1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh cao bằng

121 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm gần đây, tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt và được coi như một trong những công cụ quan trọng để phát triển vùng.. Cao Bằng là một tr

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC ĐỊA LÍ

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG

THÁI NGUYÊN - 2010

Trang 2

MỤC LỤC

Phần I: MỞ ĐẦU 0

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài 1

3 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài 2

3.1 Mục tiêu 2

3.2 Nhiệm vụ 2

4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 2

5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu của đề tài 3

5.1 Các quan điểm nghiên cứu 3

5.2 Các phương pháp nghiên cứu 3

6 Những đóng góp chính của đề tài 4

7 Cấu trúc của luận văn 5

Phần II: NỘI DUNG 6

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ KINH TẾ 6

1.1 Cơ sở lí luận về tổ chức lãnh thổ kinh tế 6

1.1.1 Khái niệm, bản chất của tổ chức lãnh thổ kinh tế 6

1.1.2 Nguyên tắc và nội dung chủ yếu của tổ chức lãnh thổ kinh tế 7

1.1.2.1 Những nguyên tắc chủ yếu của tổ chức lãnh thổ kinh tế 7

1.1.2.2 Nội dung của tổ chức lãnh thổ kinh tế 9

1.1.3 Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ kinh tế 9

1.1.3.1 Các yếu tố bên trong lãnh thổ 10

1.2 Khái quát một số lí thuyết về tổ chức lãnh thổ kinh tế 13

1.2.1 Lí thuyết tăng trưởng nội sinh và ngoại sinh 13

1.2.2 Lí thuyết định vị công nghiệp của A.Weber 14

1.2.3 Lí thuyết phát triển các vành đai nông nghiệp trong phạm vi ảnh hưởng của thành phố 15

1.2.4 Lí thuyết các “điểm trung tâm” của W.Christaller 15

1.2.5 Lí thuyết cực phát triển 16

1.3 Các hình thức chủ yếu tổ chức lãnh thổ kinh tế và việc vận dụng vào thực tiễn ở Việt Nam 17

1.3.1 Hành lang kinh tế 17

1.3.2 Khu kinh tế 18

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1.3.3 Vùng kinh tế trọng điểm 20

1.3.4 Tổ chức lãnh thổ công nghiệp 21

1.3.5 Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp 24

1.3.6 Tổ chức lãnh thổ dịch vụ 25

Chương 2 HIỆN TRẠNG TỔ CHỨC LÃNH THỔ KINH TẾ TỈNH CAO BẰNG 26

2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Cao Bằng 26

2.1.1 Vị trí địa lí 26

2.1.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 28

2.1.2.1 Địa chất và khoáng sản 28

2.1.2.2 Đặc điểm địa hình 29

2.1.2.3 Đất đai và thổ nhưỡng 35

2.1.2.4 Khí hậu 36

2.1.2.5 Tài nguyên nước và chế độ thủy văn 38

2.1.2.5 Tài nguyên sinh vật 39

2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 42

2.1.3.1 Dân cư và nguồn lao động 42

2.1.3.2 Cơ sở vật chất, kĩ thuật hạ tầng 43

2.1.3.3 Vốn đầu tư và thị trường 46

2.1.3.4 Đánh giá chung về thuận lợi và khó khăn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Cao Bằng 47

2.2 Hiện trạng tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Cao Bằng 49

2.2.1 Khái quát chung sự phát triển kinh tế Cao Bằng những năm gần đây 49

2.2.1.1 Quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế 49

2.2.1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 50

2.2.1.3 Cơ cấu và sự chuyển dịch cơ cấu lao động 54

2.2.2 Tổ chức lãnh thổ các ngành kinh tế tỉnh Cao Bằng 55

2.2.2.1 Tổ chức lãnh thổ ngành nông – lâm – ngư nghiệp 55

2.2.2.2 Tổ chức lãnh thổ ngành công nghiệp 69

2.2.2.3 Tổ chức lãnh thổ ngành dịch vụ 77

2.2.2.4 Kinh tế cửa khẩu 82

2.2.2.5 Tổ chức không gian hệ thống đô thị 86

Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG TỔ CHỨC LÃNH THỔ KINH TẾ TỈNH CAO BẰNG 90

3.1 Các căn cứ định hướng tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Cao Bằng 90

Trang 4

3.1.1 Quan điểm và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Cao Bằng đến

năm 2020 90

3.1.1.1 Quan điểm phát triển 90

3.1.1.2 Mục tiêu phát triển 91

3.2 Định hướng tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Cao Bằng 93

3.2.1 Định hướng tổ chức lãnh thổ công nghiệp 93

3.2.1.1 Định hướng chung 93

3.2.1.2 Tổ chức lãnh thổ công nghiệp 94

3.2.2 Định hướng tổ chức lãnh thổ nông – lâm - ngư nghiệp 98

3.2.2.1 Định hướng chung 98

3.2.2.2 Tổ chức lãnh thổ nông – lâm - ngư nghiệp 99

3.2.3 Định hướng tổ chức lãnh thổ dịch vụ 102

3.2.3.1 Định hướng chung 102

3.2.3.2 Tổ chức lãnh thổ dịch vụ 103

3.2.4 Định hướng xây dựng và phát triển hành lang kinh tế 104

3.2.4.1 Hành lang kinh tế quốc lộ 3 104

3.2.4.2 Hành lang kinh tế quốc lộ 34 105

3.2.5 Định hướng tổ chức không gian đô thị 106

3.3 Các giải pháp chủ yếu đảm bảo tổ chức lãnh thổ kinh tế đạt hiệu quả 106

3.3.1 Giải pháp về quy hoạch 106

3.3.2 Giải pháp về đầu tư 107

3.3.3 Giải pháp về cơ chế, chính sách 108

3.3.5 Giải pháp về khoa học công nghệ 109

3.3.6 Giải pháp về hợp tác đối ngoại 110

Phần III: KẾT LUẬN 111

TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Các hành lang kinh tế quan trọng của Việt Nam 18

Bảng 1.2: Các Khu kinh tế của Việt Nam (tính đến năm 2008) 20

Bảng 1.3: Các khu công nghiệp ở Việt Nam (tính đến tháng 12/2007) 22

Bảng 1.4: Các khu nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam, năm 2007 24

Bảng 2.5: Cơ cấu sử dụng đất tỉnh Cao Bằng, năm 2008 36

Bảng 2.6: Cơ cấu lao động phân theo trình độ chuyên môn kĩ thuật, năm 2009 43

Bảng 2.9: Cơ cấu lao động theo thành phần kinh tế, 54

Bảng 2.10: Sản lượng một số sản phẩm chủ yếu của ngành 57

Bảng 2.11: Số lượng trang trại tỉnh Cao Bằng, năm 2008 60

Bảng 2.13: Bình quân việc sử dụng các loại hình lao động của trang trại, năm 2007 62

Bảng 2.14: Tình hình sản xuất mía của Cao Bằng, giai đoạn 2002 - 2008 63

Bảng 2.15: Tình hình sản xuất vùng nguyên liệu mía nhà máy đường Phục Hòa tỉnh Cao Bằng, giai đoạn 2002 – 2008 64

Bảng 2.16: Tình hình sản xuất vùng nguyên liệu thuốc lá tỉnh Cao Bằng, 65

Bảng 2.17: Giá trị sản xuất công nghiệp phân theo thành phần kinh tế và ngành kinh tế, giai đoạn 2005 - 2008 (Giá cố định1994) 69

Bảng 2.18: Cơ cấu giá trị sản xuất phân theo thành phần kinh tế và ngành kinh tế, giai đoạn 2000 – 2008 (Giá thực tế) 71

Bảng 2.19: Giá trị sản xuất công nghiệp tiểu vùng trung tâm phân theo thành phần kinh tế, năm 2008 (giá so sánh 1994) 74

Bảng 2.20: Giá trị sản xuất công nghiệp tiểu vùng miền Đông phân theo thành phần kinh tế, năm 2008 (giá so sánh 1994) 74

Bảng 2.21: Giá trị sản xuất công nghiệp tiểu vùng miền Tây phân theo thành phần kinh tế, năm 2008 (giá so sánh 1994) 75

Bảng 2.22: Một số kết quả của ngành du lịch Cao Bằng, 78

Bảng 2.23 Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu thông qua các cửa khẩu trên địa bàn tỉnh Cao Bằng, giai đoạn 2001 – 2008 85

Bảng 2.24: Dân số thành thị tỉnh Cao Bằng, giai đoạn 1998 – 2008 86

Bảng 2.25: Dân số các đô thị tỉnh Cao Bằng, năm 2008 88

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Cao Bằng 27

Hình 2.2: Biểu đồ nhiệt độ, lượng mưa trung bình các tháng năm 2008 38

Hình 2.3: GDP và chỉ số phát triển GDP tỉnh Cao Bằng, giai đoạn 2000 – 2008 49

Hình 2.4: Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Cao Bằng, giai đoạn 2000 – 2008 50

Hình 2.5: Bản đồ phân hóa lãnh thổ kinh tế tỉnh Cao Bằng, năm 2005 53

Hình 2.6: Bản đồ nông nghiệp tỉnh Cao Bằng, năm 2008 68

Hình 2.7: Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp trong GDP tỉnh Cao Bằng 70

Hình 2.8: Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp phân theo khu vực, năm 2008 75

Hình 2.9: Bản đồ công nghiệp tỉnh Cao Bằng, năm 2008 76

Hình 2.10: Bản đồ du lịch tỉnh Cao Bằng, năm 2008 80

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 1

Phần I: MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tổ chức lãnh thổ kinh tế là một trong những kế hoạch và hành động nhằm phát huy tốt nhất các nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia hay mỗi vùng lãnh thổ Đây là vấn đề không mới đối với thế giới, nhưng đối với Việt Nam cũng còn nhiều vấn đề từ lí luận đến thực tiễn chưa được làm rõ và còn phải tiếp tục nghiên cứu Trong những năm gần đây, tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt và được coi như một trong những công cụ quan trọng để phát triển vùng Hay nói cách

khác, muốn phát triển một cách có hiệu quả thì không thể không tiến hành tổ chức lãnh thổ kinh tế một cách hợp lí Cao Bằng là một trong những tỉnh

nghèo nhất cả nước, việc “thiết kế”, tổ chức lãnh thổ kinh tế nhằm sử dụng một cách hợp lí các tiềm năng về tự nhiên và kinh tế, xã hội để đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao và nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo sự phát triển bền vững là vấn đề hết sức quan trọng và cấp thiết Với những lí do đó, chúng

tôi lựa chọn hướng nghiên cứu “Tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Cao Bằng”

