1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài giảng kỹ thuật nhiếp ảnh

83 570 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 6,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi những hiệu ứng về nguồn sáng, ánh sáng được khai thác khi chụp ảnh, những tiến bộ quang học được ứngdụng để sản xuất ống kính với nhiều tiêu cự khác nhau, thì các nhà mỹ học đã hiểu

Trang 1

BỘ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG

HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU:

Bài giảng “Kỹ thuật Nhiếp ảnh” dùng cho sinh viên tham khảo, trong môn học của cơ

sở ngành của Khoa Đa phương tiện, thuộc lĩnh vực Công nghệ Đa phương tiện, với hai tínchỉ Nội dung tài liệu đề cập Tổng quan về Nhiếp ảnh; Căn bản về máy ảnh - trang thiết bịngành ảnh; Tư duy tạo hình trong Nhiếp ảnh

Một số hình vẽ và bảng biểu trong các chương có giá trị minh hoạ Một số hình vẽđược trích từ các tài liệu tham khảo, để tiện đối chiếu và có thông tin sâu hơn Tài liệu nàyđược biên soạn với mong muốn đem đến cho người đọc những hiểu biết về kỹ thuật nhiếpảnh, những ứng dụng thiết thực cho người yêu thích nhiếp ảnh có thể chụp được những bứcảnh ưng ý một cách dễ dàng hơn

Do nội dung cần trình bày bao quát nhiều vấn đề về kĩ thuật, liên quan đến phần mềm,phần cứng các thiết bị ngành ảnh, nên một số khái niệm mới chỉ trình bày sơ lược, chưa cónhững cơ sở lí thuyết Theo các đề mục trong bài giảng, người ta có thể đọc thêm các tài liệu

lí thuyết để trang bị cơ sở lí thuyết Trong các chương có một số thuật ngữ được nhắc lại, đểtiện cho việc theo dõi

Nội dung về các thiết bị máy móc gắn liền với công nghệ Một số thông tin liên quanđến kĩ thuật, thiết bị chỉ có ý nghĩa thời đoạn, mang tính minh họa Sinh viên có thể sử dụngcác thiết bị và phần mềm tương đương để thực hiện thao tác thực tế

Tác giả xin chân thành cám ơn các giảng viên Khoa Đa phương tiện, Học viện Côngnghệ Bưu chính Viễn thông PTIT đã trợ giúp để hoàn thành tài liệu này.PTIT

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU: 2

DANH MỤC HÌNH VẼ 5

1 CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ NHIẾP ẢNH 7

1.1 Lịch sử Nhiếp ảnh: 7

1.2 Một số thể loại Nhiếp ảnh: 14

1.3.Xu hướng phát triển của Nhiếp ảnh 19

2 CHƯƠNG 2: CẤU TẠO VÀ CHỨC NĂNG MÁY ẢNH 21

2.1 Nguyên lý quang học: 21

2.1.1 Nguyên lý buồng tối 21

2.1.2 Cấu tạo một máy ảnh đơn giản: 22

2.2 Thành phần cơ bản của máy ảnh: 24

2.2.1 Cảm biến (Sensor): 24

2.2.2 Điểm ảnh: 28

2.2.3 Độ phân giải: 29

2.2.4 Độ nhạy sáng ISO: 30

2.2.5 Định dạng file ảnh: 33

2.2.6 Cân bằng trắng (White Balance): 36

2.2.7 Các chế độ chụp ảnh trên thân máy thường gặp: 39

2.3 Chức năng cơ bản của ống kính máy ảnh 41

2.3.1 Tiêu cự ống kính: 41

2.3.2 Khẩu độ ống kính: 47

2.4.4 Xích độ 49

2.4.5 Vùng ảnh rõ (DOF - Depth Of Field) 50

2.4 Trang thiết bị phụ trợ 52

2.5 Một số lưu ý của cấu tạo và chức năng ống kính máy ảnh với kỹ thuật chụp 60

3 CHƯƠNG 3: TƯ DUY TẠO HÌNH TRONG NHIẾP ẢNH 62

3.1 Giới thiệu chung về bố cục và không gian ảnh 62

3.2 Ánh sáng 73

3.2.1 Vai trò của ánh sáng 73

3.2.2 Phân loại các nguồn sáng chính 74

3.2.3 Phân loại các hướng sáng chính 75

3.3 Đường nét tạo hình và tính biểu cảm trong nhiếp ảnh 76

PTIT

Trang 4

3.3.1 Khái niệm 76

3.3.2 Phân loại 76

3.3.3 Vai trò 78

3.3.4 Một số đường nét phổ biến 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

PTIT

Trang 5

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 1 Nguyên tắc hộp tối (“Camera obscura box”) 7

Hình 2 Triển lãm ảnh Nghệ thuật 1952 8

Hình 3 Bức ảnh đầu tiên Joseph Niepce chụp năm 1826 9

Hình 4: Ảnh cụ Phan Thanh Giản chụp tại Paris, người Việt Nam đầu tiên chụp ảnh 1863 9

Hình 5 Những bức họa được khắc trên đá 12

Hình 6 Tranh vẽ ngựa được khắc trên đá 13

Hình 7 Raffaello Santi (1483 - 1520) 13

Hình 8 Michelangelo (1475 - 1564) 14

Hình 9 Ảnh chân dung kỷ niệm 15

Hình 10 Chân dung đặc tả 15

Hình 11 Ảnh báo chí 16

Hình 12 Ảnh đời thường 16

Hình 13 Ảnh phong cảnh 17

Hình 14 Ảnh kiến trúc 17

Hình 15 Ảnh sản phẩm 18

Hình 16 Ảnh nội thất 18

Hình 17 Nguyên lý hộp đen: Ánh sáng trong môi trường đồng nhất đi từ điểm A tới B theo 1 đường thẳng, chủ thể bị xoay ngược trong lớp kính mờ bên trong hộp đen 21

Hình 18 Tạo một chiếc hộp đen 22

Hình 19 Cấu tạo máy ảnh đơn giản 23

Hình 20 Kích thước tương đối của cảm biến nhỏ nhất được sử dụng trong loại máy compact 25

Hình 21 Cảm biến ảnh của Sony đang được sử dụng trong nhiều thiết bị số cao cấp 26

