.2 Nhiệm vụ của đề tài
- Tổng quan có chọn lọc cơ sở lí luận và thực tiễn về TCLTDL, xây dựng hệ thống tiêu chí để xác định các hình thức TCLTDL áp dụng vào địa bàn nghiên cứu
- Phân tích tiềm năng tài nguyên phục vụ TCLTDL ở tỉnh Thái Nguyên
- Đánh giá nhân tố ảnh hưởng và hiện trạng phát triển DL theo ngành và theo
Trang 10- Về thời gian: Nghiên cứu chủ yếu từ năm 2010 đến nay và định hướng đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030
- Về nội dung: Xây dựng hệ thống lãnh thổ DL ở các cấp điểm, cụm, tuyến, đồng thời đánh giá tiềm năng cũng như thực trạng phát triển DL ở Thái Nguyên, đề xuất các giải pháp để phát triển DL bền vững
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3.1 Trên thế giới
Những công trình nghiên cứu đầu tiên về DL có tầm quan trọng trên thế giới có thể kể đến là những nghiên cứu đầu tiên về các loại hình DL, khảo sát về vai trò lãnh thổ, lịch sử, những nhân tố ảnh hưởng chính đến hoạt động du lịch của Poser (1939), Christaleer (1955)… được tiến hành ở Đức năm 1930 Tiếp theo đó là các công trình đánh giá các thể tổng hợp tự nhiên phục vụ giải trí của Mukhina (1973); nghiên cứu sức chứa và sự ổn định của các điểm du lịch của Khadaxkia (1972) và Sepfer (1973) Các nhà địa lý cảnh quan học của Trường Đại học Tổng hợp Matxcova như E.D Xmirnova, V.B Nhefedova… đã nghiên cứu các vùng cho mục đích nghỉ dưỡng trên lãnh thổ Liên Xô (cũ) Ngoài ra các nhà địa lý Mỹ như Bôhart (1971), nhà địa lý Anh H.Robison (1976), các nhà địa lý Canada… cũng đã tiến hành đánh giá các loại tài nguyên thiên nhiên phục vụ mục đích DL Bên cạnh đó, một khía cạnh quan trọng trong nghiên cứu DL đã được quan tâm là vấn đề TCLTDL Các nhà địa lý DL trên thế giới đã có nhiều công trình nổi tiếng về vấn đề này được xem là kim chỉ nam - là cơ sở
lý luận có tính kế thừa cho các nghiên cứu về sau Các công trình nghiên cứu đã xác định đối tượng nghiên cứu của địa lý DL là hệ thống LTDL các cấp hoặc thể tổng hợp LTDL và phân tích cơ cấu tổng hợp các yếu tố trên địa bàn để phát triển DL
Trong những năm gần đây, những lợi ích của du lịch trở nên rõ ràng hơn cũng như tác động của nó đối với hàng loạt vấn đề nảy sinh mang tính toàn cầu thì việc
Trang 11nghiên cứu DL gắn với sự phát triển vùng lại càng trở nên cần thiết Ở Pháp, Jean - Lozoto (1990) đã nghiên cứu và phân tích các tụ điểm DL Các nhà địa lý Anh, Mỹ gắn công việc nghiên cứu LTDL với những dự án DL trên một miền hay một vùng cụ thể Nhìn chung, nhiều nhà địa lý đã xác định đối tượng nghiên cứu của địa lý DL là các hệ thống lãnh thổ hoặc tổng hợp LTDL, tức là xác định các hệ thống địa bàn phát triển DL trên lãnh thổ và phân tích cơ cấu tổng hợp các yếu tố trên địa bàn để phát triển DL
3.2 Ở Việt Nam
Lịch sử ngành DL Việt Nam được đánh dấu bắt đầu từ năm 1960, từ đó đến nay các công trình nghiên cứu địa lý DL nhìn chung vẫn chưa nhiều Phần lớn tập trung vào các vấn đề về tổ chức không gian DL, cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
DL với một số tác giả tiêu biểu như PGS.TS Vũ Tuấn Cảnh, GS.TS Lê Thông, PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ, PGS.TS Đặng Duy Lợi, PGS.TS Phạm Trung Lương… Nhiều công trình nghiên cứu có giá trị trong lĩnh vực này đã được thực hiện như: Đề
tài “Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam” do Vũ Tuấn Cảnh chủ trì (1991); “Cơ sở lý luận phương pháp nghiên cứu các điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch biển Việt Nam” do Nguyễn Trần Cầu và Lê Thông chủ trì (1993); “Quy hoạch quốc gia và vùng, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu” do Vũ Tuấn Cảnh, Lê Thông thực hiện (1994); 2 cuốn sách “Địa lý du lịch” (1996) và “Địa lý du lịch Việt Nam” (2010) do Nguyễn Minh Tuệ chủ biên; “Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam”
do Phạm Trung Lương chủ biên (2000)… Ngoài ra, còn có nhiều công trình nghiên cứu, một số dự án, đề tài tiêu biểu cấp Nhà nước, một số bài báo và các báo cáo trong các cuộc hội thảo về DL của các địa phương được thực hiện với sự tham gia các các nhà khoa học địa lý, các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ trong và ngoài nước Tiêu biểu
như luận án tiến sỹ: “Tổ chức lãnh thổ du lịch thành phố Hải Phòng” - Nguyễn Thanh Sơn (1997); “Phát triển du lịch thành phố Hồ Chí Minh với việc khai thác tài nguyên
du lịch vùng phụ cận” - Đỗ Quốc Thông (2004); “Tổ chức lãnh thổ du lịch Hòa Bình trên quan điểm bền vững” - Phạm Lê Thảo (2006); và một số bài báo có giá trị trên
các tạp chí Du lịch Việt Nam, Nghiên cứu kinh tế Trên thực tế, đã có một số công trình nghiên cứu về du lịch của Thái Nguyên của Tổng cục Du lịch hay Sở Văn hóa -
Du lịch (VH – DL) Thái Nguyên
Trang 12Tại Thái Nguyên việc tổ chức rà soát, đánh giá tiềm năng DL của tỉnh cũng đã được tiến hành nhằm thống kê tài nguyên DL của tỉnh và đã đề ra các giải pháp tổ chức lãnh thổ cho phù hợp với tài nguyên của tỉnh
4 Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1 Quan điểm nghiên cứu
4.1.1 Quan điểm hệ thống
Trong hệ thống các ngành kinh tế quốc dân, DL thuộc nhóm ngành dịch vụ có mối quan hệ mật thiết với các ngành kinh tế khác Vì vậy, khi nghiên cứu cần chú ý phân tích ảnh hưởng, sự tác động qua lại giữa các ngành kinh tế với sự phát triển và phân bố ngành DL
4.1.3 Quan điểm lịch sử viễn cảnh
Trong quá trình nghiên cứu cần chú ý đến nguồn gốc lịch sử đối tượng mà đề tài nghiên cứu, từ đó lý giải được sự hình thành phát triển của đối tượng, mà cụ thể ở đây là xem xét việc TCLTDL Thái Nguyên trong quá khứ, thực trạng phát triển hiện tại và đề ra những định hướng phát triển trong tương lai
4.1.4 Quan điểm sinh thái
Bản chất của TCLTDL là dựa trên môi trường tự nhiên, trong quá trình nghiên cứu phải hết sức chú ý tới mối tương tác của hoạt động DL và môi trường sinh thái Phải xem xét một cách toàn diện tác động của môi trường đến TCLTDL và ảnh hưởng của hoạt động TCLTDL Dự báo được những nguy cơ, tác hại hoạt động DL có thể gây ra cho MT để từ đó có những biện pháp bảo vệ MT đảm bảo cho hoạt động TCLTDL Thái Nguyên phát triển
4.1.5 Quan điểm phát triển du lịch bền vững
DL luôn phát triển trong thế vận động, biến đổi với mục tiêu chung là hình thành một hệ thống hoàn thiện, hợp lí trên cơ sở phát triển theo sự tiến bộ đi lên của nền kinh tế, dù có phát triển đến đâu cũng cần mang tính bền vững Nằm trong tổng
Trang 13thể nền kinh tế của vùng TDMNBB và của cả nước, DL tỉnh Thái Nguyên sẽ có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của ngành cũng như nền kinh tế của tỉnh, vùng và cả nước Các hoạt động kinh tế của con người ít hay nhiều đều tác động đến tài nguyên và MT
ở các mức độ khác nhau Hoạt động DL cũng không nằm ngoài qui luật ấy Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu phải chú ý việc bảo vệ MT thiên nhiên, xem xét một cách hợp lí nhất, thỏa đáng nhất các yếu tố về con người, cộng đồng dân cư, văn hóa, phong tục tập quán, lối sống, đảm bảo cho DL phát triển cả trong hiện tại và tương lai
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp đánh giá tổng hợp so sánh
Trên cơ sở nguồn tư liệu thu thập được chúng tôi tiến hành phân tích và tổng hợp, so sánh để làm nổi bật các vấn đề nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu Từ đó có cơ
sở đúng đắn để đánh giá thực trạng TCLTDL của tỉnh Thái Nguyên hiện nay
4.2.2 Phương pháp thống kê, biểu đồ
Khi thu thập tài liệu liên quan đến TCLTDL Thái Nguyên, nguồn tư liệu rất đa dạng và phong phú nên phương pháp này giúp lựa chọn, xử lý thiết lập thành hệ thống
để phục vụ cho việc nghiên cứu Nguồn thông tin, số liệu được thu thập từ nhiều nguồn tư liệu: cơ quan thống kê, sách báo, các bài nghiên cứu khoa học, mạng internet, để đảm bảo khối lượng thông tin đầy đủ, chính xác đáp ứng cho việc nghiên cứu đề tài Bên cạnh đó cũng sử dụng phương pháp biểu đồ, dựa vào nguồn số liệu thống kê để xây dựng thành các biểu đồ, thể hiện các con số một cách trực quan, sinh động, dễ nhìn ra vấn đề và cũng để minh họa cho vấn đề
