Luận văn
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tổ chức lãnh thổ kinh tế là sự sắp xếp các thành phần trong mối liên hệ đa ngành, đa lãnh thổ ở một vùng nhằm đạt hiệu quả cao nhất về các mặt kinh tế, xã hội, môi trường và phát triển bền vững trên cơ sở sử dụng hợp lý các nguồn lực TCLTKT hợp lí được xem là một trong những giải pháp có tính nghệ thuật hàng đầu
để phát huy tốt nhất các nguồn lực phát triển và có thể khắc phục được tình trạng chồng chéo, quá tải về sức chứa lãnh thổ cũng như giải quyết tốt tình trạng phát triển rời rạc giữa các lãnh thổ với nhau và giữa các ngành trong một lãnh thổ để hướng tới
sự phát triển bền vững [105,tr.349]
Nghệ An là một tỉnh nằm ở vùng Bắc Trung Bộ (BTB), có diện tích tự nhiên lớn nhất cả nước, điều kiện thuận lợi cho phát triển KT - XH không ít, nhưng vẫn bị xếp vào một trong những tỉnh có trình độ phát triển kinh tế thấp của cả nước Cơ cấu kinh
tế của tỉnh chậm phát triển với 28,4% GDP nông nghiệp, lao động nông nghiệp chiếm hơn 2/3 trong tổng số lao động toàn tỉnh, gần 87% dân cư sống ở nông thôn, thu nhập bình quân đầu người chỉ bằng 62,3% trung bình chung cả nước (năm 2010) Người dân xứ Nghệ thông minh, sáng tạo, chịu thương chịu khó nhưng chỉ số phát triển con người vẫn chỉ ở mức trung bình
Cho đến nay, Nghệ An đã tiến hành điều tra nghiên cứu, quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH cả theo ngành và theo không gian, một số hình thức TCLTKT chủ yếu
đã hình thành và phát triển như trang trại, vùng CMH; KCN, trung tâm công nghiệp; điểm, khu, đô thị, tuyến du lịch; khu kinh tế, trung tâm kinh tế, tiểu vùng kinh tế… Tuy nhiên, TCLTKT của tỉnh chưa thật sự hợp lí, các hình thức TCLTKT chưa phát huy hết hiệu quả theo thế mạnh của lãnh thổ cho phát triển kinh tế chung Đây là một trong những nguyên nhân chính lý giải vì sao phát triển KT – XH của tỉnh Nghệ An còn ở trình độ thấp
Nghiên cứu một cách hệ thống về “Tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Nghệ An”
nhằm đánh giá khách quan nguồn lực, thực trạng TCLTKT, làm cơ sở để TCLTKT hợp lý hơn, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp
Trang 2hóa – hiện đại hóa (CNH - HĐH), sớm trở thành một tỉnh phát triển khá là nhiệm vụ cấp thiết và có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu
Đề tài làm sáng tỏ các nhân tố ảnh hưởng và thực trạng TCLTKT theo ngành, theo không gian ở tỉnh Nghệ An Từ đó, đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm TCLTKT của tỉnh hợp lý, có hiệu quả và bền vững trong tương lai
2.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên, các nhiệm vụ nghiên cứu được đặt ra là:
- Tổng quan có chọn lọc cơ sở lý luận và thực tiễn về TCLTKT; xác định các chỉ tiêu đánh giá thực trạng TCLTKT cho cấp tỉnh
- Đánh giá các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến TCLTKT tỉnh Nghệ An
- Phân tích thực trạng TCLTKT tỉnh Nghệ An theo ngành và theo không gian trong giai đoạn 2001 – 2010
- Đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm phát triển và hoàn thiện các hình thức TCLTKT tỉnh Nghệ An một cách hợp lý, hiệu quả và bền vững
3 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận án đánh giá các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến TCLTKT tỉnh Nghệ
An và một số hình thức TCLTKT tiêu biểu của tỉnh theo ngành và theo không gian
+ Đối với các hình thức TCLTKT theo ngành, đề tài phân tích một số hình thức tiêu biểu của TCLT các ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ Trong đó, về công nghiệp, luận án kế thừa và làm rõ thêm về khu công nghiệp; về nông nghiệp, hình thức được lựa chọn phân tích là trang trại; trong dịch vụ, TCLT du lịch được xác định là trọng tâm nghiên cứu với các hình thức: điểm du lịch, khu du lịch, đô thị du lịch, tuyến du lịch
+ Đối với các hình thức TCLTKT theo không gian, đề tài tập trung nghiên cứu một số hình thức đang được triển khai và đặc trưng cho Nghệ An - tỉnh có lãnh thổ lớn nhất nước ta là: Khu kinh tế (KKT), trung tâm kinh tế và tiểu vùng kinh tế Riêng về tiểu vùng kinh tế, đề tài thừa nhận ranh giới các tiểu vùng đã được tỉnh quy hoạch (dựa
Trang 3trên ranh giới hành chính cấp huyện) và đánh giá theo các tiêu chí xác định, đó là các tiểu vùng: Phía Đông, Tây Bắc và Tây Nam.
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu toàn bộ lãnh thổ tỉnh Nghệ An với 17 huyện, 2 thị
xã (TX) và 1 thành phố (TP), trong đó có chú ý so sánh với vùng BTB và cả nước
- Về thời gian: đề tài tập trung nghiên cứu giai đoạn 2001 – 2010 và tầm nhìn đến 2020.
4 Lịch sử nghiên cứu đề tài
4.1 Ở nước ngoài
Ngay từ đầu thế kỷ XIX, trên thế giới đã có những công trình mà sau này đã trở thành lý thuyết cơ sở để nghiên cứu và triển khai việc tổ chức nền sản xuất xã hội theo
lãnh thổ, như: Lý thuyết "Phát triển các vành đai nông nghiệp" của V.Thunen (1833),
lý thuyết "Định vị công nghiệp" của A.Weber (1909), lý thuyết "Vị trí trung tâm "
của W.Christaller (1933) Trong đó, công trình của W.Christaller đã dựa trên cơ sở của “lực đẩy”, “lực hút” để xác định khoảng ảnh hưởng của các trung tâm trong từng vùng và những khu vực trống vắng giữa các trung tâm đô thị [115]
Đến thế kỷ XX, các nghiên cứu về TCLT nền sản xuất được tiến hành sâu rộng
hơn, điển hình là lý thuyết: "Cực tăng trưởng" của Francoi Perroux (1950) nhấn
mạnh lợi thế của phát triển không cân đối theo lãnh thổ
Năm 1947, nhà bác học người Nga N.N Koloxopski đã đưa ra lý thuyết về
phát triển tổng hợp sản xuất lãnh thổ, trong đó ông đã đề xuất nhiều vấn đề lý luận
và những giải pháp thực tiễn về TCLT cho những vùng lãnh thổ giàu tài nguyên, xem
tổ hợp nông – công nghiệp như những thành phố hạt nhân [dẫn theo 106] Lí thuyết này cũng khẳng định tính liên tục giữa các khâu trong quá trình sản xuất khép kín để
có giải pháp phân bố chúng Nghiên cứu của Koloxopski đã đưa ra một phương pháp nghiên cứu liên ngành có hiệu quả, cho phép nghiên cứu vùng một cách đầy đủ và toàn diện hơn
Ở Anh, trong các công trình tiêu biểu của Peter Haggett và các cộng sự như:
“Phân tích không gian trong địa lý kinh tế” (1965), “Các mô hình địa lý” (1967) và
“Địa lý học: một sự tổng hợp hiện đại” (1975), TCLTKT được nghiên cứu theo
hướng mô hình hóa, áp dụng các phương pháp định lượng
Trang 4Nghiên cứu về tổ chức không gian cũng được coi trọng trong địa lý Hoa Kỳ vào những năm đầu thập niên 70 của thế kỷ XX Điển hình cho sự nghiên cứu này là các
công trình: “Tổ chức không gian, cách nhìn thế giới của các nhà địa lý” của R.Abler,
J.Adams và P.Gould…
Nhìn chung, những nghiên cứu trên tập trung tìm các quy luật TCLT ở các cấp, quan tâm đến tính chất đúng đắn của việc bố trí các điểm dân cư trong sự tương quan với phát triển kinh tế để tạo ra một mạng lưới tối ưu các điểm đó Mặc dù còn nhiều hạn chế về phương pháp luận và thiên về quan điểm kinh tế chủ nghĩa hoặc quá lạm dụng các mô hình toán học, vật lý làm mất đặc trưng cơ bản của khoa học Địa lý kinh
tế nhưng những công trình này đã cơ bản đưa ra được những hướng nghiên cứu về tính kết cấu và các mối liên hệ để xác định quy luật khách quan của sự phân bố Theo đó, Địa lý kinh tế mô tả được thay thế bởi Địa lý cấu trúc (Địa lý kinh tế hiện đại), đánh dấu một bước phát triển mới của Địa lý học [dẫn theo 35]
Cuối thế kỷ XX, nghiên cứu TCLTKT chú trọng đến việc định vị vùng Đại diện cho hướng nghiên cứu này là Paul Krugman – một nhà kinh tế học người Mỹ Trong nghiên cứu của mình [116], ông đã đề xuất mô hình phát triển kinh tế quốc gia lấy công nghiệp hóa làm nòng cốt và một nền nông nghiệp ngoại vi Theo ông, để tạo ra
sự bứt phá trong phát triển kinh tế, các yếu tố đảm bảo là chi phí vận tải thấp, sản xuất bền vững và xác định vị trí vùng với nhu cầu ngày càng lớn hơn Việc xác định
đó phụ thuộc vào tính CMH của sản xuất Sự khởi sắc của vùng trung tâm hay ngoại
vi phụ thuộc vào chi phí vận tải, các nguồn lực phát triển và đóng góp của sản xuất vào thu nhập quốc gia
Báo cáo phát triển thế giới 2009 [42] – quan điểm địa kinh tế mới cũng cho thấy tầm quan trọng và xu hướng TCLTKT hiện nay là sự tích tụ - tập trung ở các thành phố với sự di cư và CMH “Không nước nào trở nên giàu có mà không phải thay đổi…sản xuất theo không gian”, “các thành phố tăng trưởng, con người cơ động, thương mại sôi động là những chất xúc tác cho sự tiến bộ của các nước phát triển trong hai thế kỷ vừa qua Ngày nay, chính những tác lực đó đang truyền lực cho những nơi năng động nhất trong khối các nước đang phát triển” [42, tr.20]
Trang 54.2 Ở Việt Nam
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trong phát triển KT - XH đất nước, bắt đầu từ những năm 60 của thế kỷ XX, Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu về phân bố và TCLTKT, chẳng hạn nghiên cứu xây dựng KCN Việt Trì, khu gang thép Thái Nguyên, KCN Biên Hòa, Quy hoạch vùng lúa Đồng Bằng sông Hồng, vùng bò sữa
Ba Vì [theo 30]
Trong những năm 70, nghiên cứu TCLTKT tiếp tục được triển khai mà kết
tinh là Tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất Việt Nam thời kì 1986 –
2000 với sự giúp đỡ của Liên Xô Công trình đã lập tổng sơ đồ phát triển và phân bố
lực lượng sản xuất cho cả nước, sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất cho các ngành, các vùng vĩ mô và các tỉnh Từ năm 2001 đến nay, công tác nghiên cứu lãnh thổ được gọi là Quy hoạch tổng thể KT - XH vùng và tỉnh, thuộc sự chỉ đạo của
Bộ Kế hoạch và Đầu tư [theo 30]
Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), nghiên cứu về TCLTKT được tiến hành rộng rãi và thu hút được sự tham gia đông đảo của các nhà khoa học Trong đó, tiêu biểu là GS Lê Bá Thảo với đề tài độc lập và trọng điểm cấp nhà nước
do ông làm chủ nhiệm: “Cơ sở khoa học của TCLT Việt Nam”[63] Trong công trình
này, các nhà khoa học tiếp cận một cách hệ thống về tổ chức không gian lãnh thổ Việt Nam, trả lời cho câu hỏi “Nên tổ chức không gian của lãnh thổ Việt Nam như thế nào để phục vụ mục tiêu CNH – HĐH làm cho Việt Nam đến năm 2020 có thể trở thành một nước công nghiệp” Cụ thể, các tác giả đã bàn về những khía cạnh ảnh hưởng đến sự phân bố và các mối liên hệ không gian giữa các ngành kinh tế, đưa ra
sơ đồ định hướng TCLT Việt Nam trên cơ sở đảm bảo tính bền vững của môi trường, thu hẹp khoảng cách giữa các vùng khác nhau
Trong cuốn “Tổ chức lãnh thổ KT – XH: một số vấn đề lý luận và ứng dụng” [106]
và cuốn “Bàn về phát triển kinh tế (nghiên cứu con đường dẫn tới giàu sang)”[105],
các tác giả đã giới thiệu một cách tổng quát các vấn đề cơ bản về tổ chức không gian
KT - XH Trong đó, quan trọng nhất là đã xác định được nội dung, các hình thức TCLTKT, đưa ra các giải pháp để đảm bảo phương án tổ chức không gian được thực
Trang 6hiện và phân tích các mối quan hệ giữa tổ chức không gian KT - XH với các vấn đề như: phát triển cơ cấu lãnh thổ, xóa bỏ những vùng nghèo, lạc hậu, CNH – HĐH đất nước, bảo vệ môi trường và đẩy mạnh sự tham gia vào phân công lao động quốc tế.
