1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện chế định về người thực hiện trợ giúp pháp lý ở việt nam hiện nay

126 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TGPL còn có những bất cập, hạn chế chủ yếu như: các quy định của pháp luật về người thực hiện TGPL còn thiếu tính thống nhất và đồng bộ, mức chi thù lao vụ việc TGPL cho đội ngũ cộng tác

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN HOÀNG ANH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và

đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Trần Văn Tùy

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH NGƯỜI THỰC HIỆN TRỢ GIÚP PHÁP LÝ Ở VIỆT NAM 8

1.1 Khái niệm, đặc điểm người thực hiện TGPL ở Việt Nam 8

1.1.1 Khái niệm người thực hiện TGPL ở Việt Nam 8

1.1.2 Đặc điểm người thực hiện TGPL ở Việt Nam 18

1.2 Khái niệm, đặc điểm và yêu cầu hoàn thiện chế định về người thực hiện TGPL ở Việt Nam 25

1.2.1 Khái niệm chế định về người thực hiện TGPL ở Việt Nam 25

1.2.2 Đặc điểm chế định về người thực hiện TGPL ở Việt Nam 27

1.2.3 Yêu cầu hoàn thiện chế định về người thực hiện TGPL ở Việt Nam 29

1.3 Tiêu chí hoàn thiện chế định về người thực hiện TGPL ở Việt Nam 30

1.3.1 Tiêu chí về mặt nội dung 31

1.3.2 Tiêu chí về mặt hình thức 31

1.3.3 Tiêu chí về tính minh bạch, hiệu quả và khả thi của chế định người thực hiện TGPL 33

1.4 Chế định về người thực hiện TGPL của một số nước trên thế giới 34

1.4.1 Chế định người thực hiện TGPL phân loại theo mô hình TGPL 35

1.4.2 Chế định người thực hiện TGPL theo pháp luật của một số nước trên thế giới 38

Trang 5

1.4.3 Một số đặc điểm chung của chế định người thực hiện TGPL theo

pháp luật của một số nước trên thế giới 42

Chương 2: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ THỰC TRẠNG CHẾ ĐỊNH VỀ NGƯỜI THỰC HIỆN TRỢ GIÚP PHÁP LÝ Ở VIỆT NAM 45

2.1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của chế định về người thực hiện TGPL ở Việt Nam 45

2.1.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1987 (trước khi ban hành Pháp lệnh Luật sư năm 1987) 45

2.1.2 Giai đoạn từ năm 1987 đến năm 1997 48

2.1.3 Giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2006 (trước khi Quốc hội khóa X thông qua Luật Luật sư và Luật TGPL) 49

2.1.4 Giai đoạn từ năm 2006 đến nay 52

2.2 Thực trạng chế định về người thực hiện TGPL ở Việt Nam hiện nay 58

2.2.1 Hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến người thực hiện TGPL hiện nay 58

2.2.2 Thực trạng các quy định của pháp luật về người thực hiện TGPL 60

2.3 Thực trạng thực hiện chế định về người thực hiện TGPL ở Việt Nam hiện nay 79

2.4 Đánh giá chung chế định về người thực hiện TGPL ở Việt Nam hiện nay 82

2.4.1 Những ưu điểm của chế định về người thực hiện TGPL 82

2.4.2 Những điểm hạn chế của chế định về người thực hiện TGPL 83

2.4.3 Nguyên nhân của ưu điểm và hạn chế 88

Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH VỀ NGƯỜI THỰC HIỆN TRỢ GIÚP PHÁP LÝ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 90

Trang 6

3.1 Quan điểm hoàn thiện chế định về người thực hiện TGPL ở

Việt Nam hiện nay 90

3.1.1 Hoàn thiện chế định về người thực hiện TGPL trên cơ sở thể chế

hóa chính sách của Đảng và Nhà nước về TGPL, góp phần cải cách hành chính, cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam 903.1.2 Hoàn thiện chế định về người thực hiện TGPL phải tạo môi

trường pháp lý xây dựng đội ngũ người thực hiện TGPL, đồng thời bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật Việt Nam, phục vụ cho hoạt động cải cách tư pháp ở Việt Nam 913.1.3 Hoàn thiện chế định về người thực hiện TGPL phải góp phần thực

hiện chính sách xã hội hóa hoạt động TGPL, huy động mọi nguồn lực xã hội tham gia thực hiện TGPL, đáp ứng nhu cầu TGPL của người được TGPL 923.1.4 Hoàn thiện chế định về người thực hiện TGPL phải bảo đảm

chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa, nâng cao trình độ, kỹ năng của đội ngũ người thực hiện TGPL nhằm bảo đảm chất lượng cung cấp dịch vụ TGPL, lấy người được TGPL làm trung tâm 943.1.5 Hoàn thiện chế định về người thực hiện TGPL phải bảo đảm

được tính kế thừa những quy định về người thực hiện TGPL đã được thực tiễn kiểm nghiệm trong thời gian qua, đồng thời tiếp thu có chọn lọc chế định về người thực hiện TGPL của các nước trên thế giới 95

3.2 Giải pháp hoàn thiện chế định về người thực hiện TGPL ở

Việt Nam hiện nay 97

3.2.1 Sửa đổi, bổ sung quy định về Trợ giúp viên pháp lý, chuyên viên

pháp lý theo hướng chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa, nâng cao trình độ, kỹ năng cho Trợ giúp viên pháp lý, chuyên viên pháp lý nhằm bảo đảm chất lượng cung cấp dịch vụ TGPL 97

Trang 7

3.2.2 Sửa đổi, bổ sung các quy định về luật sư và Tư vấn viên pháp

luật tham gia TGPL bảo đảm rõ ràng, minh bạch, đồng bộ với pháp luật về luật sư và tư vấn pháp luật 1013.2.3 Sửa đổi điều kiện, tiêu chuẩn Cộng tác viên TGPL 1023.2.4 Sửa đổi pháp luật có liên quan đến chế định về người thực hiện

TGPL bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật 1053.2.5 Xã hội hóa hoạt động TGPL, huy động mọi nguồn lực xã hội

tham gia thực hiện TGPL, đáp ứng nhu cầu TGPL của người được TGPL 106

KẾT LUẬN 110 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 112

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

TGPL: Trợ giúp pháp lý XHCN: Xã hội chủ nghĩa

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Từ sau Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI, cùng với việc đổi mới kinh tế, Đảng và Nhà nước ta chủ trương đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân

dân và vì Nhân dân nhằm “thực hiện tốt dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy

đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân”, “vì mục tiêu dân giầu, nước mạnh, xã

mục tiêu này, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm chỉ đạo:

Cần phải mở rộng loại hình tư vấn pháp luật phổ thông, đáp ứng nhu cầu rộng rãi, đa dạng của các tầng lớp nhân dân nhằm góp phần nâng cao ý thức pháp luật và ứng xử pháp luật của công dân trong quan hệ đời sống hàng ngày ; cần nghiên cứu lập hệ thống dịch vụ tư vấn pháp luật không lấy tiền để hướng dẫn nhân dân sống và làm việc theo pháp luật 72, tr.1; Tổ chức hình thức tư vấn pháp luật cho các cơ quan, tổ chức và nhân dân, tạo điều kiện cho người nghèo được hưởng dịch vụ tư vấn pháp luật miễn phí 36

Thể chế hoá chủ trương của Đảng, xuất phát từ chức năng xã hội của Nhà nước và nhu cầu hỗ trợ pháp luật của nhân dân trong cuộc sống, ngày 6/9/1997, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 734/TTg về việc thành lập tổ chức trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách Quyết định này là cơ sở pháp lý để hình thành hệ thống tổ chức và phát triển hoạt động trợ giúp pháp lý (TGPL) ở nước ta Theo đó, hệ thống TGPL đã được thành lập: ở Trung ương có Cục TGPL thuộc Bộ Tư pháp, ở mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có Trung tâm TGPL của nhà nước thuộc Sở

Tư pháp Cùng với quá trình vừa xây dựng thể chế, hình thành và phát triển tổ

Trang 10

chức, thì đội ngũ người thực hiện TGPL (bao gồm: Trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên của Trung tâm TGPL nhà nước, luật sư, Tư vấn viên pháp luật) cũng được hình thành Đội ngũ người thực hiện TGPL ngày càng phát triển cả

về số lượng và chất lượng, khi mới thành lập mỗi Trung tâm TGPL nhà nước chỉ có một vài người, cho đến trước khi Luật TGPL có hiệu lực thi hành (từ ngày 01/01/2007), chúng ta vẫn chưa có chức danh Trợ giúp viên pháp lý, nhưng sau 08 năm thi hành Luật TGPL (2007-2014), tổng số công chức, viên chức và người lao động khác thuộc hệ thống TGPL của nhà nước là 1.313, trong đó có 572 Trợ giúp viên pháp lý Bên cạnh đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý, hiện nay, toàn quốc có trên 10.700 cộng tác viên TGPL, trong