2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài

Tổ chức lãnh thổ kinh tế là vấn đề không mới trên thế giới, nhiều nhà khoa học thuộc các ngành khoa học khác nhau đã dành nhiều công sức nghiên cứu vấn đề này, trong đó tiên phong là các nhà khoa học Địa lí Từ việc nghiên cứu thực tiễn đã hình thành những lí thuyết khái quát có thể được coi

là những lí luận cổ điển về tổ chức lãnh thổ kinh tế quý báu để học tập và áp dụng, như W.Christaller với việc hình thành các trung tâm tạo vùng; Francoi- Perroux với vấn đề phát triển các cực tăng trưởng; VonThunen với tổ chức lãnh thổ nông nghiệp theo các vành đai xung quanh các đô thị…

Ở Việt Nam, tổ chức lãnh thổ kinh tế là đối tượng nghiên cứu quan trọng của khoa học Địa lí từ giữa thế kỉ XX Đã có nhiều luận án, bài báo, giáo trình về tổ chức lãnh thổ kinh tế được công bố Viện chiến lược phát

Trang 8

triển thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã nghiên cứu và công bố các quy hoạch phát triển cho cả nước cũng như cho từng vùng lãnh thổ Tuy vậy, những công trình đó phạm vi nghiên cứu có qui mô lớn, mặt khác các hình thức tổ chức sản xuất lãnh thổ cũng có nhiều thay đổi do tác động của nền kinh tế thị trường Riêng với Cao Bằng, từ trước đến nay chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về lĩnh vực này

3 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

3.1 Mục tiêu

Mục tiêu của đề tài nghiên cứu những vấn đề cơ bản về lí luận và thực tiễn của tổ chức lãnh thổ kinh tế và vận dụng chúng vào việc nghiên cứu tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Cao Bằng Đề xuất các giải pháp nhằm khai thác và phát huy hiệu quả các nguồn lực, thúc đẩy kinh tế - xã hội tỉnh Cao Bằng phát triển nhanh và bền vững

3.2 Nhiệm vụ

- Tổng quan có chọn lọc những vấn đề lí luận và thực tiễn về tổ chức lãnh thổ kinh tế và vận dụng vào việc nghiên cứu tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Cao Bằng

- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Cao Bằng

- Đánh giá thực trạng tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Cao Bằng

- Đề xuất định hướng và kiến nghị những giải pháp chủ yếu tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Cao Bằng

4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

* Về lãnh thổ: Đề tài nghiên cứu trong phạm vi tỉnh Cao Bằng, gồm 12 huyện

và 01 thị xã

* Về thời gian: Đề tài sử dụng số liệu có trong Niên giám thống kê của Cục

thống kê tỉnh Cao Bằng và các số liệu thu thập khác từ các cơ quan quản lí nhà nước trong thời gian từ năm 2000 đến 2010, kế hoạch đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 3

5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu của đề tài

5.1 Các quan điểm nghiên cứu

- Quan điểm lãnh thổ: Các sự vật, hiện tượng địa lí đều tồn tại và phát triển trên một không gian lãnh thổ nhất định Vấn đề là phải tìm ra sự phân hoá của các sự vật, hiện tượng và quy luật phân bố của chúng trong không gian Nghiên cứu đề tài cần dựa trên quan điểm này để phân tích sự khác biệt của các sự vật, hiện tượng và quá trình địa lí, đồng thời vạch ra những mục tiêu, phương hướng sử dụng phù hợp với điều kiện của lãnh thổ

- Quan điểm hệ thống: Quán triệt quan điểm này làm cho việc phân tích, đánh giá một lãnh thổ được khách quan, khoa học và qua đó hiểu được các mối quan hệ tác động qua lại giữa các yếu tố cấu thành nên hệ thống và giữa các hệ thống với nhau

- Quan điểm lịch sử, viễn cảnh: Sự phát triển của một lãnh thổ kinh tế

là một quá trình xuyên suốt từ quá khứ đến hiện tại và tương lai Qua đó có thể thấy được sự biến đổi, những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến biến đổi đó và

xu hướng phát triển trong tương lai

- Quan điểm kinh tế: Quan điểm này được thể hiện thông qua đánh giá một số chỉ tiêu kinh tế cụ thể, như tốc độ tăng trưởng, hiệu quả kinh tế…

- Quan điểm phát triển bền vững: Quán triệt quan điểm bền vững đòi hỏi phải đảm bảo cả về ba mặt: kinh tế; xã hội và môi trường Về mặt kinh tế,

đó là tốc độ tăng trưởng, hiệu quả và sự ổn định của nền kinh tế Dưới góc độ

xã hội, phải chú trọng đến việc xóa đói giảm nghèo, xây dựng thể chế và bảo tồn di sản văn hóa dân tộc Còn về phương diện môi trường là việc giữ gìn tính đa dạng sinh học, bảo vệ và sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên, ngăn chặn sự ô nhiễm và xuống cấp của môi trường

5.2 Các phương pháp nghiên cứu

Quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

Trang 10

- Phương pháp thu thập và xử lí tài liệu: Việc thu thập tài liệu phải từ nhiều nguồn để có thể chọn lọc những tài liệu cần thiết đáp ứng được yêu cầu của công tác nghiên cứu Việc thu thập tài liệu chủ yếu từ các Ban, Ngành, cơ quan chức năng trên địa bàn tỉnh Cao Bằng và các nguồn tài liệu khác trên báo chí, giáo trình…Trên cơ sở đó tiến hành xử lí số liệu theo mục tiêu của đề tài

- Phương pháp phân tích hệ thống: Thực trạng tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Cao Bằng có thể thấy được qua phân tích các mối quan hệ không gian, thời gian của các ngành cũng như các lĩnh vực kinh tế, các mối quan hệ giữa

tự nhiên và kinh tế - xã hội Quá trình phân tích đánh giá, đề xuất được tiến hành trên cơ sở so sánh, tổng hợp để rút ra bản chất của hiện tượng kinh tế và đưa ra những kết luận đúng đắn

- Phương pháp bản đồ, biểu đồ: Đây là những phương pháp đặc trưng của Địa lí, được sử dụng để làm rõ hiện trạng kinh tế, sự phân bố, các mối liên

hệ lãnh thổ trong không gian, những mối liên hệ kinh tế và những dự kiến phát triển kinh tế Các bản đồ sẽ được biên tập theo từng nội dung của luận văn

- Phương pháp thực địa: Tiến hành khảo sát thực tế ở một số huyện, một số cơ sở sản xuất Tham khảo những ý kiến của các nhà khoa học, các nhà quản lí có am hiểu về lĩnh vực tổ chức lãnh thổ kinh tế

6 Những đóng góp chính của đề tài

- Trên cơ sở tổng quan có chọn lọc những vấn đề liên quan đến hướng nghiên cứu, luận văn làm sáng tỏ thêm về cơ sở lí luận và thực tiễn của tổ chức lãnh thổ kinh tế và vận dụng chúng vào việc nghiên cứu tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Cao Bằng - một tỉnh đặc trưng cho vùng núi biên giới

- Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Cao Bằng Xác định rõ các thế mạnh và những hạn chế hay những lợi thế so sánh giữa tỉnh Cao Bằng với các địa phương khác

- Phân tích hiện trạng tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Cao Bằng, từ đó

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 5

- Đề xuất những định hướng và giải pháp nhằm phát huy những thế mạnh, đem lại hiệu quả cao trong tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Cao Bằng

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung của luận văn được trình bày trong ba chương:

Chương 1- Những vấn đề lí luận và thực tiễn về tổ chức lãnh thổ kinh tế Chương 2- Hiện trạng tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Cao Bằng

Chương 3- Định hướng tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Cao Bằng

Trang 12

Phần II: NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ

TỔ CHỨC LÃNH THỔ KINH TẾ

1.1 Cơ sở lí luận về tổ chức lãnh thổ kinh tế

1.1.1 Khái niệm, bản chất của tổ chức lãnh thổ kinh tế

Thuật ngữ tổ chức lãnh thổ hay tổ chức không gian bắt nguồn từ cơ sở

lí thuyết kinh tế của Adam Smith và Ricardo, từ các công trình nghiên cứu của G.Thunen, A.Weber, W.Christaller…sau đó được phát triển về lí luận và được ứng dụng vào thực tiễn từ giữa thế kỉ XIX Thực tế cho thấy, trong lĩnh vực này, các nước trên thế giới sử dụng những thuật ngữ không giống nhau

Các nhà khoa học thuộc Liên Xô (cũ) sử dụng khái niệm phân bố lực lượng sản xuất Họ cho rằng phân bố của lực lượng sản xuất được thực hiện trên các lãnh thổ cụ thể ở những cấp độ lãnh thổ khác nhau, phổ biến là trên các vùng kinh tế cơ bản và vùng kinh tế hành chính tỉnh; coi phân bố lực lượng sản xuất là sự sắp xếp, bố trí và phối hợp các đối tượng hay thực thể vật chất cụ thể (đó là các hệ thống sản xuất, hệ thống tự nhiên và hệ thống dân cư, các đối tượng này ảnh hưởng lẫn nhau, có quan hệ qua lại với nhau) trong một lãnh thổ xác định nhằm sử dụng một cách hợp lí các tiềm năng tự nhiên, cơ sở vật chất kĩ thuật của lãnh thổ để đạt hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường cao

và nâng cao mức sống dân cư của lãnh thổ đó

Ở phương Tây, các nhà khoa học của các quốc gia phát triển lại tiếp cận vấn đề này với một cách gọi khác - “Tổ chức không gian kinh tế - xã hội” Khái niệm này ra đời từ cuối thế kỉ XIX, nó được xem như nghệ thuật kiến thiết và sử dụng lãnh thổ một cách đúng đắn và có hiệu quả Nhiệm vụ chủ yếu của tổ chức không gian là xác định được sức chứa của lãnh thổ; tìm kiếm mối quan hệ tỉ lệ hợp lí và liên hệ chặt chẽ trong phát triển kinh tế - xã hội giữa các ngành và giữa các lãnh thổ nhỏ hay tiểu vùng trong một vùng, cũng