Hình 22 Cảm biến CMOS Exmor full-frame 24.3MP của Sony A99 27

Hình 23 Điểm ảnh trên cảm biến 28

Hình 24 Độ phân giải ghi trên thân máy Samsung 29

Hình 25 Sự khách nhau của ảnh với từng độ nhạy sáng 30

Hình 26 Độ nhiễu (hay sạn) của bức ảnh với thông số ISO khác nhau 31

Hình 27 Mối liên hệ giữa các thông số kỹ thuật về ánh sáng 33

Hình 28 Ảnh JPEG 33

Hình 29 ảnh Hồ thu 34

Hình 30 Ảnh Raw và JPEG 35

Hình 31 Bước sóng 37

Hình 32 Các chế độ cân bằng trắng 39

Hình 33 Tiêu cự F 42

Hình 34 Ống kính tiêu cự trung bình 43

Hình 35 Ống kính mắt cá (Fish-Eye) và hiệu ứng mắt cá 44

Hình 36 Ống kính Tele 45

Hình 37 Ống kính có tiêu cự thay đổi 45

Hình 38 Với các ống tiêu cự dài, việc trang bị chân máy để hạn chế rung là rất cần thiết 47

Hình 39 ống nikon 50mmf1.4 48

Hình 40 Xích độ 49

Hình 41 Khẩu độ thay đổi DOF của ảnh 50

Hình 42 Tiêu cự ảnh hưởng tới DOF 51

Hình 43 Yếu tố xích độ 52

Hình 44 Flash loại nhỏ 53

Hình 45 Flash cao cấp 54

Hình 46 Flash vòng chuyên cho Macro 55

PTIT

Trang 6

Hình 47 Đèn cho studio 56

Hình 48 Tấm hắt sáng 56

Hình 49 Pocket tripod 57

Hình 50 Tabletop tripod 58

Hình 51 Portable tripod 58

Hình 52 Medium duty tripod 59

Hình 53 Báng pin 60

Hình 54 Bố cục cân đối theo đường thẳng đứng 62

Hình 55 bố cục cân đối theo đường nằm ngang 63

Hình 56 bố cục cân đối theo đường chéo 63

Hình 57 bố cục cân đối theo đường cong 64

Hình 58 Vùng mạnh 66

Hình 59 Vùng tựa 67

Hình 60 bố cục hỗn hợp sự hài hòa của ½ và 1/3 68

Hình 61 bố cục phá cách, không theo khuôn khổ cụ thể nào 69

Hình 62 không gian ảnh rộng với tiêu cự của ống mắt cá 70

Hình 63 Góc chụp từ dưới lên tạo cảm giac cao vút và thẳng đứng 70

Hình 64 Góc chụp từ trên xuống, hiện thị các chi tiết rõ ràng 71

Hình 65 thiên nhiên Pù Luông - Thanh Hóa, áp dụng hiệu ứng “gần đậm, xa nhạt” tạo ảnh có chiều sâu 71

Hình 66 Ảnh với nhiều màu xanh tạo cảm giác rộng rãi và thoáng đạt 72

Hình 67 Ảnh với nhiều màu nóng (nâu, đỏ) tạo cảm giác ấm cúng nhưng chật hẹp 72

Hình 68 Ảnh với nhiều màu sáng (xanh, xanh lơ) tạo cảm giác thoáng mát và rộng rãi 73

Hình 69 Ánh sáng tự nhiên 74

Hình 70 Hiệu ứng của ánh sáng 75

Hình 71 ánh sáng tạt ngang 76

Hình 72 đường ziczac 80

Hình 73 đường cong hội tụ 80

PTIT

Trang 7

1 CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ NHIẾP ẢNH

1.1 Lịch sử Nhiếp ảnh:

1.1.1 Lịch sử ra đời:

Trước Công nguyên người Trung Quốc và Hy Lạp đã khám phá nguyên tắc cơ bản vềquang học và kỹ thuật ghi nhận hình ảnh Tiếp sau đó, giữa thế kỷ thứ XV nhà danh họaLeonard de Vinci đã ứng dụng nguyên tắc “hộp tối” (có tên gọi “camera obscura box”) đểghi nhận hình ảnh trong quá trình thực hiện những bức tranh của ông thay cho việc phácthảo Sau đó, nhiều nhà khoa học đã ứng dụng thêm những phản ứng quang hóa trong việclưu lại những hình ảnh trên bề mặt kim loại hoặc kính và về sau là phim nhựa và giấy ảnh

Hình 1 Nguyên tắc hộp tối (“Camera obscura box”)

Khi du nhập vào Việt Nam bởi quan sứ thần Đặng Huy Trứ (1903), công nghệ ghihình có tên Photography (theo tiếng Hy Lạp, Photo có nghĩa là vẽ, Graphy có nhĩa là ánhsáng) được dịch là Nhiếp ảnh, chữ “Nhiếp” theo từ Hán Việt nghĩa là “thay thế”, như vậynhiếp ảnh ban đầu chỉ được hiểu theo đặc tính ghi nhận sự việc thay thế bằng bức ảnh.Chiếc máy ảnh thời kỳ đó được sử dụng như một phương tiện kỹ thuật sao chép

Năm 1952, lần đầu tiên, 21 nhà nhiếp ảnh Việt Nam gồm có: Trịnh Văn Bách, Phạm NgọcChất, Nguyễn Văn Chiêm, Đỗ Văn Cương, Nguyễn Cao Đàm, Nguyễn Lê Giang, NguyễnĐạo Hoan, Nguyễn Đức Hồng, Đỗ Huân…triển lãm hơn 100 tác phẩm nhiếp ảnh nghệthuật tại Nhà Hát Lớn Hà Nội với tựa đề: “Triển lãm ảnh Mỹ thuật 1952” Cuộc triển lãmnày là mốc khởi đầu quan trọng của Nhiếp ảnh nghệ thuật Việt Nam

PTIT

Trang 8

Hình 2 Triển lãm ảnh Nghệ thuật 1952

Cùng với thời gian, nhiếp ảnh đã được ứng dụng vào nhiều lĩnh vực của đời sống.Trong khi tính chân thực được tôn vinh trong ảnh báo chí, ảnh tài liệu, thì bên cạnh đó,nhu cầu khám phá cái đẹp vốn dĩ là một thiên hướng của con người Khi những hiệu ứng

về nguồn sáng, ánh sáng được khai thác khi chụp ảnh, những tiến bộ quang học được ứngdụng để sản xuất ống kính với nhiều tiêu cự khác nhau, thì các nhà mỹ học đã hiểu ra rằngchiếc máy ảnh là phương tiện tuyệt với để thể hiện những rung cảm, những “ngôn ngữtâm hồn” thông qua nghệ thuật tạo hình, khai thác ánh sáng để hình thành một môn nghệthuật mới mẻ nhưng vô cùng hấp dẫn, đó là nghệ thuật nhiếp ảnh

PTIT

Trang 9

Hình 3 Bức ảnh đầu tiên Joseph Niepce chụp năm 1826

Hình 4: Ảnh cụ Phan Thanh Giản chụp tại Paris, người Việt Nam đầu tiên chụp ảnh 1863

Một số máy ảnh tiêu biểu qua các thời kỳ:

PTIT

Trang 10

PTIT

Trang 12

1.1.2 Vai trò Nhiếp ảnh trong đời sống xã hội:

Trong các bộ môn nghệ thuật, nghệ thuật Nhiếp ảnh là bộ môn nghệ thuật có sự gắn

bó gần gũi với chu kỳ sống của chúng ta nhất

Mỗi con người chúng ta đều trải qua những thời kỳ thay đổi đáng nhớ Những hìnhảnh từ tuổi bé thơ, những nụ cười như thiên thần trong chiếc nôi ấm áp, rồi qua nhữngngày chập chững biết bò và biết đi…, tiếp tục những hình ảnh lớn hơn: ngày bé được tặngphiếu bé ngoan, hồi hộp và tự hào trong lễ tốt nghiệp, những đôi lứa bên nhau trong thờigian hò hẹn, ngày hai họ kết thân cho cặp uyên ương…, ngày từ giã cõi đời v.v…Khôngchỉ dừng lại đó, những hình ảnh được chụp trong gia đình, trong ngày lễ tết Thêm nữa,những ảnh chụp còn phục vụ nghiên cứu khoa học kỹ thuật, ảnh tư liệu lịch sử v.v…Tất

cả những điều đó, nó đã khẳng định nhiếp ảnh là một phần tất yếu của cuộc sống

“Trăm nghe không bằng một thấy”, với sự bùng nổ của Công nghệ Thông tin Nhữngthiết bị máy ảnh ngày càng phát triển Nó giúp con người càng tiếp cận với nhiếp ảnh dễdàng hơn và nó trở thành một nhu cầu của đông đảo các tầng lớp xã hội hôm nay

Với mục đích ghi nhận và lưu giữ hình ảnh, từ thời tiền sử, con người đã có nhu cầu ghilại tất cả những hình ảnh họ thấy được trong sinh hoạt, trước thiên nhiên Họ hiểu đượcnhững hình ảnh đó có giá trị rất quan trọng trong việc truyền đạt lại thông tin từ thế hệ nàyqua thế hệ khác Ví dụ như những bức họa khắc trên đá, giờ trở thành vật vô giá của nhânloại

Hình 5 Những bức họa được khắc trên đá

PTIT

Trang 13

Hình 6 Tranh vẽ ngựa được khắc trên đá

Từ những nhu cầu lưu giữ đơn thuần đó, trong quá trình con người phát triển và hoànthiện, các ngành mỹ thuật đã ra đời, có thể kể đến như: cùng với nền văn minh vổ Hy Lạp

đã có những ngành điêu khắc và hội họa phát triển đồng thời Qua đó, con người khôngchỉ dừng lại ở những nhu cầu lưu giữ hình ảnh mà còn phác họa lên những ý tưởng, suynghĩ và ước mơ của mình

Hình 7 Raffaello Santi (1483 - 1520)

PTIT

Trang 14

Có thể kể đến như:

 Ảnh chân dung

o Ảnh kỷ niệm để lưu lại nhưng kỷ niệm đẹp những khoảnh khắc của con người;

o Ảnh đặc tả để lột tả sâu được những suy nghĩ cảm xúc bên trong tâm hồn conngười;

 Ảnh báo chí để thể hiện tính chân thực và thời sự của sự việc;

 Ảnh đời thường mô tả những khoảnh khắc bình dị của con người của xã hội;

 Ảnh phong cảnh thể hiện nét đẹp sự hùng vĩ của tạo hóa thiên nhiên;

 Ảnh sản phẩm mô tả những đường nét chi tiết của vật;

 Ảnh kiến trúc mô tả những hình khối, ý nghĩa và vẻ đẹp của công trình…

PTIT

Trang 15

Hình 9 Ảnh chân dung kỷ niệm

Hình 10 Chân dung đặc tả

PTIT

Trang 16

Hình 11 Ảnh báo chí

Hình 12 Ảnh đời thường

PTIT

Trang 17

Hình 13 Ảnh phong cảnh

Hình 14 Ảnh kiến trúc

PTIT

Trang 18

Hình 15 Ảnh sản phẩm

Hình 16 Ảnh nội thất

PTIT

Trang 19

1.3 Xu hướng phát triển của Nhiếp ảnh

Đối với Nhiếp ảnh hiện tại, dựa trên nền tảng công nghệ phát triển nhanh chóng, Nhiếpảnh cũng có sự thay đổi về cách nhìn Có thể kể đến những công nghệ về thiết bị về kỹ thuậtchụp như máy ảnh chụp trước lấy nét sau Lytro, Raytrix; hay những công nghệ áp dụng trí tuệnhân tạo để tạo ra những bức ảnh phù hợp với từng nhu cầu người dùng; hoặc không thểkhông kể đến những ứng dụng chụp đa dạng như panorama, HDR…

Với nhu cầu tiện lợi, nhanh chóng nhưng vẫn đảm bảo được chất lượng bức ảnh, nhiếpảnh di động ra đời, đó là những chiếc điện thoại thông minh có thể mang trong mình đầy đủnhững tính năng mà những máy ảnh chuyên nghiệp có thể mang lại, như timelapse, HDR, xóaphông…

Xu hướng nhiếp ảnh hiện đã tiếp cận gần hơn với mọi người, từ trẻ em, những người mớibắt đầu chụp ảnh cho tới những nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp đã đưa ra những yêu cầu đặc thùcho xu hướng nhiếp ảnh hiện tại

Những trào lưu chụp hình với các kỹ thuật khác nhau, góc nhìn hoặc một số máy móc đãtrở thành xu hướng trên thế giới Với tính tương tác cao và sự bùng nổ về chia sẻ, các xuhướng này nhanh chóng lan rộng Ở đây tác giả chỉ đề cập đến một số xu hướng nhiếp ảnhtoàn cầu phổ biến cho cả nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp và nghiệp dư

Với điện thoại di động và điện thoại thông minh hiện đại có vẻ như là máy ảnh DSLRđang chết Điện thoại thông minh của chúng tôi không chỉ là điện thoại thông thường Chúng

mở ra toàn bộ thế thế giới trước mặt bạn, để bạn có thể dễ dàng thực hiện các cuộc gọi điệnthoại, gửi tin nhắn, trình duyệt Internet, mua hàng và trả tiền, chơi trò chơi, đọc sách và chụpảnh Có rất nhiều điện thoại chụp ảnh với vĩ mô, mắt cá, góc rộng và ống kính tele chụp rộng

Họ cũng cho phép điều chỉnh khẩu độ, tương phản, độ sáng, ISO và vô số những thứ khác.Một số điện thoại thậm chí có thể cạnh tranh với các máy ảnh phổ biến trong tính di động,tiện lợi và chất lượng hình ảnh Trong năm 2006, một nửa điện thoại trên thế giới đã có máychụp hình bên trong và đó là thời kỳ bùng nổ của phoneography Từ thời điểm đó đến nayđiện thoại chụp ảnh trở nên nhiều hơn và tinh tế hơn