đó có 1.136 cộng tác viên TGPL là luật sư và 174 tư vấn viên pháp luật đăng

ký tham gia TGPL [16, tr.4-5]

Thực tiễn hơn 18 năm qua cho thấy, hoạt động TGPL của người thực hiện TGPL đã đáp ứng một phần cơ bản yêu cầu TGPL của đông đảo quần chúng nhân dân, trở thành một bộ phận không thể thiếu trong đời sống pháp luật của xã hội Đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý đã từng bước đáp ứng yêu cầu công việc, tham gia ngày càng nhiều các vụ việc tham gia tố tụng để đại diện, bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được TGPL Tuy nhiên, số lượng và chất lượng người thực hiện TGPL chưa đồng đều, trong đó đội ngũ luật sư vẫn chủ yếu tập trung tại các thành phố lớn, có tình hình kinh tế-xã hội phát triển (tính đến ngày 31/3/2015, Hà Nội có 2.472 luật sư, thành phố Hồ Chí Minh có 4.137 luật sư); còn các tỉnh có điều kiện kinh tế khó khăn thì có rất ít luật sư hành nghề (tính đến ngày 31/3/2015, Lai Châu có 02 luật sư; Bắc Kạn, Hà Giang, Hà Nam, Kon Tum đều có 06 luật sư)… [14]

Về thể chế, các văn bản pháp luật về lĩnh vực TGPL ngày càng hoàn thiện, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức và hoạt động TGPL nói chung, người thực hiện TGPL nói riêng Tuy nhiên, các chế định về người thực hiện

Trang 11

TGPL còn có những bất cập, hạn chế chủ yếu như: các quy định của pháp luật

về người thực hiện TGPL còn thiếu tính thống nhất và đồng bộ, mức chi thù lao vụ việc TGPL cho đội ngũ cộng tác viên của Trung tâm TGPL nhà nước còn thấp, chưa có cơ chế thu hút các tổ chức, cá nhân tham gia TGPL và cơ chế quản lý, kiểm soát hoạt động nghĩa vụ TGPL của luật sư theo Luật Luật

sư, cũng chưa có chế tài nếu luật sư không thực hiện TGPL, …

Như vậy, các chế định về người thực hiện TGPL đang còn nhiều vấn đề đặt ra cả về phương diện lý luận cũng như phương diện thực tiễn Các vấn đề trên cần được nghiên cứu, hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động mang tính chuyên nghiệp của người thực hiện TGPL, đáp nhu cầu TGPL ngày càng tăng của người thuộc diện được TGPL

Xuất phát từ những yêu cầu nêu trên, việc nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện

chế định về người thực hiện TGPL ở Việt Nam hiện nay” là yêu cầu khách quan,

cấp thiết cả về phương diện lý luận cũng như phương diện thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Ở Việt Nam, TGPL vẫn được coi là một trong những hoạt động còn tương đối mới mẻ, nhưng đến nay, đã có nhiều luận án tiến sĩ, luận văn thạc

sĩ, đề tài cấp Bộ và các bài báo, tạp chí, chuyên đề nghiên cứu làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến TGPL cho người nghèo và đối tượng

chính sách nói chung, có thể kể đến như: Luận án Tiến sĩ “Điều chỉnh pháp

luật về TGPL ở Việt Nam trong điều kiện đổi mới” của Tạ Thị Minh Lý; Luận

văn Thạc sĩ “Hoàn thiện các hình thức tiếp cận pháp luật của người nghèo ở

Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Đỗ Xuân Lân; Luận văn Thạc

sĩ "Phát triển TGPL ở cơ sở" của tác giả Đặng Thị Loan; Luận văn thạc sĩ

“Bảo đảm quyền được TGPL” của tác giả Phan Thị Thu Hà; Luận văn Thạc sĩ

“Hoạt động TGPL trong các chương trình giảm nghèo” của tác giả Lê Thị

Thúy; Luận văn Thạc sĩ “Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động TGPL”

Trang 12

của tác giả Nguyễn Bích Ngọc; đề tài cấp Bộ: "Mô hình tổ chức và hoạt động

TGPL, phương hướng thực hiện trong điều kiện hiện nay” và “Luận cứ khoa học và thực tiễn xây dựng Pháp lệnh TGPL” do Viện Khoa học pháp lý-Bộ

Tư pháp chủ trì thực hiện, Chủ nhiệm Đề tài: Tạ Thị Minh Lý …

Đối với vấn đề pháp luật về người thực hiện TGPL, lần đầu tiên được

nghiên cứu trong Luận văn Thạc sĩ: “Hoàn thiện pháp luật về người thực hiện

TGPL ở Việt Nam” của tác giả Vũ Hồng Tuyến, nhưng vào thời điểm đó, tác

giả chỉ dừng lại ở mức độ khái quát về khái niệm, đặc điểm, vai trò và thực trạng pháp luật về người thực hiện TGPL (chủ yếu là chuyên viên công tác ở Trung tâm TGPL nhà nước) trước khi Luật TGPL ban hành, do vậy giải pháp của Luận văn chỉ dừng lại kiến nghị xây dựng chức danh người thực hiện TGPL, xây dựng quy tắc đạo đức nghề nghiệp TGPL, chế độ chính sách, tiêu chuẩn cộng tác viên TGPL… để xây dựng pháp luật về người thực hiện TGPL

Có thể nói, phần lớn các công trình, bài viết của các tác giả mới đề cập đến một số vấn đề về chế định về người thực hiện TGPL Vì vậy, với đề tài

"Hoàn thiện chế định về người thực hiện TGPL ở Việt Nam hiện nay", tác

giả luận văn sẽ đi sâu phân tích làm sáng tỏ các vấn đề có liên quan cả về mặt

lý luận và thực tiễn, góp phần tìm ra giải pháp khoa học nâng cao hiệu quả hoạt động TGPL của đội ngũ người thực hiện TGPL trong thời gian tới để người nghèo, người dân tộc thiểu số, người được hưởng chính sách ưu đãi và người có hoàn cảnh đặc biệt khác được hưởng dịch vụ TGPL có chất lượng tốt theo nhu cầu

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Luận văn tập trung làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định người thực hiện TGPL ở Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn thiện chế định về người thực hiện TGPL trong thời gian tới

Trang 13

Thực hiện mục đích trên, đề tài có nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

- Hệ thống hoá, phân tích, khái quát làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, pháp lý về chế định người thực hiện TGPL ở Việt Nam

- Phân tích, đánh giá thực trạng của chế định về người thực hiện TGPL

ở Việt Nam trong thời gian qua, phát hiện những hạn chế, khó khăn, vướng mắc, bất cập và nguyên nhân để có giải pháp hoàn thiện

- Đề xuất, luận chứng các quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện chế định về người thực hiện TGPL ở Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

TGPL là một lĩnh vực tương đối rộng, bao gồm cả khái niệm, đối tượng, phương thức, phạm vi, mô hình tổ chức, quản lý nhà nước… về TGPL,

do đó cần nhiều công trình nghiên cứu với quy mô và thời gian thích hợp Về phần mình, đề tài chủ yếu nghiên cứu về người thực hiện TGPL với những vấn đề liên quan đến tiêu chuẩn, điều kiện của người thực hiện TGPL, cũng như các quyền, nghĩa vụ của người thực hiện TGPL của tổ chức TGPL nhà nước và các tổ chức TGPL thuộc các tổ chức chính trị - xã hội Đề tài không nghiên cứu những người phục vụ cho việc thực hiện TGPL như: thủ quỹ, kế toán, văn thư, bảo vệ, lái xe Phạm vi nghiên cứu được giới hạn ở cơ sở lý luận và thực tiễn, thực trạng chế định về người thực hiện TGPL ở Việt Nam trong thời gian qua, quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện các chế định về người thực hiện TGPL ở Việt Nam trong thời gian tới, có sự tham khảo pháp luật về người thực hiện TGPL của một số nước trên thế giới

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin,

tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước, pháp luật và những quan điểm của Đảng

về xây dựng và hoàn thiện nhà nước và pháp luật Một số văn kiện của Đảng, Hiến pháp năm 2013 và các văn bản quy phạm pháp luật được sử dụng rộng

Trang 14

rãi là cơ sở chính trị - pháp lý cho các vấn đề có liên quan đến nội dung của

đề tài Các báo cáo kết quả hoạt động TGPL, các công trình nghiên cứu trong

và ngoài nước có liên quan cũng được tham khảo và kế thừa có chọn lọc

Khi nghiên cứu, Luận văn sử dụng phương pháp luận của triết học Mác

- Lê nin là phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng các phương pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê kết hợp với phương pháp khai thác, sử dụng tư liệu, kết quả khảo sát thực tiễn để kế thừa và chọn lọc những tri thức khoa học, kinh nghiệm thực tiễn về các vấn