Cơ sở lý luận và thực tiễn về TCLTKT nói chung và ở Việt Nam nói riêng cũng đã được một số nhà khoa học trường Đại học Sư phạm Hà Nội trình bày trong các giáo
trình như Địa lý KT - XH đại cương [84], Địa lý kinh tế – xã hội Việt Nam [67,70].
Nhiều đề tài nghiên cứu khoa học về TCLTKT cũng đã thực hiện ở quy mô cấp vùng, liên tỉnh…, xác định các trung tâm kinh tế - cực phát triển và các tuyến trục kinh
tế, như Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ TCLT và đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế xã hội vùng Tây Bắc dưới tác động của thủy điện Sơn La [1], TCLTKT trọng điểm miền Trung Việt Nam [34], Nghiên cứu TCLT miền núi biên giới phía Bắc phục vụ phát triển KT – XH thời kỳ CNH – HĐH đến năm 2020 (ví dụ tỉnh Lào Cai) [35], TCLT Địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam [44], TCLT đồng bằng sông Hồng
và các tuyến trọng điểm [65]…
Một số đề tài luận án tiến sĩ đã bảo vệ cũng đề cập đến TCLTKT cả về mặt lý luận
và thực tiễn với việc đi sâu nghiên cứu từng lĩnh vực ngành như TCLT trồng và chế biến sắn ở các tỉnh Đông Nam Bộ [60], TCLTCN [47], TCLT du lịch [39,66…]
Gần đây nhất đã có hai luận án tiến sĩ nghiên cứu về TCLTKT trên địa bàn
cấp tỉnh Trong luận án “TCLTKT theo hướng phát triển bền vững ở tỉnh Vĩnh Phúc”
[54], tác giả Ngô Thúy Quỳnh (2009) đã đánh giá TCLTKT cấp tỉnh theo ngành: công nghiệp (KCN tập trung, CCN, điểm công nghiệp), du lịch (khu du lịch), nông, lâm nghiệp và đô thị bằng một hệ thống chỉ tiêu cụ thể Tác giả Hoàng Quý Châu
(2011) nghiên cứu “TCLTKT tỉnh Bình Định” [19] với nhiều hình thức cả theo ngành
và theo không gian, trong đó chú trọng đến phát triển hành lang kinh tế, gắn kết việc khai thác lãnh thổ ven biển với các lãnh thổ phía Tây của tỉnh và với các quốc gia láng giềng
4.3 Ở tỉnh Nghệ An
Trang 7Nghiên cứu về TCLTKT tỉnh Nghệ An có các quy hoạch ngành và quy hoạch tổng thể phát triển KT – XH được thực hiện theo các giai đoạn phát triển 1986 – 1990, 1991 –
2000, 2001 – 2010 và 2011 - 2020 Trong đó, Quy hoạch tổng thể phát triển KT – XH tỉnh Nghệ An đến năm 2020 [91] xác định bộ khung phát triển kinh tế theo lãnh thổ
chung cho toàn tỉnh, bao gồm KCN, trang trại, khu du lịch, đô thị, tiểu vùng kinh tế
.v.v ; Đề án "Phát triển KT - XH miền Tây tỉnh Nghệ An đến năm 2010" [96] và Báo cáo tổng hợp về chiến lược biển Nghệ An [95] nghiên cứu TCLT theo không gian với hai vùng miền Tây và ven biển; Quy hoạch phát triển KKT Đông Nam [7] định hướng phát triển lãnh thổ trọng điểm vào khu vực ven biển của tỉnh; Quy hoạch tổng thể phát triển
KT - XH Thành phố Vinh đến năm 2020 vạch ra kế hoạch phát triển cho trung tâm kinh
tế của tỉnh; các công trình còn lại nghiên cứu TCLTKT theo ngành: công nghiệp, nông nghiệp, du lịch…[89,90,58,]
Nghiên cứu về Nghệ An dưới góc độ Địa lý học đã có một số luận án tiến sĩ,
tiêu biểu là: tiến sĩ Đào Khang trong luận án Đánh giá đất đai đồi núi Nghệ An và đề xuất các mô hình sử dụng đất đai cho lâm – nông nghiệp (10 huyện miền núi)[36] đã
phân tích đánh giá đất đai vùng đồi núi Nghệ An và đề xuất một số mô hình lâm –
nông nghiệp nhằm khai thác hiệu quả hơn không gian đồi núi của tỉnh Tiến sĩ Nguyễn Thế Chinh (1995) Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng các tuyến điểm du lịch tỉnh Nghệ An [20], đã xác định hệ thống các tuyến điểm du lịch trên địa bàn tỉnh Nghệ An, làm cơ sở cho tổ chức lãnh thổ du lịch của tỉnh
Tiến sĩ Lương Thị Thành Vinh (2011) trong luận án Tổ chức lãnh thổ công nghiệp tỉnh Nghệ An [103] đã nghiên cứu một cách tổng hợp tổ chức lãnh thổ công nghiệp của
tỉnh Nghệ An, trong đó tập trung đánh giá hình thức nổi bật nhất là KCN
Gần đây nhất (10/2012) là công trình nghiên cứu về TCLT nông nghiệp Nghệ
An [62] được công bố bởi tiến sĩ Nguyễn Thị Trang Thanh Tác giả nghiên cứu sản
xuất nông nghiệp theo không gian ở tỉnh Nghệ An dưới 3 hình thức chính: trang trại, vùng CMH, tiểu vùng nông nghiệp Trong đó, trọng tâm nghiên cứu là trang trại do vai trò nổi bật của hình thức TCLTKT này trong quá trình CNH – HĐH nông nghiệp nông thôn tỉnh Nghệ An
Dựa trên những kết quả của các công trình nghiên cứu về TCLTKT trên thế giới
và ở Việt Nam cũng như tỉnh Nghệ An, đề tài đã kế thừa hệ thống cơ sở lí luận và
Trang 8thực tiễn về TCLTKT Từ đó, vận dụng, bổ sung, cập nhật những vấn đề về TCLTKT, làm cơ sở cho việc nghiên cứu, đánh giá một cách đầy đủ, hệ thống về TCLTKT trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
5.1 Quan điểm nghiên cứu
5.1.1 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Mọi sự vật hiện tượng đều tồn tại trong một không gian nhất định và các hình thức TCLTKT không phải được tổ chức một cách độc lập, riêng rẽ mà chúng có sự gắn kết lẫn nhau, chịu sự chi phối của các quy luật phát triển, các nguồn lực phát triển trên một lãnh thổ nhất định Do đó, khi nghiên cứu phải đặt chúng trong thể tổng hợp lãnh thổ mới thấy hết được hiệu quả cũng như tác động tương hỗ qua lại giữa các hình thức này
5.1.2 Quan điểm hệ thống
Mỗi hình thức TCLTKT là một bộ phận của cấp lãnh thổ chứa đựng nó Trong mỗi hình thức TCLTKT lại có các cấp tổ chức từ lớn đến nhỏ, tạo nên một hệ thống hoàn chỉnh với những mối quan hệ đa dạng Khi nghiên cứu phải đặt trong hệ thống
ấy để thấy được đặc thù cũng như sự so sánh hiệu quả và cách thức tổ chức của từng hình thức tổ chức Từ đó rút ra được những kinh nghiệm cần thiết trong TCLTKT để quá trình này mang lại những hiệu quả cao hơn
5.1.3 Quan điểm lịch sử, viễn cảnh
Các hình thức TCLTKT hình thành và phát triển chịu sự tác động của các nhân tố quá khứ, hiện tại cũng như tương lai Khi nghiên cứu phải đặt chúng trong thế vận động
và phát triển không ngừng Từ thực trạng phát triển để có thể dự báo, đề xuất các phương án phù hợp với sự phát triển của tương lai Vận dụng quan điểm này vào nghiên cứu vấn đề nhằm đảm bảo tính thích ứng lâu dài của các hình thức TCLTKT
5.1.4 Quan điểm phát triển bền vững
Phát triển kinh tế phải gắn với sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường sinh thái mới đảm bảo phát triển bền vững TCLTKT cũng phải đảm bảo nguyên tắc
đó Điều này đồng nghĩa với việc TCLTKT phải đặt ra kế hoạch và cơ chế quản lý
Trang 9phù hợp với việc khai thác các nguồn lực phát triển (bao gồm cả các nguồn lực tự nhiên và KT - XH) đảm bảo cho các đối tượng này không bị suy thoái cả về số lượng cũng như chất lượng Do đó, khi xây dựng chỉ tiêu đánh giá TCLTKT, tác giả cũng chú trọng đến tính hiệu quả dựa trên việc khai thác hợp lý các nguồn lực phát triển và bảo vệ môi trường.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp thu thập, tổng hợp, xử lý phân tích tài liệu
Có rất nhiều công trình khoa học liên quan đến chủ đề nghiên cứu của tác giả, đây
là những nguồn tư liệu quý giá làm tài liệu tham khảo quan trọng cho việc nghiên cứu vấn đề Để có được những tài liệu đó, tác giả đã tự thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, như: từ các báo cáo, thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các cơ quan ban ngành ở Tỉnh Nghệ An: Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Công Thương, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở Văn hóa, thể thao và du lịch, Chi cục Thống Kê, ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh, UBND các huyện Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Tương Dương, thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò, Thái Hòa; từ thầy cô giáo, các đồng nghiệp; từ sách, báo, giáo trình; từ mạng Internet
Trên cơ sở các tài liệu thu thập được, tác giả đã tổng hợp, xử lý và phân tích các nội dung liên quan đến vấn đề nghiên cứu của mình theo hướng kế thừa có chọn lọc
và phát triển mới
5.2.2 Phương pháp so sánh
Trong nghiên cứu địa lý nói chung, nghiên cứu TCLTKT nói riêng, việc sử dụng phương pháp so sánh là rất quan trọng, nó cho phép người nghiên cứu có những nhận định đúng đắn khi đặt các đối tượng, lãnh thổ nghiên cứu trong một thể tổng hợp (không gian) ở các cấp khác nhau (có điều kiện tương đồng), đồng thời có thể thấy được sự biến đổi phát triển theo thời gian, từ đó có được sự dự báo về xu hướng phát triển của đối tượng nghiên cứu
5.2.3 Phương pháp chuyên gia
Phương pháp này được tác giả sử dụng để làm rõ một số vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu mà trong các tài liệu thu thập được không có hoặc có nhưng chưa
Trang 10rõ ràng, đầy đủ và thiếu cập nhật Các đối tượng tác giả phỏng vấn bao gồm: các cán
bộ chuyên trách ở các phòng ban, nông dân, công nhân, khách du lịch
Đồng thời, tác giả cũng đã trao đổi và tiếp nhận sự góp ý từ các nhà khoa học
am hiểu về lĩnh vực TCLTKT và các vấn đề liên quan Đặc biệt là từ các chuyên gia của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, của Sở Kế hoạch và Đầu tư Nghệ An, các giảng viên chuyên ngành địa lý KT - XH của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Các vấn đề được tác giả đã lấy ý kiến bao gồm: Cơ sở lí luận của TCLTKT, quản lí tài nguyên thiên nhiên trong phát triển kinh tế, phát triển các hình thức TCLTKT (thực tiễn và kinh nghiệm), phát triển liên ngành, liên lãnh thổ, một số định hướng và giải pháp phát triển TCLTKT Những kinh nghiệm của các chuyên gia trong lĩnh vực này đã góp phần làm sáng tỏ và hoàn thiện các nội nghiên cứu của đề tài
5.2.4 Phương pháp thực địa
Để phục vụ cho công tác nghiên cứu đề tài, tác giả đã tiến hành bốn đợt thực tế nhằm thu thập bổ sung thông tin, tài liệu và kiểm chứng những nhận định trong các báo cáo cũng như thấy được thực tế nguồn lực, mức độ khai thác nguồn lực và phát triển kinh tế ở một số địa bàn của tỉnh Nghệ An Đợt 1 kéo dài 5 ngày (từ 26/2 – 2/3/2010), ở các huyện thuộc tiểu vùng Tây Nam (cụ thể là huyện Tương Dương và
Kỳ Sơn) Đợt 2 kéo dài 3 ngày (từ 20/4 – 22/4/2010), khảo sát thực tế ở huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc và TX Cửa Lò (tiểu vùng phía Đông) Đợt 3 kéo dài 4 ngày (từ 30/8 – 2/9/2010), quan sát nghiên cứu trên thực địa ở các huyện Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn và thị xã Thái Hòa (tiểu vùng Tây Bắc) Đợt 4 kéo dài 2 ngày (từ ngày 18/12 – 19/12/2010), khảo sát thực địa ở KKT Đông Nam, KCN Bắc Vinh
5.2.5 Phương pháp bản đồ và hệ thông tin địa lý (GIS)
Để phục vụ cho việc phân tích thông tin và mô hình hóa không gian đối với các đối tượng trên lãnh thổ nghiên cứu, tác giả đã sử dụng các phần mềm Map Info
và Arc View Nội dung và đối tượng được tác giả đưa lên bản đồ bao gồm: tài nguyên thiên nhiên, dân cư và nguồn lao động, cơ sở hạ tầng, thực trạng phát triển cửa các hình thức TCLTKT phổ biến, mô hình TCLTKT Nghệ An trong tương lai
5.2.6 Phương pháp dự báo
Trong việc xây dựng phương hướng phát triển TCLTKT Nghệ An, tác giả đã tham khảo và sử dụng một cách có chọn lọc một số kết quả từ Quy hoạch tổng thể
Trang 11phát triển theo ngành và quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH Nghệ An do Sở Kế hoạch và Đầu tư, UBND tỉnh Nghệ An thực hiện Đồng thời sử dụng phép ngoại suy trên cơ sở phân tích thực trạng để đưa ra được những dự báo có tính khả thi.