HDR là viết tắt của cụm từ High Dynamic Range Trong nhiếp ảnh thì Dynamic Rangechỉ dải tương phản động nên ta có thể hiểu từ HDR là dải tương phản động mở rộng Và ýnghĩa của nó là máy ảnh có trang bị HDR có thể chụp được bối cảnh tương phản lớn mà vẫngiữ được chi tiết HDR là một loại hình nhiếp ảnh mà bất cứ ai cũng có thể thực hiện Nókhông đòi hỏi có thiết bị cụ thể (trừ phần mềm chỉnh sửa ảnh) và đó là lý do tại sao loại hìnhnày trở nên rất hấp dẫn dành cho các nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp và nghiệp dư Một số máyảnh có sẵn chế độ xây dựng trong HDR chế độ điều chỉnh tỷ lệ tương phản và tạo ra các cảnh

PTIT

Trang 20

không thực tế Đó là cách nhanh nhất và dễ nhất để tạo ra một hình ảnh HDR Phần lớn cácnhiếp ảnh gia thích để có 3 bức ảnh với tốc độ màn trập khác nhau và sau đó kết hợp chúngbằng cách sử dụng một phần mềm chỉnh sửa ảnh Có rất nhiều phần hướng dẫn về HDRhướng dẫn trên mạng, vì thế mọi người có thể tìm thấy một cái gì đó theo ý thích của mìnhPanotography còn được gọi là chụp ảnh toàn cảnh, nhiếp ảnh 360-độ và nhiếp ảnh địnhdạng rộng Nó không phải là một xu hướng hiện đại mới Nhiếp ảnh gia sử dụng kỹ thuật này

từ giữa thế kỷ 19 Nhưng ngày nay nó trở nên phổ biến hơn cho ngành công nghiệp du lịchphát triển cao Panotography cho phép để giới thiệu một cảnh quan trong một góc giống nhưmột vùng mắt người nhìn Chủ nghĩa hiện thực này tạo ra một ấn tượng không thể nào quên

Câu hỏi ôn tập Chương 1

 Nguồn gốc đầu tiên của Nhiếp ảnh ảnh bắt nguồn từ đâu?

 Thời kỳ nào, Nhiếp ảnh được coi là bắt đầu có sự phát triển vượt bậc?

 Tại sao lại nói Trung Quốc là cái nôi của Nhiếp ảnh?

 Xu hướng của Nhiếp ảnh ngày nay là gì?

PTIT

Trang 21

2 CHƯƠNG 2: CẤU TẠO VÀ CHỨC NĂNG MÁY ẢNH

2.1 Nguyên lý quang học:

2.1.1 Nguyên lý buồng tối:

Theo tài liệu của nghệ sỹ nhiếp ảnh Bùi Minh Sơn, có đề cập tới nguyên lý hộp tối như sau:

 Trong môi trường không khí đồng nhất, ánh sáng sẽ truyền theo một đường thẳng

 Một vật thể được nhìn thấy khi nó phát ra ánh sáng hoặc phản chiếu ánh sáng từ mộthay những nguồn sáng chiếu lên nó

Hình 17 Nguyên lý hộp đen: Ánh sáng trong môi trường đồng nhất đi từ điểm A tới B theo 1 đường

thẳng, chủ thể bị xoay ngược trong lớp kính mờ bên trong hộp đen

PTIT

Trang 22

Và cách ghi hình ảnh sử dụng hộp đen như sau:

 Hộp đen là một chiếc hộp được thiết kế như một hình lập phương kín, một bề mặt đục

lỗ tròn nhỏ và mặt đối diện được dán một lớp giấy kính mờ hoặc gắn một miếng kínhđục Khi ánh sáng đi từ chủ thể sẽ chui qua lỗ tròn và ảnh của chủ thể sẽ hiện trên kính

mờ của mặt đối diện

Hình 18 Tạo một chiếc hộp đen

2.1.2 Cấu tạo một máy ảnh đơn giản:

Những chiếc máy ảnh từ phổ thông cho tới chuyên nghiệp hiện nay đều được cấu tạo

từ một nguyên lý cơ bản, đó là nguyên lý hộp tối Như đã giới thiệu ở chương 1 về lịch sử củanhiếp ảnh, từ xa xưa con người đã biết sử dụng nguyên lý hộp tối để tạo ra những hình dáng

và sự phản chiếu của chủ thể Về sau, con người đã biết cách hoàn thiện những bức ảnh phảnchiếu một cách chi tiết hơn bằng cách bổ sung vào hộp tối bằng những thấu kính có chấtlượng quang học tốt Nhờ đó, chi tiết và màu sắc của ảnh được thể hiện rõ nét và thật nhất.Dựa trên những nguyên lý hộp đen, thì ta có thể hiểu được cấu tạo cơ bản của một chiếc máy ảnh đơn giản bao gồm những thứ sau:

 Thấu kính hội tụ giúp cho phản chiếu hình ảnh được thật và sắc nét nhất

PTIT

Trang 23

 Cửa điều sáng (còn gọi là khẩu độ) để điều chỉnh ánh sáng của chủ thể

 Mặt kính nhận hình ảnh để có thể nhận ảnh phản chiếu

 Và không thể thiếu là một chiếc hộp tối

Hình 19 Cấu tạo máy ảnh đơn giản

PTIT

Trang 24

2.2 Thành phần cơ bản của máy ảnh:

Máy ảnh kỹ thuật số (KTS) là một phương tiện ghi hình hiện đại được dựa trên nhữngnguyên tắc cơ bản của máy ảnh chụp phim truyền thống Điều khác biệt giữa máy ảnh chụpphim và máy KTS đó là máy ảnh KTS không dùng phim để lưu giữ và ghi nhận hình ảnh mà

sử dụng phương tiện vi điện tử hoạt động theo cơ chế tổ hợp những tế bào quang điện hay còngọi là cảm biến (sensor) Bộ phận này ghi nhận hình ảnh qua ống kính chụp, sau đó số hóa các

dữ liệu hình ảnh và ghi vào trong thẻ nhớ dưới các dạng file ảnh

Tương tự như máy phim, thì độ nhạy sáng của bộ cảm biến cũng tương tự như độ nhạy sángcủa phim nhựa Nhưng máy KTS có cải tiến hơn đó là có thêm chế độ tự động cho ISO (máy

tự động nhận biết độ nhạy sáng cho từng môi trường ánh sáng), giúp thuận tiện cho ngườichụp Máy KTS được chia làm 2 loại, gần giống cách phân loại của máy ảnh chụp phim đó là:

- Loại máy có ống kính cố định gắn vào thân máy, tương đương với máy ảnh chụp phimngắm quan khung ngắm thẳng (những máy compact)