đề liên quan phục vụ nội dung nghiên cứu và hoàn chỉnh Luận văn

6 Tính mới và những đóng góp của đề tài

Việc hoàn thiện chế định về người thực hiện TGPL có một số đóng góp mới sau đây:

- Về mặt lý luận, Luận văn đã phân tích, bổ sung và làm rõ các khái niệm

về TGPL, người thực hiện TGPL, chế định về người thực hiện TGPL; đưa ra một số quan điểm, đặc điểm về người thực hiện TGPL, góp phần bổ sung, làm phong phú thêm hoạt động nghiên cứu khoa học về pháp luật về TGPL

- Trên cơ sở luận cứ về lý luận cũng như đánh giá thực tiễn hoạt động TGPL, quan điểm của Đảng, Nhà nước về cải cách hành chính, cải cách tư pháp nói chung và TGPL nói riêng, Luận văn đưa ra những cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xác định chức danh, trong đó có nhất thể hóa chức danh Trợ giúp viên pháp lý và luật sư là một vấn đề mới về người thực hiện TGPL, góp phần đẩy mạnh hơn nữa nhiệm vụ đại diện, bào chữa trước Tòa của tổ chức thực hiện TGPL; thống nhất tên gọi, xây dựng tiêu chuẩn, trình độ pháp luật của đội ngũ người thực hiện TGPL của các tổ chức chính trị - xã hội… những giải pháp về người thực hiện TGPL phù hợp với điều kiện trước mắt, đồng thời có thể áp dụng cho hoạt động TGPL trong thời gian tới

- Những vấn đề làm sáng tỏ trong Luận văn góp phần xây dựng và hoàn

Trang 15

thiện chế định về người thực hiện TGPL nói riêng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về TGPL ở Việt Nam, trong đó có Luật TGPL

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn nghiên cứu, xây dựng, làm phong phú thêm hệ thống cơ sở lý luận, pháp lý và thực tiễn về chế định người thực hiện TGPL ở Việt Nam Trên cơ sở đó đưa ra quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện chế định về người thực hiện TGPL trong thời gian tới, phục vụ có hiệu quả cho sự phát triển hoạt động TGPL ở Việt Nam hoặc có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, tìm hiểu về người thực hiện TGPL ở Việt Nam

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu thành 3 chương, 10 tiết

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH NGƯỜI THỰC HIỆN TRỢ GIÚP PHÁP LÝ Ở VIỆT NAM

1.1 Khái niệm, đặc điểm người thực hiện TGPL ở Việt Nam

1.1.1 Khái niệm người thực hiện TGPL ở Việt Nam

Để xác định nội hàm của khái niệm và những đặc điểm cơ bản của chế định về người thực hiện TGPL, cần phải hiểu khái niệm TGPL

1.1.1.1 Khái niệm TGPL ở Việt Nam

từ điển tiếng Việt của Nxb Khoa học xã hội, 1994 thì thuật ngữ “trợ giúp” được hiểu là “giúp đỡ” Thuật ngữ “giúp đỡ” lại được giải thích là giúp để làm giảm bớt khó khăn, nghĩa là làm cho ai một việc gì đó hoặc cho ai cái gì đó mà người ấy đang cần Cái đang cần ở đây là “pháp lý” theo nghĩa rộng của từ này Thuật ngữ "pháp lý” được hiểu là lí lẽ, lẽ phải theo pháp luật [74, tr.606]

Ở Việt Nam, từ năm 1995, thuật ngữ "TGPL” được xuất hiện trên các tài liệu nghiên cứu, sách, báo Đến năm 1997, thuật ngữ này chính thức được

sử dụng trong Quyết định 734/TTg ngày 06/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ

về việc thành lập tổ chức TGPL cho người nghèo và chế độ chính sách Hiện nay, có cả một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (trên 32 văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực TGPL đang có hiệu lực pháp luật) sử dụng

Trang 17

thuật ngữ “TGPL” và thuật ngữ này xuất hiện ngày càng nhiều trong các sách, báo và tài liệu khoa học pháp lý

Trong quá trình nghiên cứu khái niệm TGPL của một số nước trên thế giới, chúng tôi nhận thấy, hầu hết các nhà làm luật trên thế giới điều xuất phát

từ cơ sở lý luận về nhân quyền và bảo đảm nhân quyền, coi TGPL như là một biện pháp bảo đảm tư pháp dành cho người không có điều kiện tiếp cận và sử dụng các dịch vụ pháp lý, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Có thể nói, nội dung của khái niệm “TGPL” ở mỗi nước có khác nhau, phụ thuộc vào chế độ chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội của từng nước, nhưng đều thể hiện 3 tính chất là: kinh tế, pháp lý và nhân đạo Tính kinh tế, thể hiện

ở chỗ việc thực hiện pháp luật về TGPL cho những đối tượng không có khả năng tài chính hoặc khó khăn tài chính để chi trả cho các chi phí khi tiếp cận với các dịch vụ pháp lý Điều 2 Đạo luật về đại diện và tư vấn pháp lý năm

1995 của Singapoge cho rằng TGPL là việc giúp đỡ những người không có khả năng chi trả cho các dịch vụ pháp lý, ngoài ra một số nước như: Thụy Điển, Đức, Hà Lan… cũng có quan niệm về TGPL theo hướng này Tính pháp lý thể hiện ở chỗ, sự giúp đỡ, hỗ trợ các vấn đề liên quan đến pháp luật như tư vấn, bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp được pháp luật quy định… như Hàn Quốc cho rằng “TGPL” được hiểu là việc một luật sư hoặc một cán bộ pháp lý của nhà nước cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật, đại diện hoặc các dịch vụ trợ giúp khác có liên quan đến pháp luật Tính nhân đạo thể hiện ở chỗ, tạo cơ hội cho những người nghèo nâng cao hiểu biết pháp luật, bình đẳng trong việc sử dụng, tiếp cận pháp luật, tham gia xoá đói, giảm nghèo và huy động được sự tham gia rộng rãi của các lực lượng xã hội Điều

1001 Đạo luật về Công ty dịch vụ pháp lý được sửa đổi năm 1977 của Mỹ quy định: TGPL là tạo sự công bằng khi tiếp cận pháp luật của các cá nhân không thể thuê mướn luật sư, tạo cơ hội cho những người có thu nhập thấp

Trang 18

Ngoài ra, pháp luật về TGPL ở một số nước như: Trung Quốc, Anh, Quebec (Canada)… cũng thể hiện tính nhân đạo sâu sắc

Thuật ngữ “TGPL” mới xuất hiện ở nước ta vào những năm cuối thế kỷ

XX, trong quá trình xây dựng Luật TGPL, các nhà khoa học Việt Nam đã tham khảo các khái niệm TGPL của một số nước trên thế giới và các quan niệm về TGPL ở Việt Nam để đưa ra một số khái niệm TGPL Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý-Bộ Tư pháp khi thực hiện đề tài khoa học cấp Bộ "Mô hình tổ chức và hoạt động TGPL, phương hướng thực hiện trong điều kiện hiện nay" đã đưa ra khái niệm TGPL như sau:

Theo nghĩa rộng, TGPL hiểu là sự giúp đỡ của nhà nước và xã hội cho

người nghèo, đối tượng chính sách và đồng bào dân tộc thiểu số tiếp cận với các dịch vụ pháp lý (tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa), nhằm bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật và thực hiện công bằng xã

hội Theo nghĩa hẹp, TGPL là sự giúp đỡ miễn phí của các tổ chức TGPL

của nhà nước cho người nghèo, đối tượng chính sách và đồng bào dân tộc thiểu số tiếp cận với các dịch vụ pháp lý (tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa), nhằm bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật và thực hiện công bằng xã hội” [75]

Đồng tình với các khái niệm TGPL theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp trên, Thạc sỹ Vũ Hồng Tuyến cho rằng:

Khái niệm này đề cập một cách toàn diện, mục đích và ý nghĩa của hoạt động TGPL (sự giúp đỡ miễn phí, tạo cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật và thực hiện công bằng xã hội) Khái niệm trên cũng bao hàm một cách tương đối đầy đủ về phạm

vi (tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa), chủ thể của hoạt động TGPL (Nhà nước và xã hội mà chủ yếu là các tổ chức TGPL) và đối tượng TGPL (người nghèo, đối tượng chính sách và đồng bào dân tộc thiểu số) [70, tr.13]

Trang 19

Tuy nhiên, các quan niệm, khái niệm nêu trên vẫn chưa khái quát toàn diện về hoạt động TGPL, nhất là khía cạnh bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong hệ thống pháp luật Việt Nam Những quan niệm đó đều lấy người nghèo, đối tượng chính sách và đồng bào dân tộc thiểu số làm cơ sở xây dựng khái niệm, đồng thời mới chỉ nhìn nhận thông qua hình thức biểu hiện của đối tượng mà hoạt động TGPL hướng tới mà chưa chỉ ra các thuộc tính bản chất, đặc trưng của TGPL