4.2.3 Phương pháp bản đồ, hệ thống thông tin địa lí (GIS)
Đây là phương pháp nghiên cứu truyền thống trong Địa lý, phản ánh những đặc điểm không gian, sự phân bố các tài nguyên DL, CSHT, CSVCKT phục vụ DL Sử dụng các bản đồ thể hiện địa hình, thổ nhưỡng, hành chính đến các bản đồ DL, là cơ
sở để phân tích và phát hiện quy luật hoạt động của hệ thống LTDL, trên cơ sở đó đưa
ra định hướng phát triển và tổ chức hoạt động DL trong tương lai
4.2.4 Phương pháp thực địa
Đây là một phương pháp cần thiết khi nghiên cứu về TCLTDL ở một vùng cụ thể, bên cạnh đó có thể kết hợp với phương pháp điều tra xã hội học nghiên cứu nhu cầu của du khách, nắm bắt được sở thích thị hiếu của du khách qua hình thức phỏng vấn, điều tra Phương pháp này giúp nắm bắt được thị trường tiềm năng, thị trường mục tiêu, nắm bắt được nguyện vọng không chỉ của khách DL mà ngay cả những người làm công tác phục vụ DL và quản lí DL Để có những đánh giá và nhìn nhận khách quan về vấn đề nghiên cứu, ngoài việc
Trang 14thu thập dữ liệu, tác giả còn tiến hành các cuộc điều tra, khảo sát trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên như đến thăm quan các điểm, khu DL… Qua đó bổ sung thêm kiến thức thực tế và sưu tầm tranh ảnh minh họa cho đề tài thêm phong phú và có tính thuyết phục
4.2.5 Phương pháp dự báo
DL là ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, do vậy việc phân tích, dự báo xu hướng phát triển của ngành trong tương lai là việc làm hết sức cần thiết Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã tuân thủ những quan điểm và sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau Tuy nhiên, các phương pháp trên không tách rời nhau mà được vận dụng phối hợp với nhau
4.2.5 Phương pháp chuyên gia
Phương pháp này được sử dụng bằng cách tham khảo ý kiến của một số nhà khoa học, nhà quản lý trong lĩnh vực DL để bổ sung thông tin và kiểm định các đánh
giá, kết luận trong luận văn
5 Những đóng góp của luận văn
- Kế thừa, bổ sung và làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động DL để vận dụng vào tỉnh Thái Nguyên
- Làm rõ được những thế mạnh và hạn chế của các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố TCLTDL của tỉnh Thái Nguyên
- Đưa ra bức tranh hoạt động DL và một số hình thức TCLTDL tỉnh Thái Nguyên
- Đề xuất được một số giải pháp cụ thể nhằm khai thác có hiệu quả cũng như phát triển hợp lí và có chất lượng TCLTDL của tỉnh Thái Nguyên trong tương lai
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về TCLTDL
Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng và thực trạng TCLTDL tỉnh Thái Nguyên
Chương 3: Định hướng TCLTDL tỉnh Thái Nguyên đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030 và các giải pháp thực hiện
Trang 15Quan niệm về DL luôn là một vấn đề được tranh luận trong suốt một thời gian dài Từ khi thành lập Hiệp hội quốc tế các tổ chức du lịch International Union of Official Travel Organization (IOUTO) năm 1925 tại Hà Lan, theo Hiệp hội IOUTO
khái niệm du lịch được hiểu một cách đầy đủ như sau: “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan đến sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức về văn hóa kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về
tự nhiên, kinh tế, văn hóa” (P.I.pirogionic)
Theo điểm 1, điều 10, trang 8, Theo Pháp lệnh du lịch do Chủ tịch nước ta kí
ngày 20/2/1999: “Du lịch là hoạt động con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một thời gian nhất định” Theo sổ tay Thuật ngữ Địa lý: “Du lịch là ngành dịch vụ chuyên lo khai thác các tài nguyên thiên nhiên, văn hóa để tổ chức các cuộc tham quan, đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí, bồi dưỡng sức khỏe nâng cao hiểu biết cho nhân dân trong nước cũng như khách nước ngoài”
Theo điều 3, chương 1 của Luật du lịch 2017 “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”[45]
Như vậy, DL là một ngành kinh tế dựa trên các tài nguyên du lịch (TNDL) phục
vụ nhu cầu vui chơi, giải trí, tham quan và nghỉ dưỡng của con người
1.1.1.2 Tài nguyên du lịch
Trang 16Theo Luật Du lịch Việt Nam (2017) “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa”[45]
“Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm cảnh quan thiên nhiên, các yếu tố địa chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái và các yếu tố tự nhiên khác có thể được sử dụng cho mục đích du lịch”[45]
“Tài nguyên du lịch văn hóa bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, di tích cách mạng, khảo cổ, kiến trúc; giá trị văn hóa truyền thống, lễ hội, văn nghệ dân gian và các giá trị văn hóa khác; công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng cho mục đích du lịch”[45]
Trong nghiên cứu DL, TCLT là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu, bởi vì không thể tổ chức và quản lí có hiệu quả hoạt động DL nếu không xem xét khía cạnh không gian lãnh thổ của nó, để hoạt động DL phát triển hiệu quả, vừa mang tính chất nghỉ ngơi, chữa bệnh vừa là một ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều nước trên thế giới, TCLTDL phải hợp lí khoa học
Thực tế, TCLTDL chính là sự phân hóa không gian của DL căn cứ trên các điều kiện tài nguyên DL, hiện trạng CSHT, CSVCKT và lao động ngành cùng các mối liên
hệ với điều kiện phát sinh của ngành với các ngành khác, với các địa phương khác và rộng hơn là mối liên hệ với các nước trong khu vực và trên thế giới
Như vậy, hiểu một cách đơn giản nhất, TCLTDL là một hệ thống liên kết không gian của các đối tượng DL và các cơ sở phục vụ có liên quan, dựa trên việc sử dụng tối
ưu các nguồn tài nguyên DL (tự nhiên và văn nhân), kết cấu hạ tầng và các nhân tố khác nhằm đạt hiệu quả (kinh tế, xã hội, môi trường) cao nhất
Trang 171.1.2 Các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch
TCLTDL là một dạng của tổ chức lãnh thổ KTXH Cùng với sự phát triển của
xã hội, trước hết là của sức sản xuất, đã dần dần xuất hiện các hình thức TCLTDL Trên bình diện vĩ mô có 3 hình thức chủ yếu: hệ thống lãnh thổ DL, cụm tương hỗ phát triển DL (thể tổng hợp lãnh thổ DL), vùng DL
1.1.2.1 Hệ thống lãnh thổ du lịch
“Hệ thống lãnh thổ du lịch thường được coi là hệ thống xã hội được tạo thành bởi các yếu tố có quan hệ qua lại mật thiết với nhau, đó là: nhóm người đi du lịch, các tổng thể tự nhiên, văn hoá - lịch sử, cơ sở vật chất - kĩ thuật, đội ngũ cán bộ công nhân viên và bộ phận tổ chức quản lý Nét đặc trưng quan trọng của hệ thống lãnh thổ du lịch là tính hoàn chỉnh về chức năng và lãnh thổ” [36, trang 100]
Về phương diện cấu trúc, hệ thống LTDL là một hệ thống bao gồm nhiều thành phần có mối liên hệ chặt chẽ Đó là một hệ thống mở, phức tạp gồm có cấu trúc bên trong
và cấu trúc bên ngoài Cấu trúc bên trong bao gồm các nhân tố hoạt động với sự tác động qua lại, còn cấu trúc bên ngoài gồm các mối liên hệ với điều kiện phát sinh và các hệ thống khác Đây là một dạng đặc biệt của địa hệ mang tính hỗn hợp, có đủ các thành phần
tự nhiên, kinh tế, xã hội và chịu sự chi phối của nhiều quy luật cơ bản khác nhau
Về phương diện hệ thống, hệ thống LTDL được cấu thành bởi nhiều phân hệ khác nhau về bản chất, nhưng có mối liên hệ mật thiết với nhau Đó là các phân hệ khách du lịch, tổng thể tự nhiên, lịch sử, văn hoá, các công trình kĩ thuật, cán bộ phục vụ và điều khiển
Phân hệ khách du lịch là phân hệ trung tâm, quyết định những yêu cầu với phân
hệ khác của hệ thống bởi vì các thành phần này phụ thuộc vào đặc điểm của khách DL Các đặc trưng của phân hệ khách là cấu trúc và lượng nhu cầu, tính lựa chọn, tính mùa
vụ và tính đa dạng của luồng khách DL