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 7

quan hệ giữa các quốc gia với nhau Nhờ có sự sắp xếp có trật tự và hài hòa giữa các đối tượng trong lãnh thổ mà tạo ra một giá trị lớn hơn, làm cho sự phát triển hài hòa và bền vững hơn Tổ chức không gian kinh tế - xã hội là nội dung cụ thể của một chính sách kinh tế phát triển theo lãnh thổ dài hạn nhằm cải thiện môi trường, trong đó diễn ra cuộc sống và các hoạt động của con người Xét ở góc độ chính sách, tổ chức không gian kinh tế - xã hội xem như

là một trong những hành động hướng tới sự công bằng về mặt không gian, tối

ưu hóa các mối quan hệ hữu cơ giữa trung tâm và ngoại vi, giữa các cực với nhau và giữa các cực với các không gian còn lại nhằm làm cho toàn bộ lãnh thổ phát triển bền vững; tạo ra được sự ổn định cần thiết để thiết lập tiền đề cho tăng trưởng, phát triển; trong đó tạo công ăn việc làm, cân đối lao động, điều chỉnh cung – cầu hàng hóa và dịch vụ giữa nông thôn và thành thị

Ở Việt Nam, nhiều ý kiến cho rằng tổ chức lãnh thổ và tổ chức không gian kinh tế - xã hội được xem là như nhau và thuật ngữ tổ chức lãnh thổ được sử dụng nhiều hơn cả

Từ những quan điểm nêu trên, có thể hiểu tổ chức lãnh thổ kinh tế là sự sắp xếp và phối hợp các đối tượng trong mối quan hệ liên ngành, liên vùng nhằm sử dụng một cách hợp lí các tiềm năng tự nhiên, lao động, vị trí địa lí kinh tế, chính trị và cơ sở vật chất kĩ thuật đã và sẽ được tạo dựng để đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao và nâng cao mức sống dân cư, đảm bảo sự phát triển bền vững của một lãnh thổ

1.1.2 Nguyên tắc và nội dung chủ yếu của tổ chức lãnh thổ kinh tế

1.1.2.1 Những nguyên tắc chủ yếu của tổ chức lãnh thổ kinh tế

- Tổ chức lãnh thổ kinh tế phải tạo ra một trật tự hợp lí có tính tới khả năng của tài nguyên và yêu cầu của thị trường, đảm bảo lợi ích của cộng đồng

và đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao

Khi tổ chức lãnh thổ kinh tế phải xem xét tới các nguyên tắc phân bố sức sản xuất tạo ra một trật tự cho một hệ thống, đảm bảo phát huy tốt nhất

Trang 14

các điều kiện của lãnh thổ để lựa chọn phương án phân bố từng ngành và lĩnh vực Mặt khác tổ chức lãnh thổ kinh tế phải tính tới nhu cầu của thị trường để giảm thiểu chi phí, tối đa hiệu quả

Tổ chức lãnh thổ kinh tế phải thỏa mãn yêu cầu về khả năng tài nguyên

và yêu cầu của thị trường nhằm đem lại lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường cho con người Thị trường có ý nghĩa quyết định đến sự lựa chọn địa điểm phân bố cơ sở sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư và quyết định đến hiệu quả và sự thành công của tổ chức lãnh thổ Tốc độ tăng trưởng, năng suất lao động, tiết kiệm đầu tư, sự bền vững về xã hội và môi trường… là thước đo tính hợp lí, tính hiệu quả của tổ chức lãnh thổ

- Tổ chức lãnh thổ kinh tế phải đảm bảo sự phát triển hài hòa và tương tác giữa các ngành, lĩnh vực và giữa các lãnh thổ

Trong một lãnh thổ, hài hòa là phát triển ngành này, tiểu lãnh thổ này phải tính tới những điều kiện để phát triển các ngành khác, các tiểu lãnh thổ khác và đảm bảo cho bản thân ngành đó, lãnh thổ đó cùng các ngành khác, lãnh thổ khác tồn tại và phát triển Đảm bảo được điều này sẽ tạo ra sự phát triển nhịp nhàng cho lãnh thổ, đây là điều rất quan trọng đối với việc tổ chức lãnh thổ kinh tế

Tương tác là sự kết hợp và trao đổi lẫn nhau giữa các ngành, lĩnh vực, tiểu lãnh thổ này với ngành, lĩnh vực, tiểu lãnh thổ khác để tạo ra sức mạnh tổng hợp cho lãnh thổ; bổ sung giữa nơi thừa cho nơi thiếu về một mặt nào đó trong một lãnh thổ, làm cho nơi thừa không lãng phí, nơi thiếu thì có điều kiện để bù đắp cái mình thiếu Đảm bảo được sự tương tác chính là điều kiện cần thiết để có được sự phát triển nhịp nhàng

- Tổ chức lãnh thổ kinh tế đảm bảo sự phù hợp với trình độ nguồn nhân lực và trình độ khoa học công nghệ Trình độ nguồn nhân lực và trình độ khoa học kĩ thuật có ý nghĩa quan trọng trong việc lựa chọn hình thức tổ chức lãnh

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 9

người quản lí lãnh thổ cũng như trình độ mọi mặt của địa phương phải được tính đến khi tiến hành tổ chức lãnh thổ kinh tế

1.1.2.2 Nội dung của tổ chức lãnh thổ kinh tế

Ở nước ta, tiếp cận nội dung của tổ chức lãnh thổ kinh tế theo các bước

và với những nội dung chủ yếu sau đây:

Bước 1: Kiểm kê và đánh giá các yếu tố, điều kiện của lãnh thổ và các đối tượng phải tổ chức trong phạm vi lãnh thổ được nghiên cứu

Bước 2: Đánh giá hiện trạng lãnh thổ có so sánh với những lãnh thổ tương tự, phát hiện những bất hợp lí, những xu thế có tính quy luật đối với tổ chức lãnh thổ được nghiên cứu

Bước 3: Giả định các phương án tổ chức không gian và lựa chọn phương án hiệu quả nhất

Bước 4: Tìm khả năng đáp ứng tài chính, xác định các giai đoạn phát triển lãnh thổ và kiến nghị phương án quản lí lãnh thổ

Quá trình nghiên cứu tổ chức lãnh thổ kinh tế đòi hỏi phải có sự phân tích các mặt, các khía cạnh một các kĩ lưỡng, khoa học Việc phân tích phải tuân thủ yêu cầu của tính khẳng định, tính giả định, tính liên ngành, tính liên vùng, tính đa phương án và tính thỏa thuận

Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, tổ chức lãnh thổ kinh tế có hai nội dung cơ bản (theo Viện Chiến lược phát triển – Bộ kế hoạch và Đầu tư): Một là: Dự báo về mặt phát triển (dự báo phát triển đối với các ngành, lĩnh vực trên phạm vi lãnh thổ nghiên cứu); Hai là: Luận chứng các phương án tổ chức kinh tế - xã hội theo lãnh thổ

1.1.3 Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ kinh tế

Tổ chức lãnh thổ kinh tế chịu sự tác động đồng thời và tổng hợp các nhóm nhân tố bên trong và bên ngoài lãnh thổ dự kiến được tổ chức hay tổ chức lại Sự tác động của các yếu tố đến tổ chức lãnh thổ kinh tế không giống nhau về không gian và thời gian Có những yếu tố tác động mạnh đối với tổ

Trang 16

chức lãnh thổ kinh tế trong thời gian này, nhưng lại giảm sút vai trò trong giai đoạn khác

1.1.3.1 Các yếu tố bên trong lãnh thổ

- Vị trí địa lí, tài nguyên thiên nhiên: Đây là nhóm nhân tố có ảnh hưởng lớn đến tổ chức lãnh thổ kinh tế Bởi vì, sự phát triển kinh tế trên một không gian đòi hỏi phải có mối quan hệ chặt chẽ giữa sản xuất và điều kiện sản xuất, những điều kiện này được coi là đầu vào của tổ chức lãnh thổ kinh tế

Vị trí địa lí là nhân tố đặc biệt quan trọng, nhất là trong điều kiện kinh

tế thị trường và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế thì yếu tố vị trí địa lí càng được đánh giá cao khi lựa chọn địa bàn để phát triển các lãnh thổ trọng điểm, các cực tăng trưởng và phát triển của mỗi lãnh thổ

Các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên thường được coi là yếu tố tiền đề để tổ chức lãnh thổ kinh tế Điều kiện tự nhiên, như khí hậu, thời tiết…ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của lãnh thổ và trực tiếp ảnh hưởng đến việc lựa chọn các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế Tài nguyên thiên nhiên với tính đa dạng và biến động, lại có khả năng sinh ra giá trị kinh tế được loài người sử dụng để đáp ứng nhu cầu không ngừng tăng lên qua các thời kì phát triển và có ý nghĩa to lớn đối với sự hưng thịnh của mỗi lãnh thổ

- Dân cư và nguồn nhân lực:

Dân cư và mật độ dân cư có ảnh hưởng lớn đến tổ chức lãnh thổ kinh

tế Những nơi có mật độ dân cư đông đúc sẽ có nguồn lao động dồi dào và ngược lại, những nơi dân cư thưa thớt nguồn lao động sẽ bị hạn chế

Sự di chuyển và phân bố dân cư ảnh hưởng đến bố trí sản xuất của vùng Di chuyển dân cư trước hết ảnh hưởng đến quy mô dân số và sau đó sẽ ảnh hưởng tới tổ chức lãnh thổ kinh tế