- Loại máy có ống kính tháo rời

Các cảm biến sử dụng phép đo đường chéo dưới dạng số thập phân và thường không chothông số kích thước cảm biến chính xác, đặc biệt làm máy ảnh compact Bạn có thể hiểu rõhơn điều này qua sơ đồ hiển thị kích thước tương đối của các loại cảm biến.PTIT

Trang 25

Hình 20 Kích thước tương đối của cảm biến nhỏ nhất được sử dụng trong loại máy compact

Có 2 loại cảm biến hình ảnh chính, đó là: CCD và CMOS Ngoại trừ những kỹ sư điện tửhoặc những người yêu thích kỹ thuật, CCD tồn tại trong tiềm thức của đông đảo người tiêudùng từ lúc chúng bắt đầu xuất hiện trên các "mét" giá và các trang quảng cáo mầu mè củacác siêu thị CMOS thì rất lâu sau đó, trong vòng 5 năm trở lại đây Không phải ai cũng biếtrằng CCD được sáng chế và đưa vào sử dụng từ đầu những năm 70 của thế kỷ trước CMOScòn sớm hơn thế nữa

CCD và CMOS là hai công nghệ khác nhau dùng trong các phần tử nhậy sáng được sửdụng trong các lĩnh vực xử lý hình ảnh như vô tuyến truyền hình, nhiếp ảnh số, các máy mócvăn phòng (scaners, copyers), thiên văn, hàng không vũ trụ, cũng như các ngành công nghiệpkhác

Cả CCD và CMOS đều thực hiện một nhiệm vụ giống nhau: biến các tín hiệu ánh sángthành các tín hiệu điện tử Sự khác nhau cơ bản của chúng (về nguyên lý hoạt động) nằm ởcách chuyển các tín hiệu điện tử đó ra khỏi phần tử nhạy sáng nhằm mục đích xử lý tiếp vàlưu trữ

 Bộ cảm biến CCD: (charge coupled device)

CCD là một mắt điện tử giao tiếp kết cấu và khối của đối tượng Nhìn chung, CCD cóđiểm ảnh hiệu quả cao hơn có thể cho ra hình ảnh phong phú hơn với chi tiết sắc nét Hệthống 3CCD sử dụng một lăng kính phân tách ánh sáng truyền qua thấu kính thành ba màu cơ

PTIT

Trang 26

bản (đỏ, xanh lá cây, xanh) và mỗi màu sẽ được truyền tới CCD của thiết bị Nhờ đặc điểmnày, hệ thống 3CCD tái tạo màu có độ chính xác cao.

 Bộ cảm biến CMOS: (complementary metal oxide semiconductor)

So với CCD, bộ cảm biến CMOS cho phép đọc nhanh hơn lượng thông tin điểm ảnh lớnhơn khi sử dụng đầu ra đa kênh và đọc ra bổ sung Ngoài ra, đặc điểm cấu trúc của bộ cảmbiến CMOS tạo ra các hình ảnh không nhòe và cho phép chuyển đổi điện tích thành tín hiệuđiện tử và tiêu thụ điện ít hơn

Bộ cảm biến CMOS của Sony, kết hợp với mạch xử lý tín hiệu đã thiết kế ban đầu của Sony,Enhanced Imaging Processor (Bộ Xử Lý Tạo Ảnh Tăng Cường) (EIP), có các ưu điểm phạm

vi động lớn hơn, độ nhạy cao hơn, độ nhiễu thấp, đọc tốc độ cao, và tiêu thụ điện thấp Bộcảm biến CMOS giảm thiểu ép đen hoặc bật hơi và cho hình ảnh có sự phân cấp phong phú

Hình 21 Cảm biến ảnh của Sony đang được sử dụng trong nhiều thiết bị số cao cấp.

PTIT

Trang 27

Hình 22 Cảm biến CMOS Exmor full-frame 24.3MP của Sony A99.

Từ đặc điểm của 2 loại cảm biến, các nhà sản xuất máy ảnh cũng đã sản xuất ra 2 dòng máy tương ứng đó là full frame và crop Những đặc điểm của 2 dòng máy này như sau:

- Fullframe và Crop cơ bản dựa trên khổ phim cỡ 35mm và APS-C trước kia, với diệntích bắt sáng của FF lớn hơn nhiều so với crop

- Fullframe nhìn chung sẽ cho hình ít nhiễu hơn, thị trường rộng hơn và vì có khả năng

di chuyển lại gần chủ thể hơn nên DoF mỏng hơn

- Crop nhìn chung là rẻ hơn nhiều, gọn nhẹ hơn, nếu tương tự số megapixel thì sẽ

"lợi" hơn về hệ số tiêu cự, có cảm giác phóng lớn hơn (tiêu cự thực sự vẫn vậy, chỉ

Trang 28

2.2.2 2 Điểm ảnh:

Cảm biến được "đóng gói" với số điểm ảnh cho biết số lượng ánh sáng chiếu vào mộtphần của tấm silicon Nói cách khác, số lượng và mức độ của điểm ảnh trên cảm biến ảnhhưởng tới độ phân giải của hình ảnh được chụp

Mỗi thấu kính rất nhỏ nằm ở trên mỗi điểm ảnh có chức năng hội tụ các tia sáng từ ốngkính máy ảnh đến các điểm ảnh

Mỗi điểm ảnh lại tạo ra một tín hiệu điện rất nhỏ khi bị ánh sáng chiếu vào, sau đó đượckhuếch đại và trở thành một tín hiệu kĩ thuật số sử dụng cùng với các tín hiệu từ tất cả cácđiểm ảnh khác nhau để tạo ra một hình ảnh Đó là nguyên tắc tương tự việc thu thập ánh sáng và

tế bào hình nón có trong võng mạc của mắt người

Hình 23 Điểm ảnh trên cảm biếnPTIT

Trang 29

2.2.3 3 Độ phân giải:

Độ phân giải của máy chụp ảnh số thường được quyết định bởi bộ cảm biến, đó là phầnđổi ánh sáng thành những tín hiệu rời rạc Bộ cảm biến gồm hàng triệu lỗ nhỏ Những lỗ nhỏnày phản ứng với một màu ánh sáng tùy theo kính lọc màu của nó Mỗi lỗ đó gọi là một pixel.Chúng được sắp xếp xen vào nhau sao cho ba chấm màu RGB - Red, Green, Blue (đỏ-lục-lam) ghép lại thành một chấm có đủ màu

Một thuộc tính quan trọng của máy chụp ảnh số là số pixel của nó, tính theo hàng triệugọi là megapixel Nhưng số pixel không chưa đủ quyết định độ phân giải thật của ảnh Cònphải xét đến kích thước của bộ cảm biến, chất lượng của ống kính, và cách sắp xếp các pixel.Nhiều máy chụp ảnh số gọn có số pixel rất lớn nhưng kích thước bộ cảm biến lại nhỏ nên kíchthước của mỗi pixel quá nhỏ, nhỏ hơn khả năng ống kính có thể phân biệt được, như vậy thì