6 Những đóng góp của luận án
- Kế thừa, bổ sung và làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về TCLTKT để vận dụng vào địa bàn cấp tỉnh, lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá thực trạng TCLTKT cấp tỉnh theo ngành và theo không gian;
- Làm rõ được những thế mạnh và hạn chế của các nhân tố ảnh hưởng đến TCLTKT tỉnh Nghệ An;
- Phân tích, đánh giá được một số hình thức TCLTKT tỉnh Nghệ An, trong đó vận dụng hệ thống chỉ tiêu để làm rõ thực trạng của một số hình thức theo góc độ ngành (đô thị du lịch) và theo không gian (KKT, trung tâm kinh tế, tiểu vùng kinh tế) trong giai đoạn 2001 – 2010;
- Đề xuất định hướng và một số giải pháp TCLTKT tỉnh Nghệ An đến 2020, bao gồm
hệ thống giải pháp chung và các giải pháp cụ thể đối với từng hình thức TCLTKT
7 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung của luận án gồm 150 trang, được chia thành 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về TCLTKT
- Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng và thực trạng TCLTKT tỉnh Nghệ An giai đoạn
2001 – 2010
- Chương 3: Định hướng và giải pháp TCLTKT tỉnh Nghệ An đến 2020
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC
LÃNH THỔ KINH TẾ 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1 Các lý thuyết có liên quan
1.1.1.1 Phân công lao động xã hội
Phân công lao động xã hội là một quá trình liên tục, hình thành và phát triển cùng với tiến trình lịch sử của nhân loại, được khởi đầu và kết thúc bởi sự trao đổi hàng hóa [106] Phân công lao động xã hội tạo ra sự chuyên môn hóa (CMH) sản xuất và từng ngành nghề riêng biệt làm cho hoạt động sản xuất ngày càng đa dạng, phong phú và rộng khắp
Phân công lao động xã hội được biểu hiện cụ thể dưới hai hình thức cơ bản nhất là phân công lao động theo ngành và phân công lao động theo lãnh thổ
Phân công lao động xã hội theo ngành là việc tổ chức lao động xã hội theo các
ngành để tạo ra những sản phẩm cụ thể đáp ứng yêu cầu của xã hội Nó phát triển từ thấp đến cao; từ nông nghiệp đến công nghiệp và dịch vụ, phản ánh trình độ phát triển nền kinh tế của một lãnh thổ cụ thể [106] Phân công lao động xã hội theo ngành có xu hướng tạo ra sản phẩm hàng hóa với số lượng ngày càng lớn và chất lượng ngày càng cao Từ đó tạo ra sự chuyển biến tương ứng về phân công lao động xã hội theo lãnh thổ
Phân công lao động xã hội theo lãnh thổ là việc tổ chức lao động xã hội theo
ngành gắn với lãnh thổ, làm cho lãnh thổ có chức năng tương đối riêng và công năng tương đối khác nhau Quá trình thực hiện cụ thể hóa phân công lao động xã hội theo lãnh thổ cũng chính là việc tiến hành phân công lao động xã hội ở các cấp lãnh thổ nhỏ hơn và đồng thời với việc phát huy tác dụng của các mối liên hệ kinh tế giữa các lãnh thổ [106]
Phân công lao động xã hội theo lãnh thổ, một mặt tạo ra sự cân đối hợp lý giữa các vùng trong một quốc gia, giữa các địa phương, các thành phố trong một vùng, mặt khác, với sự chuyên môn hóa – sản xuất những ngành riêng biệt lại tạo ra màu sắc riêng (tính khác biệt) cho mỗi vùng – lãnh thổ
Trang 13Phân công lao động xã hội theo lãnh thổ được coi là cơ sở khoa học để xem xét cách kết hợp sản xuất với tự nhiên trên phạm vi các cấp lãnh thổ (huyện, tỉnh, vùng, quốc gia và cả quốc tế ) Do đó có thể thấy rằng phân công lao động xã hội có mối liên hệ mật thiết với TCLTKT, là cơ sở nền tảng để TCLTKT.
1.1.1.2 Một số lý thuyết và quan điểm liên quan đến TCLTKT
a Lý thuyết định vị công nghiệp (1909)
Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn về vấn đề định vị của các xí nghiệp công nghệp
ở Đức, năm 1909, A.Weber công bố Über den Standort der Industrie (Theory of the
Location of Industries – lý thuyết về sự định vị trong công nghiệp) Trong công trình của mình, dựa trên nguyên tắc “Cực tiểu hoá chi phí, cực đại hóa lợi nhuận”, A.Weber đưa ra mô hình không gian về phân bố công nghiệp Theo ông, để xác định địa điểm bố trí một xí nghiệp công nghiệp cần phải quan tâm tới ba yếu tố chính: vận tải, lao động và tập trung Cụ thể: chi phí vận tải rẻ nhất (được coi là nguyên nhân căn bản), chi phí về nhân công rẻ nhất và là nơi có xí nghiệp tập trung để có thể sử dụng phế liệu làm nguyên liệu rẻ tiền.[29]
Lý thuyết của A.Weber thực ra là “một hệ quy chiếu của kinh tế học thuần túy trong lĩnh vực không gian”, chứng minh tầm quan trọng của sự định vị trong việc làm giảm các chi phí nói trên Những đề xuất của A Weber tuy đơn giản nhưng có giá trị thực tế, cắt nghĩa được một cách hợp lý sự định vị công nghiệp của một hay một vài
xí nghiệp Tuy nhiên, ngày nay với sự lớn mạnh của nền công nghiệp thế giới và của từng quốc gia, hình thức sử dụng không gian mới của công nghiệp đã xuất hiện và phát triển nhanh Hình thức định vị mới đó bao gồm nhiều xí nghiệp được xây dựng tập trung trên cùng một phạm vi lãnh thổ và được biểu hiện dưới nhiều hình thức, như: KCN tập trung, khu chế xuất hay CCN.[63]
Trong điều kiện CNH – HĐH diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, định vị công nghiệp dựa trên ba yếu tố trên là chưa đủ, chúng không đảm bảo sự phát triển lâu dài bởi tác động môi trường do hoạt động công nghiệp là rất lớn Do đó, bố trí không gian sản xuất công nghiệp còn phải chú ý đến đánh giá tác động môi trường và các biện pháp khắc phục
b Lý thuyết “Vị trí trung tâm” (1933)
W.Christaller và A.Losch, hai nhà bác học người Đức đã góp phần to lớn
Trang 14trong việc khám phá quy luật phân bố không gian và nghiên cứu các hệ thống không gian cơ sở để xác định các nút trọng điểm bằng lý thuyết “Vị trí trung tâm” (Central Place Theory).
W.Christaller cho rằng, vùng không thể phát triển nếu không có trung tâm hạt nhân (thành phố), giữ vai trò đầu tàu lôi kéo sự phát triển của cả lãnh thổ; không có nông thôn nào lại không chịu chỉ đạo của một cực hút, đó là thành phố Ông đề xuất
mô hình bố trí các điểm dân cư theo hình lục giác Trong đó, các trung tâm tồn tại theo nhiều cấp, từ cao tới thấp với quy mô thị trường khác nhau Bán kính giữa các trung tâm chính là vùng ảnh hưởng và vùng tiêu thụ hàng hóa của chúng
Lý thuyết trung tâm của Christaller sau đó đã được nhà bác học người Đức – A.Losch bổ sung và phát triển A.Losch cho rằng có một điểm trung tâm quan trọng nhất là thành phố, đầu mối của toàn bộ hệ thống các điểm dân cư Vai trò thương mại
và dịch vụ của nó tác động mạnh mẽ đến các khu vực lân cận chịu ảnh hưởng của thành phố [72, tr.11]
Kết quả nghiên cứu của W.Christaller và A.Losch có ý nghĩa mở đường cho việc nghiên cứu các hệ thống không gian hoặc xác định các nút trọng điểm trong một lãnh thổ nhất định.Trong TCLT KT cấp tỉnh, có thể vận dụng nó để xác định hệ thống đô thị làm bộ khung lãnh thổ cho sự phát triển kinh tế chung và tạo cơ sở cho việc xây dựng các cực tăng trưởng, cực phát triển kinh tế
c Lý thuyết cực tăng trưởng (1950)
Lý thuyết cực tăng trưởng được đề xướng vào năm 1950 bởi nhà kinh tế học người
Pháp F.Perrous, sau đó được A.Hirshman, G.Myrdal, Friedman và H.Richardson tiếp tục nghiên cứu và phát triển Theo lý thuyết này, sự phát triển kinh tế không phải diễn
ra một cách đồng đều theo một tốc độ như nhau trên tất cả các lãnh thổ, mà có xu hướng phát triển nhất ở một vài nơi Những nơi đó có mức tăng trưởng cao hơn nhờ vào sự phát triển của các ngành chủ đạo (leading industry) với năng lực đổi mới và khả năng mang lại lợi nhuận cao Các ngành chủ đạo thường tập trung tại một số thành phố lớn và được ưu tiên phát triển trở thành “cực tăng trưởng” Tập trung hóa
về mặt lãnh thổ đạt tới một mức nhất định và sau đó hiệu ứng lan tỏa sẽ làm cho các
cơ hội phát triển mới bắt đầu xuất hiện ở nhiều địa phương khác Kết quả là sự phát triển của một cực như một lãnh thổ trọng điểm sẽ có tác dụng như những “đầu tàu”
Trang 15lôi kéo sự phát triển của các vùng lãnh thổ khác, tạo điều kiện cho nền kinh tế cả nước phát triển nhanh và mạnh hơn.[40,tr.14]
Lý thuyết này chú trọng vào những lãnh thổ làm phát sinh sự tăng trưởng kinh tế,
đó là cực phát triển và cực tăng trưởng Cực phát triển là những trung tâm đã có sự phát triển hoàn thiện hoặc tương đối hoàn thiện, có khả năng thúc đẩy sự tăng trưởng đối với các khu vực xung quanh với những tác động lôi cuốn đa dạng và thể hiện khác nhau theo các hoàn cảnh địa lý cụ thể Cực tăng trưởng là các trung tâm mới hình thành
và đang phát triển, là các cực vệ tinh của cực phát triển Trên cơ sở “lực hút” và “lực đẩy” của mỗi trung tâm, hình thành nên vùng ảnh hưởng của nó tới xung quanh Từ triển vọng phạm vi ảnh hưởng của mỗi trung tâm người ta có thể xác định được khu vực lãnh thổ để xây dựng điểm đô thị mới, làm cho tất cả các lãnh thổ đều có đô thị hạt nhân
Lý thuyết “Cực tăng trưởng” nhấn mạnh lợi thế của phát triển không cân đối theo lãnh thổ Đây là việc lý giải đúng đắn về sự cần thiết của phát triển kinh tế lãnh thổ theo hướng đầu tư có trọng điểm Do đó, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các nước đang phát triển còn thiếu vốn cần kêu gọi đầu tư nước ngoài và thực tế nó đã được áp dụng rộng rãi và khá thành công ở các nước châu Á, nhất là với các nước ASEAN, trong đó có Việt Nam
Trong TCLTKT cấp tỉnh, lý thuyết của F.Perroux có thể được áp dụng để xây dựng và phát triển các cực tăng trưởng và cực phát triển kinh tế nhằm khai thác và phát huy những lợi thế của những lãnh thổ này, tạo ra khả năng thúc đẩy đối với sự phát triển kinh tế của các lãnh thổ kế cận và toàn tỉnh
d Quan điểm phát triển phi cân đối
Đối với mỗi nền kinh tế quốc dân sẽ có những ngành, lĩnh vực có lợi thế phát triển thành những ngành, lĩnh vực mũi nhọn; có những lãnh thổ do hội tụ được nhiều điều kiện thuận lợi nếu tập trung đầu tư sẽ tạo ra được sự đột phá trong phát triển, trở thành lãnh thổ động lực lôi kéo sự phát triển chung Quan điểm phát triển phi cân đối xuất phát vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX từ Trung Quốc: “muốn đê toàn bộ đất nước trở nên phồn thịnh thì nhất quyết một số vùng phải giàu lên trước những vùng khác” (Đặng Tiểu Bình) [40,tr.222] Quan điểm này nhấn mạnh đến sự đầu tư
Trang 16tập trung trên một lãnh thổ có các lợi thế so sánh – thực hiện phân công lao động dựa trên những khác biệt về ưu thế tài nguyên thiên phú của lãnh thổ nhằm tạo ra sự đột phá trong phát triển, rút ngắn khoảng cách tụt hậu [126] Trung Quốc đã rất thành công trong việc vận dụng quan điểm này vào thực tiễn phát triển kinh tế đất nước với chiến lược hướng ra biển bằng việc đầu tư phát triển các khu công nghiệp, KKT dọc ven biển.