Dân cư với các phẩm chất, truyền thống sản xuất và tiêu dùng, truyền thống văn hóa ảnh hưởng tới cơ cấu sản xuất và cơ cấu tiêu dùng của lãnh thổ

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 11

dân cư sẽ là điều kiện thôi thúc sự hình thành và phát triển nền sản xuất quy

mô lớn và hiện đại

Như vậy, chất lượng nguồn nhân lực quyết định phương hướng phát triển cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu ngành nghề nói riêng, cũng như quyết định đến hình thức và nội dung của tổ chức lãnh thổ kinh tế

- Khoa học – công nghệ:

Ảnh hưởng của khoa học và công nghệ có tính chất quyết định đến tổ chức lãnh thổ kinh tế Đối với những quốc gia phát triển, công nghệ chiếm vị trí hàng đầu trong việc gia tăng GDP, công nghệ giữ vai trò chủ đạo đối với phát triển Tiềm lực khoa học – công nghệ là yếu tố quan trọng để thực thi các phương án tổ chức lãnh thổ Tiến bộ công nghệ đã tạo khả năng sử dụng các nguồn tài nguyên theo cả chiều rộng và chiều sâu; sự phát triển công nghệ khai thác và sử dụng tổng hợp tài nguyên có thể nâng cao tỉ lệ hữu ích của tài nguyên, đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn

Tiến bộ công nghệ có lợi cho việc giảm thiểu mức độ phụ thuộc của phát triển lãnh thổ đối với tài nguyên không phải của lãnh thổ Do tiến bộ khoa học – công nghệ có thể tiết kiệm được các yếu tố đầu vào nâng cao giá trị của các sản phẩm đầu ra Tiến bộ khoa học – công nghệ không chỉ làm tăng tổng sản lượng kinh tế, làm sâu sắc thêm phân công lao động xã hội, đa dạng ngành nghề và nâng cao năng suất lao động, mà còn tạo ra những tiền đề cho thay đổi cơ cấu kinh tế Một mặt, sản phẩm mới xuất hiện không ngừng, kích thích nhu cầu mới, dẫn đến cơ cấu nhu cầu và cơ cấu tiêu dùng ngày càng đa dạng; mặt khác, chính bản thân sự xuất hiện và lưu thông của công nghệ mới làm xuất hiện dịch vụ khoa học – công nghệ, đồng nghĩa với ngành nghề mới xuất hiện

- Kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật:

Mạng lưới đường giao thông, hệ thống thông tin, mạng lưới cung cấp điện, nước; các trung tâm kinh tế, các vùng sản xuất; các cơ sở thương mại,

Trang 18

ngân hàng…ảnh hưởng rõ rệt đến việc hình thành cơ cấu kinh tế lãnh thổ Do vậy, muốn chuyển đổi cơ cấu kinh tế lãnh thổ hiệu quả và bền vững thì phải tạo ra những tiến bộ về chất đối với cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật

- Trình độ phát triển của nền kinh tế:

Trình độ phát triển kinh tế thể hiện qua nhiều yếu tố, như: quy mô nền kinh tế; cơ cấu kinh tế; trình độ của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất; khả năng áp dụng khoa học kĩ thuật trong sản xuất, trong quản lí và trong kinh doanh…Đây là những yếu tố ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển của một lãnh thổ, bởi vì trình độ phát triển của nền kinh tế là nhân tố chứng tỏ khả năng về phương tiện vật chất cho tổ chức lãnh thổ và cũng có điều kiện tạo ra nhu cầu mới lớn hơn, cao hơn Mặt khác, nó là cơ sở, tiền đề và là điều kiện

để tái tổ chức lãnh thổ kinh tế

- Môi trường chính sách:

Chính sách kinh tế và cơ chế quản lí của Nhà nước có thể tạo ra sự tiến

bộ hay không tiến bộ của một lãnh thổ Hay nói cách khác, chính sách kinh tế

và cơ chế quản lí của Nhà nước có thể tạo ra sự thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của một lãnh thổ

1.1.3.2 Các yếu tố bên ngoài lãnh thổ

Trong cơ chế kinh tế thị trường và xu thế toàn cầu hóa mạnh mẽ như hiện nay, thì các yếu tố bên ngoài tác động đến sự phát triển hay việc tổ chức kinh tế ở một lãnh thổ là rất mạnh mẽ, trong đó phải kể đến các nhóm yếu tố sau:

- Nhóm các yếu tố về chủ trương, đường lối phát triển của Nhà nước, các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội quốc gia, các quy hoạch phát triển vùng, ngành Đây là nhóm yếu tố căn bản tác động đến việc hình thành và phát triển cơ cấu lãnh thổ Nó tạo ra sự thống nhất của nền kinh tế trong cái đơn lẻ của mỗi vùng lãnh thổ

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 13

Bất kì một lãnh thổ cụ thể nào không thể tách khỏi mối quan hệ với các lãnh thổ khác, nhất là đối với các lãnh thổ lân cận trên nhiều phương diện Thông qua nhu cầu tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của các vùng khác, những quan hệ về dùng chung mạng lưới giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, những quan hệ nguyên liêu – sản phẩm giữa các vùng lãnh thổ…mà tác động đến tổ chức lãnh thổ kinh tế

- Nhóm yếu tố về nguồn đầu tư và công nghệ từ bên ngoài:

Các dòng vốn đầu tư và công nghệ từ bên ngoài cũng ảnh hưởng ngày càng rõ rệt, đặc biệt đối với các quốc gia, các vùng lãnh thổ kém phát triển, nó

đã góp phần làm thay đổi hình thức, nội dung của tổ chức lãnh thổ kinh tế Sự thu hút nguồn vốn và công nghệ phụ thuốc rất nhiều vào cơ chế chính sách của Nhà nước trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài và thương mại quốc tế

1.2 Khái quát một số lí thuyết về tổ chức lãnh thổ kinh tế

1.2.1 Lí thuyết tăng trưởng nội sinh và ngoại sinh

- Lí thuyết tăng trưởng nội sinh: Trên cơ sở các kết quả quan sát thực nghiệm, G.B.Fisher (1939) và C.Clark (1940) đưa ra thuyết tăng trưởng nội sinh Thuyết này nhấn mạnh đến năng lực sản xuất bên trong của vùng, khả năng cung của các yếu tố đầu vào, như tài nguyên thiên nhiên, vốn, lao động

và công nghệ để xác định năng lực sản xuất của lãnh thổ Bên cạnh đó, thuyết tăng trưởng nội sinh cho rằng đầu tư là cấu phần cơ bản trong tổng cầu và là động lực cơ bản của tăng trưởng vùng, vì đầu tư sẽ làm phát sinh lợi nhuận mới, tăng năng lực sản xuất và thúc đẩy tăng trưởng vùng Do vậy, để đạt được tăng trưởng kinh tế vùng thì ngoài việc sử dụng hiệu quả các yếu tố đầu vào như đã kể trên, còn cần phải tiết kiệm tiêu dùng để có vốn đầu tư, tức là hạn chế tiêu dùng ở hiện tại để tạo ra mức tiêu dùng cao hơn trong tương lai

- Lí thuyết tăng trưởng ngoại sinh hay lí thuyết dựa vào xuất khẩu để phát triển vùng Theo thuyết này, tăng trưởng vùng chịu ảnh hưởng rất lớn của mức cầu bên ngoài, muốn nâng cao tiềm lực kinh tế của vùng thì cần phải

Trang 20

thu hút được các luồng tiền từ bên ngoài vào Để làm được điều đó thì hiệu quả nhất là gia tăng xuất khẩu

1.2.2 Lí thuyết định vị công nghiệp của A.Weber

Lí thuyết này đưa ra mô hình không gian phân bố công nghiệp trên cơ

sở nguyên tắc cực tiểu hóa chi phí và cực đại hóa lợi nhuận Lí thuyết này ra đời đã giải thích công nghiệp tập trung vào một địa điểm nhất định là do ba lí

do, đó là: hướng theo vận tải (nghĩa là các xí nghiệp công nghiệp phân bố hướng đến các khu vực với chi phí vận tải thấp nhất); hướng theo lao động (nghĩa là các xí nghiệp công nghiệp phân bố hướng đến các khu vực có giá nhân công rẻ) và tích tụ (nghĩa là các xí nghiệp công nghiệp phân bố hướng đến các khu vực đã tập trung nhiều xí nghiệp công nghiệp)

Cùng với lí thuyết định vị công nghiệp của mình, A.Weber cũng đã phân tích các ưu điểm và hạn chế của việc tập trung các doanh nghiệp tại một địa điểm mà trong ngôn ngữ kinh tế học hiện đại chúng được gọi là các “lợi ích ngoại ứng” và “chi phí ngoại ứng” của vùng lãnh thổ trong phạm vi quyết định đầu tư Các lợi ích ngoại ứng xuất hiện khi các doanh nghiệp có thể chia sẻ gánh nặng chi phí vì sử dụng chung hệ thống kết cấu hạ tầng và có thể hỗ trợ lẫn nhau trong hoạt động thực hiện chuyên môn hóa, hợp tác hóa sản xuất, làm tăng năng xuất lao động, hạ giá thành sản phẩm, sử dụng tiết kiệm các nguồn nguyên liệu và năng lượng Bên cạnh đó, chi phí ngoại ứng cũng có thể xuất hiện khi có sự quá tải của lãnh thổ và sự cạnh tranh, chèn ép lẫn nhau dẫn đến hạn chế

sự phát triển của các doanh nghiệp

Như vậy, có thể nhận thấy trong điều kiện của nước ta hiện nay, nhất là đối với một tỉnh như Cao Bằng thì lí thuyết này có giá trị thực tiễn cao và có thể vận dụng vào việc phân bố và phát triển công nghiệp

