1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại CHÍNH SÁCH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG TRONG QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT và GIÁ TRỊ ĐƯƠNG đại

53 133 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 831,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đòi hỏi của thực tiễn cũng như yêu cầu phòng, chốngtham nhũng một cách triệt để nên nhiều đề tài, nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này đã lần lượt ra đời như: Đề tài nghiên cứu k

Trang 1

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

ĐƯƠNG ĐẠI

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

MSSV: 5044080

Lớp: Luật Thương mại 30

Cần Thơ, 5/2008

Trang 2

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

LỜI NÓI ĐẦU oOo

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tham nhũng và chống tham nhũng là hiện tượng xã hội đã có từ lâu trong lịch sử loài người Đặc biệt, từ nửa cuối thế kỷ thứ XX, tham nhũng nổi lên như

“căn bệnh ác tính” bùng phát, đe dọa cả nền kinh tế, văn hóa lẫn đạo đức của loài

người, có sức tàn phá và ngăn cản rất lớn đối với sự phát triển của mọi quốc gia

Trong khoảng chừng 30 năm nay, nhiều quốc gia, nhiều khu vực đã hao tâm, tổn trí rất nhiều vào việc tìm kiếm những giải pháp hữu hiệu, đưa ra những tuyên bố cứng rắn và mở những chiến dịch rộng rãi để ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng, song hiệu quả còn xa với yêu cầu của sự phát triển và đòi hỏi của nhân loại tiến bộ

Cũng như các nước khác, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của nước

ta đã diễn ra từ xa xưa và càng được coi trọng trong suốt 62 năm nay dưới chế độ mới Chỉ ít lâu sau khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Bác Hồ đã chỉ

rõ tham nhũng ở nước ta là "giặc nội xâm", và vài thập kỷ gần đây Đảng, Nhà nước

và nhân dân ta đã coi tham nhũng là “quốc nạn”.

Do nhận thức được tác hại và nguy cơ của tệ nạn tham nhũng, nên ngay từ ngày giành được chính quyền về tay nhân dân, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều biện pháp phòng, chống tham nhũng, tiêu cực Mới đây tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật phòng, chống tham nhũng thể hiện quyết tâm chính trị cao của Đảng và Nhà nước ta trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng Mặc dù, đã ban hành nhiều văn bản pháp luật cũng như thực hiện nhiều biện pháp đấu tranh mạnh mẽ, quyết liệt nhưng trong những năm gần đây tình hình tham nhũng không những không có dấu hiệu giảm mà còn diễn biến hết sức phức tạp Tham nhũng xuất hiện ở mọi cấp, mọi ngành, mọi lĩnh lực của bộ máy Nhà nước gây bất bình và bức xúc trong nhân dân Do đòi hỏi của thực tiễn cũng như yêu cầu phòng, chốngtham nhũng một cách triệt để nên nhiều đề tài, nhiều công trình nghiên cứu về vấn

đề này đã lần lượt ra đời như: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ “Tham nhũng và

đấu tranh chống tham nhũng ở nước ta hiện nay” của Học viện hành chính Quốc

gia; các công trình nghiên cứu của Ban nội chính trung ương Đảng; của Viện khoa học thanh tra; của một số nhà khoa học và luật gia;… cùng hàng trăm bài báo, bài viết đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành, các báo của trung ương và địa phương.Tuy nhiên, như thế cũng chưa đủ để xây dựng những chế định luật nhằm xử lý một

Trang 3

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

cách triệt để vấn nạn này Chính vì vậy, nghiên cứu cách phòng, chống tham nhũngluôn luôn là vấn đề được đặt lên hàng đầu trong chính sách của Đảng và Nhà nước.Trong tiến trình lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước kinh nghiệmphòng, chống tham nhũng trong các triều đại phong kiến có một giá trị tham khảo

vô cùng to lớn, đặc biệt là Quốc triều hình luật, bộ luật hình tiến bộ nhất trong chế

độ phong kiến, vấn đề phòng, chống tham nhũng có một giá trị đương đại hết sứcquan trọng được Đảng và Nhà nước quan tâm nhất hiện nay trong quá trình hội nhập kinh tế Quốc tế Trên cơ sở đó, tìm ra các giải pháp để hạn chế tham nhũng cũng như xây dựng một cơ chế thực hiện pháp luật về chính sách phòng, chống tham nhũng được hoàn thiện hơn Đây cũng chính là lý do Tôi chọn đề tài này làm trọng tâm nghiên cứu

2 Phạm vi nghiên cứu

Do hạn chế về nguồn tài liệu nghiên cứu cũng như kiến thức pháp luật về lĩnh vực có liên quan đến đề tài tham nhũng cho nên trong đề tài này Tôi chỉ tập trung nghiên cứu về vấn đề chính sách phòng, chống tham nhũng trong Quốc triềuhình luật và so sánh với pháp luật hiện hành để thấy được giá trị đương đại củachính sách phòng, chống tham nhũng trong Quốc triều hình luật hiện nay

3 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu nhằm tìm hiểu về chính sách phòng, chống tham nhũng trong Quốc triều hình luật để thấy được giá trị đương đại của bộ luật nàytrong giai đoạn hiện nay Mục tiêu của đề tài nhằm làm rõ những vấn đề lý luận vàthực tiễn của hiện tượng tham nhũng; một số biện pháp phòng, chống tham nhũng hiện nay, thấy được những mặt tích cực và hạn chế của chính sách phòng, chốngtham nhũng của pháp luật hiện hành, đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện phápluật về phòng, chống tham nhũng

4 Phương pháp nghiên cứu:

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả vận dụng phương pháp so sánh, phân tíchlịch sử, phân tích luật viết, kết hợp phân tích lý luận và thực tiễn để làm rõ nội dung của từng chế định luật có liên quan, từ đó đi sâu tìm hiểu giá trị của những chế địnhluật đó

5 Bố cục của đề tài:

Ngoài Lời nói đầu và Kết luận, đề tài Luận văn được chia thành ba chương:

Trang 4

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Chương 1: Khái quát về tham nhũng và chính sách phòng, chống tham nhũng.

Chương 2: Chính sách phòng, chống tham nhũng trong Quốc triều hình luật và giá trị đương đại.

Chương 3: Những giá trị đương đại và bài học phòng, chống tham nhũng ngày nay.

Trang 5

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THAM NHŨNG VÀ CHÍNH SÁCH

PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG 1.1 Khái niệm chung về tham nhũng

1.1.1 Khái niệm

Tham nhũng là một phạm trù lịch sử, xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước và tồn tại song song cùng với sự phát triển của Nhà nước Lịch sử Nhà nước

từ khi xuất hiện đến nay cho thấy, tham nhũng như một khuyết tật bẩm sinh của

“quyền lực”, là một loại tội phạm cực kỳ nguy hiểm bởi tính chất và hậu quả của nó

gây ra Cho nên, tham nhũng được coi như là một “quốc nạn”cần phải chủ động

phòng ngừa và kiên quyết trừng trị bằng nhiều biện pháp mạnh mẽ để răng đe Vì vậy, để phòng ngừa và đấu tranh có hiệu quả với tham nhũng đòi hỏi chúng ta phải hiểu rõ tham nhũng là gì? Những đặc điểm nhận dạng những hành vi tham nhũng, nguyên nhân và hậu quả do nó gây ra…Trong đó, việc xác định chính xác khái niệm tham nhũng là vô cùng quan trọng Vậy tham nhũng là gì? Thuật ngữ tham nhũng xuất hiện từ bao giờ? Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này