Hiện nay, phát triển phi cân đối (có trọng điểm) là một trong những cách thức các nước đang phát triển ứng dụng để giải quyết vấn đề khó khăn về vốn, tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài (cả về vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý sản xuất kinh doanh) một cách khá hiệu quả Do đó, quan điểm này có ý nghĩa thực tiễn đối với những nước đang phát triển như Việt Nam
Đối với lãnh thổ cấp tỉnh có diện tích rộng như Nghệ An, do lợi thế và khả năng khai thác chúng cho phát triển kinh tế không giống nhau giữa các lãnh thổ trên địa bàn Do đó, cần thiết có sự vận dụng quan điểm phát triển phi cân đối để tập trung đầu tư cho một số lãnh thổ hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi nhất cho phát triển kinh tế như phía Đông, trung tâm kinh tế thành phố Vinh, KKT Đông Nam… Từ đó, tạo nên
sự lan tỏa trong phát triển kinh tế đối với các lãnh thổ lân cận cũng như thúc đẩy sự phát triển kinh tế chung toàn tỉnh
e Quan điểm địa kinh tế mới
Quan điểm địa kinh tế mới cho rằng “phát triển kinh tế cần phải tập trung (mất cân đối), còn xã hội thì tiến tới hội tụ (phát triển đồng đều)” Theo quan điểm này, một quốc gia thành công trong phát triển cần phải đeo đuổi các chính sách nhằm đảm bảo một mức sống tương đối đồng đều giữa các vùng trong nước nhưng không phải thực hiện bằng cách tạo sự tăng trưởng kinh tế mạnh thông suốt theo không gian, mà phải theo phương châm “sản xuất kinh tế phải tập trung còn mức sống thì hội tụ” [40,tr.15] Quan điểm địa kinh tế mới có giá trị rất quan trọng trong tổ chức không gian kinh tế Muốn toàn bộ quốc gia trở nên phồn thịnh thì nhất thiết phải có một số vùng giàu lên trước những vùng khác, tạo động lực cho tăng trưởng nhanh, tích tụ các yếu tố vật chất cho quá trình thực hiện phát triển kinh tế chung của cả nước Tất nhiên, sự tập trung kinh tế sẽ dẫn tới chênh lệch mức sống theo không gian Tuy
Trang 17nhiên, vấn đề có thể dần được giải quyết khi quá trình phân phối hoạt động kinh tế theo thời gian trở nên ổn định hơn Thêm vào đó là những chính sách của Chính phủ nhằm đảm bảo sự hội tụ về mặt xã hội là rất quan trọng.
1.1.2 Quan niệm, đối tượng, nội dung và nhiệm vụ của TCLTKT
1.1.2.1 Quan niệm
a Tổ chức lãnh thổ
Khái niệm TCLT (Territorial organisation) hay tổ chức không gian (Spatical organisation) được nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu và sử dụng rộng rãi
như là một công cụ tư duy tổng hợp, công cụ tổ chức thực tiễn các hoạt động KT –
XH Tuy nhiên, trên thực tế khái niệm này cũng được đưa ra với những thuật ngữ khác nhau:
- Các nhà khoa học Liên Xô trước đây sử dụng thuật ngữ Phân bố lực lượng sản xuất Nền tảng cơ sở lý luận của phân bố lực lượng sản xuất là lý thuyết về “Chu
trình sản xuất – năng lượng” của N.N Kôlôxôpky và “Thể tổng hợp lãnh thổ sản
xuất” của các nhà khoa học Xôviết Theo họ, phân bố lực lượng sản xuất là sự sắp
xếp, bố trí và phối hợp các đối tượng hay thực thể vật chất cụ thể (đó là các hệ thống sản xuất, hệ thống tự nhiên, hệ thống dân cư) trong một lãnh thổ xác định, nhằm sử dụng một cách hợp lý các tiềm năng tự nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật của lãnh thổ để đạt hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường cao và nâng cao mức sống dân cư của lãnh thổ đó [105]
Các nhà khoa học Xô Viết sau này phát triển phân bố lực lượng sản xuất theo hướng TCLT, trong đó tiêu biểu là Xauskin Ông cho rằng “Tổ chức xã hội theo lãnh thổ là tạo ra một hệ thống sử dụng đất đai do những tập đoàn người khác nhau Hệ thống này làm cho các tập đoàn người ấy có thể cư trú được trên bề mặt trái đất, khai thác các tài nguyên thiên nhiên, phân bố các điểm dân cư, tái sinh sản nòi giống, phân
bố các nguồn cung cấp nước và thực phẩm, các địa điểm sản xuất ra các công cụ lao động, quần áo, giày dép và các vật liệu khác cần thiết cho đời sống, phân bố xí nghiệp và khu vực chữa bệnh, nghỉ ngơi, khoa học, văn hóa, các nhà hát, rạp chiếu phim ”
Trang 18- Các nhà khoa học của các quốc gia phát triển ở phương Tây theo hướng kinh tế
thị trường lại sử dụng phổ biến thuật ngữ Tổ chức không gian kinh tế Nó được hiểu
là sự lựa chọn một lãnh thổ địa lý kiểu tổ chức tốt nhất các hoạt động kinh tế của con người gắn với các hệ thống tự nhiên, làm cho tính liên tục của tự nhiên được đảm bảo
và phát huy được giá trị gián đoạn cho phép của các quá trình kinh tế Đây được xem như nghệ thuật kiến thiết và sử dụng lãnh thổ một cách đúng đắn và có hiệu quả trên
cơ sở xác định được sức chứa của lãnh thổ, tìm kiếm quan hệ tỉ lệ hợp lý và liên hệ chặt chẽ trong phát triển kinh tế giữa các ngành và các lãnh thổ nhỏ hay tiểu vùng trong một vùng cũng như đảm bảo mối quan hệ giữa các vùng trong một quốc gia có tính tới mối liên hệ giữa các quốc gia với nhau Nhờ có sự sắp xếp có trật tự và hài hòa giữa các đối tượng trong lãnh thổ mà tạo ra một giá trị mới lớn hơn, làm cho sự phát triển hài hòa và bền vững hơn.[105,tr.365]
Về bản chất, khái niệm “Phân bố lực lượng sản xuất” của các nhà khoa học Liên Xô cũ và khái niệm “Tổ chức không gian kinh tế” của các nhà khoa học phương Tây gần giống nhau Đó đều là hành vi địa lý hướng tới sự công bằng giữa các lãnh thổ, giữa trung tâm với ngoại vi, nâng cao mức sống cộng đồng tiến tới phát triển bền vững
Ở Việt Nam, TCLT đã được quan tâm nghiên cứu từ những năm 60 GS Lê
Bá Thảo là người đi tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu này Theo ông “Về khía cạnh địa lí, có thể coi tổ chức lãnh thổ là một hành động của địa lí học có chủ ý (géographie volontaire) hướng tới một sự công bằng về mặt không gian” [16, tr.4]
Tổ chức lãnh thổ gồm nhiều thành phần liên kết chặt chẽ với nhau, bao gồm TCLT kinh tế và TCLT xã hội
b Tổ chức lãnh thổ kinh tế
Tổ chức lãnh thổ kinh tế (hay tổ chức không gian kinh tế) là một khía cạnh của tổ
chức lãnh thổ và được hiểu là sự “sắp xếp” và “phối hợp” các thành phần (đã, đang
và dự kiến sẽ có) trong mối lên hệ đa ngành, đa vùng nhằm sử dụng một cách hợp lý các tiềm năng tự nhiên, lao động, vị trí địa lý kinh tế, chính trị và cơ sở vật chất kỹ thuật đã và sẽ được tạo dựng để đạt hiệu quả cao nhất về các mặt: kinh tế, xã hội, môi trường và phát triển bền vững của một lãnh thổ [84,105].