Có quan niệm cho rằng: “TGPL là việc cung cấp miễn phí dịch vụ tư

vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng trong lĩnh vực hình

sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính cho người thuộc diện được TGPL do Nhà nước bảo đảm” [34, tr.2] Khái niệm này làm rõ hình thức,

lĩnh vực TGPL và trách nhiệm của nhà nước trong việc bảo đảm cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người thuộc diện được TGPL (nhà nước trả tiền cho người thực hiện TGPL cho các đối tượng được TGPL theo quy định của Luật TGPL) Tuy nhiên, khái niệm này đã thu hẹp lĩnh vực TGPL, hình thức TGPL so với Luật TGPL năm 2006 là chưa phù hợp với xu hướng phát triển chung của xã hội

Ngoài ra, cũng có ý kiến cho rằng: TGPL là việc cung ứng các dịch vụ pháp lý miễn phí hoặc có thu phí nhưng thấp hơn giá trị của dịch vụ thông qua các hình thức đại diện, bào chữa, tư vấn pháp luật và các hình giúp đỡ pháp luật khác cho người được TGPL theo quy định của pháp luật Có thể thấy, quan niệm này đề cập đến khía cạnh thu phí nhưng thấp hơn giá trị của dịch

vụ, cách tiếp cận này chưa thể hiện hết tính chất nhân đạo và pháp lý của nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, trong đó hoạt động TGPL xuất phát từ chức năng xã hội của nhà nước ta

Từ những phân tích trên đây, có thể nói các nhà luật học, nhà nghiên cứu khoa học pháp lý đã xây dựng khái niệm TGPL chủ yếu căn cứ vào đối

Trang 20

tượng được hưởng dịch vụ TGPL, chủ thể thực hiện TGPL, tính chất của hoạt động TGPL hoặc đề cập đến khía cạnh có thu phí

Ngày 29/6/2006, tại kỳ họp thứ 9, khoá XI, Quốc hội nước cộng hoà XHCN Việt Nam đã thông qua Luật TGPL, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007, tại Điều 3 đã đưa ra khái niệm về TGPL:

TGPL là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được TGPL theo quy định của Luật này, giúp người được TGPL bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, đảm bảo công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật [50, tr.2]

Có thể khẳng định, khái niệm TGPL theo Luật TGPL đã thể hiện tương đối toàn diện những thuộc tính chung, bản chất và mục đích, ý nghĩa của hoạt động TGPL ở nước ta

Một là, TGPL ở nước ta có tính chất là dịch vụ pháp lý miễn phí: khoản 1,

Điều 4 của Luật TGPL năm 2006 đưa ra nguyên tắc hoạt động TGPL: "không

thu phí, lệ phí, thù lao từ người được TGPL” [50, tr.2], có thể nói, đây là tính

chất khác biệt của hoạt động TGPL ở Việt Nam so với nhiều nước trên thế giới (đa số các nước trên thế giới quy định người được TGPL phải trả một phần lệ phí cho các dịch vụ pháp lý) Tính chất miễn phí này xuất phát từ điều kiện kinh tế của Việt Nam còn khó khăn, mức độ hiểu biết pháp luật của đông đảo các tầng lớp nhân dân còn hạn chế Nhiều công dân được xác định là người nghèo, họ chưa đủ kinh phí để trang trải cho nhu cầu cuộc sống thiết yếu hàng ngày, nên họ gặp nhiều khó khăn hoặc không thể chi trả một phần hay toàn bộ kinh phí cho dịch vụ pháp lý Vì vậy, TGPL ở nước ta thể hiện rõ tính chất miễn phí cho người thuộc diện được TGPL nói chung, trong đó người nghèo chiếm tỷ lệ đa số

Trang 21

Hai là, TGPL ở nước ta mang bản chất Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam: xuất phát từ chức năng của Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam,

để thực hiện chức năng quản lý xã hội của mình, nhà nước đã ban hành pháp luật để quản lý, điều chỉnh các mối quan hệ xã hội và giúp cho công dân hiểu biết pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; người dân thông qua nhà nước để thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật, theo pháp luật TGPL là một trong những hình thức đưa pháp luật vào cuộc sống, giúp người dân hiểu biết pháp luật, từ đó họ có thể tự bảo vệ, nhờ luật sư hoặc người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Vì vậy, TGPL là hoạt động thể hiện rõ bản chất của nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, khác so với bản chất hoạt động TGPL của nhiều nước trên thế giới

Hơn nữa, một trong những nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước pháp quyền XHCN là xoá đói giảm nghèo, thực hiện dân chủ và công bằng xã hội Trong một số chương trình thực hiện mục tiêu là xoá đói, giảm nghèo, Chiến lược xoá đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước ta có đề cập về TGPL cho người nghèo như: Hoàn thiện khuôn khổ pháp luật, tăng cường TGPL và khả năng tiếp cận pháp lý cho người nghèo Mở rộng mạng lưới trợ giúp pháp luật

để người nghèo ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa có thể tiếp cận với các dịch

vụ TGPL Theo đó, Chiến lược xoá đói, giảm nghèo đã ghi nhận hoạt động TGPL với tính cách là một bộ phận không thể thiếu trong tổng thể chương trình quốc gia xoá đói, giảm nghèo TGPL trước hết có mục đích “xoá nghèo”

về mặt pháp luật, nâng cao tri thức hiểu biết pháp luật nhân dân Do vậy, hoạt động TGPL luôn mang bản chất Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân

Ba là, TGPL mang tính chất nhân đạo xã hội sâu sắc: ngoài việc giúp

đỡ người nghèo và đối tượng chính sách thông qua hoạt động tư vấn pháp

Trang 22

luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng, thì TGPL ở nước ta còn cho phép người thực hiện TGPL giúp đỡ người nghèo và đối tượng chính sách hoà giải, thực hiện những công việc liên quan đến thủ tục hành chính, khiếu nại và các hình thức khác theo quy định của pháp luật Xuất phát từ thực tiễn điều kiện kinh tế, xã hội của Việt Nam, người nghèo và đối tượng chính sách của nước ta còn nhiều, nhận thức pháp luật của đại đa số nhân dân còn hạn chế, nhu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người thuộc diện được TGPL ngày càng cao Các hình thức TGPL sẽ trang bị cho người dân những kiến thức pháp luật cơ bản, giúp họ hiểu quyền và nghĩa vụ thông qua việc tham gia các quan hệ pháp luật; từ đó có thể giúp họ tự giải quyết một số vấn đề pháp lý liên quan trong cuộc sống, tự giác thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, tránh những hành vi vi phạm pháp luật Vì vậy, TGPL luôn mang tính chất nhân đạo xã hội sâu sắc bởi tính đa dạng của hình thức TGPL ở Việt Nam

Tuy nhiên, để khái niệm TGPL mang tính khái quát cao, thể hiện toàn diện những thuộc tính chung, bản chất của hoạt động TGPL ở nước ta, tác giả

luận văn đưa ra khái niệm: “TGPL là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho

người được TGPL bằng các hình thức tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng và các hình thức TGPL khác theo quy định của pháp luật”

1.1.1.2 Khái niệm người thực hiện TGPL ở Việt Nam

Để có cơ sở lý luận xác định rõ nội hàm của khái niệm “người thực hiện

TGPL”, cần phải hiểu khái niệm “thực hiện” Theo Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam

- G.s Nguyễn Lân, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2000, “thực hiện” nghĩa là

“làm cho sự thật hiển nhiên” [41] Theo Đại Từ điển tiếng Việt - Nguyễn Như Ý,

Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 2013, thì “thực hiện” là “làm cho trở thành cái có thật bằng hoạt động cụ thể” [77, tr.1555] Khái niệm “thực hiện” được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau Xét ở khía cạnh hành vi thì

Trang 23

“thực hiện” là hành vi thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động của con người Dưới góc độ pháp lý, thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp, phù hợp với quy định của pháp luật Dưới góc độ thực hiện pháp luật, đó là hành vi biểu hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động của con người phù hợp với những quy định của pháp luật Nhìn chung, cho dù xét ở góc độ nào thì “thực hiện” là hoạt động của con người

Có thể nói, người thực hiện là người làm cho trở thành cái có thật bằng hoạt động cụ thể, là người làm cho sự thật hiển nhiên, người đưa ra các hành

vi biểu hiện dưới dạng hành động cụ thể để cho sự việc đi theo một hướng nhất định Có thể hiểu theo cách đơn giản và theo nghĩa hẹp thì người thực hiện TGPL là người làm công tác trong lĩnh vực TGPL, tham gia hoạt động TGPL, nghĩa là những người làm những công việc có liên quan đến chuyên môn, nghiệp vụ về TGPL

Từ những phân tích nêu trên và xem xét toàn diện hoạt động TGPL ở Việt Nam cả về lý luận và thực tiễn, tác giả luận văn rút ra khái niệm người thực hiện TGPL như sau:

“Người thực hiện TGPL là người cung cấp dịch vụ pháp lý cho người được TGPL theo quy định của pháp luật”

Theo tác giả luận văn, khái niệm về người thực hiện TGPL trên mang tính khái quát, thể hiện toàn diện những vấn đề liên quan đến người thực hiện TGPL theo quy định của pháp luật hiện hành, cụ thể:

Thứ nhất, người thực hiện TGPL là người cung cấp dịch vụ pháp lý cho

người được TGPL Theo Luật TGPL năm 2006, người thực hiện TGPL gồm: Trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên TGPL, luật sư, tư vấn viên pháp luật Họ cung cấp dịch vụ pháp lý cho các đối tượng thuộc diện được TGPL thông qua các hình thức: tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng và các hình thức TGPL khác theo quy định của pháp luật; đồng thời, vụ việc TGPL

Trang 24

mà họ thực hiện phải liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của người được TGPL và không thuộc lĩnh vực kinh doanh, thương mại Người thực hiện TGPL cung cấp dịch vụ TGPL cho người được TGPL theo quy định của pháp luật về TGPL Riêng đối với luật sư khi tham gia TGPL thì ngoài việc tham gia TGPL với tư cách cộng tác viên của Trung tâm TGPL nhà nước theo quy định của pháp luật về TGPL, họ còn phải thực hiện các quy định của pháp luật về luật sư

Thứ hai, người thực hiện TGPL là người có đủ các điều kiện, tiêu

chuẩn theo quy định của pháp luật, như: là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có phẩm chất đạo đức tốt, có kiến thức pháp luật Người thực hiện TGPL có thể là Trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên của Trung tâm TGPL nhà nước, luật sư và tư vấn viên pháp luật làm việc trong tổ chức tư vấn pháp luật, theo quy định họ phải là người có trình độ pháp luật (tiêu chuẩn chung của Trợ giúp viên pháp lý và cộng tác viên TGPL: có bằng cử nhân luật) Đối với cộng tác viên TGPL thì có thể có bằng đại học khác với bằng cử nhân luật, nhưng phải làm việc trong các ngành, nghề có liên quan đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Riêng

ở những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi, cộng tác viên được ưu tiên trình độ thấp hơn (chỉ cần có bằng trung cấp luật hoặc có thời gian làm công tác pháp luật từ 3 năm trở lên hoặc có kiến thức pháp luật và có uy tín trong cộng đồng)

Thứ ba, người thực hiện TGPL phong phú, đa dạng về đối tượng tham

gia cung cấp dịch vụ TGPL Người thực hiện TGPL có thể là người được hưởng lương từ ngân sách nhà nước, được nhà nước giao nhiệm vụ chuyên trách thực hiện TGPL cho người dân, như Trợ giúp viên pháp lý là viên chức nhà nước, làm việc tại Trung tâm TGPL nhà nước, được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm, cấp thẻ Trợ giúp viên pháp lý theo đề nghị của

Trang 25

Giám đốc Sở Tư pháp Người thực hiện TGPL cũng có thể là người có trình

độ hiểu biết pháp luật nhất định tham gia TGPL theo cơ chế cộng tác viên TGPL Cộng tác viên thường là những người có trình độ hiểu biết pháp luật

và công tác tại cơ quan nhà nước hay tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội-nghề nghiệp… Tuy nhiên, để trở thành cộng tác viên họ phải tự nguyện tham gia TGPL mà không thuộc một trong các trường hợp không được tham gia TGPL theo quy định tại khoản 3, Điều

20 của Luật TGPL năm 2006, đồng thời có hồ sơ đề nghị làm cộng tác viên và được tổ chức TGPL chấp nhận, ký hợp đồng cộng tác theo quy định Người thực hiện TGPL có thể là người làm việc cho một tổ chức nhất định, và được

tổ chức đó giao nhiệm vụ thực hiện TGPL cho thành viên của tổ chức, như tư vấn viên pháp luật làm việc trong tổ chức tư vấn pháp luật thực hiện tư vấn pháp luật miễn phí cho hội viên của mình Ngoài ra, người thực hiện TGPL còn phải thực hiện nghĩa vụ TGPL, đó là luật sư thực hiện nghĩa vụ TGPL theo quy định của Luật Luật sư

Để hiểu rõ đặc điểm người thực hiện TGPL ở Việt Nam, chúng ta cần phân biệt người thực hiện TGPL với việc áp dụng pháp luật về TGPL Áp dụng pháp luật về TGPL là hoạt động thực hiện pháp luật về TGPL của các

cơ quan nhà nước có thẩm quyền Đó là một trong những cách thức nhà nước

tổ chức cho các chủ thể thực hiện pháp luật về TGPL Áp dụng pháp luật về TGPL là hoạt động mang tính tổ chức, thể hiện quyền lực nhà nước, chỉ do cơ quan nhà nước hay nhà chức trách có thẩm quyền tiến hành như: Trung tâm TGPL thuộc Sở Tư pháp, Chi nhánh của Trung tâm TGPL… Hoạt động áp dụng pháp luật về TGPL được tiến hành chủ yếu theo ý chí đơn phương của

cơ quan nhà nước có thẩm quyền, không phụ thuộc vào yếu tố của chủ thể bị

áp dụng là đối tượng TGPL Hoạt động áp dụng pháp luật TGPL có tính chất bắt buộc với chủ thể bị áp dụng Còn người thực hiện TGPL là những con

Trang 26

người cụ thể có trình độ pháp luật, được tổ chức TGPL giao cho nhiệm vụ giúp đỡ miễn phí về pháp luật cho người được TGPL Người thực hiện TGPL

là một bộ phận, chủ thể trong áp dụng pháp luật TGPL của tổ chức TGPL

Người thực hiện TGPL là khái niệm rộng dùng để chỉ tất cả những người có nhiệm vụ, quyền hạn giúp đỡ pháp luật miễn phí cho người được TGPL thông qua các hình thức: tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng và các hình thức TGPL khác trong các lĩnh vực được pháp luật quy định Đây là lực lượng nòng cốt giúp cơ quan nhà nước, trực tiếp

là Trung tâm TGPL thuộc Sở Tư pháp và Chi nhánh của Trung tâm TGPL thực hiện TGPL

1.1.2 Đặc điểm người thực hiện TGPL ở Việt Nam

Để xác định những đặc điểm cơ bản của người thực hiện TGPL, trước

tiên cần hiểu khái niệm “đặc điểm” Theo Từ điển Từ và ngữ Việt Nam -

Nguyễn Lân, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2000 thì “đặc điểm” là “nét đặc biệt của sự việc” [41] Có thể hiểu đặc điểm là cái đặc trưng để so sánh, phân biệt các sự vật, hiện tượng với nhau hoặc để nhận biết được người này khác người kia ở đặc điểm nào

Xuất phát từ khái niệm “Người thực hiện TGPL là người cung cấp dịch

vụ pháp lý cho người được TGPL theo quy định của pháp luật”, theo đó,

người thực hiện TGPL phải thực hiện các quy định của pháp luật về TGPL và các quy định của pháp luật có liên quan trong quá trình cung cấp dịch vụ pháp

lý cho người được TGPL Vì vậy, có thể khẳng định người thực hiện TGPL là một trong những người thực hiện pháp luật Người thực hiện pháp luật được

đề cập ở đây là những người làm việc trong các cơ quan, tổ chức thực hiện TGPL, thực thi các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức

Có thể nói, khái niệm người thực hiện TGPL hẹp hơn khái niệm người thực hiện pháp luật bởi vì người thực hiện TGPL là một trong những người

Trang 27

thực hiện pháp luật, hay nói cách khác người thực hiện pháp luật phong phú,

đa dạng hơn người thực hiện TGPL, như: công chứng viên, đấu giá viên, chấp hành viên, người giám định, thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên,… Người thực hiện TGPL và người thực hiện pháp luật có đặc điểm chung là: họ có những quyền và nghĩa vụ nhất định do pháp luật quy định phù hợp với chức năng và nhiệm vụ được giao Bên cạnh đó, người thực hiện TGPL có những đặc trưng sau đây:

- Người thực hiện TGPL là một trong những người làm công tác TGPL Công tác TGPL chính là những hoạt động TGPL cụ thể mà người thực hiện TGPL có nhiệm vụ thực hiện, đó là thực hiện TGPL cho người được TGPL thông qua các hình thức: tư vấn, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng và các hình thức TGPL khác theo quy định của pháp luật Theo nghĩa rộng người thực hiện TGPL làm việc trong các tổ chức thực hiện TGPL và họ có thể là những cá nhân có đủ điều kiện, tiêu chuẩn, tự nguyện tham gia và trở thành cộng tác viên TGPL theo quy định của pháp luật Xét ở góc độ này thì người thực hiện TGPL là người thực hiện pháp luật Tuy nhiên, pháp luật ở đây là pháp luật về TGPL, do đó, họ phải tuân thủ những quy định của pháp luật về TGPL Theo nghĩa hẹp, người thực hiện TGPL chủ yếu làm việc cho các tổ chức thực hiện TGPL Hiện nay, tổ chức thực hiện TGPL gồm có: Trung tâm TGPL thuộc Sở Tư pháp, Chi nhánh của Trung tâm TGPL; tổ chức hành nghề luật sư; tổ chức tư vấn pháp luật thuộc tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội nghề nghiệp