Thuật ngữ tham nhũng bắt nguồn từ tiếng Latinh Rumpese (động từ) với

nghĩa là bẻ gãy, vi phạm hoặc sai lệch Trong tiếng Anh, tham nhũng được gọi là

Corruption xuất phát từ động từ Corrupt nghĩa là bị đút lót, bị mua chuộc, đồi bại…(1) nhằm chỉ các quan chức Nhà nước đã vi phạm luân thường, đạo lý xã hội hoặc các luật lệ để tìm kiếm nguồn lợi cho bản thân, gia đình, bạn bè, đảng phái hay các nhóm người có liên quan Thuật ngữ tham nhũng theo cách hiểu thông thường hiện nay là để chỉ những hành vi tiêu cực của những cá nhân, tổ chức có quyền lực lợi dụng chức quyền để chiếm đoạt tài sản, tiền của Nhà nước, tổ chức và của công dân để thoả mãn lòng tham, tính vụ lợi của cá nhân; là sự kết hợp giữa quyền lực và lòng ham muốn lợi ích cá nhân do những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định cụ thể tác động như cơ chế, chính sách, pháp luật, đạo đức… Theo Từ điển tiếng Việt của

Trung tâm từ điển học thì: “Tham nhũng là lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu

nhân dân và lấy của” (2) Tham nhũng là những hành vi lợi dụng địa vị, chức vụ

trong bộ máy nhà nước, quyền lực do địa vị, chức vụ đó tạo ra, nhiệm vụ được giao

để mưu lợi bất chính, chiếm dụng những giá trị, tiền bạc, của cải của Nhà nước, xã hội, tập thể và công dân Nhà nước ở đây được hiểu bao gồm cả các tổ chức đoàn

(1) Nguồn: Từ điển Anh - Việt, Nxb TP Hồ Chí Minh – 1997, tr 210.

(2)Từ điển tiếng Việt – Nxb Đà Nẵng – 1998, tr 878.

Trang 6

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

thể, tổ chức xã hội Chủ thể của những hành vi tham nhũng có thể là cá nhân, một nhóm người, có thể là một tập đoàn người của một đơn vị

Tham nhũng được biểu hiện cụ thể bằng những hành vi:

- Tham ô;

- Hối lộ, nhận hối lộ;

- Làm trái chính sách, trái quy định của Nhà nước để trục lợi

Từ những hành vi trên, ta có thể mạnh dạn đưa ra khái niệm “tham nhũng” như sau: “Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng

chức vụ, quyền hạn đó để tham ô, hối lộ, nhận hối lộ hoặc cố ý làm trái pháp luật vì động cơ vụ lợi, gây thiệt hại tài sản của Nhà nước, tập thể và cá nhân, xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức, công chức nhà nước” Còn theo Luật

phòng, chống tham nhũng vừa được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 11 năm

2005 tại Điều 1 khoản 2 thì: “Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền

hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi”

Từ những khái niệm trên, có thể hiểu rằng tham nhũng là hành vi chỉ được thực hiện bởi những người có chức vụ, quyền hạn Những người này, lợi dụng chức

vụ, quyền hạn đó để vụ lợi Những lợi ích mà họ có được từ tham nhũng chủ yếu là lợi ích vật chất, nhưng cũng có thể là lợi ích tinh thần, lợi ích chính trị hoặc các loại lợi ích khác mà họ mong muốn đạt được Hành vi tham nhũng thường được biểu hiện bằng việc các công chức nhà nước cố ý làm trái các quy định pháp luật trong chấp hành chức trách, công vụ được giao hoặc không thực hiện chức trách, công vụ được giao Những biểu hiện tập trung và điển hình nhất là ở hành vi tham ô và nhận hối lộ

1.1.2 Đặc điểm của tham nhũng

Dựa trên khái niệm về tham nhũng chúng ta có thể rút ra ba đặc điểm chínhcủa tham nhũng như sau:

- Về chủ thể: Chủ thể của tham nhũng phải là những người có chức vụ, quyền hạn hay có trách nhiệm trong việc quản lý một số công việc cụ thể như: làmviệc trong bộ máy Nhà nước, bộ máy của Đảng chính trị, trong bộ máy của các tổchức kinh tế Nhà nước hay tư nhân (nếu hiểu tham nhũng theo nghĩa rộng)

- Về mặt hành vi: Tham nhũng được thể hiện bằng cách người thực hiệnhành vi lợi dụng chức vụ, quyền lực, lợi dụng nhiệm vụ, trọng trách cũng như vị trí, địa vị công tác mà mình được giao phó để không làm hoặc làm trái với những

Trang 7

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

nguyên tắc quản lý Nhà nước, trái với nội dung công việc được giao, gây thiệt hạiđến lợi ích chung của Nhà nước, xã hội, các tổ chức và công dân

- Về mặt động cơ, mục đích: Thể hiện ở chỗ vụ lợi cá nhân cho bản thân, cho nhóm mang tính tập thể hoặc cho những người khác, sự vụ lợi cá nhân về vật chất

có thể được hưởng ngay nhưng cũng có thể phải qua khâu trung gian, hoặc làchuyển vụ lợi cá nhân cho người thân Những đặc điểm trên ngoài tác dụng giúpchúng ta nhận diện những hành vi tham nhũng còn là yếu tố trong cấu thành tộiphạm hình sự để xử lý nhũng hành vi tham nhũng

1.1.3 Nguồn gốc của tham nhũng

Tham nhũng xuất hiện từ rất sớm từ khi có sự phân chia quyền lực và hình thành nhà nước Có ý kiến cho rằng tham nhũng bắt nguồn từ nền văn hóa độc tài đề cao cá nhân, coi trọng biếu xén Ý kiến khác cho rằng: xã hội thay đổi các chuẩn mực về đạo đức, xã hội biến đổi liên tục, nền kinh tế biến đổi mạnh sinh ra tham nhũng

1.1.3.1 Nguồn gốc chung của hiện tượng tham nhũng

Tham nhũng là một hiện tượng xã hội có mầm mống từ rất lâu trong lịch sử

xã hội loài người, từ khi hình thành các bộ lạc, thị tộc nguyên thủy vào cuối giai đoạn công xã nguyên thủy đầu thời kỳ chiếm hữu nô lệ, tức là khi bắt đầu hìnhthành những tổ chức Nhà nước đầu tiên, sơ khai Hiện tượng tham nhũng bắt đầukhi những người đứng đầu bộ lạc, thị tộc do lòng tham đã lợi dụng uy tín chiếmđoạt phần của cải dư thừa làm của riêng đây chính là hình thức sơ khai của tham nhũng Nhưng tham nhũng chỉ trở thành vấn đề của xã hội và phát triển mạnh khi xãhội bắt đầu có giai cấp, Nhà nước Như vậy là trong chế độ xã hội cộng sản nguyên thủy không có hiện tượng tham nhũng

Lịch sử loài người đã trải qua ba lần phân công lao động xã hội lớn, mà mỗilần xã hội lại có những bước tiến mới làm sâu sắc thêm quá trình tan rã của chế độcộng sản nguyên thủy Sau lần phân công lao động xã hội đầu tiên – chăn nuôi tách

ra khỏi trồng trọt thành một ngành kinh tế độc lập thì những mầm mống đầu tiên của chế độ tư hữu xuất hiện, xã hội đã phân chia thành người giàu, người nghèo Đến lần phân công lao động thứ hai - thủ công nghiệp tách ra khỏi nông nghiệp, nô

lệ đã trở thành bộ phận cấu thành chủ yếu của hệ thống xã hội và lần phân công lao động thứ ba – ngành thương nghiệp phát triển, xuất hiện tầng lớp thương nhân Những thay đổi trên đã làm đảo lộn đời sống thị tộc, chế độ thị tộc đã tỏ ra bất lực, những xung đột về lợi ích giữa các giai cấp, giữa người giàu và kẻ nghèo diễn ra