Trang 191.1.2.2 Đối tượng
Với tư cách là đối tượng của TCLTKT, lãnh thổ được xem là một thực thể hay
hệ thống tự nhiên, KT – XH, có ranh giới xác định Đó là một vùng hữu hạn về phạm
vi mà ở đó các yếu tố tự nhiên, nơi sinh sống của một cộng đồng xã hội có những hành vi tác động vào tự nhiên, trực tiếp tổ chức KT – XH cho phù hợp với đường lối chính trị và phát triển KT – XH của đất nước [106]
- TCLTKT theo các đối tượng quản lý và xây dựng kế hoạch phát triển của Nhà nước
bao gồm: vùng kinh tế, các đơn vị hành chính (tỉnh, các thành phố tương đương cấp tỉnh, huyện, thị…)
- TCLTKT theo các khu vực đặc biệt là các đối tượng trọng điểm đầu tư, gồm có: theo không gian (vùng kinh tế trọng điểm, hành lang kinh tế, tam giác tăng trưởng, khu kinh tế…), theo ngành (khu công nghiệp, khu du lịch, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên…).[84,tr.218]
1.1.2.3 Nội dung [105,tr.379-302]
* Kiểm kê, đánh giá các đối tượng mang tính chất nguồn lực của TCLTKT (vị trí địa
lý, các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, các điều kiện KT – XH) Xác
định lợi thế, khả năng khai thác cũng như những khó khăn cần khắc phục và hiện
trạng sử dụng lãnh thổ: tổng kết những kết quả đã đạt được, những tồn tại cần giải quyết trong hiện trạng phát triển và phân bố kinh tế theo ngành, hiện trạng phát triển kinh tế tổng hợp theo lãnh thổ; các hình thức TCLTKT
* Lựa chọn các phương án TCLTKT dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn về TCLTKT
trên thế giới và quốc gia; tiềm năng, thực trạng TCLTKT của lãnh thổ; xem xét bối cảnh quốc tế và khu vực có tác động trực tiếp đến nền kinh tế của lãnh thổ, bối cảnh trong nước; chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước; quy hoạch phát triển KT –
XH của tỉnh, vùng, quốc gia Các phương án TCLTKT được xây dựng phải đảm bảo tính dài hạn và có các bước đi thích hợp
* Đề xuất giải pháp thực hiện phương án TCLTKT từ những kết quả nghiên cứu liên
quan đến TCLTKT của lãnh thổ cả về mặt lý luận và thực tiễn
Trang 201.1.2.4 Nhiệm vụ
TCLTKT có hai nhiệm vụ cơ bản là [84,tr.218]:
Thứ nhất, TCLTKT dự báo về mặt phát triển (mục tiêu, phương hướng pháttriển theo quan điểm thống nhất đối với các ngành, lĩnh vực trên phạm vi lãnh thổ nghiên cứu – nghĩa là sẽ sản xuất gì, quy mô bao nhiêu, cơ cấu thế nào)
Thứ hai, TCLTKT luận chứng các phương án kiến thiết lãnh thổ (dự kiến phân bố ở đâu cho có hiệu quả nhất) – tức là lựa chọn các hình thức TCLTKT cho tương lai
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến TCLTKT
1.1.3.1 Vị trí địa lý
Vị trí địa lý là nhân tố tác động tổng hợp đến sự hình thành và phát triển của các hình thức TCLTKT, nó có khả năng tạo ra những lợi thế cho phát triển, giúp huy động tốt nhất các nguồn lực phát triển Đồng thời, có thể tạo ra được mối liên hệ trong sản xuất, trao đổi sản phẩm, tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật, mở rộng kinh tế trong và ngoài nước thông qua hệ thống giao thông (mạng lưới đường sá, cảng biển, cảng hàng không ), giúp khắc phục được khó khăn, phát huy được lợi thế trong quá trình phát triển và hội nhập của lãnh thổ
1.1.3.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
Điều kiện tự nhiên và tài nguyên nhiên nhiên được coi là yếu tố tiền đề, nền tảng vật chất của TCLTKT
Yếu tố địa hình ảnh hưởng sâu sắc đến đặc điểm tự nhiên của lãnh thổ Đồng thời tác động trực tiếp đến TCLTKT bằng việc tạo điều kiện thuận lợi hoặc gây khó khăn trong bố trí không gian sản xuất cũng như xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật
Những đặc trưng về các điều kiện tự nhiên, nhất là nguồn tài nguyên đất, nước, khí hậu, khoáng sản của lãnh thổ quy định đặc điểm cơ cấu lãnh thổ, cường độ và hướng di chuyển các mối liên hệ thông qua lịch sử và truyền thống khai thác của vùng, quy định việc lựa chọn các hình thức TCLTKT Sự thuận lợi của yếu tố này có khả năng thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước
Trang 211.1.3.3 Các nhân tố kinh tế – xã hội
a Dân cư và nguồn lao động
Con người cùng với những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần luôn là nhân tố quan trọng hàng đầu trong phát triển KT – XH Dưới góc độ là lực lượng sản xuất, nguồn nhân lực có ý nghĩa quyết định đến tổ chức không gian kinh tế ở mỗi lãnh thổ nhất định Quy mô, gia tăng dân số; phân bố, chất lượng dân cư và các dòng di dân quy định đến số lượng và chất lượng lao động – yếu tố đảm bảo việc thực thi TCLTKT
Dưới góc độ là thị trường tiêu thụ, các đặc điểm về dân cư: quy mô, kết cấu, chất lượng, truyền thống, tâm lý tiêu dùng tác động trực tiếp, quy định đầu ra của sản xuất, do đó nó cũng là một trong những nhân tố quan trọng trong việc nghiên cứu, tính toán để xác định loại hình, vị trí của TCLTKT
Nói chung, dân cư và nguồn lao động là một nguồn lực có thể tạo ra những thuận lợi, động lực phát triển kinh tế, nhưng cũng tiềm ẩn những khó khăn riêng Mức độ thuận lợi hay khó khăn của nguồn lực này là một trong những tiêu chí có tính chất quyết định đến TCLTKT Do đó, nó phải được nghiên cứu kĩ lưỡng và nghiêm túc khi tiến hành TCLTKT
b Khoa học công nghệ (KH – CN)
KH – CN có ảnh hưởng rất lớn đến TCLTKT Công nghệ là biện pháp để con người thực hiện có hiệu quả các quá trình sản xuất kinh doanh, tạo ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu của toàn xã hội Công nghệ được vận dụng một cách tự giác và do đó nó phát triển nhanh chóng, tạo ra những thành quả lao động mang tính đột phá, nhảy vọt Sự tiến
bộ của KH – CN ở các quốc gia phát triển đã đóng góp 50 – 80% vào tăng trưởng kinh tế [54] Vì vậy khi tiến hành TCLTKT phải tính toán đầy đủ yếu tố KH – CN
c Cơ sở hạ tầng
Là toàn bộ mạng lưới đường giao thông, hệ thống thông tin, mạng lưới cung cấp điện nước, hệ thống xử lý chất thải… ảnh hưởng rõ rệt đến việc hình thành và phát triển các hình thức TCLTKT, đến hệ thống cơ cấu lãnh thổ kinh tế: góp phần quyết định sự hấp dẫn đầu tư, mức độ tập trung sản xuất, hiệu quả khai thác lãnh thổ, quy
Trang 22mô khai thác lãnh thổ (tác động lan tỏa), sự phát triển của các đô thị Thực tiễn cho thấy, ở đâu có các điều kiện này tốt thì ở đấy càng thu hút được đầu tư và khả năng hình thành và phát triển các hình thức TCLTKT càng cao
d Đường lối chính sách
Là nhân tố mang tính chất điều hành vĩ mô, giúp định hướng cho sự phát triển của lãnh thổ để hòa nhập với hệ thống cơ cấu lãnh thổ cấp lớn hơn Thực tế cho thấy đường lối chính sách đóng vai trò quan trọng đối với sự thành công hay thất bại của việc TCLTKT Thể chế kinh tế nói chung và chính sách kinh tế, cơ chế quản lý kinh
tế nói riêng của Nhà nước có thể tạo ra sự thúc đẩy hoặc kìm hãm đối với sự phát triển kinh tế nói chung và TCLTKT nói riêng
e Thị trường và mối quan hệ kinh tế liên vùng
Tiềm năng thị trường và các mối quan hệ kinh tế liên vùng tác động lớn đến việc hình thành và phát triển hình thức TCLTKT ở nơi này hay ở nơi kia thông qua nhu cầu tiêu thụ hàng hóa, mạng lưới giao thông vận tải, thông tin liên vùng… Nhu cầu của thị trường là nhân tố thúc đẩy việc khai thác, phát huy các thế mạnh của lãnh thổ theo hướng chuyên môn hóa, từ đó góp phần quy định đến việc xác định các hình thức TCLTKT phù hợp Các mối quan hệ kinh tế liên vùng giúp khắc phục khó khăn lãnh thổ này gặp phải mà lãnh thổ khác thuận lợi, đồng thời phát huy được những lợi thế, tạo ra sự phối kết hợp trong phát triển kinh tế giữa các lãnh thổ đảm bảo sự phát triển ổn định và lâu dài
f Vốn đầu tư
Vốn huy động bên trong lãnh thổ đảm bảo sự chủ động về đầu tư cho phát triển kinh
tế Tuy nhiên, trong điều kiện quy mô của nền kinh tế còn nhỏ bé, khả năng tích lũy có hạn thì việc thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài lãnh thổ nghiên cứu là việc làm cần thiết và rất quan trọng Nó không chỉ giải quyết khó khăn về vốn, phát triển tốt hơn kết cấu hạ tầng mà ở mức độ nhất định còn nâng cao trình độ phát triển về con người và công nghệ Đây là yếu
tố cần được quan tâm xem xét khi phát triển các hình thức TCLTKT
g Xu thế hội nhập
Xu thế hội nhập có tác động quan trọng đến TCLTKT, cụ thể là:
Trang 23- Tạo nên những điều kiện đầu vào (vốn, nguyên liệu, trang thiết bị, máy móc ) và đầu
ra (thị trường tiêu thụ), trong đó đáng quan tâm là các ưu đãi về vốn, nhất là vốn ODA và các khoản vay ngân hàng để xây dựng kết cấu hạ tầng sản xuất và xã hội
- Sự hỗ trợ phát triển về mặt kinh tế, KH – CN tạo nên khả năng hợp tác, chuyển giao công nghệ giữa các quốc gia, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong các hình thức TCLTKT tại các nước đang phát triển có cơ hội tiếp cận và ứng dụng những thành tựu tiên tiến trong sản xuất, kinh doanh từ các quốc gia phát triển
- Sự hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng khiến các quốc gia ra sức mở rộng hoạt động sản xuất của mình nhằm hướng đến thị trường xuất khẩu quốc tế, làm cho các hình thức TCLTKT không còn là những địa bàn sản xuất mà còn trở thành mắt xích trong hệ thống sản xuất thế giới
Nhìn chung, TCLTKT chịu sự tác động đồng thời và tổng hợp bởi các nhóm nhân
tố Sự tác động đó của các nhân tố đến TCLTKT không giống nhau về không gian và thời gian, có những yếu tố tác động mạnh, có tính trội đối với TCLTKT trong thời gian này nhưng lại giảm sút vai trò trong giai đoạn khác Do đó, trong TCLTKT cần
có những phân tích, đánh giá và dự báo để có phương hướng sử dụng và phát huy tốt nhất các yếu tố này
1.1.4 Các hình thức TCLTKT
Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu về lý luận cũng như thực tiễn TCLTKT trên thế giới và Việt Nam, chúng tôi nhận thấy các hình thức TCLTKT rất đa dạng cả theo ngành cũng như theo không gian Tuy nhiên, giữa các nước có sự khác nhau về lý luận cũng như thực tiễn Mặc dù còn có những điểm chưa thống nhất, nhưng về cơ bản một
số hình thức TCLTKT đã định hình và đi vào thực tiễn TCLTKT Việt Nam
1.1.4.1 Các hình thức TCLTKT theo ngành
a Nông – lâm – thủy sản
- Hộ gia đình (nông hộ) là hình thức vốn có của sản xuất nhỏ, tồn tại phổ biến ở các
nước đang phát triển thuộc châu Á với đặc trưng: quy mô sản xuất nhỏ (đất đai, vốn, lao động), chủ yếu sử dụng lao động gia đình, kĩ thuật canh tác và công cụ sản mang nặng tính truyền thống, sản xuất phục vụ nhu cầu gia đình…
Trang 24Đối với các nước đang phát triển, hộ gia đình đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế nông thôn, là cơ sở đảm bảo cho kinh tế tập thể tồn tại và thúc đẩy nông thôn quá độ tiến lên một trình độ cao hơn: nông thôn sản xuất hàng hóa.[84, tr.300]
- Trang trại là kết quả tất yếu của hộ gia đình gắn với sản xuất hàng hóa, là hình thức
tiến bộ của sản xuất nông nghiệp thế giới Hoạt động của trang trại chịu sự chi phối của nền kinh tế thị trường và tuân theo quy luật cung cầu, chấp nhận cạnh tranh [84,tr.301] Quá trình hình thành và phát triển trang trại có gắn với sự tích tụ tập trung các yếu tố sản xuất kinh doanh (đất đai, lao động, tư liệu sản xuất, vốn, khoa học kỹ thuật và công nghệ) để nâng cao năng lực sản xuất và sản xuất ra nhiều sản phẩm hàng hoá với năng suất, chất lượng và hiệu quả cao
- Hợp tác xã nông nghiệp là một tổ chức kinh tế do nông dân tự nguyện lập ra với
nguồn vốn hoạt động do chính họ đóng góp và huy động từ các nguồn khác nhằm duy trì, phát triển kinh tế hộ gia đình và tăng nhanh tỉ suất hàng hóa, đạt hiệu quả kinh tế cao cho các chủ trang trại [84, tr.302]
- Vùng chuyên môn hóa là hình thức tổ chức sản xuất trên một lãnh thổ xác định có
ranh giới ước lệ các hoạt động nông, lâm, ngư nghiệp một cách hợp lí, có sự tập trung cao và có quy mô lớn hoặc tương đối lớn nhằm sản xuất hàng hóa nông sản kết hợp với công nghiệp chế biến và xuất khẩu
- Vùng nông nghiệp là hình thức cao nhất của TCLT nông nghiệp, bao gồm trong đó các
hình thức TCLT ở cấp thấp hơn Đây là những lãnh thổ sản xuất nông nghiệp tương đối đồng nhất về các điều kiện tự nhiên (khí hậu, đất đai, nguồn nước…), KT – XH (dân cư, lao động, kinh nghiệm và truyền thống sản xuất ), được hình thành với mục đích phân
bố hợp lý và CMH đúng đắn sản xuất nông nghiệp trên cơ sở sử dụng đầy đủ và có hiệu quả nhất các điều kiện sản xuất của vùng trong cả nước cũng như nội bộ từng vùng để tạo nên các vùng CMH nông nghiệp sản xuất hàng hóa [84, tr 304]
b Công nghiệp
- Điểm công nghiệp là một lãnh thổ trên đó có một điểm dân cư với một xí nghiệp
công nghiệp hoặc một nhóm không lớn các xí nghiệp nằm trong phạm vi của một điểm dân cư, có kết cấu hạ tầng riêng, được phân bố ở những nơi gần nguồn nguyên,
Trang 25nhiên liệu hay trung tâm tiêu thụ, nhưng chưa có điều kiện để tạo nên các hình thức TCLTCN ở cấp cao hơn [72, tr.53].