- Hiện nay, người thực hiện TGPL ở Việt Nam chủ yếu là Trợ giúp viên pháp lý và người tham gia TGPL bao gồm: cộng tác viên TGPL, luật sư, tư vấn viên pháp luật làm việc trong tổ chức tư vấn pháp luật Riêng đối với cộng tác viên TGPL là luật sư thì Việt Nam chưa có chức danh luật sư công hay luật sư TGPL Có thể nói, đây là điểm khác biệt cơ bản so với hầu hết nước trên thế

Trang 28

giới Nhìn chung, ở các nước, hoạt động TGPL chủ yếu được thực hiện bởi đội ngũ luật sư chuyên nghiệp (tên gọi luật sư ở mỗi nước cũng khác nhau, có thể

là luật sư công hoặc luật sư tư hoặc luật sư TGPL, có thể chia ra làm các dạng luật sư khác nhau như: Luật sư tư vấn và luật sư bào chữa)

- Người thực hiện TGPL giúp đỡ pháp luật miễn phí cho người được TGPL (người được TGPL không phải trả bất kỳ một khoản thù lao nào, kinh phí chi cho hoạt động TGPL do ngân sách Nhà nước cấp và nguồn tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong, ngoài nước) Không phải tất cả mọi người dân đều được hưởng dịch vụ TGPL mà phần lớn là những nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội và người có công với cách mạng được hưởng dịch vụ này Theo Luật TGPL năm 2006, Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007, Nghị định số 14/2013/NĐ-CP ngày 5/2/2013 của Chính phủ và pháp luật hiện hành, những đối tượng sau đây được hưởng TGPL miễn phí của Nhà nước:

+ Người thuộc hộ nghèo

Theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015, trong đó quy định rõ hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000đ/người/tháng (từ 4.800.000đ/người/năm) trở xuống và hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000đ/người/tháng (từ 6.000.000đ/người/năm) trở xuống

Theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020 Trong đó, quy định rõ các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo

đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020; chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo,

hộ có mức sống trung bình áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020 Theo đó, các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020 gồm tiêu chí về thu nhập, mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ

Trang 29

bản Với tiêu chí về thu nhập, Quyết định quy định chuẩn nghèo ở khu vực nông thôn là 700.000 đồng/người/tháng; ở khu vực thành thị 900.000 đồng/người/tháng Về tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản, Quyết định nêu rõ, các dịch vụ xã hội cơ bản bao gồm 5 dịch vụ: y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản gồm 10 chỉ số: tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt;

hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin Về tiêu chí xác định chuẩn nghèo, Quyết định cũng quy định rõ chuẩn hộ nghèo áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020, cụ thể như sau:

Hộ nghèo khu vực nông thôn là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: (1) Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống; (2) Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên

Hộ nghèo khu vực thành thị là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: (1) Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống; (2) Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên

+ Người có công với cách mạng

* Người hoạt động cách mạng trước Tổng khởi nghĩa ngày 19 tháng 8 năm 1945;

* Bà mẹ Việt Nam anh hùng; Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động;

* Thương binh, bệnh binh, người hưởng chính sách như thương binh;

Trang 30

* Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học;

* Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày;

* Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế;

* Người có công giúp đỡ cách mạng được Nhà nước tặng Kỷ niệm chương "Tổ quốc ghi công" hoặc Bằng "Có công với nước"…;

* Cha, mẹ, vợ, chồng của liệt sĩ; con của liệt sĩ dưới 18 tuổi; người có công nuôi dưỡng liệt sĩ

+ Người già cô đơn không nơi nương tựa: là người từ đủ 60 tuổi trở lên sống độc thân và không có nơi nương tựa

+ Người khuyết tật : là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận

cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao

đô ̣ng, sinh hoa ̣t, học tập gặp khó khăn Theo Luật người khuyết tật năm 2010, thì người khuyết tật có quyền được TGPL miễn phí

+ Trẻ em không nơi nương tựa: được TGPL là người dưới 16 tuổi không nơi nương tựa

+ Người dân tộc thiểu số: thường xuyên sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật

+ Nạn nhân bị mua bán: là người bị xâm hại bởi hành vi mua, bán người Theo Luật Phòng, chống mua bán người năm 2011 thì nạn nhân bị mua bán được TGPL miễn phí Tuy nhiên, chỉ được TGPL một số trường hợp, cụ thể căn cứ Nghị định 09/2013/NĐ-CP ngày 11/01/2013 hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng, chống mua bán người thì đối tượng được hỗ trợ gồm: a) Nạn nhân là công dân Việt Nam, người không quốc tịch thường trú ở Việt Nam; b) Nạn nhân là người nước ngoài bị mua bán tại Việt Nam Các chế độ TGPL được hưởng gồm: Tư vấn pháp luật để phòng ngừa bị mua bán trở lại; trợ giúp làm thủ tục đăng ký hộ khẩu, hộ tịch, nhận chế độ hỗ

Trang 31

trợ, đòi bồi thường thiệt hại, tham gia tố tụng và các thủ tục pháp lý khác có liên quan đến vụ việc mua bán người

+ Các đối tượng khác được TGPL theo quy định tại điều ước quốc tế

mà Cộng hoà XHCN Việt Nam là thành viên (hiện nay, theo các Công ước quốc tế, Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với Trung Quốc, Pháp, Ucraina, Lào, Mông Cổ và Bê-la-rút) Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn về người được TGPL theo các điều ước quốc tế quy định tại khoản này

- Hình thức cung cấp dịch vụ TGPL của người thực hiện TGPL đa dạng, phong phú

Theo quy định tại Điều 27 Luật TGPL thì người thực hiện TGPL được cung cấp các dịch vụ TGPL bằng các hình thức như: tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng và các hình thức TGPL khác như: giúp đỡ người được TGPL hoà giải, thực hiện những công việc liên quan đến thủ tục hành chính, khiếu nại

(i) Tư vấn pháp luật

Người thực hiện TGPL hướng dẫn, giải đáp, đưa ra ý kiến, cung cấp thông tin pháp luật, giúp soạn thảo văn bản liên quan đến vụ việc TGPL cho người được TGPL Tư vấn pháp luật có thể được thực hiện trực tiếp bằng lời nói cho người được TGPL tại trụ sở hoặc ngoài trụ sở; qua điện thoại, bằng văn bản; tư vấn bằng lời nói hoặc bằng văn bản cũng có thể thực hiện thông qua TGPL lưu động; thông qua sinh hoạt của Câu lạc bộ TGPL hoặc tại sinh hoạt chuyên đề pháp luật

(ii) Tham gia tố tụng

Người thực hiện TGPL tham gia tố tụng hình sự để bào chữa cho người được TGPL là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc để bảo vệ quyền lợi của người được TGPL là người bị hại, là nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự; tham gia tố tụng dân sự,

Trang 32

tố tụng hành chính để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được TGPL trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính Để bào chữa trong vụ án hình sự, Trợ giúp viên pháp lý tham gia tố tụng với tư cách người đại diện hợp pháp để bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; luật sư cộng tác viên, luật sư không phải là cộng tác viên tham gia tố tụng với tư cách luật sư để bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

(iii) Đại diện ngoài tố tụng

Người thực hiện TGPL làm đại diện ngoài tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được TGPL khi họ không thể tự bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước các cơ quan, tổ chức không phải là cơ quan tiến hành tố tụng Việc đại diện ngoài tố tụng được thực hiện trong phạm

vi yêu cầu của người được TGPL

(iv) Các hình thức TGPL khác

+ Tham gia hoà giải giúp người được TGPL tự giải quyết tranh chấp

Khi có yêu cầu hoặc được sự đồng ý của một hoặc các bên, tổ chức thực hiện TGPL cử người thực hiện TGPL làm trung gian để phân tích các tình tiết của vụ việc, giải thích quy định của pháp luật, hướng dẫn để các bên tự thương lượng, thống nhất hướng giải quyết vụ việc mà không phải đưa vụ việc ra Toà

án hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết, tự nguyện rút đơn kiện, tự giải quyết các tranh chấp và tự nguyện chấp hành kết quả giải quyết vụ việc

Việc hoà giải cũng được tiến hành trong trường hợp cần thiết để giữ gìn đoàn kết cộng đồng, duy trì trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, trừ trường hợp pháp luật quy định không được hoà giải

+ Người thực hiện TGPL giúp người được TGPL thực hiện các công việc có liên quan đến thủ tục hành chính, khiếu nại hoặc tham gia trong quá trình giải quyết trong trường hợp họ không thể tự mình thực hiện được để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp hoặc thực hiện nghĩa vụ cơ bản của công dân