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 15

1.2.3 Lí thuyết phát triển các vành đai nông nghiệp trong phạm vi ảnh hưởng của thành phố

V.Thunen cho rằng, thành phố trung tâm có sức hấp dẫn đối với hoạt động nông nghiệp ở xung quanh và địa tô chênh lệch là một nhân tố then chốt dẫn đến sự phân chia lãnh thổ của quốc gia thành các vùng sử dụng đất nông nghiệp khác nhau xung quanh thành phố hạt nhân Ông đã phân tích sự khác nhau về chi phí vận tải, tầm quan trọng của khoảng cách không gian và trọng lượng sản phẩm của các hoạt động nông nghiệp trong việc phân bố thành các vành đai nông nghiệp xu ng quanh thành phố

1.2.4 Lí thuyết các “điểm trung tâm” của W.Christaller

Lí thuyết này được hai nhà bác học là W.Christaller và A.Losch đưa ra năm 1933 dựa trên những ý tưởng và mô hình của V.Thunen và A.Weber cũng như những luận điểm cơ bản của Niutơn về lực hấp dẫn

Theo quan điểm của W.Christaller, thành phố là một trung tâm cho tất

cả các điểm dân cư khác của vùng, bảo đảm cho chúng về các hàng hóa của trung tâm; thành phố là cực hút, là hạt nhân của sự phát triển, là đối tượng để đầu tư có trọng điểm trên cơ sở nghiên cứu mức độ thu hút và mức độ ảnh hưởng của vị trí trung tâm A.Losch đưa thêm vào nội dung lí thuyết của W.Christaller, ông cho rằng có một vị trí trung tâm chung, đó là thành phố quan trọng nhất, là đầu mối của toàn hệ thống các điểm dân cư

Lí thuyết các “điểm trung tâm” là cơ sở cho việc bố trí các điểm đô thị mới tại các vùng lãnh thổ còn trống vắng đô thị Tuy nhiên cần phải xác định được phạm vi ảnh hưởng của các vị trí trung tâm, tức là khu vực lãnh thổ nằm trong phạm vi khống chế, chi phối của trung tâm đó Theo nghiên cứu của các nhà kinh tế thì càng xa vị trí trung tâm ảnh hưởng càng giảm dần và sẽ chấm dứt tại điểm mà sự ảnh hưởng bắt đầu mạnh hơn của một trung tâm gần nhất khác

Trang 22

1.2.5 Lí thuyết cực phát triển

Lý thuyết chú trọng vào những điểm làm phát sinh sự tăng trưởng kinh

tế của lãnh thổ Quan điểm này do Francoi Perroux - nhà kinh tế học người Pháp đề xướng vào đầu những năm 50 – thế kỉ XX Theo ông, trong một vùng không thể phát triển kinh tế đồng đều ở tất cả các điểm trên lãnh thổ của nó theo cùng một thời gian mà luôn có xu hướng phát triển mạnh nhất ở một hoặc vài điểm, trong khi các điểm khác lại phát triển chậm chạp hoặc trì trệ, kém phát triển Các điểm phát triển nhanh này, tất nhiên nó là những trung tâm có lợi thế so với toàn vùng

Những năm sau đó, lý thuyết này được Albert Hirshman, Myrdal, Friedman và Harry Richarson tiếp tục nghiên cứu và phát triển, trên cơ sở nhấn mạnh vai trò to lớn của công nghiệp và dịch vụ đối với sự tăng trưởng

và phát triển của vùng; chính sự tập trung công nghiệp và dịch vụ ở các đô thị (các cực) giữ vai trò hạt nhân phát triển

Theo Harry Richarson và Benjamin Higgins, một cực phát triển trước hết cần được hiểu đó là tập hợp các ngành công nghiệp có khả năng tạo ra động lực tăng trưởng cho nền kinh tế, có quan hệ tương tác chặt chẽ với nhau thông qua các mối quan hệ đầu vào – đầu ra xung quanh một ngành công nghiệp dẫn đầu hay công nghiệp mũi nhọn Nhờ có những ưu thế về công nghệ hiện đại, tốc độ đổi mới sản phẩm (cả về chất lượng, mẫu mã… theo nhu cầu thị trường) và có phạm vi thị trường tiêu thụ rộng lớn, nên ngành công nghiệp này ngày càng phát triển nhanh, kéo theo các ngành liên quan đến nó tăng trưởng nhanh hơn các bộ phận khác của nền kinh tế, tạo ra tác động lan tỏa ảnh hưởng theo cấp số nhân đến các bộ phận khác của nền kinh tế

Xét về mặt lãnh thổ, sự phát triển và phát đạt của một ngành công nghiệp mũi nhọn như vậy làm cho lãnh thổ nơi nó phân bố sẽ phát triển và hưng thịnh Nguyên nhân là do số lượng việc làm tăng lên, sức mua cũng tăng

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 17

hoạt động phát triển mới được thu hút vào lãnh thổ đó ngày một nhiều hơn

Sự tập trung hóa về lãnh thổ đạt tới một mức nhất định và sau đó hiệu ứng lan tỏa sẽ làm cho các cơ hội phát triển mới bắt đầu xuất hiện ở nhiều địa phương khác Kết quả là từ sự phát triển của một cực – một lãnh thổ trọng điểm sẽ kéo theo sự phát triển của các vùng lãnh thổ khác, tạo điều kiện cho nền kinh tế của cả vùng lãnh thổ lớn phát triển

1.3 Các hình thức chủ yếu tổ chức lãnh thổ kinh tế và việc vận dụng vào thực tiễn ở Việt Nam

Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lí luận về tổ chức lãnh thổ kinh tế cũng như thực tiễn ở Việt Nam trong những năm qua, có thể thấy các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế phổ biến ở nước ta hiện nay là:

1.3.1 Hành lang kinh tế

Hành lang kinh tế được hình thành dựa trên một tuyến trục giao thông huyết mạch và sự tập trung các cơ sở công nghiệp và dịch vụ dọc hai bên tuyến trục đó Do có sự phát triển tập trung các cơ sở kinh tế, lợi dụng triệt để việc vận chuyển thuận lợi nên các hoạt động kinh tế đem lại hiệu quả cao hơn Hành lang kinh tế được coi là một hiện tượng kinh tế xã hội và đây là hình thức tổ chức kinh tế theo lãnh thổ đầy triển vọng

Ở nước ta, hành lang kinh tế đã được hình thành và ngày càng có ý nghĩa trong phát triển kinh tế - xã hội theo lãnh thổ, tiêu biểu là 03 tuyến hành lang kinh tế: Hà Nội – Hải Phòng; Huế - Đà Nẵng – Dung Quất và Thành phố

Hồ Chí Minh – Biên Hòa – Vũng Tàu Gần đây Việt Nam và Trung quốc đã thỏa thuận phát triển “hai hành lang, một vành đai” (Hai hành lang kinh tế: Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng và Nam Ninh – Lạng Sơn – Hà Nội – Hải Phòng; một vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ) Hiện nay các hành lang kinh tế vẫn đang tiếp tục được hình thành và phát triển trên hầu hết các tuyến trục giao thông trọng yếu

Các hành lang kinh tế được coi như các trục kinh tế động lực, với ý nghĩa là đầu tàu lôi kéo sự phát triển chung của một vùng rộng lớn Mỗi hành

Trang 24

lang kinh tế hay vành đai kinh tế kéo dài đến hàng trăm km, đi qua nhiều tỉnh, thành phố Các cơ sở sản xuất và dịch vụ của mỗi tỉnh, thành phố là một bộ phận, là một mắt xích trong tổng thể kinh tế của mỗi hành lang

Bảng 1.1: Các hành lang kinh tế quan trọng của Việt Nam

STT Hành lang kinh tế

Năm 2005 Năm 2020 (dự tính)

Dân số (nghìn người)

GDP (tỉ đồng)

Dân số (nghìn người)

GDP (tỉ đồng)

Nguồn: Xử lí số liệu theo các dự án quy hoạch vùng của Viện Chiến lược và Phát triển

1.3.2 Khu kinh tế

Khu kinh tế là một lãnh thổ xác định, được hưởng ưu đãi đặc biệt để phát triển kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài Trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế và thực hiện các cam kết tự do thương mại trên phạm vi khu vực cũng như trên quy mô toàn cầu, việc phát triển khu kinh tế cần phải được quan tâm đúng mức

Trên thế giới, các quốc gia xây dựng các khu kinh tế đều có chung mục đích là tạo nên sự thông thoáng trong giao thương, tạo sức thu hút mạnh nguồn đầu tư nước ngoài và thông qua đó phát triển nhanh nền kinh tế đất nước

Ở Việt Nam, thực hiện Nghị quyết Hội nghị TW 4 khóa VIII về việc nghiên cứu xây dựng thí điểm một vài khu kinh tế, khu mậu dịch tự do ở những địa bàn ven biển có đủ điều kiện, trên cơ sở tham khảo các mô hình khu công nghiệp, đặc khu kinh tế; trong điều kiện quốc tế mới và xu hướng chuyển đổi các đặc khu kinh tế sang hình thức các khu khai phát mới, các cơ quan chức năng cùng các tỉnh đã tiến hành nghiên cứu về mô hình “khu kinh

tế phát triển”

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 19

Năm 2005, khu công nghiệp chuyển đổi thành khu kinh tế đầu tiên ra đời, đó là khu kinh tế tổng hợp Dung Quất, tiếp theo đó là sự phát triển các khu kinh tế ở Quảng Nam, Thừa Thiên – Huế Sau năm 2005, xu thế phát triển các khu kinh tế đã lan rộng ra trên 10 lãnh thổ địa phương Trong báo cáo trình Thủ tướng Chính phủ về quy hoạch phát triển các khu kinh tế ven biển ở Việt Nam đến năm 2020, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng, khu kinh tế

là khu vực có địa lí thuận lợi cho giao thương với các khu vực khác; nó là một

bộ phận lãnh thổ của đất nước có quy mô đất đai đủ lớn để phát triển tổng hợp kinh tế, được Chính phủ cho phép xây dựng và phát triển, vận hành bởi khung pháp lí có tính ưu đãi, mở cửa theo các thông lệ quốc tế; ở đó có môi trường đầu tư kinh doanh, buôn bán phù hợp với cơ chế thị trường, được hưởng quy chế ưu đãi hơn các nơi khác; ở đó giao lưu kinh tế với nước ngoài thông thoáng, không bị hạn chế, ưu tiên hướng xuất khẩu, thu hút vốn đầu tư nước ngoài; khi phát triển các khu kinh tế không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh quốc gia, không xâm hại đến các công trình văn hóa, di tích của đất nước