Phân hệ tổng thể tự nhiên, lịch sử - văn hóa là phân hệ tham gia hệ thống với
tư cách là tài nguyên, là điều kiện để thoả mãn nhu cầu nghỉ ngơi DL và là cơ sở lãnh thổ cho việc hình thành hệ thống Tổng thể này có sức chứa, độ tin cậy, tính thích hợp, tính ổn định và tính hấp dẫn Phân hệ này được đặc trưng bằng lượng nhu cầu, diện tích phân bố và thời gian khai thác
Phân hệ cơ sở vật chất - kỹ thuật là phân hệ đảm bảo cho cuộc sống bình thường
của khách du lịch, nhân viên phục vụ và những nhu cầu giải trí đặc biệt (chữa bệnh,
Trang 18tham quan, du lịch…) Toàn bộ CSVCKT là điều kiện cần thiết để phát triển DL Nét đặc trưng của phân hệ là sức chứa, tính đa dạng, tính thích hợp, mức độ chuẩn bị để khai thác
Phân hệ cán bộ nhân viên phục vụ là phân hệ hoàn thành chức năng dịch vụ cho
du khách và đảm bảo cho các xí nghiệp hoạt động bình thường Đặc trưng của phân hệ này là số lượng, trình độ chuyên môn - nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ nhân viên và mức độ đảm bảo của lực lượng lao động
4 Phân hệ tài nguyên du lịch
5 Phân hệ cơ sở vật chất kĩ thuật
Luồng khách du lịch
Các mối liên hệ bên trong hệ thống
Như vậy, TCLTDL là một hệ thống bao gồm nhiều phân hệ có mối quan hệ tương tác và bổ trợ nhau
1.1.2.2 Cụm tương hỗ phát triển du lịch
Cụm tương hỗ phát triển DL trước đây được xem là thể tổng hợp LTDL theo
quan niệm của các nhà địa lí Xô Viết.“Cụm tương hỗ phát triển du lịch là tập hợp theo khu vực các doanh nghiệp, nhà cung cấp và dịch vụ du lịch có mối liên kết với nhau”
[36, trang 103] Tại một khu vực địa lí nhất định có nhiều doanh nghiệp DL liên hệ với
4
Trang 19nhau, hỗ trợ nhau, phối hợp với nhau; nhờ đó làm tăng hiệu quả khai thác TNDL, CSVCKT, giảm bớt chi phí đầu vào, tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp
Cụm tương hỗ phát triển DL hình thành khi các lợi thế cạnh tranh thúc đẩy hoặc dẫn đến việc gia tăng sự bố trí và sự phát triển các doanh nghiệp DL và dịch vụ thuộc các lĩnh vực khác nhau, nhưng cần đến nhau để tận dụng các cơ hội qua liên kết địa lí trong một lãnh thổ nhất định
Cụm tương hỗ phát triển DL được hình thành trên những điều kiện sau:
+ Một không gian địa lí nhất định
+ Có một hoặc một vài doanh nghiệp du lịch đóng vai trò hạt nhân
Các doanh nghiệp DL tự nguyện liên kết với nhau thông qua hợp đồng kinh tế hoặc biên bản thỏa thuận liên kết và trên cơ sở đó cùng thu được lợi ích kinh tế, cùng
có được sự cạnh tranh cần thiết
+ Chính quyền địa phương khuyến khích liên kết thành cụm và tạo điều kiện hỗ trợ các doanh nghiệp thực thi nguyện vọng của mình
1.1.2.3 Vùng du lịch
Theo E.A Kotliarov (1978), vùng du lịch là: 1) Một lãnh thổ hoàn chỉnh với sự kết hợp các điều kiện, đối tượng và chuyên môn hoá DL; 2) Không chỉ là lãnh thổ để nghỉ ngơi, chữa bệnh, giải trí mà còn là một cơ chế kinh tế hành chính phức tạp; 3) Có các xí nghiệp nông nghiệp, công nghiệp, vận tải, xây dựng và các cơ sở văn hoá; 4) Hình thành do phân công lao động theo lãnh thổ trong lĩnh vực phi sản xuất [dẫn theo
36, trang 105]
Theo quan điểm của N.X Mironeko và I.T Tirodokholebok (1981): “Vùng du lịch là một cộng đồng lãnh thổ của các xí nghiệp du lịch chuyên môn hoá phục vụ du khách có quan hệ về mặt kinh tế nhằm thoả mãn tốt các nhu cầu của khách trên cơ sở
sử dụng tổng thể tự nhiên, văn hoá - lịch sử hiện có và các điều kiện kinh tế của lãnh thổ” [dẫn theo 36, trang 105]
Theo I I Pirojonik (1985), “Vùng du lịch là hệ thống lãnh thổ kinh tế - xã hội, một tập hợp các hệ thống lãnh thổ du lịch thuộc mọi cấp có liên hệ với nhau và các xí nghiệp thuộc cơ sở hạ tầng nhằm đảm bảo cho hoạt động của hệ thống lãnh thổ du lịch với việc có chung chuyên môn hoá và các điều kiện kinh tế - xã hội để phát triển
du lịch” [dẫn theo 36, trang 105]
Trang 20Trong Báo cáo Quy hoạch tổng thể phát triển DL Việt Nam 1995 - 2010 thì:
“Vùng du lịch là một hệ thống lãnh thổ kinh tế - xã hội bao gồm một tập hợp các hệ thống lãnh thổ du lịch thuộc mọi cấp có quan hệ với nhau và các cơ sở hạ tầng nhằm đảm bảo cho sự hoạt động của các hệ thống lãnh thổ du lịch” [dẫn theo 36, trang 105]
Như vậy, có rất nhiều quan niệm về vùng DL và mỗi quan niệm có những ưu,
khuyết điểm khác nhau Chung quy lại có thể hiểu: “Vùng du lịch là một bộ phận lãnh thổ đất nước, có phạm vi và ranh giới xác định, có những nét đặc thù về tài nguyên du lịch (tự nhiên và nhân văn), điều kiện vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng, sản phẩm du lịch đặc trưng… cho phép hình thành và phát triển hiệu quả các hệ thống lãnh thổ du lịch dựa trên cơ sở các mối liên hệ nội vùng và liên vùng” [36, trang 106]
Trên quan điểm hệ thống có thể trình bày vùng DL như một tập hợp hệ thống lãnh thổ được tạo nên bởi hai yếu tố có quan hệ mật thiết với nhau Hệ thống LTDL và các mối liên hệ nội vùng và liên vùng (không gian KTXH xung quanh) nhằm đảm bảo cho cả hệ thống hoạt động có hiệu quả Mối liên hệ giữa các yếu tố tạo thành hệ thống LTDL mang tính chất liên hệ công nghệ, có tác dụng thực hiện đầy đủ các khâu công nghệ của quá trình DL Còn các mối liên hệ nội vùng và liên vùng là các mối liên hệ kinh tế
Như vậy, hệ thống LTDL là hạt nhân tạo nên vùng du lịch Hệ thống LTDL và vùng DL là các khái niệm rất gần gũi với nhau, đồng thời lại có những sự khác biệt cơ bản Sự khác biệt giữa chúng là ở chỗ hệ thống LTDL là hạt nhân của vùng DL Chính
từ hạt nhân này đã tạo điều kiện cho sự xuất hiện và phát triển của vùng trong môi trường xung quanh Các yếu tố của môi trường nuôi dưỡng hạt nhân, giúp cho nó hoạt động và cùng với bản thân hạt nhân trở thành vùng DL Hệ thống LTDL không phải là toàn bộ lãnh thổ của vùng mà chỉ là nơi tập trung nguồn TNDL và các công trình kĩ thuật Vùng DL có không gian rộng lớn hơn trong đó bao gồm cả các khu vực sản xuất hàng hoá, vật liệu năng lượng, có đội ngũ cán bộ thông tin, kho tàng, các công trình công cộng Quan hệ giữa hệ thống LTDL và vùng DL tương tự như quan hệ giữa tổng hợp sản xuất - lãnh thổ và vùng kinh tế tổng hợp
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ du lịch
TCLTDL chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như: vị trí địa lí, tài nguyên du lịch, điều kiện KTXH và chính trị, CSHT
Trang 211.1.3.1 Vị trí địa lí (VTĐL)
Vị trí địa lí là một trong những nhân tố tác động không nhỏ đến các mặt KTXH của một lãnh thổ, trong đó có hoạt động DL Trong DL, VTĐL ảnh hưởng đến khả năng trung chuyển khách, đến sức hút đối với các luồng khách, đến tính liên kết trong phát triển DL Một địa bàn DL có vị trí gần các trung tâm kinh tế, nằm trên các tuyến đường trọng yếu thường mang lại khả năng phát triển DL lớn do du khách có thu nhập cao và việc đi lại dễ dàng VTĐL còn tác động đến tính liên kết vùng để đảm bảo khai thác DL hiệu quả nhất trên cơ sở khai thác chung những nguồn lực và phát triển những sản phẩm đặc trưng Ngoài ra, VTĐL còn tác động đến các yếu tố khác như khí hậu, thủy văn, sinh vật, văn hóa… qua đó gián tiếp tác động đến hoạt động DL
1.1.3.2 Tài nguyên du lịch
Du lịch là ngành có sự định hướng tài nguyên TNDL là yếu tố cơ bản để tạo thành sản phẩm DL, là cơ sở quan trọng để phát triển các loại hình DL TNDL ảnh hưởng trực tiếp đến cấu trúc và CMH của vùng DL Quy mô hoạt động của điểm, cụm, tuyến DL được xác định trên cơ sở khối lượng TNDL TNDL là một trong những yếu tố
cơ sở để tạo vùng DL Số lượng tài nguyên vốn có, chất lượng và mức độ kết hợp của các loại tài nguyên trên lãnh thổ có ý nghĩa đặc biệt trong việc hình thành và phát triển
du lịch của một vùng hay một quốc gia Một lãnh thổ nào đó có nhiều TNDL và có chất lượng cao, mức độ kết hợp của các loại tài nguyên phong phú thì sẽ thu hút nhiều khách
DL
1.1.3.3 Các nhân tố kinh tế - xã hội và chính trị
Dân cư và lao động là lực lượng quan trọng của nền sản xuất xã hội Cùng với