Trang 33

Trợ giúp viên pháp lý, luật sư có quyền tham gia vào quá trình giải quyết khiếu nại theo đề nghị của người khiếu nại là người được TGPL; thực hiện các quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại khi được uỷ quyền; xác minh, thu thập chứng cứ có liên quan đến nội dung khiếu nại theo yêu cầu của người khiếu nại và cung cấp chứng cứ cho người giải quyết khiếu nại; nghiên cứu hồ

sơ vụ việc, sao chụp, sao chép các tài liệu, chứng cớ có liên quan đến nội dung khiếu nại để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại, trừ thông tin, tài liệu thuộc bí mật nhà nước

Cung cấp thông tin pháp luật, tờ gấp, sách bỏ túi, cẩm nang pháp luật, các ấn phẩm tài liệu pháp luật khác qua các đợt TGPL lưu động, sinh hoạt Câu lạc bộ TGPL, sinh hoạt chuyên đề pháp luật

Cung cấp bản sao các điều khoản của văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến vụ việc TGPL, cung cấp địa chỉ làm việc của cơ quan, tổ chức,

cá nhân mà pháp luật quy định có thẩm quyền giải quyết vụ việc, liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc trong trường hợp người được TGPL không tự thực hiện được

1.2 Khái niệm, đặc điểm và yêu cầu hoàn thiện chế định về người thực hiện TGPL ở Việt Nam

1.2.1 Khái niệm chế định về người thực hiện TGPL ở Việt Nam

Nói đến khái niệm TGPL, người thực hiện TGPL, cũng cần bàn đến khái niệm chế định người thực hiện TGPL Để đưa ra khái niệm “chế định người thực hiện TGPL”, trước hết cần hiểu khái niệm “chế định”, “chế định

pháp luật” là gì? Theo Đại Từ điển tiếng Việt - Nguyễn Như Ý, Nxb Đại học

Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 2013, thì “chế định” nghĩa là “định ra các thể lệ, chế độ” [77, tr.256] Đối với khái niệm “chế định pháp luật”, về phương diện lý luận, “chế định pháp luật” ở Việt Nam hiện nay đang tồn tại

những quan điểm sau: Theo Từ điển Luật học - Viện Khoa học pháp lý - Bộ

Trang 34

Tư pháp, Nxb Từ điển bách khoa, Nxb Tư pháp, 2006, thì “chế định pháp luật” được hiểu là “tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh nhóm quan hệ

xã hội gần gũi, có cùng tính chất trong phạm vi mỗi ngành luật vốn bao gồm nhiều chế định” [74, tr.122]; có quan điểm cho rằng: “Chế định pháp luật là nhóm những quy phạm pháp luật điều chỉnh một nhóm các quan hệ xã hội cùng loại có liên hệ mật thiết với nhau” [35, tr.460], “Chế định pháp luật là một tập hợp các quy phạm pháp luật để điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội

có tính chất giống nhau hoặc có quan hệ mật thiết với nhau” [69, tr.114]

Xuất phát từ khái niệm “chế định”, “chế định pháp luật” cũng như khái niệm và bản chất của người thực hiện TGPL tại mục 1.1 nêu trên để nghiên cứu khái niệm “chế định về người thực hiện TGPL” ở Việt Nam, có thể nói chế định về người thực hiện TGPL không phải là một hệ thống pháp luật riêng biệt mà chỉ là một nội dung cụ thể của pháp luật về TGPL, có mối liên hệ chặt chẽ với các quy định về người được TGPL, tổ chức thực hiện TGPL, các quy định về phạm vi, hình thức, hoạt động TGPL, nội dung quản lý nhà nước về TGPL, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về TGPL… Khi nghiên cứu chế định về người thực hiện TGPL có thể thấy rằng: Về hình thức, chế định về người thực hiện TGPL chỉ bao gồm một nhóm các quy phạm pháp luật (quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung) do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành Về nội dung, chế định về người thực hiện TGPL là những quy phạm pháp luật điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình người thực hiện TGPL cung cấp dịch vụ pháp lý cho người được TGPL

Trên cơ sở các phân tích về chế định trên đây, chúng ta có thể đưa ra

khái niệm “chế định về người thực hiện TGPL” như sau: “Chế định về người

thực hiện TGPL là tổng thể các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội giữa người thực hiện TGPL với người được TGPL, với cơ quan nhà nước, các tổ chức và cá

Trang 35

nhân phát sinh trong quá trình cung cấp dịch vụ pháp lý cho người được TGPL theo quy định của pháp luật”

1.2.2 Đặc điểm chế định về người thực hiện TGPL ở Việt Nam

Trên cơ sở lý luận chung về nhà nước và pháp luật, “chế định pháp luật” là một bộ phận nằm trong hệ thống pháp luật nên nó có đặc điểm chung của pháp luật “Chế định về người thực hiện TGPL” là một hình thức cụ thể của “chế định pháp luật”, vì vậy nó có đặc điểm chung của pháp luật và “chế

định pháp luật”, đó là: Thứ nhất, chế định pháp luật bao gồm một tập hợp các

quy phạm pháp luật có những đặc điểm chung giống nhau nhằm điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội tương ứng Việc xác định đúng tính chất chung của mỗi nhóm quan hệ xã hội, từ đó đề ra những quy phạm pháp luật tương ứng,

là cơ sở để tạo ra cơ cấu nội tại hợp lý của một ngành luật Chúng ta không thể xây dựng được một ngành luật hoàn chỉnh, hay một văn bản pháp luật tốt nếu không xác định cụ thể, rõ ràng giới hạn và nội dung của các chế định

pháp luật Thứ hai, mặc dù mỗi chế định có đặc điểm riêng nhưng chế định

pháp luật có tính chất nhóm, chúng không tồn tại riêng biệt, mà trái lại chúng đều có mối liên hệ nội tại thống nhất với nhau Việc xác định ranh giới giữa các chế định nhằm tạo ra khả năng để xây dựng hệ thống quy phạm pháp luật phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội Nhưng vấn đề có tính nguyên tắc là phải đặt chúng trong mối liên hệ qua lại trong một chỉnh thể thống nhất của hệ thống pháp luật nói chung và của một ngành luật nói riêng, không thể áp đặt

một cách chủ quan Thứ ba, chế định pháp luật tuân theo quy luật vận động

khách quan, chịu sự ảnh hưởng và tác động của các chế định khác trong hệ thống pháp luật Bên cạnh đó, chế định về người thực hiện TGPL có những đặc điểm sau đây:

- Chế định về người thực hiện TGPL là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội giữa người thực hiện TGPL với người

Trang 36

được TGPL, với cơ quan nhà nước, các tổ chức và cá nhân phát sinh trong quá trình cung cấp dịch vụ pháp lý cho người được TGPL theo quy định của pháp luật Trong quá trình thực hiện TGPL phát sinh trách nhiệm và mối quan

hệ giữa người thực hiện TGPL với người được TGPL là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL, người thực hiện TGPL phải thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật trong quá trình cung cấp dịch vụ TGPL Bên cạnh đó, người thực hiện TGPL được cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm theo quy định, vì vậy họ phải chấp hành sự phân công công tác của tổ chức thực hiện TGPL, đồng thời họ phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật về bồi thường nhà nước nếu họ

có lỗi trong việc gây thiệt hại cho người được TGPL Về phía các cơ quan, tổ chức tham gia thực hiện TGPL, ngoài việc phân công người thực hiện TGPL tiến hành các hoạt động cụ thể để cung cấp dịch vụ pháp lý cho người được TGPL, thì các cơ quan, tổ chức này phải phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan khác, đặc biệt là các cơ quan tiến hành tố tụng để xác minh vụ việc, thu thập thông tin, tài liệu, chứng cứ phục vụ quá trình thực hiện vụ việc TGPL

- Chế định về người thực hiện TGPL là tổng thể các quy phạm pháp luật quy định về địa vị pháp lý của người thực hiện TGPL Chế định quy định

về điều kiện, tiêu chuẩn để trở thành Trợ giúp viên pháp lý, Cộng tác viên TGPL; quy định về trình tự, thủ tục bổ nhiệm Trợ giúp viên pháp lý, công nhận Cộng tác viên TGPL; quy định về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người thực hiện TGPL cho người được TGPL

- Chế định về người thực hiện TGPL có mối quan hệ chặt chẽ với các quy định về người được TGPL, tổ chức thực hiện TGPL, các quy định về phạm vi, hình thức, hoạt động TGPL, nội dung quản lý nhà nước về TGPL,

xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về TGPL Bởi vì, trong quá trình thực hiện TGPL phát sinh mối quan hệ giữa người thực hiện