Để có một định hướng phát triển các khu kinh tế ven biển trên phạm vi

cả nước, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các cơ quan chức năng nghiên cứu quy hoạch phát triển các khu kinh tế ven biển đến năm 2020 Thực tế cho thấy, hình thức khu kinh tế mang tính tổng hợp, vừa có hoạt động công nghiệp, vừa có hoạt động thương mại, du lịch, nhà ở và các công trình công cộng; trên cơ sở đó phát huy được sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các loại hình tổ chức lãnh thổ kinh tế Nó có khả năng khắc phục được nhược điểm của hình thức khu công nghiệp chỉ có hoạt động công nghiệp mà không có hoạt động thương mại và không có nhà ở cũng như các công trình kết cấu hạ tầng phục

vụ đời sống dân sinh

Ngoài các khu kinh tế ven biển đã nêu trên, ở nước ta còn tồn tại hai loại khu kinh tế tổng hợp nhưng tính chất tổng hợp và mức độ phức tạp ít hơn

so với khu kinh tế ven biển Đó là khu kinh tế cửa khẩu và khu kinh tế quốc

Trang 26

phòng Khu kinh tế cửa khẩu hình thành và phát triển trên cơ sở có sự tồn tại của một cửa khẩu biên giới với một nước láng giềng và nhờ có sự phát triển của giao thương kinh tế và khách du lịch Khu kinh tế quốc phòng do quân đội quản lí và làm nhiệm vụ bảo vệ quốc phòng là chủ yếu, bộ đội cùng nhân dân phát triển kinh tế và bảo vệ an ninh quốc phòng

Bảng 1.2: Các Khu kinh tế của Việt Nam (tính đến năm 2008)

STT Khu kinh tế Địa điểm Thời gian

thành lập

Diện tích (ha)

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 21

hỗ trợ cho các vùng khác; iv- Có khả năng thu hút các ngành mới về công nghiệp và dịch vụ để từ đó nhân rộng ra toàn quốc

Cho đến nay, trên lãnh thổ nước ta đã hình thành 04 vùng kinh tế trọng điểm: Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc (gồm Thành phố Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc và Bắc Ninh); Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (gồm: Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định); Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (gồm thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Long An và Tiền Giang) và Vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Cửu Long (gồm Thành phố Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang và Cà Mau)

1.3.4 Tổ chức lãnh thổ công nghiệp

Tổ chức lãnh thổ công nghiệp là một trong những hình thức tổ chức nền sản xuất xã hội theo lãnh thổ Hiện nay, khái niệm này được hiểu là: “hệ thống các mối liên kết không gian của các ngành và các kết hợp sản xuất lãnh thổ trên

cơ sở sử dụng hợp lí nhất các nguồn tài nguyên thiên nhiên, vật chất, lao động nhằm đạt được hiệu quả cao nhất về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường”

Có nhiều hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp, phụ thuộc vào quan niệm và quy mô lãnh thổ của mội quốc gia Trên cơ sở tổng quan các hình thức của một số nước trên thế giới và gắn với thực tiễn của nước ta, nhất là sau khi đất nước bước vào công cuộc Đổi mới, các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp của nước ta gồm có:

* Khu công nghiệp tập trung

Khu công nghiệp tập trung là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp,

có ranh giới xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập

Nhìn chung, các khu công nghiệp tập trung đã xuất hiện trên tất cả các vùng kinh tế, song nó được tập trung chủ yếu ở Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông

Trang 28

Hồng và vùng Duyên hải miền Trung Tính cho đến năm 2007, trên phạm vi cả nước có 152 khu công nghiệp tập trung, với tổng diện tích đất là 30.700 ha

Thực tế, ở Việt Nam trong những năm qua, khu công nghiệp tập trung

là một trong những hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp phổ biến và mang lại hiệu quả kinh tế cao, là động lực thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Bảng 1.3: Các khu công nghiệp ở Việt Nam (tính đến tháng 12/2007)

2 Tổng số dự án đã thành lập, đang hoạt

động và đang xây dựng cơ sở hạ tầng,

trong đó:

3 Giá trị sản xuất của các KCN Tỉ USD 17.1

5 Lao động trong các KCN Nghìn người 906

Nguồn: Tạp chí Khu công nghiệp Việt Nam số 79, 84 và Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về Khu công nghiệp, năm 2007

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 23

* Khu công nghệ cao

Khu công nghệ cao là khu tập trung các doanh nghiệp công nghệ kĩ thuật cao và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao gồm nghiên cứu, triển khai khoa học - công nghệ, đào tạo và các dịch vụ liên quan;

có ranh giới xác định; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Như vậy, có thể nói, khu công nghệ cao là trường hợp đặc biệt của khu công nghiệp tập trung

Ở nước ta, việc hình thành khu công nghệ cao với mục đích là thu hút công nghệ cao của nước ngoài, tiếp nhận chuyển giao công nghệ cao, đồng hóa, sáng tạo, kinh doanh và phát triển công nghệ cao Đây chính là bước đi tắt, nhằm tránh sự tụt hậu về công nghệ so với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới Hiện nay, Việt Nam đang triển khai xây dựng hai khu công nghệ cao, đó là: Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh và Khu công nghệ cao Hòa Lạc

* Cụm công nghiệp

Cụm công nghiệp là một lãnh thổ có ranh giới ước lệ, nhưng được xác định bởi văn bản pháp lí, với quy mô nhỏ hơn khu công nghiệp và được bố trí tập trung một số cơ sở công nghiệp thuần túy Cụm công nghiệp là một kết hợp sản xuất – lãnh thổ mang tính chất tổng hợp Do nằm gần nhau, các xí nghiệp thống nhất với nhau bằng việc có chung vị trí địa lí giao thông, hệ thống kết cấu hạ tầng và các điểm dân cư, nhằm sử dụng hiệu quả nhất các nguồn tài nguyên thiên nhiên, lao động, vật chất sẵn có trên lãnh thổ Cụm công nghiệp thường gắn với lãnh thổ cấp huyện, là hạt nhân để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở cấp huyện của nước ta

* Điểm công nghiệp:

Điểm công nghiệp là một lãnh thổ không lớn, có ranh giới ước lệ và được xác định bởi một văn bản pháp lí, có quy mô nhỏ hơn cụm công nghiệp, trên đó có một điểm dân cư với một xí nghiệp công nghiệp Nó cũng có thể là

Trang 30

một nhóm không lớn các xí nghiệp công nghiệp nằm trong phạm vi của một điểm dân cư Nói cách khác, thực chất điểm công nghiệp là một hình thức đồng nhất với điểm dân cư có xí nghiệp công nghiệp Ở nước ta, điểm công nghiệp thường gắn với địa bàn xã hoặc liên xã

1.3.5 Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp

Ở Việt Nam, hình thức tổ chức lãnh thổ trong nông nghiệp hiện nay phổ biến là khu nông nghiệp công nghệ cao và vùng chuyên môn hóa cây trồng gắn với công nghiệp chế biến (tổ hợp nông – công nghiệp)

* Khu nông nghiệp công nghệ cao

Khu nông nghiệp công nghệ cao là một lãnh thổ xác định, tuy không qúa lớn về diện tích, nhưng áp dụng kĩ thuật canh tác hiện đại với công nghệ cao Chính vì vậy, khu nông nghiệp công nghệ cao thường mang lại hiệu quả cao với những sản phẩm có chất lượng, có sức cạnh tranh Đây là hình thức tổ chức làm hạt nhân để phát triển nền nông nghiệp sinh thái và bền vững

Tuy nhiên, loại hình khu nông nghiệp công nghệ cao ở nước ta hiện nay chưa phát triển mạnh, nhưng đang có xu hướng gia tăng, nhất là ở ven các thành phố lớn

Bảng 1.4: Các khu nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam, năm 2007

STT Khu NNCNC Địa điểm Diện tích

canh tác (ha)

Hướng chuyên môn hóa

Nguồn: Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn

* Vùng trồng cây chuyên môn hóa gắn với công nghiệp chế biến (tổ hợp nông – công nghiệp)

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 25

Đây là hình thức tổ chức theo lãnh thổ trong sản xuất nông nghiệp

mà nước ta đã và đang phát triển và đạt hiệu quả kinh tế cao Việc hình thành nhiều khu vực cây trồng gắn với công nghiệp chế biến thành một thể

tổ hợp nông – công nghiệp Hình thức này tiêu biểu đối với phát triển các vùng chuyên canh cây công nghiệp, tại các vùng này người ta ứng dụng công nghệ cao và kĩ thuật canh tác tiến tiến, đồng thời gắn với các nhà máy chế biến có công nghệ hiện đại nhằm tạo ra những sản phẩm hàng hóa chất lượng cao, giá trị lớn Tiêu biểu cho hình thức tổ hợp nông – công nghiệp ở nước ta hiện nay là các tổ hợp nông – công nghiệp sau: Tổ hợp mía ở vùng Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ và ở Đồng bằng sông Cửu Long;

tổ hợp chè ở Trung du và miền núi Bắc Bộ, Tây Nguyên; tổ hợp cà phê ở Tây Nguyên; tổ hợp điều ở Đông Nam Bộ; tổ hợp tiêu ở Duyên hải miền Trung…

Trong lâm nghiệp ở nước ta hiện nay cũng có hình thức tổ chức lãnh thổ rất có hiệu quả giống như tổ hợp nông – công nghiệp mà chúng ta gọi

là tổ hợp lâm – công nghiệp, tức là gắn vùng rừng nguyên liệu với xí nghiệp chế biến nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao Tiêu biểu của hình thức này là tổ hợp lâm – công nghiệp chế tạo giấy, tổ hợp lâm – công nghiệp chế tạo gỗ…