hoạt động lao động, họ còn có nhu cầu nghỉ ngơi du lịch Dân số càng đông, lực lượng tham gia vào các ngành sản xuất và dịch vụ ngày càng nhiều thì DL càng có điều kiện phát triển, TCLTDL càng được mở rộng
Sự phát triển của nền sản xuất xã hội và các ngành kinh tế có tác dụng làm xuất
hiện nhu cầu DL và biến nhu cầu thành hiện thực Tiếp theo đó nó đưa DL hoạt động với tốc độ nhanh hơn
Điều kiện an ninh chính trị và an toàn xã hội là đòn bẩy cho hoạt động DL
Ngược lại, DL có tác dụng củng cố hòa bình Hoà bình và sự ổn định về chính trị là điều kiện đặc biệt quan trọng thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của du lịch trong nước và
Trang 22quốc tế DL chỉ có thể xuất hiện trong điều kiện hoà bình và quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc
Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch thay đổi theo không gian, thời gian và trở thành một
trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình ra đời và phát triển DL Nhu cầu nghỉ ngơi là hình thức thể hiện và giải quyết mâu thuẫn giữa chủ thể với MT bên ngoài, giữa điều kiện sống hiện có với điều kiện sống cần có thông qua các dạng nghỉ ngơi khác nhau Nhu cầu nghỉ ngơi DL đặc trưng cho mọi giai đoạn phát triển của xã hội
Cách mạng khoa học – công nghệ và xu hướng hội nhập quốc tế là những nhân
tố trực tiếp làm nảy sinh nhu cầu và hoạt động DL Chính chúng đã làm thay đổi tận gốc nền sản xuất xã hội, thay thế lao động cơ bắp bằng lao động cơ giới và tự động Cường độ làm việc nhanh chóng và mức độ căng thẳng cao làm xuất hiện nhu cầu nghỉ ngơi Mặt khác, hiệu quả sản xuất được nâng cao làm gia tăng thu nhập cũng có nghĩa
là gia tăng khả năng tham gia DL Đồng thời, nó còn giúp hoàn thiện và hiện đại hóa (HĐH) CSHT và CSVCKT du lịch giúp cho ngành hoạt động ngày càng hiệu quả
Đô thị hóa góp phần đẩy mạnh nhu cầu DL Đô thị hóa tạo ra lối sống đô thị mà
ở đó nhận thức của con người về sức khỏe, sự hiểu biết cũng như nhu cầu nghỉ ngơi, tham quan, tận hưởng không khí trong lành trở nên cao hơn
Điều kiện sống của người dân là nhân tố quan trọng để phát triển DL DL chỉ có
thể phát triển khi mức sống của con người đạt đến một trình độ nhất định Mức sống tăng lên góp phần phát triển rộng rãi hoạt động DL
Thời gian rỗi là nhân tố rất quan trọng để phát triển loại hình DL, đặc biệt là
loại hình DL dài ngày Cùng với sự phát triển và tiến bộ xã hội, thời gian nghỉ ngơi của người lao động không ngừng được nâng lên
1.1.3.4 Cơ sở hạ tầng
CSHT du lịch đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tạo ra và thực hiện sản phẩm DL cũng như quyết định mức độ khai thác tiềm năng du lịch Có TNDL hấp dẫn, nhưng CSHT kém phát triển thì TNDL chỉ dưới dạng tiềm năng CSHT có vai trò đặc biệt trong việc đẩy mạnh hoạt động du lịch Vai trò quan trọng đầu tiên phải kể đến
hệ thống giao thông vì hoạt động du lịch gắn liền với việc di chuyển của con người Tiếp theo, thông tin liên lạc là điều kiện để đảm bảo thông tin cho du khách trong và ngoài nước Ngoài ra cần phải nói đến việc cung cấp điện, nước phục vụ trực tiếp cho các cơ
sở du lịch Như vậy CSHT là tiền đề và là đòn bẩy của hoạt động du lịch
Trang 23Tóm lại, có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến TCLTDL, trong số đó TNDL có ý nghĩa rất lớn, quyết định đến việc hình thành và phát triển của lãnh thổ du lịch
1.1.4 Vai trò và mục tiêu của tổ chức lãnh thổ du lịch
1.1.4.1 Vai trò
Du lịch là ngành có định hướng rõ rệt về tài nguyên, nếu không có tài nguyên thì không có hoạt động du lịch và không thể TCLTDL Nghiên cứu TCLTDL và xây dựng các hình thức tổ chức theo không gian hợp lí giúp cho hoạt động du lịch có điều kiện sử dụng hợp lí và có hiệu quả các nguồn lực, đặc biệt là TNDL
Nghiên cứu TCLTDL còn tạo điều kiện đẩy mạnh CMH du lịch CMH du lịch
có tính chất đặc biệt, đây là một hiện tượng khách quan gắn với các nguồn lực mà trước hết là TNDL Với sự phát triển của nền sản xuất xã hội và các quy luật khách quan khác trong các hình thái KTXH khác nhau, liên quan đến trình độ phát triển của sức sản xuất, khi nền sản xuất xã hội phát triển, nhu cầu du lịch ngày càng cao thì sự CMH du lịch ngày càng sâu sắc Thực tế ngành du lịch có bốn hướng CMH là:
+ CMH theo loại hình dịch vụ;
+ CMH theo loại hình du lịch;
+ CMH theo giai đoạn của quá trình du lịch;
+ CMH theo các công đoạn sản xuất dịch vụ du lịch
Việc nghiên cứu TCLTDL nói chung và vạch ra các tuyến, điểm du lịch trên một lãnh thổ nói riêng còn góp phần quan trọng tạo ra những sản phẩm du lịch đặc sắc
có khả năng thu hút khách du lịch, tăng cường khả năng cạnh tranh Sản phẩm du lịch
là sự kết hợp những dịch vụ và phương tiện vật chất trên cơ sở khai thác tiềm năng du lịch nhằm cung cấp cho du khách một khoảng thời gian thú vị, một kì nghỉ trọn vẹn và
sự hài lòng về kì nghỉ đó Những sản phẩm càng độc đáo, chất lượng càng cao, sự lôi cuốn du khách càng mạnh Nhưng việc hình thành các sản phẩm du lịch phụ thuộc nhiều vào TNDL và việc khai thác TNDL đó như thế nào cho hài lòng du khách TNDL sẽ chỉ dưới dạng tiềm năng nếu không được khai thác phục vụ cho mục đích
du lịch Chính việc TCLTDL hợp lí là một trong những biện pháp hàng đầu nhằm tạo ra và khai thác hữu hiệu các sản phẩm du lịch độc đáo
Nghiên cứu TCLTDL có ý nghĩa cả về mặt lí luận và thực tiễn Việc nhận thức chúng một cách đúng đắn sẽ tạo ra những tiền đề cần thiết nhằm sử dụng hợp lí và có hiệu quả các nguồn lực du lịch để phát triển KTXH Hiệu quả là làm chuyển dịch cơ
Trang 24cấu kinh tế, tăng thu nhập người dân, bảo tồn các di sản tự nhiên và văn hóa, bảo vệ mội trường…
Theo Clare A.Gunn (1993) [dẫn theo 15, trang 19 ] có bốn mục tiêu cơ bản cần nắm được khi tiến hành TCLT du lịch:
+ Đáp ứng sự hài lòng và sự thoả mãn của khách du lịch;
+ Đạt được những thành quả về kinh doanh và kinh tế;
+ Bảo vệ nguồn TNDL;
+ Sự thống nhất ở vùng du lịch và cộng đồng
Bốn mục tiêu này phải được xem xét như những động cơ thúc đẩy đối với tất cả các cơ quan hữu quan tham gia vào trong dự án và phải phát triển những chiến lược và đối sách cần thiết nhằm thực hiện chúng cho bằng được
TCLTDL phải đáp ứng sự hài lòng và sự thoả mãn của khách du lịch Mỗi du khách trước khi đi du lịch đều có mục tiêu cụ thể Có du khách đi du lịch để tham quan ngắm cảnh, có du khách để nghỉ ngơi thư giãn, có du khách để nghiên cứu học hỏi
Vì vậy, khi nghiên cứu TCLTDL phải đặt mục tiêu đạt được đó là sự hài lòng, thoả mãn của khách du lịch Có như vậy mới thu hút được khách du lịch
Du lịch là một ngành kinh tế vì vậy không thể không đặt mục tiêu về kinh tế TCLTDL như thế nào để đạt hiệu quả kinh tế cao Tuy nhiên, không phải bằng mọi giá
để đạt hiệu quả cao nhất về kinh tế mà không chú trọng về môi trường Mục tiêu cũng hết sức quan trọng đó là phải bảo vệ tài nguyên du lịch để đảm bảo cho sự phát triển bền vững Các loại tài nguyên du lịch dễ bị xuống cấp nếu chúng ta không bảo vệ giữ gìn và luôn đầu tư tu bổ Trong quá trình khai thác tài nguyên cần phải bảo vệ, giữ gìn tài nguyên để có thể khai thác lâu dài và hiệu quả hơn
Mục tiêu rất quan trọng của TCLTDL đó là sự thống nhất của vùng du lịch và cộng đồng Trong mỗi vùng du lịch có cộng đồng cư dân sinh sống Mọi hoạt động
Trang 25kinh tế diễn ra trong vùng du lịch chủ yếu do cộng đồng dân cư Việc thống nhất vùng
du lịch và cộng đồng dân cư sẽ là động lực để đảm bảo cho sự phát triển kinh tế
1.1.5 Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch cấp tỉnh
1.1.5.1 Đánh giá điểm du lịch
Trong phạm vi của một tỉnh, các hình thức TCLTDL bao gồm: điểm, cụm và tuyến du lịch Luận văn sẽ xây dựng tiêu chí đánh giá các hình thức TCLTDL nêu trên
a Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá điểm du lịch