Trang 8

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

gay gắt Xã hội đòi hỏi cần phải có một tổ chức mới đủ sức mạnh để giải quyếtnhững mâu thuẫn, xung đột đó, tổ chức đó chính là Nhà nước Nhà nước ra đời cùngvới bộ máy của nó đã kịp thời giải quyết những mâu thuẫn, xung đột nhưng cũng từtrong bộ máy của nó đã kế thừa những mầm mống tham nhũng manh nha từ thời thịtộc, bộ lạc giờ trở thành căn bệnh tham nhũng tồn tại song song và gắn liền với bộmáy Nhà nước

Tham nhũng là căn bệnh muôn thuở, căn bệnh ung thư của mọi Nhà nước Cội nguồn của nó chính là ở thuộc tính tự nhiên của con người kết hợp cùng vớinhững điều kiện kinh tế - xã hội nhất định đó là các xã hội có giai cấp và Nhà nước Khi xây dựng một lý luận, một tiêu chuẩn trong lĩnh vực tư tưởng hay đạo đức xa hội, một khuynh hướng thường thấy là người ta không hoặc cố tình không nhìnnhận những gì đang tồn tại trong thực tế với đầy đủ các khuyết tật tự nhiên của nó Nếu nhìn nhận một cách tỉnh táo, chúng ta không thể không thừa nhận sự tồn tại củanhững mặt khuyết tật, cái mà chúng ta thường gọi là các căn bệnh xã hội Trong vấn

đề đang nghiên cứu, chúng ta phải thừa nhận rằng tham nhũng tồn tại trong mọi thờiđại, mọi Nhà nước, mọi hệ thống chính trị Vì vậy, chúng ta phải đối mặt với nạntham nhũng với nhiều hình thức, thủ đoạn tinh vi

Như vậy, tham nhũng xuất hiện từ rất sớm, từ khi có sự phân chia quyền lực

và hình thành Nhà nước; tham nhũng là một căn bệnh xã hội của nhân loại Và cũngnhư các loại bệnh xã hội khác, nó là khuyết tật tự nhiên mang tính bản năng, là mộtphần thuộc về bản chất đời sống của con người; đồng thời cũng chịu những tácđộng của các điều kiện kinh tế - xã hội Tham nhũng xuất hiện cùng với sự ra đờicủa Nhà nước và tồn tại song song cùng với sự phát triển của Nhà nước, do đó nó sẽtiêu vong cùng với sự tiêu vong của Nhà nước Tức là khi xã hội không còn giai cấp

và đấu tranh giai cấp đó là xã hội Cộng sản chủ nghĩa Khi đó con người “Làm việc

theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” thì nguồn gốc tự nhiên và xã hội của tham

nhũng sẽ không còn

1.1.3.2 Nguồn gốc kinh tế - chính trị - xã hội của tham nhũng hiện đại

Mặc dù là một hiện tượng muôn thuở, tham nhũng ở mỗi triều đại, mỗi thờiđại lịch sử, chịu tác động của những nhân tố kinh tế - chính trị - xã hội khác nhau

Để chống tham nhũng có hiệu quả cần phải dựa trên cơ sở phân tích khoa họcnhững nhân tố đó Dưới đây là những phân tích sơ bộ về nguồn gốc kinh tế - chínhtrị - xã hội của tham nhũng hiện đại:

Trang 9

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

- Về mặt kinh tế: Tham nhũng là hậu quả của môi trường kinh tế thiếu minh bạch Môi trường kinh tế thiếu minh bạch là mảnh đất tốt cho các hành vi tham nhũng sinh sôi nảy nở Điều này lý giải tại sao tham nhũng tại các nước đang pháttriển trầm trọng hơn nhiều so với các nước phát triển, nơi có môi trường kinh tếminh bạch hơn Tại những nước có môi trường kinh tế kém minh bạch, việc trốnthuế diễn ra tràn lan, lý do đơn giản là tại đó hành vi này dễ dàng thực hiện trót lọthơn tại các quốc gia khác Trong môi trường kinh tế thiếu minh bạch, sự can thiệpthái quá và nhiều khi thô bạo của các cơ quan Nhà nước vào hoạt động kinh doanh làm méo mó các quan hệ kinh tế - xã hội Đó là tình trạng tốt tạo điều kiện thuận lợi

để các quan tham dễ bề trục lợi Do đó, chúng ta có thể khẳng định rằng nguồn gốcsâu xa sinh ra tham nhũng chính là lợi ích kinh tế

- Về mặt chính trị: Tham nhũng là kết quả của hệ thống chính trị thiếu khảnăng tự kiểm soát Một hệ thống chính trị không xây dựng được các tiêu chuẩn, không tự kiểm soát được, để cho quyền lực bị đánh cắp đại trà trên quy mô xã hội, dưới mọi hình thức, mọi mức độ sẽ tạo cơ hội tốt cho tham nhũng phát triển Hệthống chính trị thiếu khả năng tự kiểm soát sẽ làm xuất hiện sự nhập nhằng trong nhận thức và những cơ cấu không được pháp chế hóa Tất cả những yếu tố này giảithích tại sao trong thời đại chúng ta, tham nhũng lại nở rộ tại những quốc gia trong

đó nền chính trị tuột khỏi tầm kiểm soát của xã hội

Tham nhũng là kết quả của tình trạng thiếu dân chủ trong sinh hoạt chính trị Tham nhũng gắn liền với bản chất con người, những không phải bất kỳ ai cũngtham nhũng và cũng có thể tham nhũng Để tham nhũng thì phải có chức vụ, địa vị

và quyền lực Ngoài ra, tham nhũng còn phụ thuộc vào các cơ chế xã hội có nhiệm

vụ hạn chế hành vi tham nhũng Khi một quốc gia lâm vào tình trạng thiếu dân chủtrong sinh hoạt chính trị, những người thoát khỏi sự hạn chế của các cơ chế xã hội

sẽ lợi dụng, lạm dụng quyền lực, địa vị, uy tín xã hội để thực hiện hành vi tham nhũng Cùng với tình trạng thiếu dân chủ trong sinh hoạt chíng trị, sự thiếu công khai trong đời sống chính trị cũng tạo ra không gian đen tối cho hiện tượng tham nhũng phát sinh và phát triển

- Về mặt thể chế Nhà nước: Tham nhũng là con đẻ của những thể chế tồn tạibất hợp lý và bị độc quyền lũng đoạn Quy mô tham nhũng lệ thuộc nhiều vào tínhchất của thể chế Nhà nước Các thể chế này không đủ năng lực để tự kiểm soát, nhưng lại ra sức ngăn cản việc xây dựng một thể chế mới có thể quản lý xã hội hữuhiệu hơn Tình trạng bất hợp lý của thể chế có thể thấy rõ ở một bộ phận nhân lực

Trang 10

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

quan trọng của nó được trả lương quá thấp so với nhu cầu tối thiểu của cuộc sống.Thể chế bất hợp lý đã buộc nhiều người phải tham nhũng để sống và tồn tại