1.3.6 Tổ chức lãnh thổ dịch vụ

- Đối với ngành du lịch, các hình thức tổ chức lãnh thổ rất phong phú

và từ thấp đến cao là: điểm du lịch, trung tâm du lịch, tiểu vùng du lịch, á vùng du lịch và vùng du lịch

- Đối với hoạt động thương mại, thì hệ thống mạng lưới bán buôn, bán lẻ, mạng lưới chợ; thị trường xuất nhập khẩu là những biểu hiện cụ thể

- Đối với lĩnh vực giao thông vận tải thì tổ chức lãnh thổ được thể hiện cụ thể qua mạng lưới đường giao thông và đầu mối giao thông

Trang 32

Chương 2 HIỆN TRẠNG TỔ CHỨC LÃNH THỔ KINH TẾ

TỈNH CAO BẰNG 2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Cao Bằng

2.1.1 Vị trí địa lí

Cao Bằng là tỉnh miền núi phía Bắc thuộc vùng Đông Bắc của Tổ quốc,

ranh giới phía Bắc và phía Đông giáp tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc, với đường biên giới trải dài hơn 300 km; phía Nam giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Kạn và Tuyên Quang; phía Tây giáp tỉnh Hà Giang Diện tích tự nhiên của tỉnh 6.724,62 km2, chiếm 2,03% diện tích tự nhiên cả nước

Cao Bằng nằm cách xa các trung tâm kinh tế lớn của miền Bắc và cả nước (cách thủ đô Hà Nội 283 km theo quốc lộ 3), có lợi thế về các cửa khẩu thông thương với Trung Quốc như các cửa khẩu Tà Lùng (huyện Phục Hòa); cửa khẩu Sóc Giang (huyện Hà Quảng) và cửa khẩu Hùng Quốc (huyện Trà Lĩnh)… Trong những năm qua, việc trao đổi hàng hoá thông qua các cửa khẩu đã tăng lên nhanh chóng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Các quốc lộ 3, quốc lộ 4 và quốc lộ 34 chạy qua tỉnh và trong tương lai với việc hoàn thành đường Hồ Chí Minh sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu, trao đổi hàng hoá giữa Cao Bằng với các tỉnh trong vùng, với cả nước và quốc tế

Như vậy, Cao Bằng có vị trí chiến lược đối với việc phát triển kinh tế -

xã hội và đặc biệt quan trọng đối với an ninh, quốc phòng Trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước ngày càng hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế khu vực

và thế giới, vị trí cửa ngõ phía bắc của Cao Bằng ngày càng có ý nghĩa quan trọng hơn trong lĩnh vực tổ chức lãnh thổ kinh tế nhằm phát triển kinh tế - xã hội và đẩy mạnh hội nhập kinh tế trong nước và quốc tế

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 27

Tỉ lệ : 1: 700.000

Trang 34

2.1.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên

Cao Bằng nằm trong miền uốn nếp Bắc Bộ, phía Bắc và phía Đông được gắn với rìa phía Tây Nam của nền Hoa Nam (Trung Quốc), phía Tây được giới hạn bởi phức nếp lồi sông Lô, phía Nam giáp võng chồng An Châu

và phần kéo dài của võng chồng sông Hiến

Cấu trúc Kainozoit đã sinh ra trũng nhỏ ở Cao Bằng hướng Đông Nam Quá trình vận động tân kiến tạo dẫn đến sự hình thành các bậc thềm ở các thung lũng, sông suối, các thềm chéo trải trên các gò đồi cao, tại đó tích tụ các vật liệu vụn bở cơ học Trong vật liệu vụn bở của nhiều thung lũng có chứa thiếc, quặng sa khoáng như ở các thung lũng Nậm Kép, Nguyên Bình, Nà Khoang, Nà Ngần Như vậy, lãnh thổ Cao Bằng trải qua nhiều giai đoạn kiến tạo khác nhau, với các thời kỳ kiến tạo địa chất khác nhau Do đặc điểm kiến tạo và cấu trúc địa chất phức tạp nên đã để lại cho lãnh thổ này có sự đa dạng

về khoáng sản

* Khoáng sản

Theo kết quả điều tra khảo sát của các đoàn địa chất, cho đến nay trên lãnh thổ Cao Bằng đã phát hiện được khoảng 142 mỏ và điểm quặng với 22 loại hình khoáng sản khác nhau, trong đó đáng kể nhất là:

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 29

- Quặng sắt, phân bố thành hai dải: một dải kéo dài từ xã Dân Chủ (Hoà An)

qua thị xã Cao Bằng đến Boong Quang gồm 07 mỏ và điểm quặng; dải thứ hai kéo dài từ thị trấn Nguyên Bình đến Tĩnh Túc và lên Bảo Lạc gồm 06 điểm quặng Trữ lượng tài nguyên trên 48 triệu tấn

- Quặng Bô xít tập trung ở các huyện Thông Nông, Hà Quảng, Quảng Uyên

và Phục Hoà Trữ lượng các mỏ đều thuộc quy mô nhỏ từ vài triệu đến dưới 10 triệu tấn mỗi mỏ Tổng trữ lượng dự báo khoảng 85 triệu tấn

- Quặng Mangan tập trung ở các huyện Trà Lĩnh, Trùng Khánh và Hạ Lang, trữ lượng tài nguyên dự báo 6,4 triệu tấn

- Quặng thiếc tập trung chủ yếu ở Nguyên Bình với tổng trữ lượng khoảng 20 triệu tấn

- Đá vôi ở Cao Bằng có trữ lượng rất lớn với hàng tỷ tấn có chất lượng

tốt và điều kiện khai thác thuận lợi, dùng cho sản xuất xi măng và xây dựng

- Cao Bằng cũng có nhiều cát, sỏi, cao lanh, nước khoáng là nguồn

nguyên liệu quan trọng để phát triển các ngành công nghiệp và xây dựng

- Ngoài ra Cao Bằng còn có các loại khoáng sản khác như than, uran, đồng, niken, crôm, kẽm, chì, antimon, beril, barit, pirit, fluorit, đôlômit, fotforit, vàng, đá quí (rupi và saphia), volfram có trữ lượng nhỏ và chưa được điều tra đánh giá đầy đủ Tài nguyên khoáng sản cho phép Cao Bằng phát triển mạnh ngành công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản

2.1.2.2 Đặc điểm địa hình

Cao Bằng là một tỉnh miền núi nằm trong vùng cao nguyên rộng lớn phía đông bắc nước ta, độ cao trung bình không lớn nhưng địa hình bị chia cắt phức tạp với các dãy núi cao, các cao nguyên đá vôi bề mặt hiểm trở, các núi đất xen kẽ các sông suối, thung lũng hẹp

Trang 36

Nhìn chung địa hình có hướng nghiêng chung thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam và từ Tây sang Đông Có thể chia thành ba miền địa hình chính như sau:

* Miền địa hình cao nguyên đá vôi (sơn nguyên Cao Bằng)

Nằm trong hệ thống cao nguyên biên giới Việt - Trung của miền Bắc Việt Nam kéo dài từ Hà Giang tới Cao Bằng Miền địa hình này chiếm diện tích chủ yếu của tỉnh, trải dài từ Tây Bắc sang phía Bắc - Đông Bắc Miền cao nguyên có thể chia thành 03 cao nguyên nhỏ như sau:

- Cao nguyên Lạng Cá là cao nguyên đá vôi có độ cao lớn nhất ở phía tây huyện Bảo Lạc, Bảo Lâm, phía đông là vùng núi thuộc cánh cung Sông Gâm Bề mặt cao nguyên bị cắt xẻ mạnh tạo thành nhiều thung lũng sâu, nhiều vực thẳm với vách đá dựng đứng, địa hình vô cùng hiểm trở Trên cao nguyên Lạng Cá có nhiều ngọn núi cao từ 1200m đến hơn 1900m

- Cao nguyên Bình Lạng thuộc khu vực phía bắc hai cánh cung Sông Gâm và Ngân Sơn, là vùng đất rộng lớn giới hạn bởi cao nguyên Lang Cá tới lưu vực sông Bằng Vùng cao nguyên này được cấu tạo chủ yếu từ đá phiến

và đá vôi bị phong hóa và bị xâm thực bào mòn mạnh hình thành nên những dãy đồi nhấp nhô trông hút tầm mắt, cá biệt có một số dãy núi đá vôi cắt ngang dựng lên những vách thẳng đứng màu xám trắng Thung lũng Bảo Lạc nằm giữa cao nguyên ở độ cao 209m so với mực nước biển, là một vùng đất thấp, kín gió

Phía đông cao nguyên Bình Lạng nhô cao hai dãy núi đá vôi: dãy Bảo Lạc – Tắp Ná và dãy Lũng Súng – Mỏ Sắt

+ Dãy Bảo Lạc – Tắp Ná kéo dài từ Bảo Lạc sang Thông Nông, tây Hòa An đến đông bắc Nguyên Bình, chạy suốt đến miền tây Thạch An Dãy núi này cũng bị chia cắt thành nhiều hẻm vực sâu, nhiều thung lũng rộng Đỉnh cao nhất thuộc xã Khánh Xuân (Bảo Lạc) cao 1803m Đoạn giữa của dãy có các đèo Mẻ Pia, Khau Dựa, Mã Quỷnh cao khoảng 1000m Thung

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 31

lũng rộng và điển hình nhất là thung lũng Đồng Mu ở độ cao 893m so với mặt biển, vùng thấp nhất thung lũng là hồ Đồng Mu nước trong xanh quanh năm Đoạn cuối của dãy Bảo Lạc – Tắp Ná độ cao giảm dần dưới 1000m và kết thúc là vùng đồi, núi thấp khoảng 200m ở Minh Tâm (Nguyên Bình), Bình Long, Hồng Việt (Hòa An)

+ Dãy Lũng Súng – Mỏ Sắt là dãy núi ngắn, nằm song song với dãy Bảo Lạc – Tắp Ná Giới hạn từ Sóc Giang (xã Quý Quân – Hà Quảng) đến

Mỏ Sắt (xã Dân Chủ - Hòa An) Độ cao so với mặt biển đã giảm hẳn nhưng vẫn còn cách vách đá thẳng đứng, hiểm trở, thung lũng nhỏ hẹp