Để xác định được các điểm du lịch với các ý nghĩa khác nhau cần có những tiêu chí cụ thể Đã có một số tác giả [11], [15], [16] xây dựng tiêu chí đánh giá điểm du lịch Kế thừa những nghiên cứu của các tác giả và để phù hợp với nội dung, phạm vi
và địa bàn nghiên cứu, các tiêu chí xây dựng để đánh giá điểm du lịch trong luận văn
gồm các tiêu chí
- Độ hấp dẫn của tài nguyên du lịch
Độ hấp dẫn của tài nguyên du lịch có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo nên điểm du lịch Sự hấp dẫn là yếu tố có tính tổng hợp được xác định bằng vẻ đẹp của phong cảnh, địa hình, khí hậu và những nét độc đáo khác của điểm du lịch có thể đáp ứng được nhiều loại hình du lịch Tiêu chí này được chia thành 4 cấp: rất hấp dẫn, khá hấp dẫn, hấp dẫn trung bình và kém hấp dẫn
+ Rất hấp dẫn: Điểm du lịch có phong cảnh đẹp và đa dạng hoặc có hiện
tượng, di tích lịch sử đặc biệt, đáp ứng được trên 4 loại hình du lịch;
+ Hấp dẫn: Điểm du lịch có phong cảnh khá đẹp, đa dạng hoặc có hiện tượng,
di tích lịch sử đặc biệt, có thể đáp ứng được từ 3 đến 4 loại hình du lịch;
+ Hấp dẫn trung bình: Điểm du lịch có phong cảnh tương đối đẹp hoặc có hiện
tượng, di tích lịch sử có thể đáp ứng được 2 loại hình du lịch;
+ Kém hấp dẫn: Điểm du lịch có phong cảnh đẹp hoặc hiện tượng, di tích lịch
sử có thể đáp ứng được 1 loại hình du lịch
- Thời gian hoạt động du lịch (tính thời vụ)
Hoạt động du lịch phụ thuộc nhiều vào các yếu tố tự nhiên, văn hóa nên mang tính chất thời vụ Tính thời vụ đã trở thành đối tượng của các chương trình du lịch Thời gian hoạt động ở các điểm du lịch được xác định bằng số thời gian thích hợp nhất của điều kiện khí hậu đối với sức khỏe du khách, của các yếu tố văn hóa xã hội để
Trang 26triển khai các hoạt động du lịch Nó có vai trò quan trọng đến độ hấp dẫn du lịch, phương hướng đầu tư và khai thác hiệu quả các hoạt động du lịch Thời gian hoạt động
du lịch được chia làm bốn cấp:
+ Rất dài: có trên 200 ngày/năm có thể tiến hành tốt các hoạt động du lịch và có
trên 180 ngày/năm có khí hậu thích hợp với sức khỏe con người, có sự kiện văn hóa đặc sắc diễn ra;
+ Dài: có từ 150 - 200 ngày/năm có thể tiến hành tốt các hoạt động du lịch và
có từ 120 - 180 ngày/năm có khí hậu thích hợp với sức khỏe con người, có sự kiện văn hóa đặc sắc diễn ra;
+ Trung bình: có từ 100 - 150 ngày/năm có thể tiến hành tốt các hoạt động du
lịch và có từ 90 - 120 ngày/năm có khí hậu thích hợp với sức khỏe con người, có sự kiện văn hóa đặc sắc diễn ra;
+ Ngắn: có dưới 100 ngày/năm có thể tiến hành tốt các hoạt động du lịch và có
dưới 90 ngày/năm có khí hậu thích hợp với sức khỏe con người, có sự kiện văn hóa đặc sắc diễn ra
- Sức chứa khách du lịch
Ở những điểm du lịch, sự bền vững luôn đi liền với khái niệm sức chứa Tính toán sức chứa du lịch là việc làm rất cần thiết nhằm quản lý các hoạt động du lịch ở giới hạn cho phép, hạn chế các tác động tiêu cực đến môi trường Inskeep (1991) cho
rằng:“Phân tích sức chứa hiện nay là một kỹ thuật cơ bản và được bắt đầu sử dụng rộng rãi trong quy hoạch du lịch và giải trí nhằm xác định một cách có hệ thống những giới hạn trên của sự phát triển và khả năng sử dụng tối ưu của khách du lịch về các loại tài nguyên đó” [dẫn theo 15, trang 42] Theo Stanley và Mc Cool (1997), hiện
nay khái niệm này đã thay đổi từ chỗ bao nhiêu là quá nhiều cho đến những loại điều kiện và tài nguyên gì là thích hợp và có khả năng chấp nhận trong những điều kiện và hoàn cảnh khác nhau Ý nghĩa của sức chứa du lịch được đánh giá ở bốn phương diện: sức chứa vật lý (hay sức chứa tự nhiên), sức chứa môi trường, sức chứa kinh tế, sức chứa xã hội
Theo định nghĩa của WTO (1992): “Sức chứa du lịch là mức độ sử dụng của khách tham quan mà một khu vực có thể cung cấp, đáp ứng ở mức độ cao cho du khách và để lại rất ít tác động vào nguồn tài nguyên” [7, trang 10]
- Vị trí và khả năng tiếp cận của điểm du lịch
Trang 27Vị trí của điểm du lịch là tiêu chí quan trọng trong việc thu hút du khách Tiêu chí này được đánh giá bằng khoảng cách từ điểm du lịch đó đến trung tâm tập kết khách, số phương tiện giao thông có thể sử dụng, thời gian đi đường Có thể xác định bằng 4 mức độ: rất thuận lợi, khá thuận lợi, bình thường và không thuận lợi
+ Rất thuận lợi: Có khoảng cách từ 0 đến 15 km, sử dụng 3 - 4 phương tiện
giao thông, thời gian đi đường dưới 30 phút;
+ Thuận lợi: Có khoảng cách từ 15 đến 30 km, sử dụng 2 - 3 phương tiện giao
thông, thời gian đi đường từ 30 phút đến 1 giờ;
+ Thuận lợi trung bình: Có khoảng cách từ 30 đến 45 km, sử dụng 1 - 2 phương
tiện giao thông, thời gian đi đường từ 1 đến 2 giờ;
+ Không thuận lợi: Có khoảng cách trên 45 km, sử dụng chỉ 1 phương tiện giao
thông nhưng gặp nhiều khó khăn, thời gian đi đường trên 2 giờ
- Cơ sở hạ tầng
Kết cấu hạ tầng phục vụ du lịch bao gồm mạng lưới đường giao thông, thông tin liên lạc, hệ thống cấp điện và cấp thoát nước CSVCKT chính là nội hàm của du lịch bao gồm hệ thống nhà hàng, khách sạn, các cơ sở lưu trú, khu vui chơi, giải trí, thể thao, khu dưỡng bệnh…
Tài nguyên là yếu tố cơ sở để tạo nên điểm du lịch CSHT tạo điều kiện biến những tiềm năng thành hiện thực CSHT đóng vai trò to lớn đối với việc hình thành và phát triển các điểm, cụm du lịch Trong CSHT yếu tố quan trọng hàng đầu là mạng lưới và phương tiện giao thông vận tải
Du lịch gắn liền với việc di chuyển, việc rời nơi cư trú thường xuyên của mình trên một khoảng cách nhất định Có TNDL hấp dẫn nhưng chưa có khả năng khai thác nếu thiếu hệ thống giao thông Chỉ có giao thông vận tải thuận tiện, du lịch mới có thể phát triển được, các điểm, cụm, tuyến du lịch mới nhanh chóng được hình thành
Tuy nhiên, muốn đạt doanh thu du lịch cao, hiệu quả lớn, muốn lưu giữ được khách du lịch ở lại lâu hơn thì hệ thống CSVCKT cũng có ý nghĩa rất lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến việc khai thác tài nguyên và phục vụ khách du lịch Các hệ thống khách sạn, nhà hàng, cửa hàng, nơi vui chơi, giải trí phải đáp ứng được nhu cầu du khách Việc đánh giá CSHT dựa trên những tiêu chí chủ yếu là: mức độ thuận tiện trong đi lại của khách du lịch; mức độ thuận lợi về thời gian đi lại trong năm; khả năng chứa khách du lịch của các cơ sở lưu trú; mức độ đảm bảo tiện nghi cho việc nghỉ ngơi của
Trang 28khách du lịch (chất lượng của các cơ sở lưu trú) Tiêu chí này cũng được phân thành 4 cấp: Rất tốt, tốt, trung bình và yếu
+ Rất tốt: Có mạng lưới đường giao thông thuận tiện, có thể đi lại ở tất cả các
tháng trong năm, có hệ thống khách sạn đáp ứng được trên 500 người/ngày, có khách sạn đạt tiêu chuẩn 2 sao trở lên;
+ Tốt: Có mạng lưới giao thông khá thuận lợi, có thể đi lại thuận tiện 8 tháng
trong năm, có hệ thống nhà nghỉ, khách sạn đáp ứng được từ 300 đến dưới 500 người/ngày, có khách sạn đạt tiêu chuẩn 1 sao;
+ Trung bình: Có mạng lưới giao thông tương đối thuận lợi, có thể đi lại thuận
tiện 6 tháng trong năm, có hệ thống nhà nghỉ, khách sạn đáp ứng được từ 100 đến 300 người, có khách sạn đạt yêu cầu;
+ Yếu: Có mạng lưới giao thông không thuận lợi, chỉ có thể hoạt động được
trong các tháng mùa khô, có hệ thống nhà nghỉ, khách sạn đáp ứng được dưới 100 người, không có khách sạn, chỉ có hệ thống nhà nghỉ đạt yêu cầu
- Sự kết hợp đồng bộ giữa TNDL và CSHT phục vụ du lịch
Nếu như TNDL là một trong những yếu tố cơ sở tạo nên vùng du lịch thì CSHT, CSVCKT tạo điều kiện biến những tiềm năng của TNDL thành hiện thực Giữa hai tiêu chí này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau Nếu không có CSHT, CSVCKT phục vụ du lịch thì TNDL vẫn mãi chỉ dưới dạng tiềm năng Ngược lại, nếu thiếu tài nguyên thì sẽ không có sức hấp dẫn du lịch, không có hoạt động du lịch và không có CSVCKT phục vụ du lịch Vì vậy, sự kết hợp đồng bộ hai yếu tố này là một tiêu chí được đưa ra xem xét đánh giá mức độ thuận lợi của các điểm du lịch Tiêu chí này được phân thành 4 cấp: kết hợp rất tốt, tốt, trung bình và yếu