độ nét của ảnh không thật sự bằng số pixel đó

Quá nhiều pixel có khi còn làm giảm chất lượng của ảnh theo một cách khác Do pixelquá nhỏ, nó nhận được quá ít ánh sáng nên tín hiệu nó sinh ra quá yếu dễ bị lẫn với nhiễu củamạch điện tử Kết quả là bức ảnh không rõ, nhất là ở những vùng chuyển màu

Khi công nghệ càng tiến bộ, giá thành càng giảm đi nhiều Người ta tính số pixel trênmỗi đô-la như một trong các chỉ số của máy chụp ảnh số

Thường thông số của độ phân giải hiện ngay trên thân máy KTS, ví dụ: Máy nikon D80

có độ phân giải 10.2 megapixel…

Hình 24 Độ phân giải ghi trên thân máy Samsung

PTIT

Trang 30

2.2.4 4 Độ nhạy sáng ISO:

ISO là viết tắt của cụm từ International Standards Organization (Tổ chức Tiêu chuẩnQuốc tế), một cơ quan của Châu Âu chuyên ban hành các tiêu chuẩn cho nhiều loại sản phẩmkhác nhau Sở dĩ dùng tên gọi này là vì các nhiếp ảnh gia và hãng sản xuất muốn có một têngọi chuẩn mực cho giá trị độ nhạy trên tất cả các dòng máy ảnh Trước đây, ISO còn đượcbiết đến dưới tên gọi ASA (American Standards Association) – Hiệp hội tiêu chuẩn Hoa Kỳ.Những người mê máy ảnh chụp phim chắc hẳn vẫn còn nhớ những loại phim ASA 50, 100,

200, 800, và 1600

Hình 25 Sự khách nhau của ảnh với từng độ nhạy sáng

ISO cùng với tốc độ màn trập và khẩu độ là ba giá trị thông số quan trọng nhất quyếtđịnh đến kết quả phơi sáng và chất lượng của một tấm hình Ngày nay, dải ISO thường daođộng trong khoảng 25 cho tới 6400 (và còn hơn thế nữa) trên các dòng máy ảnh phổ thông.Giá trị này càng thấp thì phim hoặc cảm biến càng ít nhạy với ánh sáng và ngược lại Điềunày có nghĩa, ISO thấp thường được dùng trong điều kiện sáng mạnh, hoặc khi phơi sáng, cònISO cao dùng khi chụp thiếu sáng hoặc tốc độ cao

Với ảnh phim, nếu là loại có ISO thấp, sau khi chụp xong, ngay khi soi dưới ánh sángbạn đã có thể thấy phim rất mịn, và lúc in ảnh ra cũng vậy Nhưng với loại ISO cao thì khác,các hạt sạn lấm tấm có thể thấy rõ bằng mắt thường dù là trên phim hay khi ảnh ra Với máy

PTIT

Trang 31

ảnh số, nguyên lý cũng tương tự Khi đủ sáng, độ nhạy ISO thấp, cảm biến máy ảnh khôngcần làm việc nhiều, do đó ảnh rất mịn Ngược lại, khi không đủ sáng vào cảm biến, bộ phậnnày phải làm việc nhiều hơn để dựng lên một bức ảnh đầy đủ chi tiết, do đó sẽ xuất hiệnnhững hạt sạn “kỹ thuật số” Vậy khái niệm sạn “số” này là gì?

Cảm biến trong máy ảnh số sẽ tiếp nhận ánh sáng đi qua từ thấu kính và tái tạo chúngthành file ảnh Trước tiên, ánh sáng sau khi qua ống kính sẽ tới màng lọc màu, hiện nay đaphần máy ảnh sử dụng màng lọc theo kiểu Bayer với 3 màu cơ bản là đỏ, lục, và lam Mỗisensor gồm hàng triệu các ô nhỏ (pixel), mỗi ô của Sensor phát ra lượng điện được nạp tươngứng với phần ánh sáng đập vào (thực chất là các lượng tử ánh sáng – photon) Tùy vào sốlượng photon ánh sáng tới từng ô mà máy sẽ phân tích đưa ra số liệu về màu sắc của từng ô.Tất cả chúng tạo thành một ma trận điểm ảnh, vi xử lý của máy sẽ có nhiệm vụ chuyển đổicác tín hiệu điện thu nhận được này thành một file ảnh và ghi vào thẻ nhớ Khi lượng ánhsáng đến cảm biến là quá nhỏ, không đủ để tạo thành các dòng tín hiệu điện, tức là có nhiều ôkhông nhận được photon ánh sáng, chúng sẽ không có màu sắc riêng biệt, mà chỉ là các chấmđen li ti, mà ta gọi là sạn Lúc này vi xử lý hình ảnh phải dựa vào dữ liệu từ những điểm ảnhgần nhất để nội suy ra giá trị của ô đó, cho nên màu có vẻ hơi khác so với thực tế

Hình 26 Độ nhiễu (hay sạn) của bức ảnh với thông số ISO khác nhau

Ngày nay, đa phần các hãng máy ảnh đều chế tạo cảm biến có thể làm việc tốt nhất ởmức ISO thấp, thường là 100, với các máy DSLR cao cấp thì là 25 hoặc 50 Tuy độ sạn

PTIT

Trang 32

thường khiến chúng ta khó chịu, nhưng khá nhiều người lại thích yếu tố này, thậm chí cònphải dùng phần mềm hiệu chỉnh để tạo ra chúng, đơn giản vì sạn cũng khiến ảnh có chút gì đótâm trạng và xưa cũ hơn.

Giá trị ISO càng thấp đồng nghĩa với ảnh càng nét, mịn, và độ chính xác màu sắc càngcao, tất nhiên điều này đòi hỏi phải có nguồn sáng đủ mạnh Tuy nhiên, không phải lúc nàocũng gặp được điều kiện thuận lợi như thế Ta vẫn thường xuyên phải chụp trong môi trườngthiếu sáng, hoặc chụp những chuyển động nhanh của xe cộ hay động vật Những tình huống

đó, đương nhiên tăng ISO để có một bức ảnh sáng sủa, hoặc để giảm thời gian đóng màn trập

là điều cần thiết Nói cách khác, ISO cao sẽ giúp loại bỏ được những chuyển động nhanh bịnhòe Nếu bạn muốn tận dụng hiệu ứng mờ, nhòe để nhấn mạnh một chuyển động nào đó thìđơn giản là giảm ISO xuống, thời gian đóng màn trập sẽ tự động tăng lên, và bạn sẽ có mộttấm hình như ý