- Về mặt pháp luật: Tham nhũng là kết quả của tình trạng các quyền và lợiích cá nhân bị hạn chế hoặc chưa được hợp pháp hoá Tình trạng nhiều quyền lợichính đáng của cá nhân không được hợp pháp hoá hoặc bị hạn chế như chúng ta cóthể quan sát thấy tại nhiều quốc gia chậm phát triển Điều này trên thực tế đã đẩynhiều người vào vòng xoáy tham nhũng để thoả mãn các khát vọng thật ra là chínhđáng của họ Điều nguy hiểm là ở chỗ tình trạng này sẽ tạo ra sự nhập nhằng vềnhận thức Việc thay thế các quy định của pháp luật bằng những thoả mãn ngầmtrên quy mô xã hội hoặc đạo đức xã hội khiến các nhóm lợi ích luôn đấu tranh vớinhau trên cùng một cá nhân Nếu chúng ta tạo cho cá nhân một không gian sống tốt, nếu chúng ta hợp pháp hoá các quyền cá nhân chính đáng để mỗi các nhân có thểphát huy tối đa sức sống, sức sáng tạo của họ trong khuôn khổ pháp luật, chắc chắnrất nhiều người bình thường sẽ sống và ứng xử theo những chuẩn mực được chấpnhận rộng rãi trong xã hội

- Về mặt văn hoá xã hội: Tham nhũng được hỗ trợ bởi những yếu tố tiêu cựctrong nền văn hoá, chẳng hạn tính gia trưởng vốn là một đặc điểm rất rõ nét trong các triều đại phong kiến Văn hoá gia trưởng gắn liền với việc độc quyền sở hữu lẽphải Kết quả là quyền lực dễ bị đánh cắp, tạo cơ sở cho cả tham nhũng vật chất vàtinh thần Xét từ góc độ người dân thì tâm lý cam chịu, xem tham nhũng như là việcbình thường của những người làm quan do đó họ chấp nhận việc quà cáp, biếu xén(mà thực chất là đút lót, hối lộ) cho các quan chức để được việc hay khi bị sáchnhiễu, đòi hối lộ thì họ thường chấp nhận để được giải quyết cho xong việc của

mình chứ không chống lại hoặc không dám chống lại Họ quan niệm rằng: “đồng

tiền đi trước là đồng tiền khôn” có tiền mọi việc sẽ được giải quyết một cách dễ

dàng, nhanh chóng và ổn thoả Đây là nguồn gốc văn hoá xã hội tiêu cực biểu hiện

rõ nét trong các triều đại phong kiến và đương đại, người dân không biết rằng chính

quan niệm và cách ứng xử của họ đã tạo ra một thứ “văn hoá tham nhũng” là môi

trường văn hoá có lợi cho tham nhũng, làm cho tham nhũng dễ phát triển cả vềlượng và chất

- Về mặt nhân văn: Tham nhũng là hậu quả của quan niệm lệch lạc và thái độthiếu tôn trọng các giá trị cá nhân Các giá trị cá nhân không được tôn trọng sẽ dẫnđến sự xâm hại các giá trị công cộng Điều này có vẻ ngược đời nhưng thật ra rấthợp logic Trên thực tế, việc chống chủ nghĩa cá nhân một cách thái quá luôn luôn dẫn đến một tình trạng cực đoan trong đời sống tinh thần của xã hội Tâm lý xem

Trang 11

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

nhẹ, nếu không muốn nói là bài bác các giá trị cá nhân khiến người ta tìm mọi cáchhạn chế không gian sống của cá nhân, làm cho con người thiếu ý thức trách nhiệm

về hành vi của mình, dễ dàng bằng lòng với thực tại, dễ dàng tham nhũng, tiếp tay hoặc ít nhất là mặc nhiên thừa nhận tham nhũng Sự ngộ nhận về giá trị cá nhân vàgiá trị tập thể còn dẫn đến cả hiện tượng tham nhũng mang tính tập thể, nghĩa là có

sự kết cấu, đồng tình để tiến hành hành vi tham nhũng trên quy mô lớn hơn Đóchính là mầm mống của tội phạm có tổ chức Còn nếu cá nhân nào không chịu tham nhũng, họ sẽ không còn là người của tập thể, họ sẽ bị loại khỏi cuộc chơi Điều nàygiải thích tại sao tham nhũng trong các triều đại phong kiến có sự nhìn nhận sai lệch

về cá nhân và tập thể lại càng trầm trọng và khó đẩy lùi hơn trong đương đại

1.1.4 Tác hại và sự cần thiết phải phòng, chống tham nhũng

1.1.4.1 Tác hại của tham nhũng

Tham nhũng là một căn bệnh cố hữu của quyền lực, là kẻ thù bên trong củamọi chính quyền, là nguyên nhân từng làm sụp đổ nhiều triều đại và quốc gia Ở

Việt Nam hiện nay, tham nhũng đang được coi là “trọng bệnh” của bộ máy công

quyền Trước tác động của các quan hệ kinh tế thị trường, tham nhũng càng có môi trường thuận lợi để bùng phát

Đã có nhiều giải pháp được đưa ra để hạn chế nạn tham nhũng, song công tácđấu tranh phòng, chống tham nhũng vẫn chưa mang lại kết quả như mong muốn Do

đó, thực tế trên cho thấy rằng, tác hại của tham nhũng là vô cùng nghiêm trọng thểhiện ở các mặt sau:

- Đối với lĩnh vực kinh tế - chính trị: Tác hại của tham nhũng xảy ra trong lĩnh vực này, làm cho nền chính trị không ổn định dẫn đến dân chúng mất niềm tin vào chính phủ, kéo theo sự chậm phát triển về kinh tế của đất nước, là nguy cơ làmcho nước ta bị tụt hậu xa hơn về kinh tế Từ đó, nền kinh tế bị suy thoái có khả năng dẫn đến lạm phát, đầu tư nước ngoài không được mở rộng do đối tác không tin tưởng Vì vậy, kinh tế là lĩnh vực luôn tiềm ẩn khả năng tham nhũng lớn, nhất làtrong điều kiện, môi trường của một nền kinh tế đang chuyển đổi như nước ta, bởi ở

đó, lợi ích vật chất được xác định là động lực thúc đẩy mạnh mẽ hành vi tham nhũng Thực tiễn cho thấy, tham nhũng kinh tế có quy mô ngày càng lớn, với mức

độ tinh vi, phức tạp và được tổ chức chặt chẽ Nguyên nhân của tình trạng đó, trướchết là do cải cách kinh tế ở nước ta chưa triệt để, chưa đảm bảo đúng quy luật củanền kinh tế thị trường, dẫn đến sự độc quyền của Nhà nước vẫn còn tồn tại, nhất làđộc quyền phân bổ nguồn lực công Độc quyền không bị giám sát và không bị điều