+ Kết hợp rất tốt: Điểm du lịch có TNDL hấp dẫn, có mạng lưới giao thông
thuận lợi, có hệ thống nhà nghỉ, khách sạn đáp ứng cho trên 1000 người/ ngày;
+ Kết hợp tốt: Điểm du lịch có TNDL khá hấp dẫn, mạng lưới giao thông thuận
lợi, có hệ thống nhà nghỉ đáp ứng được từ 500 đến 1000 người/ngày;
+ Kết hợp trung bình: Điểm du lịch có TNDL tương đối hấp dẫn, có mạng lưới
giao thông khá thuận lợi, có hệ thống nhà nghỉ, khách sạn đáp ứng được từ 300 đến
500 người/ngày;
Trang 29+ Kết hợp yếu: Điểm du lịch có TNDL, nhưng thiếu cơ sở hạ tầng, hệ thống
nhà nghỉ, khách sạn đáp ứng được dưới 200 người/ngày hoặc giao thông không thuận lợi, chỉ hoạt động được dưới 4 tháng/năm
- Giá trị của điểm du lịch được xếp hạng
Việc xác định thứ hạng của điểm du lịch có vai trò quan trọng trong khai thác
và mở rộng hoạt động du lịch Một di sản xếp hạng quốc gia sẽ có tầm ảnh hưởng vượt
ra khỏi địa phương và một di sản xếp hạng thế giới sẽ có tầm ảnh hưởng quốc tế Đây
là những công nhận không phải tức thời mà cần phải có thời gian dài và thỏa mãn những tiêu chuẩn ngặt nghèo Do đó, thứ hạng của những điểm du lịch là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá điểm du lịch Đề tài này sử dụng bốn bậc đánh
giá sau: Có giá trị rất cao: Điểm du lịch được xếp hạng thế giới; Có giá trị cao: Điểm
du lịch được xếp hạng quốc gia; Có giá trị trung bình: Điểm du lịch được xếp hạng cấp tỉnh; Có giá trị thấp: Điểm du lịch chưa được xếp hạng
- Độ bền vững của môi trường du lịch
Khi đánh giá một điểm du lịch độ bền vững của môi trường có vai trò rất quan trọng Ngày nay quan điểm phát triển bền vững trở thành một quan điểm xuyên suốt chỉ đạo các hoạt động KTXH, trong đó có du lịch Sự suy thoái về môi trường tất yếu
sẽ dẫn đến sự suy thoái về du lịch
+ Rất bền vững: các thành phần tự nhiên, văn hóa rất khó bị phá hoại, nếu có thì
mức độ không đáng kể do đó chất lượng sản phẩm du lịch vẫn đảm bảo tốt giúp cho hoạt động du lịch diễn ra liên tục;
+ Bền vững: các thành phần tự nhiên, văn hóa bị suy thoái ở mức độ nhẹ, khả
năng tự phục hồi và mức độ đầu tư bảo tồn không lớn giúp cho hoạt động du lịch diễn
ra thường xuyên;
+ Trung bình: các thành phần tự nhiên, văn hóa bị suy thoái, cần có sự tác động
của con người để bảo tồn, hoạt động du lịch bị gián đoạn;
+ Kém bền vững: các thành phần tự nhiên, văn hóa bị suy thoái nghiêm trọng
không thể sử dụng phục vụ du lịch và đòi hỏi phải có biện pháp phục hồi tích cực
b Xác định điểm cho các tiêu chí đánh giá
Mỗi tiêu chí được đánh giá theo 4 bậc, bậc 1: rất thuận lợi được 4 điểm, bậc 2: khá thuận lợi 3 điểm, bậc 3: thuận lợi trung bình 2 điểm, bậc 4: không thuận lợi 1 điểm Chỉ tiêu phân hạng các yếu tố này chủ yếu được vận dụng từ các nghiên cứu
Trang 30trước đây do đó có sự thống nhất cao trong nghiên cứu địa lí du lịch và đã được khẳng định trong thực tiễn Như vậy, điểm số cho từng tiêu chí là:
- Độ hấp dẫn của tài nguyên du lịch: Rất hấp dẫn: 4 điểm; hấp dẫn: 3 điểm;
hấp dẫn trung bình: 2 điểm; kém hấp dẫn: 1 điểm
- Thời gian hoạt động du lịch (tính thời vụ): Rất dài: 4 điểm; dài: 3 điểm;
trung bình: 2 điểm; ngắn: 1 điểm
- Sức chứa khách du lịch: Rất cao: 4 điểm; cao: 3 điểm; trung bình: 2 điểm;
thấp: 1 điểm
- Vị trí và khả năng tiếp cận của điểm du lịch: Rất thuận lợi: 4 điểm; thuận
lợi: 3 điểm; thuận lợi trung bình: 2 điểm; không thuận lợi: 1 điểm
- CSHT phục vụ du lịch: Rất tốt: 4 điểm; tốt: 3 điểm; trung bình: 2 điểm;
yếu: 1 điểm
- Sự kết hợp đồng bộ giữa TNDL và CSHT, CSVCKT phục vụ du lịch: Kết
hợp rất tốt: 4 điểm; kết hợp tốt: 3 điểm ; kết hợp trung bình: 2 điểm; kết hợp yếu: 1
điểm
- Giá trị của điểm du lịch được xếp hạng: Có giá trị rất cao: 4 điểm; Có giá
trị cao: 3 điểm; Có giá trị trung bình: 2 điểm; Có giá trị thấp: 1 điểm
- Độ bền vững của môi trường du lịch: Rất bền vững: 4 điểm; bền vững: 3
điểm; trung bình: 2 điểm; kém bền vững: 1 điểm
c Chọn hệ số và đánh giá điểm tổng hợp cho các tiêu chí
Trên thực tế, các tiêu chí lựa chọn có mức độ quan trọng khác nhau đối với việc đánh giá tổng hợp điểm Vì thế, để đảm bảo cho kết quả đánh giá được chính xác và khách quan cần xác định thêm hệ số cho các yếu tố quan trọng hơn Trên cơ sở nghiên cứu thực địa và kế thừa các nghiên cứu của các tác giả đi trước, xác định hệ số như sau:
Hệ số 3 bao gồm: TNDL, sự đồng bộ về TNDL và CSHT, CSVCKT, giá trị xếp hạng
Du lịch là ngành có sự định hướng rất rõ về tài nguyên TNDL tạo nên điểm, cụm, tuyến du lịch TNDL càng hấp dẫn thì thu hút khách du lịch càng đông, vì vậy, tiêu chí này được đánh giá hệ số cao nhất, hệ số 3 Nhưng nếu có TNDL mà CSHT, CSVCKT phục vụ du lịch chưa hoàn thiện thì TNDL vẫn chỉ dưới dạng tiềm năng, không có hiệu quả kinh tế Bởi thế, tiêu chí sự đồng bộ về TNDL và CSHT, CSVCKT cũng được xác định hệ số 3 Giá trị của điểm
du lịch khi được xếp hạng có tầm quan trọng đặc biệt Nó thể hiện tầm vóc của điểm du lịch
đó trên nhiều khía cạnh: tài nguyên, khả năng thu hút du khách, chất lượng dịch vụ… trong một thời gian dài và tạo nên thương hiệu của điểm du lịch đó
Trang 31Hệ số 2 bao gồm: Thời gian hoạt động du lịch, sức chứa khách du lịch, CSHT
và CSVCKT, độ bền vững của môi trường Thời gian hoạt động du lịch thể hiện tính mùa vụ trong du lịch và ảnh hưởng nhiều đến các hoạt động du lịch Sức chứa du khách thể hiện khả năng tiếp nhận khách du lịch tại một địa điểm Nó ảnh hưởng đến
số khách tối đa, đến doanh thu và việc đầu tư cho một điểm du lịch CSHT và CSVCKT bao gồm hệ thống đường, điện, cơ sở lưu trú, hệ thống nhà hàng, khách sạn, khu vui chơi giải trí Nếu những điều kiện trên đây thuận lợi thì hiệu quả kinh doanh
du lịch cao hơn Độ bền vững của môi trường có tác dụng duy trì các hoạt động du lịch không bị gián đoạn cũng như tăng sức hấp dẫn đối với du khách Trong nhiều trường hợp, môi trường có ý nghĩa quyết định đến sự thành công của hoạt động du lịch, ví dụ như du lịch nghỉ dưỡng Ngày nay, trên quan điểm phát triển bền vững, môi trường là một trong những tiêu chí quan trọng đánh giá tính lâu dài của hoạt động du lịch Bởi thế, các tiêu chí này được xác định hệ số 2 khi đánh giá điểm du lịch
Hệ số 1 có: Vị trí và khả năng tiếp cận Vị trí của điểm du lịch là một cơ sở để đánh giá mức độ thuận lợi Nếu điểm du lịch gần đường giao thông, gần khu đô thị thì
sẽ tiện lợi, thu hút khách đông Tuy nhiên, nếu điểm du lịch ở xa đường giao thông, xa
đô thị, nhưng có TNDL hấp dẫn, có các điều kiện về CSHT tốt thì vẫn hấp dẫn khách
du lịch, vì vậy tiêu chí này xác định hệ số 1
Qua bảng tổng hợp điểm trên, điểm số được phân thành 3 bậc Bậc 1 từ 54 –
72 điểm, bậc 2 từ 36 – 53 điểm, bậc 3 từ 18 – 35 điểm Mỗi bậc có mức độ thuận lợi
và có ý nghĩa khác nhau Điểm tối đa là 72 điểm, tối thiểu là 18 điểm Như vậy, các
Trang 32điểm du lịch sẽ được đánh giá từ 18 đến 72 điểm Mỗi bậc điểm có ý nghĩa khác nhau Ý nghĩa của các điểm du lịch được xác định như trong bảng 1.2
Bảng 1.2 Bảng đánh giá mức độ thuận lợi của điểm du lịch
1 Rất thuận lợi (có ý nghĩa quốc gia, quốc tế) 54 - 72
3 Không thuận lợi (có ý nghĩa địa phương) 18 - 35
1.1.6.2 Đánh giá cụm du lịch
a Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá cụm du lịch
Hệ thống tiêu chí đánh giá cụm du lịch gồm: Số lượng TNDL trong cụm; Thời gian có thể hoạt động du lịch; CSHT và CSVCKT Trong TCLTDL cấp tỉnh thì cụm du
lịch có vai trò quan trọng trong việc định hướng khai thác, sử dụng tài nguyên và phát triển du lịch Số lượng TNDL là tiêu chí quan trọng để có thể phân loại các cụm, cụm nào có nhiều TNDL sẽ có tiềm năng phát triển hơn các cụm ít TNDL Nhưng có
TNDL mà thời gian hoạt động du lịch ít thì hiệu quả kinh doanh du lịch không cao, vì thế thời gian hoạt động du lịch được coi là một tiêu chí quan trọng CSHT và