- Khu công nghiệp tập trung (gọi tắt là KCN)
Được hình thành và phát triển ở các nước tư bản vào những năm cuối của thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, KCN được hiểu là một khu vực đất đai có ranh giới nhất định do nhà tư bản sở hữu, trước hết là xây dựng cơ sở hạ tầng và sau đó là xây dựng các xí nghiệp để bán Đối với các nước đang phát triển, KCN được hình thành nhằm thu hút vốn đầu tư, công nghệ và kinh nghiệm quản lý của các nước phát triển.[84, tr.375]
Ở Việt Nam, KCN được thành lập vào đầu thập niên 90 của thể kỷ XX, đó là nơi có ranh giới xác định, chuyên sản xuất công nghiệp và thực hiện các dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập.[84, tr 375]
- Trung tâm công nghiệp
Trung tâm công nghiệp là khu vực tập trung công nghiệp gắn liền với các đô thị vừa và lớn, có thể bao gồm một số hình thức TCLT ở cấp thấp hơn với một hay một số ngành (xí nghiệp) hạt nhân có sức hút lãnh thổ lân cận Các hạt nhân này được hình thành dựa trên những lợi thế so sánh về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, lao động, thị trường…, là cơ sở cho việc hình thành các trung tâm công nghiệp [72, tr.56]
- Vùng công nghiệp là hình thức TCLTCN ở cấp cao nhất, có thể bao gồm tất cả các
hình thức TCLTCN từ thấp đến cao, được bố trí trên một lãnh thổ tương đối rộng lớn, có điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, về KT –
XH, có khả năng bố trí tập trung công nghiệp với một vài ngành công nghiệp chủ đạo tạo nên hướng CMH của vùng, nhằm đạt hiệu quả và tốc độ tăng trưởng cao, thúc đẩy và đảm bảo sự phát triển của các vùng khác và của cả nước [84, tr.379]
c Dịch vụ
Dịch vụ là nhóm ngành kinh tế rất đa dạng, bao gồm: thương mại, giao thông vận tải, thông tin liên lạc, giáo dục, y tế, du lịch, đầu tư nước ngoài Do đó, TCLTKT của nhóm ngành này cũng rất phong phú
Trang 26Đối với hoạt động dịch vụ thương mại, hệ thống tổ chức mạng lưới bán buôn bán lẻ: siêu thị, chợ, trung tâm thương mại… là biểu hiện tổ chức lãnh thổ cụ thể của ngành.Đối với lĩnh vực giao thông vận tải, các hình thức tổ chức lãnh thổ bao gồm: điểm, tuyến, đầu mối giao thông…
Đối với du lịch, TCLT biểu hiện tương đối rõ nét dưới các hình thức: điểm, tuyến, khu, trung tâm, đô thị du lịch, vùng du lịch…[83]
- Điểm du lịch là nơi tập trung một loại tài nguyên hay một công trình riêng biệt phục
vụ du lịch hoặc kết hợp cả hai ở quy mô nhỏ [36, tr.11]
- Tuyến du lịch là lộ trình liên kết các KDL, điểm du lịch, cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch,
gắn với các tuyến giao thông [36, tr.11]
- Khu du lịch (KDL) là hình thức tổ chức lãnh thổ đặc thù cho du lịch, phát triển rộng
khắp ở các quốc gia, thường gắn với một hoặc một vài điểm du lịch nổi tiếng và là điểm dừng quan trọng của các tour hay tuyến du lịch
Ở Việt Nam “KDL là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về tài nguyên
du lịch tự nhiên, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế – xã hội và môi trường” [37]
- Trung tâm du lịch là sự kết hợp lãnh thổ của các điểm du lịch với tài nguyên du lịch
tương đối tập trung, được khai thác một cách cao độ, có cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối phát triển đảm bảo lưu khách lại trong một thời gian dài và có khả năng tạo vùng du lịch [83]
- Đô thị du lịch là đô thị có lợi thế phát triển du lịch và du lịch có vai trò quan trọng trong
hoạt động của đô thị Điều kiện để một đô thị trở thành một đô thị du lịch là [37]:
+ Có tài nguyên du lịch hấp dẫn trong ranh giới đô thị hoặc trong ranh giới đô thị và khu vực liền kề;
+ Có cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đồng bộ, đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch; có cơ cấu lao động phù hợp với yêu cầu phát triển du lịch;
+ Ngành du lịch có vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế, đạt tỉ lệ thu nhập từ du lịch trên tổng thu nhập của các ngành dịch vụ theo quy định của Chính phủ
Trang 27- Vùng du lịch là sự kết hợp lãnh thổ của các trung tâm, điểm và tuyến du lịch có
những đặc trưng riêng về số lượng và chất lượng tài nguyên du lịch; tính CMH thể hiện sâu sắc (để phân biệt vùng này với vùng khác); có mối liên hệ nội, ngoại vùng
đa dạng; có diện tích lớn, bao gồm nhiều tỉnh.[83]
1.1.4.2 Các hình thức TCLTKT theo không gian
a Khu kinh tế
KKT là một loại hình tổ chức không gian kinh tế được thành lập trong một quốc gia với một lãnh thổ xác định, nhằm thu hút đầu tư trong và ngoài nước bằng các biện pháp khuyến khích đặc biệt
Ở Việt Nam, theo Nghị định 29/2008/NĐ-CP [21], KKT là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi trường đầu tư và kinh doanh đặc biệt thuận lợi cho các nhà đầu tư, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục của Chính phủ
Điều kiện thành lập KKT ở Việt Nam là [21, tr.123]:
+ Phù hợp với Quy hoạch tổng thể phát triển KKT đã được phê duyệt;
+ Có vị trí địa lý thuận lợi cho phát triển kinh tế khu vực (có cảng nước sâu hoặc gần sân bay), kết nối thuận lợi với các trục giao thông huyết mạch của quốc gia và quốc tế; dễ kiểm soát và giao lưu thuận tiện với trong nước và nước ngoài; có điều kiện thuận lợi và nguồn lực để đầu tư và phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật;
+ Có quy mô diện tích từ 10 nghìn ha trở lên và đáp ứng yêu cầu phát triển tổng hợp của khu kinh tế;
+ Có khả năng thu hút dự án, công trình đầu tư với quy mô lớn, quan trọng và có tác động tới sự phát triển KT – XH của cả khu vực;
+ Có khả năng phát huy tiềm năng tại chỗ và tạo ảnh hưởng phát triển lan tỏa đến các khu vực xung quanh;
+ Không tác động tiêu cực đến các khu bảo tồn thiên nhiên; không gây ảnh hưởng xấu và làm tổn hại đến các di sản văn hóa vật thể, danh lam thắng cảnh, các quần thể kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học; phù hợp với bố trí quốc phòng và đảm
Trang 28bảo quốc phòng an ninh; có điều kiện đảm bảo yêu cầu về môi trường, môi sinh và phát triển bền vững.
Theo vị trí lãnh thổ, hiện nay ở Việt Nam có hai loại KKT là KKT ven biển và KKT cửa khẩu KKT ven biển được hình thành ở những khu vực ven biển gắn với các cảng biển nước sâu KKT cửa khẩu được xây dựng ở khu vực biên giới đất liền
có cửa khẩu quốc tế hoặc cửa khẩu chính với một nước láng giềng
b Trung tâm kinh tế
Là đơn vị hành chính tương đương cấp quận, huyện, thị xã, thành phố, giữ vai trò là trung tâm quốc gia hoặc trung tâm vùng lãnh thổ liên tỉnh, tỉnh Nó có chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong tỉnh, liên tỉnh (vùng), trong nước hoặc quốc tế, thúc đẩy sự phát triển KT - XH của một tỉnh, vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc của cả nước
c Vùng kinh tế trọng điểm và vùng kinh tế
Vùng kinh tế trọng điểm là vùng hội tụ đầy đủ nhất các điều kiện phát triển, đóng
vai trò chi phối quyết định đối với nền kinh tế cả nước và phải thỏa mãn các yếu tố sau:+ Hội tụ các điều kiện thuận lợi tập trung tiềm lực kinh tế, có vị trí hấp dẫn các nhà đầu tư;+ Có có khả năng chiếm tỷ trọng cao trong tổng GDP của quốc gia, nếu được đầu tư thích đáng sẽ có khả năng tạo ra tốc độ phát triển nhanh cho cả nước;
+ Có khả năng tạo tích lũy đầu tư để tái sản xuất mở rộng, đồng thời có thể tạo nguồn thu ngân sách lớn cho đất nước Trên cơ sở đó, vùng này không những chỉ tự đảm bảo nguồn tài chính cho mình mà còn có khả năng hỗ trợ cho các vùng khác;
+ Có khả năng thu hút những ngành công nghiệp mới và các ngành dịch vụ then chốt,
để rút kinh nghiệm về mọi mặt cho các vùng khác trong phạm vi cả nước, từ đó tác động lan truyền đến các vùng xung quanh
Vùng kinh tế là đơn vị lãnh thổ có vị trí và ranh giới xác định bao gồm các yếu tố
tự nhiên, dân cư, cơ sở vật chất - kỹ thuật với các hoạt động KT – XH diễn ra dưới tác động của tiến bộ KH – CN và sự tồn tại của các dòng vật chất trong phạm vi nội vùng và liên vùng (trong nước, quốc tế) Vùng kinh tế được hình thành do quá trình phân công lao động theo lãnh thổ và được coi là một hệ thống KT – XH theo lãnh thổ [83, tr.212]
Trang 29Ở địa bàn cấp tỉnh và cấp nhỏ hơn, sự phân hóa lãnh thổ kinh tế tạo nên hình thức tương ứng với lãnh thổ nhỏ, đó là tiểu vùng kinh tế Các tiểu vùng được hình thành dựa trên sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, các nhân tố KT – XH cũng như trình độ phát triển KT – XH giữa các bộ phận lãnh thổ trong tỉnh.
1.1.5 Các chỉ tiêu đánh giá TCLTKT cấp tỉnh vận dụng cho tỉnh Nghệ An
TCLTKT trên địa bàn cấp tỉnh vừa có các hình thức theo ngành vừa có các hình thức theo không gian Việc xác định các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của các hình thức này được tổng hợp dựa trên các tiêu chí đánh giá thực trạng phát triển kinh tế theo ngành cũng như theo không gian của Chính phủ, Tổng cục thống kê, Ngân hàng thế giới và sự góp ý quý báu của các chuyên gia về tổ chức lãnh thổ
1.1.5.1 Theo ngành
Đối với địa bàn cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay, tùy theo các điều kiên cụ thể đã triển khai một số hình thức TCLT theo ngành chủ yếu: hộ gia đình, trang trại, vùng CMH, tiểu vùng nông nghiệp (nông nghiệp); điểm, KCN, trung tâm công nghiệp (công nghiệp); điểm, tuyến, KDL, đô thị du lịch (du lịch)… Trong khuôn khổ luận án, chúng tôi tập trung đánh giá một số hình thức TCLTKT do vai trò quan trọng của chúng trong quá trình CNH – HĐH như: Trang trại, KCN, đô thị du lịch…
a Nông nghiệp
Trong TCLTNN trên địa bàn cấp tỉnh, trang trại là hình thức phổ biến và có vai trò quan trọng trong việc chuyển đổi sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa và thực hiện CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn Do đó, luận án tập trung đánh giá hình thức trạng trại Dựa trên sự tổng hợp các tiêu chí thống kê về trang trại của
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, sự góp ý của các chuyên gia về tổ chức lãnh thổ cũng như dựa vào nguồn số liệu thống kê mà tác giả thu thập được và tham khảo luận án “TCLT nông nghiệp tỉnh Nghệ An”[62], các chỉ tiêu đánh giá phát triển trang trại trên địa bàn tỉnh được xác định bao gồm:
* Số lượng và cơ cấu trang trại
- Số lượng trang trại: chỉ tiêu phản ánh số lượng trang trại được phát triển, con số
càng nhiều càng chứng tỏ tính hiệu quả và vai trò quan trọng của trang trại trong khai
Trang 30thác lãnh thổ và phát triển KT – XH.