Trang 12

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

tiết đã làm cho các đơn vị quản lý kinh tế và các doanh nghiệp nhà nước độc quyền

có quyền lực kinh tế rất lớn Trong môi trường đó, nhiều doanh nghiệp đã dùng sức

mạnh kinh tế để “lo lót” nhằm lũng đoạn, giành giật thị trường, cạnh tranh bất hợp pháp, phá vỡ các quy luật của thị trường Nạn “buôn” cơ chế, “buôn” chính sách

cũng từ đó mà xuất hiện

Ngoài ra, sự phát triển của tham nhũng còn có nguyên nhân từ sự can thiệpquá sâu của Nhà nước vào sự vận hành của nền kinh tế Sự nhập nhằng, lẫn lộn giữachức năng quản lý nhà nước và hoạt động sản xuất kinh doanh đã dẫn tới nhữngquyết định kinh tế mang tính tùy tiện, lúc cấm, lúc mở, có việc vừa bao cấp lại vừahạch toán theo cơ chế thị trường dễ bị lợi dụng để tham nhũng, tiêu cực Biểu hiện

rõ nhất là cơ chế “xin – cho” vẫn còn tồn tại, tình trạng chủ quan, bao cấp vẫn chưa

mất hẳn, làm cho mối quan hệ ngầm giữa quan chức và doanh nghiệp ngày càng

phát triển, và đi cùng với nó là nạn đút lót, “hoa hồng”, “lại quả” và những thỏa

thuận ăn chia, bớt xén Đó là lý do giải thích tại sao nhiều doanh nghiệp được ưu tiên hợp đồng đầu tư, cung ứng dịch vụ bằng thư tay, điện thoại, thậm chí bằng cáccông văn can thiệp một cách thẳng thừng Hàng loạt các vụ án tham nhũng lớn, phức tạp, gây hậu quả nghiêm trọng đã được phát hiện và xử lý trong thời gian qua như: vụ án Lã Thị Kim Oanh (Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn), vụ án tham nhũng tiêu cực ở Tổng công ty Dầu khí Việt Nam, vụ án cấp phát quota dệt may (Bộ Thương mại), vụ PMU 18 (Bộ Giao thông vận tải)… là những minh chứngthuyết phục

- Đối với lĩnh vực văn hoá - xã hội: Làm cho xã hội suy thoái, con người trởnên biến chất, đời sống xã hội không lành mạnh Tư tưởng con người bị dao động, niềm tin vào lẽ phải công bằng, dân chủ không còn, mục tiêu xây dựng xã hội văn minh không đạt được Từ đó, dẫn đến đời sống con người trở nên suy thoái, những

tư tưởng, những lối sống tiến bộ dần dần biến mất, làm cho con người trở nên vụ

lợi, tranh giành quyền lực,… Từ xưa tới nay, “quan tham, lại nhũng” là những hiện

tượng bị xã hội lên án vì sự tồn tại của nó thách thức các nguyên tắc đạo đức, nhữnggiá trị văn hoá cơ bản của dân tộc Tuy nhiên, trong tâm lý của người dân, tham nhũng dường như đã và đang được chấp nhận ở một mức độ nhất định, vì nó được

bao bọc, che chở dưới “vỏ bọc” của một số giá trị văn hoá truyền thống Có thể

nhận thấy rằng, chuyện quà cáp, thăm hỏi lẫn nhau được coi là một trong nhữngcách ứng xử mang nét văn hoá của người Việt Nam từ trước tới nay Từ cách ứng

xử này, văn hoá quà cáp, văn hoá biếu xén được hình thành trong các mối quan hệgia đình, hàng xóm, láng giềng, bạn bè, đồng nghiệp…

Trang 13

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Ngày nay, cách ứng xử này nhiều nơi, nhiều lúc bị lạm dụng quá mức, trởthành mảnh đất tốt cho nạn hối lộ, lo lót tồn tại và phát triển Chẳng hạn, tập quán

“miếng trầu là đầu câu chuyện” bị biến dạng thành phương châm “phong bì là đầu câu chuyện”, “đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn”; đạo lý “ăn quả nhớ người trồng cây” bị lợi dụng thành nơi mặc cả, mua bán, chia chác, lại quả Chuyện ơn

nghĩa bây giờ không chỉ là “nhớ ơn”, “biết ơn” mà phải “đền ơn”, “đáp nghĩa”,

và đi kèm với “ơn, nghĩa” đó là tiền, là quà… Lối suy nghĩ mọi thứ đều có thể giải quyết bằng “phong bì” cũng từ đó mà hình thành Đây là những yếu tố tâm lý xã

hội đã và đang phát triển theo chiều hướng lệch lạc, ảnh hưởng tiêu cực không nhỏđến đời sống xã hội nước ta, trở thành hiện tượng rất khó ngăn chặn trong cơ chế thịtrường, khi mọi thứ đều có thể vật chất hoá Điều nguy hiểm hơn chính là ý thức, hành vi tham nhũng nhỏ là mầm mống nuôi dưỡng ý thức, hành vi tham nhũng lớn Tham nhũng, khi đã mang tính phổ biến, được hiểu như là luật bất thành văn thì nó

không còn bị xem như một hành vi sai trái nữa Một “văn hoá tham nhũng” như

vậy rất khó giải quyết, bởi vì lúc bấy giờ, chúng ta nói đến những điều được chấp

nhận về mặt văn hoá xã hội, trở thành “chuyện thường ngày” trong đời sống xã hội.

Như vậy, tham nhũng với những hành vi, hiện tượng và biểu hiện cũng nhưtác hại to lớn của nó có thể làm hỏng đời sống kinh tế của xã hội, làm tăng tìnhtrạng nợ nần, bần cùng hóa đất nước và thậm chí không loại trừ khả năng là làm sụp

đổ chính quyền, đánh mất chủ quyền quốc gia dân tộc Chính vì vậy, Đảng và Nhà

nước ta xác định tham nhũng là “quốc nạn” và là một trong bốn nguy cơ lớn đối

với sự tồn vong của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa

1.1.4.2 Sự cần thiết phải phòng, chống tham nhũng

Tham nhũng là “quốc nạn”, muốn phòng, chống tham nhũng phải nhận diện

tham nhũng thật rõ ràng từ nhiều phía Người dân không thể tham nhũng, tham nhũng là một loại tội phạm đặc biệt giành cho kẻ có quyền Tội này liên quan mậtthiết đến chức vụ, chức vụ càng cao, quyền hành càng nhiều thì cơ hội phạm loại tộinày càng lớn Một đặc trưng của loại tội phạm này được mô tả một cách hình ảnh là

con mèo ăn vụng con cá con thì ai cũng có thể đánh, còn con cọp bắt cả con trâu thì mọi người phải né tránh, vì sợ cọp vồ(3) Điều đó cho thấy việc trừng trị loại tộiphạm này thường chỉ dừng lại ở cấp dưới, mới chỉ tắm từ vai xuống Từ đó cho thấy, cần phải có chính sách phòng, chống tham nhũng triệt để, nhằm hạn chế tình

trạng “quốc nạn” này Khi đất nước ta đã và đang mở cửa để hội nhập kinh tế quốc

(3)Nguồn: Mục sự kiện, chính trị, pháp luật, Tạp chí Pháp lý, số 7 – 2005.

Trang 14

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

tế Mong rằng, khi Luật phòng, chống tham nhũng thực thi sẽ tạo nên được vũ khí

bảo vệ để mọi người dân yên tâm “đánh cọp” mà không sợ “cọp vồ”!