CSVCKT phục vụ du lịch là tiêu chí để đánh giá mức độ thuận lợi của các cụm du lịch Nếu nhiều tài nguyên, nhưng hệ thống CSHT và CSVCKT yếu kém thì doanh thu
du lịch không cao, số ngày lưu trú ngắn
- Số lượng tài nguyên du lịch
Du lịch là một trong những ngành có sự định hướng tài nguyên rõ nét Tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến việc tổ chức lãnh thổ, hình thành chuyên môn hoá và hiệu quả kinh tế của hoạt động du lịch trong mỗi cụm Số lượng và chất lượng tài nguyên rất cần thiết trong việc xác định quy mô hoạt động du lịch Số lượng tài nguyên du lịch được đánh giá bằng 4 mức độ:
+ Rất nhiều: cụm du lịch có từ 31 tài nguyên du lịch trở lên, mật độ > 0,04 tài
nguyên/km2
+ Nhiều: cụm du lịch có từ 21 đến 30 tài nguyên du lịch, mật độ từ hơn 0,025 -
0,04 tài nguyên/km2
Trang 33+ Trung bình: cụm du lịch có từ 10 đến 20 tài nguyên du lịch, mật độ từ 0,01 -
0,025 tài nguyên/km2
+ Ít: cụm du lịch có dưới 10 tài nguyên du lịch, mật độ dưới 0,01 tài
nguyên/km2
- Thời gian hoạt động du lịch
Thời gian hoạt động du lịch là khoảng thời gian trong năm có khả năng tổ chức các hoạt động du lịch Thời gian có thể khai thác sẽ quyết định tính mùa, tính nhịp điệu của dòng khách du lịch Thời gian này được căn cứ vào các điều kiện khí hậu để
đánh giá Tiêu chí này được chia thành 4 mức độ:
+ Rất dài: cụm có trên 200 ngày trong năm có thể triển khai tốt các hoạt động
du lịch và có điều kiện khí hậu thích hợp nhất với sức khoẻ của con người;
+ Dài: cụm có từ 150 đến dưới 200 ngày trong năm có thể triển khai tốt các
hoạt động du lịch và có điều kiện khí hậu thích hợp với sức khoẻ của con người;
+ Trung bình: cụm có từ 100 ngày đến dưới 150 ngày trong năm có thể triển
khai tốt các hoạt động du lịch và có điều kiện khí hậu tương đối thích hợp với sức khoẻ của con người;
+ Ngắn: cụm có dưới 100 ngày trong năm có thể triển khai các hoạt động du
lịch và có điều kiện khí hậu tương đối thích hợp với sức khoẻ của con người
- CSHT và CSVCKT phục vụ du lịch
Nếu như TNDL là một trong những yếu tố cơ sở để tạo nên vùng du lịch thì CSHT và CSVCKT tạo điều kiện biến những tiềm năng của tài nguyên trở thành hiện thực Giữa hai tiêu chí này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung và hỗ trợ cho nhau Các cụm du lịch có CSHT, CSVCKT tốt thì hấp dẫn khách du lịch, đồng thời có thể lưu giữ khách du lịch lâu hơn, doanh thu du lịch lớn hơn Tiêu chí này được đánh giá ở sự tiện lợi của giao thông, ở sức chứa của khách sạn, nhà hàng và được chia thành 4 mức độ: Rất tốt, tốt, trung bình và yếu
+ Rất tốt: Cụm du lịch có giao thông vận tải thuận tiện, tất cả các loại phương
tiện có thể hoạt động được đến các điểm du lịch trong cụm, hoạt động du lịch được từ
8 đến 12 tháng trong năm, có hệ thống nhà nghỉ, khách sạn, nhà hàng đáp ứng được trên 1.000 người/ngày
+ Tốt: Cụm du lịch có giao thông vận tải khá thuận lợi, tất cả các loại phương
Trang 34tiện có thể đến được phần lớn các điểm du lịch trong cụm, chỉ còn lại từ 1 đến 2 điểm không hoạt động được, có thể hoạt động du lịch được từ 6 đến 8 tháng, có hệ thống nhà nghỉ, khách sạn đáp ứng nhu cầu cho từ 500 đến dưới 1000 người/ngày
+ Trung bình: Cụm du lịch có giao thông vận tải khá thuận lợi, chỉ có các loại
phương tiện ô tô dưới 30 chỗ ngồi hoạt động được ở tất cả các điểm du lịch, còn lại các loại ô tô trên 30 chỗ ngồi không hoạt động được ở các điểm du lịch Hoạt động
du lịch trong cụm được từ 4 đến 6 tháng, có hệ thống nhà nghỉ, khách sạn đáp ứng nhu cầu cho từ 300 đến dưới 500 người/ngày
+ Yếu: Cụm du lịch có giao thông vận tải không thuận lợi, chỉ có phương tiện
giao thông dưới 16 chỗ ngồi có thể hoạt động được ở tất cả các điểm du lịch trong cụm, có thể hoạt động du lịch được dưới 4 tháng, có hệ thống nhà nghỉ, khách sạn đáp ứng nhu cầu cho dưới 300 người/ngày
b Xác định điểm cho các tiêu chí đánh giá
Điểm số đánh giá cho từng thang bậc cũng tương tự như đánh giá điểm du lịch
và được xác định với 4,3,2,1 điểm tuỳ theo mức độ đánh giá
- Số lượng tài nguyên du lịch trong cụm:
Rất nhiều: 4 điểm; nhiều: 3 điểm; trung bình: 2 điểm; ít:1 điểm
- Thời gian hoạt động du lịch:
Rất dài: 4 điểm; dài: 3 điểm; trung bình: 2 điểm; ngắn:1 điểm
du lịch trong cụm được xác định hệ số 3 vì thời gian hoạt động du lịch cũng ảnh hưởng lớn đến doanh thu du lịch, hiệu quả khai thác của các cụm du lịch Cụm nào có thời
gian hoạt động nhiều thì lượng khách đông và doanh thu du lịch lớn
CSHT được xác định hệ số 2 CSHT đáp ứng nhu cầu cho du khách trong việc
đi lại, ăn nghỉ, thưởng thức những giá trị văn hoá, nghệ thuật Nếu đáp ứng tốt nhu cầu của du khách thì doanh thu sẽ cao hơn, số lượng khách đông hơn
Trang 35Bảng 1.3 Bảng đánh giá tổng hợp cụm du lịch
Bảng 1.4 Bảng đánh giá mức độ thuận lợi của cụm du lịch
1.1.6.3 Đánh giá tuyến du lịch
a Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá tuyến du lịch
Tuyến du lịch là lộ trình liên kết các điểm du lịch, cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch gắn với các tuyến giao thông Tuyến du lịch là cơ sở quan trọng để các nhà cung cấp dịch vụ xây dựng các tour du lịch Trong mỗi địa phương đều có các tuyến du lịch nối các điểm du lịch trong tỉnh gọi là tuyến du lịch nội tỉnh, tuyến du lịch nối các điểm du lịch của các tỉnh bạn hay nước bạn là tuyến du lịch liên tỉnh và quốc tế Để đánh giá các tuyến du lịch có nhiều tiêu chí khác nhau, luận văn xây dựng hệ thống các tiêu chí
- Số lượng tài nguyên du lịch trung bình trong tuyến
Số lượng tài nguyên du lịch trung bình trong tuyến được xác định bằng tỷ số giữa số lượng tài nguyên du lịch trong tuyến với chiều dài tuyến du lịch Có tuyến lộ trình ngắn nhưng lại có nhiều điểm du lịch sẽ thuận lợi và hấp dẫn du khách, những
Trang 36tuyến du lịch có lộ trình dài và ít điểm du lịch sẽ ít hấp dẫn du khách Vì thế, tiêu chí này rất quan trọng và được đánh giá với 4 cấp độ:
+ Rất cao: số lượng TNDL trung bình là 0,4 tài nguyên/km;
+ Cao: số lượng tài nguyên du lịch trung bình từ 0,2 đến dưới 0,4 tài
nguyên/km;
+ Trung bình: số lượng TNDL trung bình từ 0,1 đến dưới 0,2 tài nguyên/km; + Thấp: số lượng TNDL trung bình dưới 0,1 tài nguyên/km
- Độ hấp dẫn của tài nguyên du lịch trong tuyến
Trong tuyến du lịch nếu có TNDL hấp dẫn thì thu hút khách đông, doanh thu cao Nếu TNDL càng đặc sắc, càng hấp dẫn khách du lịch Đây cũng được xem là tiêu chí quan trọng để xác định các tuyến thuận lợi có sức thu hút khách cao và những tuyến không thuận lợi, ít thu hút khách Tiêu chí này được đánh giá bằng 4 mức độ:
+ Rất hấp dẫn: là tuyến có ít nhất 5 điểm du lịch có ý nghĩa quốc gia
+ Hấp dẫn: là tuyến có ít nhất 3 điểm du lịch có ý nghĩa quốc gia
+ Hấp dẫn trung bình: là tuyến có ít nhất 1 điểm du lịch có ý nghĩa quốc gia + Kém hấp dẫn: là tuyến không có điểm du lịch có ý nghĩa quốc gia
- Sự tiện lợi về giao thông vận tải
Trong hoạt động du lịch thì giao thông có ý nghĩa quan trọng Những tuyến
du lịch tiện lợi về giao thông sẽ có hiệu quả kinh doanh du lịch cao và ngược lại Chính vì thế, để đánh giá khả năng hoạt động của các tuyến du lịch, đồng thời có những giải pháp để đầu tư, khai thác các điểm, tuyến du lịch có hiệu quả thì tiêu chí về giao thông là quan trọng Có 4 cấp độ:
+ Rất tiện lợi: là những tuyến có các điểm du lịch nằm dọc đường quốc lộ,
đường đến các điểm du lịch đã được đầu tư nâng cấp, có thể hoạt động du lịch được cả ngày mưa và ngày nắng
+ Tiện lợi: là những tuyến du lịch nằm ở trục đường quốc lộ có thể có 1 đến
2 điểm du lịch nằm xa đường quốc lộ không quá 10 km, nhưng vẫn hoạt động được cả ngày mưa và ngày nắng
+ Tiện lợi trung bình: là những tuyến có điểm du lịch nằm gần quốc lộ hay
tỉnh lộ, có từ 1 đến 2 điểm du lịch nằm xa đường quốc lộ từ 10 đến 20 km