Trang 37

TGPL với người được TGPL, với các cơ quan, tổ chức và cá nhân đòi hỏi cần

có pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ xã hội này để hoạt động cung cấp dịch vụ TGPL của người thực hiện TGPL cho người được TGPL có hiệu quả, thiết thực, đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động TGPL, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân

- Chế định về người thực hiện TGPL không nằm tập trung trong một văn bản quy phạm pháp luật, mà được quy định trong một số văn bản pháp luật khác nhau Bởi vì, xuất phát từ tính đa dạng của người thực hiện TGPL, bao gồm: Trợ giúp viên pháp lý, luật sư, Tư vấn viên pháp luật, Cộng tác viên TGPL Theo đó, luật sư được điều chỉnh bởi Luật Luật sư, Tư vấn viên pháp luật được điều chỉnh bởi Nghị định số 77/2008/NĐ-CP ngày 16/7/2008 của Chính phủ về tư vấn pháp luật, Trợ giúp viên pháp lý được điều chỉnh bởi Luật TGPL và các văn bản hướng dẫn thi hành như: Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007, Nghị định số 14/2013/NĐ-CP ngày 05/02/2013, Nghị định

số 80/2015/NĐ-CP ngày 17/9/2015 …

1.2.3 Yêu cầu hoàn thiện chế định về người thực hiện TGPL ở Việt Nam

Chế định về người thực hiện TGPL nói riêng cùng với hệ thống pháp luật về TGPL nói chung có vai trò to lớn, là phương tiện, công cụ để duy trì, tạo điều kiện và định hướng cho sự phát triển của hoạt động TGPL Người thực hiện TGPL là lực lượng nòng cốt cung cấp dịch vụ TGPL cho người được TGPL, vì vậy chế định về người thực hiện TGPL là nhân tố không thể thiếu trong việc huy động nguồn nhân lực tham gia các hoạt động TGPL, tạo hành lang pháp lý cho đội ngũ người thực hiện TGPL tham gia các hoạt động TGPL Nếu chế định về người thực hiện TGPL hoàn thiện, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, phù hợp, khả thi, hiệu quả sẽ góp phần tạo cơ sở pháp lý

để bảo đảm triển khai thực hiện có hiệu quả các hoạt động TGPL Chế định

về người thực hiện TGPL có vai trò cụ thể sau đây:

Trang 38

- Chế định về người thực hiện TGPL nói riêng, pháp luật TGPL nói chung là phương tiện thể chế hóa chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng về công tác TGPL, góp phần làm cho đường lối, chính sách của Đảng

đi vào cuộc sống

- Chế định về người thực hiện TGPL tạo cơ sở pháp lý cho sự phát triển

và nâng cao năng lực đội ngũ người thực hiện TGPL Để tổ chức thực hiện TGPL hoạt động hiệu quả, ngoài việc đòi hỏi phải xác định đúng cơ chế quản

lý, mô hình tổ chức hợp lý, khoa học thì phải có cơ chế đồng bộ thu hút được

sự tham gia đông đảo của lực lượng cung cấp dịch vụ TGPL trong xã hội Có thể nói, điều đó chỉ có thể được thực hiện khi dựa trên cơ sở vững chắc của các quy định cụ thể về người thực hiện TGPL

- Chế định về người thực hiện TPGL có vai trò quan trọng trong việc quy định quyền và nghĩa vụ của mỗi loại người thực hiện TGPL, đặc biệt là Trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên TGPL là luật sư, luật sư tham gia TGPL; đồng thời quy định cơ chế hữu hiệu nhằm phát hiện, loại trừ, khắc phục các hiện tượng tiêu cực của người thực hiện TGPL, bảo đảm chất lượng vụ việc TGPL

- Chế định về người thực hiện TGPL là cơ sở pháp lý cho việc phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm túc những hành vi vi phạm pháp luật của người thực hiện TGPL, góp phần tăng cường pháp chế trong lĩnh vực TGPL

- Chế định về người thực hiện TGPL góp phần tạo nên sự thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật về TGPL nói riêng và hệ thống pháp luật ở Việt Nam nói chung

1.3 Tiêu chí hoàn thiện chế định về người thực hiện TGPL ở Việt Nam

Để có cơ sở đánh giá, xác định mức độ hoàn thiện của chế định về người thực hiện TGPL cần căn cứ vào những tiêu chí xác định về mặt lý thuyết để đối chiếu với điều kiện, hoàn cảnh thực tế của từng giai đoạn cụ thể, xem xét một cách khách quan để rút ra những kết luận, làm rõ những ưu điểm

Trang 39

và nhược điểm của chế định về người thực hiện TGPL Có nhiều tiêu chí để đánh giá mức độ hoàn thiện của chế định về người thực hiện TGPL ở Việt

Nam, trong đó có thể phân chia thành các nhóm tiêu chí cơ bản sau đây:

1.3.1 Tiêu chí về mặt nội dung

Về cơ bản, chế định về người thực hiện TGPL được coi là hoàn thiện khi đáp ứng được các tiêu chuẩn về mặt nội dung sau đây:

- Phù hợp với các điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước Tính phù hợp của chế định về người thực hiện TGPL thể hiện sự tương quan giữa trình độ của pháp luật về người thực hiện TGPL với sự phát triển của nền kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội ở mỗi giai đoạn phát triển, cùng hệ thống pháp luật về TGPL nói chung, chế định về người thực hiện TGPL phải phản ánh đúng trình độ phát triển kinh tế, xã hội của quốc gia không thể cao hơn hoặc thấp hơn trình độ phát triển của nó, tuy nhiên cũng cần có tính dự báo

- Các nguyên tắc, trình tự, thủ tục TGPL, các điều kiện, tiêu chuẩn, quyền và nghĩa vụ của người thực hiện TGPL thể hiện trong chế định về người thực hiện TGPL phải đầy đủ, rõ ràng, minh bạch, cụ thể, ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho người thực hiện TGPL trong hoạt động TGPL

- Phù hợp với điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên Tiêu chí này đòi hỏi chế định về người thực hiện TGPL phải có sự kế thừa, có chọn lọc kinh nghiệm của các nước trong việc điều chỉnh bằng pháp luật các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình người thực hiện TGPL tham gia các hoạt động TGPL, bảo đảm cho chế định về người thực hiện TGPL không có sự mâu thuẫn, chồng chéo với điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết và gia nhập

1.3.2 Tiêu chí về mặt hình thức

- Tính toàn diện: Đây là tiêu chuẩn cơ bản thể hiện mức độ hoàn thiện

của hệ thống pháp luật nói chung và cũng là tiêu chí hàng đầu để đánh giá mức độ hoàn thiện của chế định về người thực hiện TGPL Cũng như đối với

Trang 40

hệ thống pháp luật, tính toàn diện là tiêu chuẩn để “định lượng” chế định về người thực hiện TGPL, có ý nghĩa quan trọng nhằm tiếp tục nghiên cứu để

“định tính” Tính toàn diện của chế định về người thực hiện TGPL đòi hỏi phải có đầy đủ các quy phạm pháp luật cần thiết, thể hiện thống nhất và phù hợp với đặc trưng của lĩnh vực TGPL

- Tính đồng bộ: Tính đồng bộ của chế định về người thực hiện TGPL

thể hiện sự thống nhất của nó, đòi hỏi giữa các bộ phận của chế định về người thực hiện TGPL và pháp luật về TGPL nói chung không mâu thuẫn, trùng lặp hoặc chồng chéo với nhau Tính đồng bộ của chế định về người thực hiện TGPL thể hiện ở hai cấp độ:

+ Ở cấp độ chung, đó là sự đồng bộ giữa các quy định của pháp luật về người thực hiện TGPL trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật có quy định về người thực hiện TGPL (Hiến pháp, Luật, Nghị định …) với các quy định của pháp luật về TGPL nói chung

+ Ở cấp độ cụ thể, tính đồng bộ thể hiện ở sự thống nhất, không trùng lặp, không mâu thuẫn, chồng chéo về nội dung giữa các quy phạm pháp luật trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định về người thực hiện TGPL

và trong từng văn bản quy phạm pháp luật về người thực hiện TGPL đơn hành

- Hình thức văn bản: Văn bản quy phạm pháp luật nói chung được coi

là hình thức pháp luật tiến bộ nhất, được phân ra theo thứ bậc cao thấp khác nhau là Hiến pháp, Luật, Bộ luật và các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật Chế định về người thực hiện TGPL được coi là hoàn thiện phải được ban hành dưới hình thức là luật, mang tính pháp điển cao, đúng thẩm quyền, trình

tự, thủ tục, có hình thức kết cấu, bố cục chặt chẽ, khoa học

- Kỹ thuật lập pháp: Một hệ thống pháp luật hoàn thiện nói chung phải

được xây dựng ở trình độ kỹ thuật lập pháp cao, đây cũng là yêu cầu cần phải đặt ra đối với chế định về người thực hiện TGPL Điều đó đòi hỏi quá trình

Ngày đăng: 17/03/2021, 11:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w