Mối quan hệ giữa các thông số như: ISO, tốc độ và khẩu độ có thể hiểu bằng hình như bêndưới:

PTIT

Trang 33

JPEG (Joint Picture Experts Group)

Hình 28 Ảnh JPEG

PTIT

Trang 34

Là những file ảnh nén được ứng dụng rất rộng rãi và có hiệu quả với các loại máy ảnh

số compact (máy ảnh gọn nhẹ, máy du lịch) vì các file ảnh này nhỏ và không đòi hỏi chấtlượng ảnh quá cao Các tệp ảnh ở dạng JPEG (có đuôi là jpg), có thể mở được với hầu hết cácphần mềm xem và xử lý ảnh Với chế độ nén trung bình, các tệp ảnh này vẫn cho những bứcảnh chất lượng khác tốt Hầu hết các loại máy ảnh số đều cho phép lưu ảnh ở định dạngJPEG, thậm chí nhiều máy ảnh nghiệp dư chỉ có định dạng này mà thôi Không có định dạngnào thích hợp và tiện dụng như JPEG vì nó phù hợp với việc chụp nhiều ảnh, ảnh du lịch, sinhhoạt gia đình, hay ta thường gọi là ảnh dịch vụ Ngoài ra, với định dạng JPEG, việc gửi ảnhqua thư điện tử hay đưa ảnh lên mạng trở nên dễ dàng hơn Với người cầm máy sáng tác,JPEG cũng là định dạng được khuyên nên dùng vì nó giúp máy xử lý nhanh, tốn ít chỗ và nếubiết cách xử lý trên vi tính thì chất lượng ảnh cũng dễ đạt yêu cầu cho triển lãm hoặc dự thi.Trong lĩnh vực đồ họa, JPEG không thích hợp lắm vì file ảnh bị nén, những đườngthẳng, đặc biệt là những đường viền dễ bị nhòe, nghĩa là xuất hiện lỗi, làm giảm đáng kể chấtlượng của bản vẽ

Về mặt bản chất, mỗi lần nén JPEG sẽ dấn đến sự hao hụt về thông tin Nếu ta mở mộtfile ảnh JPEG để xử lý, rồi tiếp tục lưu lại file, ảnh sẽ được nén lần thứ hai Nhắc đi nhắc lạivài lần như thế, chất lượng ảnh sẽ giảm một cách đáng kể Đó là một việc không nên làm.Khi chụp ảnh với định dạng JPEG, người ta còn có thể đặt ở nhiều mức độ nén khác nhau Độnén càng cao bao nhiêu, file càng nhỏ bấy nhiêu (càng ít tốn chỗ) và tất nhiên chất lượng cànggiảm và chỉ in ra được những bức ảnh nhỏ bấy nhiêu Ngược lại, độ nén càng thấp, file ảnhcàng lớn, in ra được ảnh to hơn Ví dụ, với máy có 5 triệu điểm ảnh chưa nén có khoảng 15

MB, nén ở mức độ trung bình còn 1,5 MB, vẫn còn có thể in được ảnh thông thường 10 x 15

cm với chất lượng khá tốt Mức nén của JPEG cho chất lượng tốt nhất thường được biểu thịbằng "superfine", thấp hơn là "fine", mức trung bình là "normal" hoặc "standard"

TIFF (Tagged Image File Format)

Hình 29 ảnh Hồ thu.

PTIT

Trang 35

Một số máy ảnh kỹ thuật số loại đắt tiền, cho phép chụp ảnh với định dạng TIFF (cóđuôi file là tif), cho ta nhiều thông tin về ảnh hơn JPEG Hiện nay người ta chỉ ứng dụng địnhdạng TIFF không nén Định dạng TIFF có thể biểu thị được độ sau màu lớn hơn JPEG, nó hỗtrợ đến 48 bit màu, nghĩa là mỗi kênh màu 16 bit (trong không gian RGB) Vì thế, định dạngTIFF có thể tái hiện đến 281 triệu giá trị màu sắc Song hầu hết các máy ảnh kỹ thuật số chỉ

hỗ trợ đến 24 bit màu, nghĩa là mỗi kênh màu cơ bản chỉ có 8 bit vì đa số các phần mềm xử lýảnh không hỗ trợ cao hơn Do các file TIFF không nén nên mỗi lần nhớ lại dưới dạng địnhdạng này (trong quá trình chỉnh sửa), lượng thông tin hầy như không thay đổi, chất lượng ảnhkhông bị suy giảm

Định dạng TIFF có một nhược điểm đáng kể đó là trọng lượng tin học quá cao so vớiJPEG Ví dụ, chụp một bức ảnh với máy ảnh chuyên nghiệp có 8 triệu điểm ảnh, bằng địnhdạng JPEG ở mức độ nén ít nhất sẽ có file ảnh vào khoảng 5 MB, cũng file ảnh này ở địnhdạng TIFF là 23 MB Do vậy các quá trình từ chụp đến nạp vào card, chụp liên tục, xem lạiảnh sau khi chụp sẽ chậm nhiều so với chụp ở định dạng JPEG Vì thế, việc chụp ảnh ở địnhdạng TIFF là việc không nên làm

Trên thực tế, nếu chụp ảnh với định dạng JPEG ở mức độ nén ít nhất, về mặt chất lượng,cũng không thua kém TIFF là bao nhiêu và gần như ta không nhận biết được sự chênh lệchđó

RAW

PTIT

Trang 36

Hình 30 Ảnh Raw và JPEG

PTIT

Trang 37

Các máy ảnh chuyên nghiệp thường cho phép chụp ảnh với định dạng RAW Khôngphải máy sẽ chụp ra các file có đuôi là "raw" mà là RAW của máy, mỗi hãng sản xuất cho ramột loại file RAW khác nhau và từ đó cũng có đuôi khác nhau Ví dụ, RAW của Sony đuôi làSRF, của Kodak là DCR, Canon là CRW hoặc CR2, Minolta là MRW, Nikon là NEF và chỉ

có các phần mềm của hãng đó mới mở được file RAW của mình Không những thế, các hãngsản xuất lại hay thay đổi, cải tiến các file RAW của mình nên đôi khi các phần mềm cũ lại trởnên lỗi thời với các file RAW thế hệ mới của chính mình

Các file RAW chứa dữ liệu "thô" mà bộ cảm biến (CCD) và sau đó là bộ chuyển đổi(converter) từ analog sang digital đã thực hiện được, với toàn bộ số lượng thông tin về ảnh màống kính và máy có thể đạt được, và đương nhiên là không nén Mọi xử lý tín hiệu như cânbằng trắng, làm tăng độ nét, thay đổi độ tương phản hay cân bằng màu đều chỉ được thựchiện sau đó trên máy tính Nếu các dữ liệu này được chuyển sang định dạng JPEG hoặc TIFF