+ Kém tiện lợi: là những tuyến du lịch có các điểm du lịch nằm cách xa
quốc lộ, tuyến du lịch này chỉ thực hiện được trong những ngày nắng
Trang 37- Chất lượng CSVCKT phục vụ du lịch
Mục đích của hoạt động du lịch là thưởng thức các giá trị vật chất và tinh thần
Du khách sẽ cảm thấy hài lòng khi các điều kiện vật chất được thoả mãn Điều kiện du lịch, sinh hoạt tiện nghi sẽ thu hút và lưu giữ được du khách lâu hơn, doanh thu du lịch
sẽ lớn hơn Trong thực tế có những điểm du lịch có TNDL hấp dẫn, nhưng điều kiện về CSVCKT không đáp ứng được cho nhu cầu du khách thì số ngày lưu trú thấp, doanh thu du lịch thấp Tiêu chí này được chia thành 4 cấp: Rất tốt, tốt, trung bình và kém
+ Rất tốt: Tuyến du lịch có nhiều điểm có thể nghỉ ngơi tiện lợi, có từ 3 khách
sạn một sao trở lên
+ Tốt: Tuyến du lịch có 2 đến 3 khách sạn một sao trở lên
+ Trung bình: Tuyến du lịch có 1 khách sạn một sao và có hệ thống nhà nghỉ
có thể đáp ứng nhu cầu cho du khách ở mức độ trung bình
+ Kém: Những tuyến du lịch không có khách sạn có sao, chỉ có hệ thống nhà nghỉ ở mức độ trung bình
- Thời gian có thể hoạt động du lịch
Được xác định là số ngày có thể hoạt động du lịch Tiêu chí này được phân thành 4 cấp: rất dài, dài, trung bình và ngắn
+ Rất dài: có trên 200 ngày trong năm triển khai tốt các hoạt động du lịch + Dài: có từ 150 đến 200 ngày trong năm triển khai tốt các hoạt động du lịch + Trung bình: có từ 100 đến dưới 150 ngày triển khai tốt các hoạt động du
lịch
+ Ngắn: có dưới 100 ngày có thể triển khai các hoạt động du lịch
b Xác định điểm cho các tiêu chí đánh giá
- Số lượng tài nguyên du lịch trung bình trong tuyến: Rất cao: 4 điểm; cao:
3 điểm; trung bình: 2 điểm; thấp: 1 điểm
- Độ hấp dẫn của tài nguyên du lịch trong tuyến: Rất hấp dẫn: 4 điểm;
hấp dẫn: 3 điểm; hấp dẫn trung bình: 2 điểm; kém hấp dẫn: 1 điểm
- Sự tiện lợi về giao thông vận tải: Rất tiện lợi: 4 điểm; tiện lợi: 3 điểm;
tiện lợi trung bình: 2 điểm; kém tiện lợi: 1 điểm
- Chất lượng CSVCKT phục vụ du lịch: CSVCKT rất tốt: 4 điểm; tốt: 3
điểm; trung bình: 2 điểm; kém: 1 điểm
- Thời gian có thể hoạt động du lịch: Rất dài: 4 điểm; dài: 3 điểm; trung
Trang 38bình: 2 điểm; ngắn: 1 điểm
c Xác định hệ số và đánh giá tổng hợp tuyến du lịch
Trên cơ sở thực tiễn, luận văn xác định tiêu chí có ảnh hưởng lớn đến hoạt động du lịch có hệ số cao nhất là số lượng TNDL trung bình trong tuyến, độ hấp dẫn của TNDL, thời gian hoạt động du lịch trong tuyến Hệ số 2 là sự tiện lợi về giao
thông vận tải (GTVT), sự đồng bộ về CSVCKT và CSHT
Số lượng TNDL trung bình trong tuyến có ảnh hưởng lớn đến việc lựa chọn tuyến du lịch Tâm lí chung của khách du lịch là không muốn ngồi trên xe lâu Nếu tuyến nào có nhiều TNDL trên quãng đường ngắn thì sẽ tiện lợi hơn, gây tâm lí thoải
mái cho khách Tiêu chí này được xác định hệ số 3
Tuyến du lịch có TNDL hấp dẫn, độc đáo, có nhiều điểm có ý nghĩa quốc gia, quốc tế, có nhiều sản phẩm du lịch đặc trưng thì thu hút khách đông Tiêu chí này đôi khi có tính quyết định đến việc lựa chọn cuộc hành trình, vì thế tiêu chí này cũng được xác định hệ số 3 Thời gian hoạt động du lịch trong tuyến quyết định tính mùa, tính nhịp điệu của dòng khách du lịch và cũng được xác định hệ số 3 Sự tiện lợi về GTVT
và sự đồng bộ về CSVCKT được xác định hệ số 2 Giao thông tiện lợi hấp dẫn khách tham quan, CSVCKT hoàn thiện thì thời gian lưu trú của khách lớn hơn, doanh thu cao hơn, nên 2 tiêu chí này được xác định là khá quan trọng, do đó xác định hệ số 2 Tổng hợp điểm ta có kết quả như bảng 1.5
Trang 39được đánh giá là 13 điểm, tuyến cao nhất là 52 điểm Tổng hợp mức độ thuận lợi của các tuyến du lịch được xác định trong bảng 1.6
Bảng 1.6 Bảng đánh giá mức độ thuận lợi của tuyến du lịch
1.2 Cơ sở thực tiễn của tổ chức lãnh thổ du lịch
1.2.1 Tổ chức lãnh thổ du lịch ở Việt Nam
Nước ta có nhiều phong cảnh đẹp, có nhiều di sản thế giới như vịnh Hạ Long,
Cố Đô Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn, Động Phong Nha - Kẻ Bàng, Lễ hội Cồng chiêng Tây Nguyên, Nhã nhạc cung đình Huế… Đây là tiềm năng rất lớn để phát triển du lịch Ngoài các di sản thế giới, trên khắp mọi miền đất nước còn có nhiều nơi hấp dẫn từ các bãi biển đến các lễ hội, di tích lịch sử - văn hóa… Với tiềm năng to lớn
và những lợi ích kinh tế mang lại, Đảng và Nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm đến việc phát triển ngành du lịch CSHT và CSVCKT được đầu tư nhiều hơn và ngày càng hoàn thiện, các sản phẩm du lịch ngày càng hấp dẫn, lao động trong ngành du lịch đã tăng đáng kể và đã được đào tạo cơ bản, công tác tuyên truyền quảng bá, giới thiệu hình ảnh của đất nước ngày càng được chú trọng Du lịch đã đóng góp đáng kể cho GDP thu hút nhiều lao động Lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam, thu nhập du lịch ngày một tăng
Công tác TCLTDL từ sau năm 1990, đặc biệt từ năm 1994 đến nay đã có những chuyển biến mạnh mẽ Công tác lập quy hoạch tổng thể phát triển du lịch đã được ngành
du lịch, chính quyền các tỉnh, thành phố quan tâm thực hiện và đã đạt được một số kết quả
nhất định Các kết quả đã đạt được như: “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam thời kì 1995 - 2010”, “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2001 - 2010”, “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”, “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030”… Các quy hoạch phát
triển du lịch tổng thể đã tạo ra những cơ sở quan trọng để các tỉnh, thành phố trong cả nước tiến hành lập quy hoạch, kế hoạch đầu tư các dự án Đây cũng là căn cứ pháp lý để các thành phần kinh tế tổ chức triển khai đầu tư, kinh doanh du lịch
TCLTDL trên phạm vi cả nước được tổ chức theo hệ thống phân vị các vùng, á vùng, địa bàn trọng điểm, tiểu vùng, trung tâm, khu du lịch, tuyến du lịch, điểm và đô thị
du lịch
Trang 40Trước đây, Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010 phân chia lãnh thổ du lịch Việt Nam thành 3 vùng: Vùng du lịch Bắc Bộ, Vùng Bắc Trung Bộ, Vùng Nam Trung Bộ và Nam Bộ Thực tiễn phát triển du lịch trong giai đoạn này cho thấy rằng việc phân chia như trên đã tạo ra những vùng du lịch với diện tích quá rộng Điều này đã gây không ít khó khăn để tạo tính liên kết nội vùng và liên vùng một cách thường xuyên Măt khác diện tích vùng rộng lớn nên khó có thể khai thác hiệu quả tính tương đồng về mặt tài nguyên để tạo ra sản phẩm du lịch đặc trưng Do đó, theo Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, TCLTDL Việt Nam chia thành 7 vùng du lịch với những sản phẩm đặc trưng theo từng vùng; 46 khu du lịch quốc gia; 41 điểm du lịch quốc gia; 12 đô thị du lịch và một số khu, điểm du lịch quan trọng khác tạo động lực thúc đẩy phát triển du lịch cho các vùng và cả nước
- Vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc gồm 11 tỉnh/thành phố: Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Hải Phòng và Quảng Ninh Sản phẩm du lịch đặc trưng là du lịch tham quan thắng cảnh biển, du lịch văn hóa, du lịch đô thị, MICE
- Vùng Bắc Trung Bộ gồm 6 tỉnh, thành phố: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế Sản phẩm du lịch đặc trưng là tham quan tìm hiểu các di sản thiên nhiên và văn hóa thế giới, du lịch biển, du lịch sinh thái, tìm hiểu văn hóa - lịch sử và du lịch đường biên
- Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ gồm 8 tỉnh, thành phố: Thành phố Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận Sản phẩm du lịch đặc trưng là tham quan tìm hiểu các di sản văn hóa thế giới,
du lịch nghỉ dưỡng biển, đảo
- Vùng Tây Nguyên gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng Sản phẩm du lịch đặc trưng là du lịch sinh thái, du lịch văn hóa trên cơ sở khai thác các giá trị văn hóa độc đáo của các dân tộc thiểu số
- Vùng Đông Nam Bộ gồm 6 tỉnh, thành phố: TP Hồ Chí Minh, Bà Rịa -