Luật phòng, chống tham nhũng đã có hiệu lực từ ngày 1 tháng 6 năm 2006

Để đạo luật này phát huy hiệu quả trong công tác phòng, chống tham nhũng, mộttrong những biện pháp quan trọng là việc thành lập Ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng trung ương (Ban chỉ đạo).(4)

Ngay từ khi đạo luật này được Quốc hội thông qua, Chính phủ đã xúc tiếnkhẩn trương việc xây dựng và hoàn thiện đề án việc thành lập Ban chỉ đạo Bản đề

án đã được soạn thảo, được góp ý, cho ý kiến từ nhiều người có trách nhiệm và đãđược trình lên Thủ tướng

Đây là một bước đi quan trọng và kịp thời để công tác phòng, chống tham nhũng có được một cơ quan chuyên trách với chức năng, thẩm quyền và nhiệm vụ

cụ thể, có tổ chức bộ máy đủ mạnh và hiệu quả, nhanh chóng đưa các quy định củaLuật phòng, chống tham nhũng thành công việc hàng ngày Tuy nhiện, bởi tham

nhũng đang là một “quốc nạn”, việc thành bại của công tác phòng, chống tham

nhũng – cũng là hiệu lực thực tế, tính hữu dụng của Luật phòng, chống tham nhũng

- phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả hoạt động của Ban chỉ đạo, nên đề án thành lập Ban chỉ đạo đã thu hút được sự quan tâm của toàn xã hội

1.2 Chính sách phòng, chống tham nhũng

Chính sách phòng, chống tham nhũng là chiến lược được Đảng và Nhà nước

ta quan tâm nhất hiện nay và nó cũng là cơ sở cho việc định hướng, điều chỉnh cácmối quan hệ và bảo vệ các chuẩn mực xã hội, nhất là các thể chế về chống quan liêu, tham nhũng và các biểu hiện tiêu cực là điều mà chúng ta đang hướng tới trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vìdân

Bác Hồ chỉ rõ tham nhũng là “giặc nội xâm”, Đảng ta đã xác định là một

trong bốn nguy cơ của đất nước Thế nhưng hôm nay việc chống tham nhũng chưa

tương xứng, chưa thực sự ngang tầm với một cuộc chiến đấu chống giặc “nội xâm”, chống “quốc nạn”, chống một nguy cơ của đất nước Để phòng, chống tham nhũng

có hiệu quả phải có chính sách triển khai đồng bộ, kiên quyết Sau đây là các chínhsách:

(4) Nguồn: Mục Tiêu điểm, Tạp chí Pháp lý, số 12 (76) tháng 6/2006

Trang 15

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

- Tăng cường sự lãnh đạo chỉ đạo của Đảng đoàn Quốc hội và ban cán sựĐảng, Chính phủ trong việc rà soát, bổ sung hoàn thiện hệ thống luật pháp, cơ chếchính sách trong các lĩnh vực quản lý kinh tế - xã hội, tư pháp; hoàn thiện cơ chếkinh tế phù hợp với kinh tế nhiều thành phần, cơ chế thị trường có sự quản lý củaNhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

- Các cấp uỷ cơ sở tăng cường thực hiện dân chủ cơ sở, kiểm tra, giám sátđảng viên, cán bộ, công chức Nhà nước Đẩy mạnh công cuộc xây dựng chỉnh đốnĐảng, quan tâm xây dựng các tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh, xứngđáng là hạt nhân chính trị cơ sở Kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những đảng viên tha hoá, biến chất, tham nhũng mất uy tín trong nhân dân

- Đổi mới việc đánh giá, bổ nhiệm, đề bạt cán bộ theo hướng công khai dân chủ nhằm lựa chọn người có đức, có tài, có uy tín vào cương vị lãnh đạo; không đểphần tử tham nhũng, cơ hội chui vào cấp uy, lãnh đạo các cấp

- Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, nhất là ở các lĩnh vực

dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực; xử lý phân minh, đúng người, đúng tội, đúngpháp luật bất kể họ là ai, ở cấp nào

- Nhà nước cần ban hành văn bản pháp luật hướng vào mấy vấn đề cơ bản: Tôn vinh và bảo vệ những người phát hiện và đấu tranh chống tham nhũng Nghiêm khắc trừng trị những kẻ trù dập người phát hiện và đấu tranh chống tham nhung

Nghiêm cấm các hiện tượng quà cáp, biếu xén, phong bì trong các ngày lễ, hội, các cuộc họp, các buổi làm việc

Thu hẹp tối đa ngân sách chi tiêu hành chính các cấp và công khai mọi chi tiêu hành chính trước cơ quan dân cử đồng cấp

Không ai nghĩ rằng đấu tranh chống tham nhũng là một việc làm dễ dàng, nhất là khi đã trở thành một tệ nạn tràn lan nhưng không phải là không làm được

Ở các nước tư bản, tham nhũng là bản chất của chế độ Trong xã hội ta, tham nhũng không phải là bản chất của chế độ mà là sự tha hoá của một số bộ phận cán

bộ, đảng viên có chức, có quyền Tuy vậy, chống tham nhũng rồi chúng ta đừngnghĩ rằng sẽ có một xã hội trong đó mọi người đều trong sáng, không chút vẩn đục Điều đó sẽ là không tưởng vì một khi còn nền kinh tế nhiều thành phần, cơ chế thịtrường thì còn cơ sở khách quan cho tệ nạn tham nhũng phát sinh

Nhưng chúng ta có thể hạn chế đến mức thấp nhất nếu công tác chống tham nhũng được định hướng lãnh đạo và quản lý điều hành một cách tích cực của Nhà

Trang 16

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

nước, sự giám sát tối đa của Quốc hội và cơ quan bảo vệ pháp luật đến nơi, đếnchốn; đồng thời làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật, công tác tư tưởng, công tác tổ chức, biết dựa vào nhân dân mà hành động

Cuộc đấu tranh chống tham nhũng là nội dung lớn, là nhiệm vụ quan trọngcủa công tác xây dựng Đảng và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; phải tiến hành thường xuyên, liên tục, làm cho bộ máy của Đảng và Nhà nước trong sạch, có hiệu lực lãnh đạo, điều hành đất nước, tăng cường sự đoàn kết nhất trítrong nội bộ Đảng và khối đại đoàn kết toàn dân Làm tốt điều đó sẽ chống tham nhũng được tận gốc, lấy lại lòng tin cho nhân dân, cũng cố được vai trò lãnh đạocủa Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước

Trang 17

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Chương 2 CHÍNH SÁCH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG TRONG QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT VÀ GIÁ TRỊ ĐƯƠNG ĐẠI 2.1 Quan điểm và đặc điểm của tham nhũng trong Quốc triều hình luật

Quốc triều hình luật được biên soạn dưới triều Lê Thánh Tông, niên hiệu Hồng Đức, còn có tên gọi là bộ luật Hồng Đức, là một trong những bộ luật thành văn xưa nhất của Việt Nam còn lại đến ngày nay Quốc triều hình luật gồm 6 quyển,

13 chương, 722 điều , là cơ sở pháp luật chủ yếu của xã hội Việt Nam trong nhiều thế kỷ; Bộ luật chứa đựng nhiều nội dung tiến bộ, nhân văn sâu sắc, kỹ thuật pháp

lý hoàn thiện hơn so với các bộ luật cùng thời

2.1.1 Quan điểm tham nhũng trong Quốc triều hình luật

Từ thế kỷ XV, dưới triều Hồng Đức (vua Lê Thánh Tông), tại Điều 138 của

Bộ Quốc Triều Hình luật đã ghi: “Quan ty làm trái pháp luật mà ăn hối lộ từ 1 đến

9 quan thì xử tội chém Những bậc công thần, quý thần cùng những người có tài được giữ vào hàng bát nghị mà ăn hối lộ từ 1 đến 9 quan thì phạt 50 quan; từ 10 đến 19 quan thì phạt từ 60 đến 100 quan; từ 20 quan trở lên thì xử tội đồ và những tiền ăn hối lộ xử phạt gấp đôi nộp vào kho”(5).Trong cách hiểu của người Việt xưa,

“tham quan ô lại, sách nhiễu nhân dân, ăn hối lộ, đục khoét của công, vơ vét tiền của dân, cậy quyền làm bậy…” được dùng để chỉ những kẻ có chức, quyền và lợi

dụng chức, quyền đó, bằng những thủ đoạn, cách thức khác nhau để mưu lợi cho riêng mình Những hành vi này xâm hại đến trật tự kinh tế của xã hội phong kiến, phá hoại kỉ cương phép nước, khiến dân chúng lầm than, cực khổ và sinh lòng oán thán triều đình.(6)