- Cao nguyên miền đông Cao Bằng bao trùm lên các huyện miền đông của tỉnh gồm Trà Lĩnh, Trùng Khánh, Hạ Lang, Quảng Uyên, Phục Hòa, Thạch An Cao nguyên có cấu tạo gần như hoàn toàn bằng đá vôi (Quảng Uyên), nhưng cũng có vùng khá rộng lại cấu tạo chủ yếu bằng đá phiến (miền giữa huyện Trà Lĩnh và Trùng Khánh), hoặc có vùng xen kẽ giữa đá vôi và đá phiến (Phục Hòa) Cao nguyên miền đông có độ cao thấp hơn so với miền tây, nét nổi bật là trên bề mặt có rất nhiều ngọn núi đá vôi đỉnh nhọn lởm chởm, xen kẽ là các thung lũng cacx-tơ lớn nhỏ, độ cao từ 400m đến 600m so với mặt biển Địa hình của các thung lũng tương đối bằng phẳng, đi lại tương đối

dễ dàng, từ lâu đã trở nên những vùng dân cư trù phú Cánh đồng Quảng Uyên – Trùng Khánh là thung caxtơ rộng nhất (cánh đồng caxtơ), núi non nhấp nhô được ví như “vịnh Hạ Long cạn”, phong cảnh rất hấp dẫn Các núi

đá vôi thường có nhiều hang động lớn nhỏ, nhiều hang rộng có phong cảnh kì thú, rất có giá trị cho phát triển du lịch Nổi tiếng trong vùng núi đá vôi có động Ngườm Ngao (Trùng Khánh), Ngườm Lồm (Phục Hòa)

Rìa phía tây cao nguyên miền đông là dãy Lục Khu – Thạch An chạy dài từ Hà Quảng đi qua Trà Lĩnh, Hòa An, Quảng Uyên, Thạch An và kết thúc ở đông bắc huyện Tràng Định tỉnh Lạng Sơn, chạy theo hướng tây bắc –

Trang 38

đông nam Đỉnh cao nhất 1.157m ở sát biên giới Việt Trung, đến vùng đông nam huyện Hòa An ngọn cao nhất còn 828m, đến Thạch An chỉ còn núi cao dưới 700m Dãy núi bị chia cắt thành nhiều thung lũng lớn nhỏ có độ cao khác nhau Sát biên giới của Hà Quảng là vùng thung lũng cao thuộc xã Nà Sác tiếp đến là vùng Lục Khu Hà Quảng – Trà Lĩnh có độ cao từ 500m đến 700m, là những thung caxtơ rất hiếm nước chảy trên mặt, chủ yếu là dòng chảy ngầm trong những hang đá vôi sâu dưới lòng đất, nơi lộ ra thường chảy thành những con suối khá lớn, nước trong xanh quanh năm Đó cũng là nơi quây tụ bản làng dân cư trồng lúa nước một vụ và một vài cây hoa màu khác như ngô, đỗ tương, thuốc lá…

Trên dãy Lục Khu – Thạch An có đèo Mã Phục là con đường giao thông giữa các huyện miền đông với thị xã và các huyện miền tây Đèo cao 620m so với mực nước biển, đường đi khúc khuỷu Từ đèo Mã Phục xuống phía đông nam, dãy núi giảm dần cả về độ cao và cả hình dáng đồ sộ Nhưng

từ thị trấn Đông Khê sang đến Lạng Sơn vẫn còn phải vượt qua đèo Bông Lau khá dài, cao 703m, đường khá hiểm trở Dãy núi Lục Khu – Thạch An là phân giới tự nhiên giữa miền đông và miền tây Cao Bằng

Ngoài ra trên cao nguyên miền đông còn có hai dãy núi đá vôi chạy theo hướng á tây – đông, thấp và ngắn hơn; dãy thứ nhất từ Trà Lĩnh đến Trùng Khánh với hai ngọn Lũng Xáng cao 812m và Lũng Thang cao 820m, vùng núi này có nhiều biến động địa chất, có những vết nứt nông ở vùng Đỏng Đó, gây ra hiện tượng đá lở; dãy thứ hai cắt ngang huyện Hạ Lang hướng uốn cong về phía nam còn gọi là vòng cung phụ Hạ Lang, đỉnh cao nhất là 758m so với mặt biển

* Miền địa hình núi cao

Chủ yếu ở phía tây của tỉnh thuộc Bảo Lạc, Bảo Lâm, Nguyên Bình và một phần diện tích phía nam Hòa An, phía tây – tây bắc Thạch An Đó cũng

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 33

là phần diện tích phía bắc của hai cánh cung núi lớn: Sông Gâm và Ngân Sơn thuộc địa phận Cao Bằng

- Cánh cung Sông Gâm bắt đầu cao nguyên Lạng Cá đi qua Chợ Rã, Chợ Chu nối liền với Tam Đảo Đỉnh cao nhất của cánh cung Sông Gâm là đỉnh Phia Dạ (Phia Ya) cao 1980m, cấu tạo bằng đá granit Đỉnh núi quanh năm có mây mù bao phủ, có tuyết, băng giá vào mùa đông Người bản địa gọi Phja Dạ là núi Tiên

- Cánh cung Ngân Sơn bắt đầu từ Nguyên Bình đi qua Bắc Kạn rồi kết thúc ở phía bắc thành phố Thái Nguyên Phần lớn núi ở phía nam Nguyên Bình đều được cấu tạo bằng đá phiến Tất cả các sông suối ở sườn đông cánh cung Ngân Sơn đều thuộc hệ thống sông Bằng – Kì Cùng, những dòng ở sườn tây đổ vào sông Cầu, sông Năng Cánh cung bắt đầu bằng ngọn Phja Oắc cao 1931m là khối núi granit đồ sộ, đỉnh nhọn, sườn dốc Trên núi có nguồn nước chảy từ đỉnh xuống tạo thành dòng thác, khí hậu quanh năm ẩm ướt Mùa đông, khi gió mùa đông bắc hoạt động mạnh, vùng núi Phja Oắc hay có tuyết, sương giá, tuyết Dưới chân núi Phja Oắc là lòng chảo Tĩnh Túc là nơi lắng đọng những khoáng sản quý hiếm (vàng, bạc, thiếc) bị bào mòn từ khối núi trôi xuống Thấp hơn là đỉnh Phja Đén cao 1428m, khí hậu quanh năm mát

mẻ, trong lành, cảnh quan hùng vĩ, là điểm du lịch nghỉ dưỡng lí tưởng

Đường quốc lộ 3 từ Hà Nội lên Cao Bằng phải vượt qua các đèo trên cánh cung núi này như đèo Giàng, đèo Gió (804m), đèo Cao Bắc (đèo Benle – 810m), đèo Tài Hồ Sìn… Đèo cao nhất là Phja Oắc (đèo Lê - a) cao 1362m trên đường từ Nguyên Bình xuống Bắc Kạn, đỉnh đèo quanh năm có mưa, sương mù dày đặc, khí hậu ẩm ướt

* Miền địa hình núi thấp, thung lũng (máng trũng Cao Bằng)

Là phần bắc của lòng máng Cao Bằng – Lạng Sơn, hình thành trên đường đứt gãy của vùng địa hình Cao Bằng – Tiên Yên, xuất hiện vào thời kì

Trang 40

vận động tạo sơn Anpi Đường đứt gãy này làm mặt đất gấp nếp thành những đồi núi thấp xung quanh, đồng thời có những chỗ sụt lún xuống thành hồ đầm lục địa (hồ Nêogen), sau này được bồi đắp bằng sườn tích, trầm tích Neogen, Paleogen và phù sa sông suối mới, hình thành nên các đồng bằng giữa núi hiện nay (các cánh đồng dạng này không chỉ có ở Cao Bằng mà cả ở Tuyên Quang, Lạng Sơn, Điện Biên, Than Uyên, Nghĩa Lộ)

Máng trũng Cao Bằng chính là vùng thung lũng sông Bằng là vùng trũng thấp nhất, nằm giữa hai dãy núi Bảo Lạc – Tắp Ná và dãy Lục Khu – Thạch An, kéo dài từ Sóc Giang (Hà Quảng) tới Phục Hòa, độ cao giảm dần từ tây bắc xuống đông nam; vùng Sóc Giang cao trung bình 294m đến cánh đồng Hòa An còn khoảng 200m, gần thị xã chỉ còn 193m và đến Tà Lùng (Phục Hòa) còn cao 148m so với mực nước biển Các lớp phù sa cổ và phù sa mới đã bồi đắp nên cánh đồng Cao Bằng từ nam Hà Quảng đến thị xã, có diện tích rộng trên 6000

ha, vùng đất bằng phẳng nhất, màu mỡ nhất là trung tâm huyện Hòa An

Ven rìa thung lũng và hai bên bờ sông Bằng còn có những dãy núi đá phiến và phún xuất Ngoài ra xen giữa các cánh đồng, thung lũng nhỏ có một

số đồi núi thấp hình bát úp nằm rải rác

Thị xã Cao Bằng là nơi gặp gỡ của ba dòng sông: sông Bằng, sông Hiến và suối Củn, bốn bề có bốn ngọn núi bao bọc: Khau Sầm (Kỳ Sầm – 678m); Khau Luân; Khau Kim Pha và Khau Khấu (809m)

Nhìn chung địa hình núi cao, độ dốc lớn, chia cắt mạnh đã ảnh hưởng tới việc phát triển kinh tế - xã hội của Cao Bằng Đất canh tác hạn chế, việc giao lưu với các tỉnh lân cận nói chung và với các trung tâm đô thị lớn của cả nước nói riêng, cũng như trong phạm vi nội tỉnh gặp nhiều khó khăn

Tuy vậy bên cạnh những hạn chế, mỗi miền có những thế mạnh riêng, như: miền núi cánh cung và các cao nguyên biên giới có địa hình cao, độ dốc lớn có thể phát triển lâm nghiệp, chăn nuôi đại gia súc và trồng cây công

Ngày đăng: 24/03/2021, 22:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w