- Cơ cấu trang trại theo loại hình là tổng thể các loại hình trang trại với tỉ trọng
tương ứng của từng loại hình, phản ánh số lượng, vị trí, tỉ trọng từng loại trang trại trong sản xuất nông nghiệp, được tính bằng đơn vị %
- Cơ cấu trang trại theo tiểu vùng nông nghiệp phản ánh khả năng kết hợp, khai thác
tài nguyên, tiềm lực KT - XH của tiểu vùng phục vụ cho phát triển trang trại và sự phân bố của trang trại theo không gian
* Diện tích, lao động, vốn
- Diện tích các trang trại và diện tích trung bình mỗi trang trại: phản ánh quy mô
không gian cho sản xuất hàng hóa và khả năng thu hút đầu tư để nâng cao năng suất, chất lượng hàng hóa
- Số lượng, chất lượng lao động, vốn của các trang trại và quy mô trung bình lao động, vốn trên từng trang trại: thể hiện sự hấp dẫn lao động, thu hút vốn cho đầu tư
sản xuất cũng như khả năng ứng dụng tiến bộ KH – CN để khai thác các nguồn lực phát triển, tạo hiệu quả kinh tế cao
* Tình hình sản xuất kinh doanh
- Giá trị sản xuất hàng hóa và dịch vụ của các trang trại (G TT ) là toàn bộ giá trị được
quy đổi thành tiền từ sản lượng hàng hóa và dịch vụ do trang trại tạo ra, phản ánh thực trạng phát triển của trang trại
- Tỉ lệ giá trị sản xuất hàng hóa và dịch vụ của các trang trại so với GTSX NLTS toàn tỉnh: phản ánh mức độ đóng góp – vai trò của trang trại trong sản xuất NLTS toàn tỉnh.
- Năng suất lao động là tương quan giữa giá trị sản xuất hàng hóa và dịch vụ của các
trang trại so với tổng số lao động của các trang trại, thể hiện hiệu quả lao động
* Hiệu quả sản xuất kinh doanh
- Giá trị tăng thêm của các trang trại (VA TT ) là giá trị thu được từ giá trị sản xuất
hàng hóa và dịch vụ của các trang trại sau khi khấu trừ tất cả các chi phí, thể hiện hiệu quả sản xuất và kinh doanh của các trang trại
- Thu nhập bình quân theo lao động và theo diện tích: là tương quan giữa VA TT so với
lao động và diện tích của các trang trại
Trang 31- Tỉ lệ lợi nhuận của các trang trại (T TN ) là tương quan giữa giá trị tăng thêm với giá
trị sản xuất hàng hóa và dịch vụ của các trang trại, phản ánh một cách tổng hợp hiệu quả sản xuất kinh doanh của trang trại
đó, trong khuôn khổ luận án, tác giả chú trọng đánh giá hiệu quả phát triển của KCN với các chỉ tiêu được xác định như sau”
Công thức tính: T =
Tc
T đ × 100%
* Các chỉ tiêu đầu tư và lao động
- Số dự án, vốn đầu tư, vốn đầu tư bình quân trên dự án và trên diện tích đất cho thuê: các chỉ tiêu phản ánh khả năng thu hút đầu tư, quy mô đầu tư của dự án, khả
năng khai thác tiềm năng, đầu tư sản xuất kinh doanh cũng như trang bị KH - CN trong các KCN
- Số lượng lao động: Tiêu chí đánh giá khả năng thu hút lao động và giải quyết việc
làm của KKT
* Các chỉ tiêu về sản xuất kinh doanh
- Giá trị sản xuất (G KCN ), tốc độ gia tăng và cơ cấu: thể hiện quy mô sản xuất, mức độ
đầu tư và mở rộng quy mô sản xuất KCN cũng như hướng sản xuất chính của KCN
Trang 32- Tỉ lệ giá trị sản xuất KCN trong tổng GTSX công nghiệp của toàn tỉnh (T GKCN ) nhằm
làm rõ đóng góp của các KCN đối công nghiệp chung toàn tỉnh
Trong đó: - G KCN là giá trị sản xuất của các KCN trong tỉnh
- G CN là giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh
- Năng suất lao động: là tương quan giữa giá trị sản xuất so với lao động của KCN, biểu
hiện hiệu suất lao động cũng như trình độ KH – CN của KCN
- Doanh thu (D KCN ) và tốc độ tăng doanh thu: phản ánh quy mô và mức độ mở rộng
sản xuất kinh doanh của KCN
- Giá trị xuất khẩu (X KCN ): thể hiện sự mở rộng thị trường ra bên ngoài của KCN.
- Tỉ trọng giá trị xuất khẩu (T XKCN ): là tương quan giữa XKCN với GKCN, phản ánh xu hướng phát triển thị trường (khả năng hướng ngoại của sản phẩm hàng hóa) ở KCN
* Các chỉ tiêu về hiệu quả sản xuất kinh doanh
- Lợi nhuận (VA KCN ) và tốc độ gia tăng lợi nhuận: Phản ánh về quy mô và mức độ
tăng hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh trong KKT
- Tỉ suất lợi nhuận (T DKCN ): là tương quan giữa lợi nhuận và doanh thu sản xuất kinh
doanh của KKT, phản ánh mức độ hiệu quả sản xuất kinh doanh
- Nhóm chỉ tiêu đánh giá tài nguyên du lịch và cơ sở hạ tầng
Trang 33* Tài nguyên du lịch
+ Khí hậu: phân tích đặc điểm khí hậu của lãnh thổ nghiên cứu với các chỉ tiêu chính: nhiệt độ trung bình năm, lượng mưa, độ ẩm, số giờ nắng; chỉ ra các hiện tượng thời tiết bất thường và xác định thời gian du lịch hợp lý nhất
+ Địa hình: phân tích đặc điểm hình thái địa hình, giá trị của địa hình với du lịch, xác định dạng địa hình đặc biệt có ý nghĩa đối với hoạt động du lịch
+ Di tích văn hoá lịch sử: tập trung phân tích chỉ tiêu tổng số di tích các loại trên lãnh thổ và số di tích được xếp hạng quốc gia
+ Lễ hội: tổng số lễ hội trên lãnh thổ và lịch lễ hội diễn ra trong năm
+ Các loại tài nguyên du lịch khác: phân tích đặc điểm và chỉ ra được những nét hấp dẫn riêng có khả năng khai thác du lịch
* Cơ sở hạ tầng: Đặc điểm mạng lưới giao thông (loại hình giao thông, chiều dài, chất lượng đường sá), khả năng cung cấp điện, nước (mạng lưới, công suất), thông tin liên lạc (loại hình, số máy điện thoại/100 dân…) của lãnh thổ đối với hoạt động du lịch…
- Nhóm chỉ tiêu đánh giá thực trạng
* Thị trường khách du lịch
+ Số lượng, tốc độ gia tăng, tỉ trọng khách so với tổng lượng khách toàn tỉnh Đây là
nhóm chỉ tiêu phản ánh về quy mô (sức hấp dẫn), mức độ tăng quy mô và đóng góp
về số lượng khách của đô thị du lịch trong du lịch toàn tỉnh
+ Cơ cấu khách du lịch theo lãnh thổ: phản ánh mức độ thu hút khách theo lãnh thổ + Thời gian lưu trú: thể hiện sự hấp dẫn của lãnh thổ du lịch, khả năng tăng trưởng
doanh thu trong mối tương quan với chi phí và tác động môi trường
+ Mức chi tiêu: phản ánh sự đa dạng và chất lượng của sản phẩm, dịch vụ du lịch, sự
hài lòng của du khách
* Cơ sở lưu trú (số lượng, chất lượng, quy mô trung bình): phản ánh khả năng khai
thác tài nguyên du lịch và đáp ứng nhu cầu của du khách
* Doanh thu: số lượng, tốc độ gia tăng, cơ cấu: phản ánh quy mô, mức độ gia tăng
quy mô và sự đa dạng của các loại hình dịch vụ du lịch trong đô thị
* Lao động: số lượng, thu nhập bình quân: phản ánh khả năng đáp ứng nhu cầu về
nguồn nhân lực cũng như khả năng giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập của ngành du lịch trong đô thị
Trang 34* Năng suất lao động du lịch: là tương quan giữa doanh thu du lịch so với lao động
du lịch, thể hiện hiệu quả của hoạt động du lịch
* Doanh thu du lịch/tổng GTSX của đô thị du lịch, tỉ trọng GDP du lịch trong tổng GDP của đô thị: Phản ánh vai trò và sự đóng góp của ngành du lịch đối với nền kinh
tế chung của đô thị
1.1.5.2 Theo không gian
Công thức tính: T = S đ
Sc ×100(%)
* Các chỉ tiêu về thu hút đầu tư, lao động
- Số dự án, vốn đầu tư, vốn đầu tư bình quân trên dự án: các chỉ tiêu phản ánh khả
năng, quy mô thu hút đầu tư trên dự án của các KKT, khả năng khai thác đất đai, đầu
tư sản xuất kinh doanh cũng như trang bị KH - CN trong KKT…
- Quy mô vốn đầu tư/doanh nghiệp: phản ánh mức độ đầu tư và khả năng mở rộng
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Vốn đầu tư/diện tích đất cho thuê: phản ánh khả năng khai thác các tiềm năng trong
KKT
- Số lượng lao động: Tiêu chí đánh giá khả năng thu hút lao động và giải quyết việc
làm của KKT
- Số lượng lao động/doanh nghiệp: phản ánh khả năng thu hút lao động và giải quyết
việc làm của từng loại hình doanh nghiệp trong KKT
* Các chỉ tiêu về sản xuất kinh doanh
- Giá trị sản xuất (G KKT ), tốc độ gia tăng và cơ cấu: thể hiện quy mô sản xuất, mức độ
đầu tư và mở rộng quy mô sản xuất KKT cũng như hướng sản xuất chính của KKT
Trang 35- Năng suất lao động: là tương quan giữa giá trị sản xuất so với lao động của KKT, biểu
hiện hiệu suất lao động cũng như trình độ KH – CN ở đây
- Doanh thu (D KKT ) và tốc độ tăng doanh thu: phản ánh quy mô và mức độ mở rộng
sản xuất kinh doanh của KKT
- Cơ cấu doanh thu theo khu vực doanh nghiệp: phản ánh mức độ đóng góp – vai trò của từng khu vực doanh nghiệp trong KKT.
- Tỉ lệ doanh thu trên GTSX (T D/G ): phản ánh tương quan giữa sản xuất vật chất và kinh
doanh dịch vụ Chỉ tiêu này tỉ lệ thuận với hiệu quả sản xuất kinh doanh của KKT
Công thức tính: TD/G = KKT 100(%)
KKT
D
- Giá trị xuất khẩu (X KKT ): thể hiện sự mở rộng thị trường ra bên ngoài của KKT.
- Tỉ trọng giá trị xuất khẩu (T XKKT ): là tương quan giữa XKTK với GKKT, phản ánh xu hướng phát triển thị trường (khả năng hướng ngoại của sản phẩm hàng hóa) ở KKT
Công thức tính: KKT 100(%)
KKT KKT XG
- Cán cân xuất nhập khẩu: là hiệu số giữa giá trị xuất khẩu và giá trị nhập khẩu của
KKT, phản ánh sự chủ động về sản xuất (trang thiết bị, nguyên nhiên liệu…) và một phần hiệu quả sản xuất kinh doanh
* Các chỉ tiêu về hiệu quả sản xuất kinh doanh
- Lợi nhuận (VA KKT ) và tốc độ gia tăng lợi nhuận: Phản ánh về quy mô và mức độ
tăng hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh trong KKT
- Tỉ suất lợi nhuận (T KKT ): là tương quan giữa lợi nhuận và doanh thu sản xuất kinh
doanh của KKT, phản ánh mức độ hiệu quả sản xuất kinh doanh
Công thức tính: T KKT = KKT 100(%)
KKT
VA
b Trung tâm kinh tế
* Các chỉ tiêu về hiện trạng phát triển kinh tế chung
- GDP và đóng góp GDP của trung tâm trong nền kinh tế của tỉnh: phản ánh quy mô
và vai trò kinh tế của trung tâm trong toàn tỉnh
Trang 36- Tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình: được tính bằng cách so sánh lượng tăng
tuyệt đối giữa hai thời kỳ với mức độ của thời kỳ được chọn làm gốc so sánh, phản ánh mức độ tăng trưởng kinh tế của trung tâm và đóng góp trong tăng trưởng kinh tế của lãnh thổ cấp cao hơn
- Cơ cấu kinh tế theo ngành: tỉ trọng đóng góp GDP của mỗi ngành trong hệ thống
kinh tế, thể hiện trình độ phát triển và chức năng chính (theo ngành) của trung tâm
- Năng suất lao động là sự tương quan giữa tổng giá trị sản xuất so với tổng lao động hoạt động kinh tế của trung tâm, phản ánh hiệu suất lao động của lãnh thổ
- GDP/người: thể hiện hiệu quả phát triển của trung tâm cả về mặt kinh tế và xã hội.