2.1.2 Đặc điểm của tham nhũng trong Quốc triều hình luật

Dựa trên khái niệm về tham nhũng trong Quốc triều hình luật ta có thể rút ra

3 đặc điểm chính của tham nhũng như sau:

- Về chủ thể: Chủ thể của tham nhũng trong Quốc triều hình luật phải là quanlại- những người có chức vụ, quyền hạn hay có trách nhiệm trong việc quản lý một

số công việc cụ thể mà triều đình giao phó

Trang 18

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

- Về mặt hành vi: Tham nhũng ở đây được thể hiện bằng cách là quan lạithực hiện các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền lực, lợi dụng nhiệm vụ, trọng trách cũng như vị trí, địa vị làm quan của mình để vơ vét, bóc lộc, tham ô, nhận hối lộ(đút lót),… của dân Làm trái với những nguyên tắc mà triều đình đã giao phó, trái với nội dung công việc được giao, gây thiệt hại đến lợi chung của triều đình và dân

- Về mặt động cơ và mục đích: Thể hiện ở chỗ vụ lợi cá nhân cho bản thân của quan, cho một nhóm tập thể các quan, sự vụ lợi cá nhân về vật chất có thể được hưởng ngay nhưng cũng có thể thông qua các quan khác hoặc là chuyển vụ lợi cá nhân của quan cho những người thân trong dòng tộc Những đặc điểm trên giúp chúng ta nhận diện được những hành vi tham nhũng của các quan lại trong triều đình phong kiến ngày xưa nói chung và Quốc triều hình luật nói riêng Chính vì vậy, ngăn chặn, đầy lùi những tệ nạn tham nhũng là một trong những mục tiêu quan trọng của các triều đại phong kiến, không những để bảo vệ quyền lợi kinh tế của giai cấp cầm quyền mà nó còn nhằm xây dựng một trật tự xã hội ổn định, thịnh vượng, một chế độ hợp lòng dân Bởi sự vững mạnh, lâu bền của ngôi Thiên tử trong bất kỳ triều đại nào đều không chỉ nhờ thấm nhuần và thực thi Vương đạo mà

cần được sự trung thành và thương yêu nhà vua của quần thần, sự “tâm quy” của muôn dân Do vậy, “công tâm” là chiến thuật lấy lòng dân của bất cứ triều đại nào

cần duy trì sự ổn định để xây dựng và bảo vệ vương quyền Triết lý này được thể hiện rõ nét trong các quy định pháp luật của các triều đại phong kiến Việt nam, thể hiện qua các Chỉ, Dụ, Sắc, Lệnh của Nhà vua và triều đình phong kiến

Để ngăn chặn tham nhũng trong bộ máy, các nhà nước phong kiến đã tiến hành rất nhiều biện pháp Từ việc cải cách bộ máy nhà nước, tuyển chọn người hiền tài để giúp dân, giúp nước, giám sát bộ máy quan lại để đánh giá đạo đức và năng lực làm việc, xử lý hành vi tham nhũng Các biện pháp được đề ra và thực hiện là khá toàn diện và triệt để Các biện pháp phòng, chống tham nhũng thời kỳ phong kiến nhìn chung đều thể hiện khá rõ tư tưởng và quan điểm của các triều đại Đó là luôn đề cao các biện pháp phòng ngừa tham nhũng, coi phòng ngừa là một trong những biện pháp quan trọng, có ý nghĩa quyết định trong việc xây dựng và duy trì một bộ máy nhà nước phong kiến trong sạch, không có chỗ cho những tên tham quan, ô lại tồn tại

Xử lý các hành vi tham nhũng (7)

(7) Nguồn: : Tạp chí Thanh tra Chính phủ - Viện khoa học Thanh tra của Ths Phạm Thị Huệ

Trang 19

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Xử lý nghiêm minh, kịp thời những người có hành vi tham nhũng: Trong các bộ luật cũng như trong các văn bản pháp luật khác của các triều đại phong kiếnnói chung và Quốc triều hình luật nói riêng đều có những quy định nghiêm cấm các hành vi mà quan lại không được làm:

- Không được tham lam, vơ vét của cải của dân;

- Quan lại không được nhận hối lộ, nếu nhận thì tuỳ theo số lượng tiền mà trị tội;

- Quan thu thuế không được ẩn lậu;

- Không được phép lợi dụng việc công để mưu lợi việc riêng;

- Nghiêm cấm việc vì tình riêng, vì nhận hối lộ mà tiến cử người kém tài, kém đức;

- Các quan xét xử phải giữ phép công bằng, không được nhận đút lót mà làm sai, để có người bị oan uổng

Trong tất cả các trường hợp, các hành vi tham nhũng đều bị xử lý rất nghiêm khắc bất kể kẻ tham nhũng là quan lại hay là người trong hoàng tộc Bộ Luật Hồng Đức thời Lê có gần 30 điều khoản quy định chế tài áp dụng cho các hành vi tham

nhũng, trong đó các hình có quy định: “Những người quyền quý thế gia và các hoạn

quan nội thần không được cầu cạnh nhờ cậy việc quân với các quan tướng hiệu, nếu trái thì quan nhất phẩm, nhị phẩm bị phạt hay biếm, quan tam phẩm tứ phẩm thì bị cách chức hay bị đồ; quan ngũ phẩm lục phẩm thì bị đồ hoặc lưu, quan thất phẩm trở xuống thì bị lưu hoặc tử hình Quan tướng hiệu nhận lời thì bị tội đồ hoặc lưu, nếu không thiệt hại đến việc quân thì được giảm…”

Qua các phân tích trên ta có thể thấy các triều đại phong kiến Việt Nam nóichung và Quốc triều hình luật nói riêng đều có thái độ kiên quyết trong việc ngăn chặn và xử lý nạn tham nhũng Các hình phạt dành cho tội tham nhũng thường rất nghiêm khắc, nhẹ thì làm bãi chức, Lưu (đày đi xa và bắt làm việc khổ sai); Đồ (bắt làm các công việc khổ nhục)… mức hình phạt nặng có thể bị chém đầu Các biện pháp xử lý cũng rất đa dạng nhằm hạn chế tối đa sự phát triển của tệ nạn này Chính nhờ những biện pháp kiên quyết và phù hợp như vậy mà nhiều triều đại đã duy trì được sự ổn định chính trị, xã hội, đồng thời quản lý điều hành đất nước vượt qua những giai đoạn khó khăn bởi thiên tai, địch họa

Xử lý tài sản tham nhũng trong pháp luật phong kiến: Bên cạnh các hình phạt hình sự, tuỳ từng trường hợp, người có hành vi tham nhũng còn bị áp dụng một số