để có cân bằng trắng hoặc độ tương phản thích hợp thì sẽ dẫn đến sự hao hụt về dữ liệu so vớifile RAW trước đó

RAW có ưu điểm hơn TIFF ở chỗ cho chất lượng ảnh cao hơn vì nó có thể chuyển tảiđược toàn bộ thông tin về ảnh mà máy ảnh có thể thu nhận được và chiếm ít chỗ hơn do vấn

đề nội suy màu Mỗi bức ảnh trong môi trường màu RGB chứa đựng 3 giá trị màu sắc là đỏ,lục, lam Trong RAW, mỗi điểm ảnh chỉ biểu trưng cho một màu vì ở đây, bộ cảm biến CCDchỉ chuyển đổi được một màu cho mỗi điểm ảnh Hai màu còn lại sẽ được tính thêm bằngthuật toán, nghĩa là được nội suy (ngoại trừ bộ cảm biến Foveon CMOS của Sigma).Như vậy, định dạng RAW là định dạng tốt nhất cho việc xử lý ảnh sau chụp và là công cụ sắcbén cho các nhà nhiếp ảnh chuyên nghiệp có trình độ cao Nhưng vì RAW là một file ảnh thô,lại không được chuẩn hóa, mỗi nhà sản xuất có một loại RAW khác nhau, nên nó mang lạikhá nhiều phiền phức cho người sử dụng và không phải ai cũng nắm bắt được nó một cáchhoàn hảo Mặt khác, tuy nhỏ hơn file TIFF, nhưng để lưu trữ, file RAW cũng còn rất lớn Vídụ: cùng một bức ảnh, JPEG ở mức nén trung bình là 3,5 MB; RAW sẽ là 17 MB và TIFF là

23 MB

2.2.6 6 Cân bằng trắng (White Balance):

Khi bộ cảm biến ghi nhận ánh sáng từ vật thể chụp, ánh sáng sẽ được xử lý thành 3 màu

đỏ, lam, lục, sau đó được phối hợp lại để có được màu của vật thể Do màu sắc chuẩn haykhông còn tùy thuộc vào màu của nguồn sáng, ví dụ: dưới ánh nắng mặt trời buổi trưa, nguồnsáng được xem là trắng; dưới đèn neon ánh sáng có màu xanh lá cây nhạt Do vậy, máy KTScần phải có bộ phận cân bằng trắng để hiệu chỉnh với mục đích cho ra một file ảnh đúng màu

PTIT

Trang 38

Tùy theo những tình trạng của nguồn sáng mà người chụp sẽ lựa chọn chế độ cân bằng trắngkhác nhau Một trong những khái niệm luôn gắn liền với cân bằng trắng đó là Nhiệt độ màu.Nhiệt độ màu mô tả quang phổ tương ứng với nhiệt độ bề mặt vật đen khi được phát ra từvật đen (là vật hấp thụ hoàn toàn tất cả các bức xạ điện từ chiếu đến nó, bất kể bước sóng nào.Điều này có nghĩa là sẽ không có hiện tượng phản xạ hay tán xạ trên vật đó, cũng như không

có ánh sáng đi xuyên qua vật) Trong cuộc sống hàng ngày ta có thể thấy một hiện tượngtương tự khi kim loại hay đá bị tăng nhiệt độ: người ta sẽ gọi là thép "nóng đỏ" ("red hot") khiđạt được một nhiệt độ nào đó, và sẽ trở thành "nóng trắng" ("white hot") khi nhiệt độ cònđược đưa lên cao hơn Mặc dù gọi là trắng nhưng ta cần phải hiểu là ánh sáng dù có vẻ là màutrắng vẫn có thể chứa một lượng màu sắc không đồng đều trên quang phổ

Hình 31 Bước sóng

5000 K (độ K - Kelvin) phát ra ánh sáng trung tính, trong khi 3000 K và 9000 K lần lượt phát

ra các quang phổ chuyển nhiều hơn về phía bước sóng da cam và xanh Các bước sóng ngắnhơn chứa ánh sáng có mức năng lượng cao hơn, và nhiệt độ tăng thì màu có chiều hướng

"lạnh" đi

Bảng sau có thể được coi là bản tra tương đối cho nhiệt độ màu của các nguồn sáng thườnggặp:

Ánh sáng ban ngày (trời quang, mặt trời cao) 6.500 K

Ánh sáng mặt trời (trung bình) 5.400 - 6.000 K

PTIT

Trang 39

Dưới đây là một số các thiết lập cân bằng trắng cơ bản, bạn sẽ tìm thấy trên máy ảnh:

 Auto - Thiết lập tự động, máy ảnh sẽ tự nhận biết và điều chỉnh cân bằng trắng tựđộng Bạn sẽ thấy nó hoạt động tốt trong nhiều tình huống, nhưng thỉnh thoảng sẽkhông đúng đối với các nguồn ánh sáng phức tạp hơn

 Tungsten/Incandescent - Thiết lập này thường có biểu tượng là một bóng đèn nhỏ vàđược dùng khi chụp trong nhà, đặc biệt là dưới ánh sáng của bóng đèn tròn (tungsten)

Nó thường làm lạnh các màu sắc trong ảnh

 Fluorescent - Ánh đèn huỳnh quang (Neon), chế độ này sẽ bù đắp cho ánh sáng 'mátmẻ' của đèn huỳnh quang và sẽ làm ấm dần lên bức ảnh của bạn

 Daylight/Sunny - Ánh sáng ban ngày/nắng, không phải tất cả máy ảnh náo cũng cóthiết lập này vì nó sẽ thiết lập cân bằng trắng theo ánh sáng bình thường

 Cloudy – Trời có mây, thiết lập này thường làm ấm hơn chế độ "ánh sáng ban ngày

 Flash - Đèn flash của máy ảnh có thể là một ánh sáng khá mát mẻ do đó, trong thiếtlập cân bằng sáng Flash, bạn thấy nó sẽ làm ấm lên bức ảnh của bạn

 Shade – Bóng râm, ánh sáng trong bóng râm mát hơn so với chụp trong ánh sáng mặttrời trực tiếp, thiết lập này sẽ làm ấm hình ảnh lên một chút

PTIT

Trang 40

Hình 32 Các chế độ cân bằng trắng

2.2.7 7 Các chế độ chụp ảnh trên thân máy thường gặp:

Hầu hết các máy ảnh số đều có nút chọn chế độ chụp và thường có dạng xoay tròn lần lượt với các chức năng sau:

 Auto: Chụp tự động hoàn toàn, tất cả các thông số đều do máy quyết định, các nútchức năng khác đều bị vô hiệu Chế độ này thích hợp với người mới sử dụng, chưanắm rõ các chức năng của máy

PTIT

Ngày đăng: 19/03/2021, 16:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w