- Sự lan tỏa, liên kết: trung tâm cung cấp cái gì và tiếp nhận cái gì đối với các lãnh
thổ kế cận
* Các chỉ tiêu về hiện trạng phát triển các ngành (lựa chọn phân tích các ngành thế mạnh)
- Công nghiệp
+ GTSX, tốc độ tăng GTSX công nghiệp: thể hiện quy mô và mức độ mở rộng quy
mô sản xuất công nghiệp của trung tâm
+ Tỉ trọng GTSX công nghiệp trong tổng GTSX công nghiệp ở lãnh thổ lớn hơn: thể
hiện vai trò của trung tâm trong phát triển công nghiệp ở cấp lãnh thổ đó
+ Các ngành công nghiệp chính: phản ánh hướng CMH của trung tâm.
+ Các hình thức TCLTCN trong trung tâm: phản ánh khả năng khai thác và tổ chức sản xuất công nghiệp theo lãnh thổ trong trung tâm.
- Dịch vụ
+ GTSX và tốc độ tăng giá trị sản xuất dịch vụ: thể hiện quy mô và mức độ mở rộng quy
mô kinh doanh hàng hóa và dịch vụ của trung tâm
+ Các hình thức TCLT dịch vụ của trung tâm (phân tích theo phương pháp định tính kết hợp định lượng nếu có thể)
- Nông nghiệp
+ GTSX, tốc độ tăng GTSX nông nghiệp: thể hiện quy mô và mức độ mở rộng quy
mô sản xuất nông nghiệp của trung tâm
+ Các hình thức TCLTNN của trung tâm phản ánh khả năng khai thác và tổ chức sản
xuất nông nghiệp theo lãnh thổ trong trung tâm
Trang 37c Tiểu vùng kinh tế
* Các chỉ tiêu khái quát
- Diện tích tự nhiên: thể hiện quy mô về không gian, khả năng về đất cho phát triển
kinh tế của tiểu vùng
- Cơ cấu sử dụng đất: thể hiện mức độ khai thác và sử dụng đất cũng như tương quan
sử dụng đất theo các mục đích khác nhau
- Số dân và mật độ dân số: thể hiện quy mô và mức độ tập trung dân cư của tiểu vùng.
- Lao động: số lượng, cơ cấu, tỉ lệ qua đào tạo: phản ánh số lượng, chất lượng lao động
phục vụ phát triển kinh tế cho tiểu vùng và tương quan lực lượng (khả năng đáp ứng) lao động theo ngành kinh tế trong tiểu vùng
- Vốn đầu tư sản xuất: phản ánh khả năng về tài chính cho khai thác phát triển lãnh thổ.
- Cơ sở hạ tầng và hệ thống đô thị: thể hiện bộ khung lãnh thổ và khả năng phát triển.
* Các chỉ tiêu về hiện trạng phát triển kinh tế
- GDP, tỉ lệ GDP so với toàn tỉnh và tốc độ tăng GDP: phản ánh quy mô, mức độ
đóng góp và mở rộng quy mô kinh tế của tiểu vùng
- Cơ cấu kinh tế theo ngành: thể hiện trình độ phát triển và chức năng chính (theo
ngành) của tiểu vùng
- Năng suất lao động là sự tương quan giữa tổng giá trị sản xuất so với tổng lao động hoạt động kinh tế của tiểu vùng, phản ánh hiệu suất lao động của lãnh thổ
- GDP bình quân đầu người: thể hiện hiệu quả phát triển của tiểu vùng cả về mặt kinh
tế và xã hội
- Hiện trạng phát triển các ngành: có thể sử dụng hệ thống chỉ tiêu đánh giá thực trạng phát triển các ngành của trung tâm kinh tế, trong đó chú ý đến chỉ tiêu các sản phẩm đặc trưng (CMH) của tiểu vùng (được đánh giá bằng GTSX hoặc sản lượng
sản phẩm của tiểu vùng so với toàn tỉnh)
- Các hình thức TCLTKT trong tiểu vùng, phản ánh mức độ khai thác và phát triển kinh tế
trên lãnh thổ (có thể sử dụng kết quả phân tích của các hình thức TCLTKT theo ngành)
- Trung tâm (hạt nhân) kinh tế của tiểu vùng.
* Chỉ tiêu đánh giá tổng hợp các tiểu vùng kinh tế được tác giả sử dụng là chỉ số sử dụng lãnh thổ Chỉ số này được tính toán dựa trên sự kết hợp tương quan giá trị sản xuất so với
diện tích tự nhiên và dân số của tiểu vùng, phản ánh một cách tổng hợp mức độ khai thác
Trang 38lãnh thổ, sự tập trung kinh tế và hấp dẫn đầu tư Chỉ số này càng lớn chứng tỏ mức độ sử dụng lãnh thổ, thu hút đầu tư càng cao và sự tập trung kinh tế càng lớn.
Công thức tính: ITV = TV TV
TV TV
S +D
Trong công thức trên: GTV là giá trị sản xuất của tiểu vùng (tỉ đồng)
STV là diện tích của tiểu vùng (km2)
DTV là dân số của tiểu vùng (người)
là việc xác lập mối liên hệ chặt chẽ giữa KCX và tổ chức các hợp đồng gia công giữa KCX với các doanh nghiệp khác trong nước, tạo nên cái gọi là “chế xuất ngoài KXC” Kết quả là các KCX của Hàn Quốc đã thực sự đóng vai trò tích cực, làm cầu nối giữa nền kinh tế trong nước và ngoài nước, góp phần đưa Hàn Quốc trở thành một trong những quốc gia mới CNH (NICs).[40,tr.68]
Giai đoạn 2 (1982 - 1991), Hàn Quốc tiến hành xây dựng “cực tăng trưởng” như
“các nam châm” thu hút dân cư và các ngành ở xa thủ đô với việc ấn định bốn thành phố
ở vùng Đông Bắc và Tây Nam, tăng cường xây dựng kết cấu hạ tầng, nâng cao chất lượng cuộc sống ở các thành phố lớn Đồng thời, quốc gia này cũng phát triển KT – XH
Trang 39nông thôn, vùng chậm phát triển và thực hiện chương trình khuyến khích các công ty rời khỏi vùng thủ đô, đầu tư ra các vùng khác
Giai đoạn thứ 3 (1992 - 2001), TCLTKT Hàn Quốc nhấn mạnh vào việc tăng cường các vùng phi đô thị thông qua việc cải cách kết cấu không gian, đề xuất vành đai công nghiệp Tây - Nam đối diện với vành đai công nghiệp Đông – Nam dọc theo vùng duyên hải, giúp các thành phố nằm trong vành đai có các ngành công nghệ cao Đồng thời tập trung đầu tư lớn vào kết cấu hạ tầng, bao gồm các cơ sở vận tải, cảng biển, sân bay, các
cơ sở viễn thông, các dự án cấp nước, xử lý chất thải và ngành năng lượng
Giai đoạn thứ 4 (2002 - 2011), tập trung xây dựng Hàn Quốc trở thành một “quốc gia thượng hạng” về kinh tế, môi trường, xã hội và văn hóa Ở giai đoạn này, TCLTKT của Hàn Quốc không chỉ là “giảm chênh lệch vùng”, “hài hòa lãnh thổ” mà đi vào những nội dung “mang tính thời đại”, đó là các vấn đề “tự chủ lãnh thổ”, “giữ gìn bản sắc vùng” trong kỷ nguyên toàn cầu hóa và lãnh thổ mở [75, tr.36-38]
Hàn Quốc là một trong những số ít quốc gia thành công về TCLTKT với các cơ chế khuyến khích có mục tiêu phạm vi địa lý Để hỗ trợ sự tăng trưởng kinh tế ở những vùng
cụ thể, chính quyền trung ương đã làm việc với khu vực tư nhân để xác định những vùng
có lợi thế sản xuất Sự nhất quán trong mục tiêu của chính sách công nghiệp quốc gia và chính sách vùng là một yếu tố đem lại hiệu quả [42, tr.402]
1.2.1.2 Trung Quốc
Trung Quốc là một quốc gia rộng lớn và đông dân, có sự khác biệt rất lớn về điều kiện tự nhiên, KT – XH giữa các vùng Trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung trước đây, quốc gia này đã theo quan điểm phát triển cân đối, đồng đều giữa các vùng lãnh thổ nên không phát huy hết thế mạnh của các vùng có tiềm năng lớn và cũng không thúc đẩy được sự tăng trưởng kinh tế của cả nước Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, Trung Quốc đã thay đổi tư duy theo quan điểm phát triển phi cân đối, khuyến khích và tạo điều kiện cho các vùng có tiềm năng phát triển nhanh hơn hẳn các vùng khác và trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển của các vùng ít tiềm năng hơn Đồng thời, tạo nguồn lực để đầu tư vào các vùng kém phát triển hơn Cụ thể là quốc gia này
đã TCLTKT theo các lãnh thổ trọng điểm với các hình thức: đặc khu kinh tế (Special
Trang 40Economics Zone - SEZ), khu phát triển kinh tế và công nghệ (Economic and Technology Development Zone - ETDZ), vùng kinh tế mở, thành phố kinh tế mở… Đến nay, Trung Quốc đã có 54 thành phố mở cửa cấp quốc gia, 3 vùng kinh tế mở, 60 ETDZ và 6 SEZ (bao gồm Thâm Quyến, Chu Hải, Sán Đầu, Hạ Môn, Hải Nam, Phố Đông) Trong các hình thức TCLTKT trên ở Trung Quốc, SEZ là hình thức thành công, đem lại sự phát triển hiệu quả nhất Đây là những nơi tiên phong mở cửa với thế giới bên ngoài, một kênh độc đáo để Trung Quốc tận dụng vốn, kỹ thuật nước ngoài và liên hệ với thị trường thế giới và cũng là nơi thử nghiệm tổng hợp chính sách cải cách của quốc gia này [40, tr.50-51] Kết quả của sự thành công chính là việc cải thiện địa vị thương mại của Trung Quốc trên trường quốc tế và trở thành một trong những “nền kinh tế mới nổi” của thế giới
1.2.1.3 Một số nước Đông Nam Á
a Thái Lan
Trong hơn ba thập kỷ qua, Thái Lan đã có những chuyển dịch mạnh mẽ trong
cơ cấu kinh tế ngành và cơ cấu kinh tế lãnh thổ Đó là kết quả của công cuộc CNH với quan điểm “tăng trưởng trước, phân phối sau”1, phân bổ nguồn lực tập trung phát triển theo mô hình phát triển có trọng điểm
Từ những năm 70 của thế kỷ trước, Thái Lan bắt đầu phát triển các trọng điểm Đầu tiên là tập trung đầu tư xây dựng thủ đô Bangkok, sau đó là xây dựng các KCN, KCX xung quanh thủ đô nhằm thu hút đầu tư nước ngoài, tập trung các xí nghiệp công nghiệp và dịch vụ nhằm tạo thuận lợi cho việc quản lý và cung cấp các dịch vụ liên quan, tăng hiệu quả của các hoạt động kinh tế, tạo nhiều việc làm để nâng cao thu nhập cho người lao động tại các địa phương [40,tr.70]
Trong phát triển các KCN, KCX, bên cạnh việc tập trung đầu tư cho công nghiệp và phát triển cơ sở hạ tầng, Thái Lan thực hiện ưu đãi thuế khác nhau theo từng doanh nghiệp nằm trong KCN tổng hợp Đồng thời, có sự phân biệt đối xử đối với các KCN ở các vành đai phát triển khác nhau tùy thuộc vào vị trí địa lý của chúng
1 Tập trung phát triển những lãnh thổ có khả năng tăng trưởng nhanh, sau đó từng bước chú ý đến giảm chênh lệch với vùng nghèo