Trang 20

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

hình phạt phụ như: phạt tiền, tịch thu tài sản, biếm tước… Những quy định của Bộ Luật Hồng Đức về vấn đề xử lý tài sản tham nhũng khá rõ ràng và dựa trên nguyên tắc người có hành vi tham nhũng đều phải bồi thường gấp đôi số tài sản tham nhũng

và sung công hoặc trả lại cho người dân

Những quy định thời Lê được thể hiện rõ trong Quốc triều hình luật, Bộ luậtnày đã xác định khá rõ ràng vấn đề xử lý tài sản tham nhũng, về nguyên tắc người

có hành vi tham nhũng đều phải bồi thường gấp đôi số tài sản tham nhũng và sung công (nếu tham nhũng của công): Quan lại ăn hối lộ (Điều 138): Quan ty làm trái

pháp luật mà ăn hối lộ ( ) những tiền ăn hối lộ xử phạt gấp đôi nộp vào kho; Lãng phí của công (Điều 560): Lãng phí của công (…) thì phải bồi thường gấp đôi; Thu

thuế thóc lúa mà giấu bớt, không đúng sự thật (Điều 351): Người thu lúa thuế

ruộng, mà giấu giếm giảm bớt không đúng sự thực (…) bồi thường gấp đôi số thóc

vào kho

Những phân tích trên đây về xử lý hành vi và tài sản tham nhũng cho thấy, ngay từ thời phong kiến, ông cha ta đã có quan điểm, nguyên tắc phòng, chống tệ tham nhũng khá toàn diện, triệt để Những hình phạt dành cho tội tham nhũng khá bao quát, từ nhẹ đến nặng, phương pháp xử lý luôn hướng tới triệt tiêu tài sản có được từ tham nhũng, không những vậy, với nguyên tắc bồi thường gấp đôi số tài sản tham nhũng được còn có ý nghĩa răn đe quan lại để họ không dám tham nhũng Có

lẽ với ý nghĩa xâu xa của nguyên tắc xử lý tài sản tham nhũng như vậy, nên ngoài việc quy định các chế tài áp dụng đối với người có hành vi tham nhũng là xử lý kỷ luật hoặc xử lý hình sự, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 đã có những quy định về vấn đề xử lý tài sản có được từ hành vi tham nhũng Theo quy định của Luật thì về nguyên tắc tài sản tham nhũng phải được thu hồi, tịch thu, trả lại cho chủ

sở hữu, quản lý hợp pháp hoặc sung quỹ Nhà nước

Những quy định về xử lý tài sản tham nhũng là điểm mới trong Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005, và khắc phục được những thiếu sót của Pháp lệnh chống tham nhũng năm 1998 Đồng thời, những quy định về xử lý hành vi tham nhũng và tài sản tham nhũng của Luật còn phần nào thể hiện biện pháp xử lý hành

vi tham nhũng toàn diện và triệt để của Nhà nước ta Đó là một bước tiến trong quá trình xây dựng và hoàn thiện cơ chế phòng, chống tham nhũng toàn diện, triệt để và hiệu quả

Trang 21

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

2.1.3 Sự kế thừa của pháp luật đương đại trong phòng, chống tham nhũng

Chống tham nhũng là việc của toàn dân(8)

Các quy định của pháp luật phong kiến đều thể hiện sự đề cao chế định tố cáo tham nhũng Các triều đại đều có cơ chế khuyến khích, động viên người tố cáo hành vi tham nhũng hiệu quả và coi đây là việc làm cần thiết vì phải có sự hợp lực bảo vệ, để người dân không bị trù dập khi tố cáo hành vi tham nhũng, ngăn chặn mọi yếu tố trả thù của kẻ tham nhũng và vây cánh

Quốc triều hình luật của Nhà Lê cũng có những quy định rõ ràng về chế độ thưởng xứng đáng cho người dân tố cáo đúng sự thật các hành vi tham nhũng:

“Người thu lúa thuế ruộng, mà giấu giếm giảm bớt không đúng sự thực…, người cáo giác được thưởng tùy theo việc nặng nhẹ” (Điều 351 Quốc triều hình luật);

Tuyển chọn quân lính không đúng quy định (…) người tố giác đúng sự thật thì có

thưởng tùy theo việc lớn nhỏ (Điều 170 Quốc triều hình luật)…

Để phát huy vai trò của người dân trong việc tham gia vào công việc của triều đình phong kiến nói chung và phòng, chống tham nhũng nói riêng, Vua Lê Thánh Tông cho đặt hòm thư tại sân đình đề người dân có thể viết thư phản ảnh và

bỏ vào đó; người dân được phép yết bảng nên việc làm tốt, xấu của quan lại địa phương Để phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực xây dựng, nhà vua quy định tất cả các quy chế nội dung công việc đều được công khai minh bạch, tạo điều kiện cho người dân giám sát dễ dàng Nhà nước yêu cầu dân chúng, đặc biệt là binh lính thợ thuyền phải luôn quan tâm đến tài sản, vật tư của quốc gia Trên các công trường, các chỉ dụ của vua về tội tham nhũng, cách xử tội, danh sách các quan vi phạm được làm thành nhiều bản, niêm yết nhiều nơi, nhằm công khai cho mọi người biết thủ đoạn moi ruột công quỹ và biển thủ vật tư, từ đó để mọi người cảnh giác và phát hiện

Có thể thấy rằng, ông cha ta trước đây luôn quan niệm coi phòng, chống tham nhũng là việc của toàn dân để từ đó đề ra những biện pháp, hình thức khuyến khích hợp lý để người dân tố cáo tham nhũng đã mang lại những hiệu quả nhất định trong việc xây dựng bộ máy phong kiến vững mạnh, thanh liêm, xây dựng niềm tin trong dân chúng

Kế thừa những tư tưởng tiến bộ của cha ông, Đảng và Nhà nước ta luôn lấy dân làm gốc, trong mọi công việc quốc gia, dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng

nói: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong” Trong

(8) Nguồn: Tạp chí Thanh tra Chính phủ - Viện khoa học Thanh tra của Ths Phạm Thị Huệ

Trang 22

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng hiện nay, Đảng và Nhà nước ta luôn thể hiện quan điểm chống tham nhũng là việc của toàn Đảng, toàn dân, phải huy động sức mạnh của toàn bộ hệ thống chính trị, khuyến khích, động viên sự tham gia tích cực của toàn xã hội – xã hội hoá – trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng Trên cơ sở đó, chúng ta đã đề ra những định hướng quan trọng trong công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật về tham nhũng để người dân có nhận thức sâu sắc về cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng cũng như vai trò của họ trong cuộc đấu tranh đầy khó khăn phức tạp này, từ đó, phát huy sức mạnh quần chúng nhân dân trong việc phát hiện, tố giác hành vi tham nhũng

Chính vì vậy, việc chúng ta ghi nhận tố cáo hành vi tham nhũng là một chế định quan trọng trong pháp luật về phòng, chống tham nhũng là rất quan trọng và thực sự là phương tiện hữu hiệu, thuận tiện để người dân tố cáo hành vi tham nhũng Với bốn điều quy định về vai trò và trách nhiệm của xã hội trong phòng, chống tham nhũng, Luật đã khẳng định vai trò cũng như trách nhiệm của các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân công dân trong phòng, chống tham nhũng; có các quy định cụ thể khuyến khích và đảm bảo sự tham gia của xã hội; quy định rõ về quyền tiếp cận thông tin của cơ quan, tổ chức và công dân và cơ chế cụ thể để thực hiện quyền này

Pháp luật phòng, chống tham nhũng còn quy định cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận tố cáo phải thiết lập và công khai số điện thoại, hộp thư điện tử riêng để tiếp nhận tố cáo hành vi tham nhũng Đặc biệt, pháp luật phòng, chống tham nhũng còn quy định, đối với những đơn thư tố cáo không ghi rõ họ, tên, địa chỉ người tố cáo nhưng nội dung tố cáo rõ ràng, bằng chứng cụ thể, có cơ sở để thẩm tra, xác minh thì các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền nghiên cứu, tham khảo thông tin được cung cấp để phục vụ công tác phòng, chống tham nhũng Tinh thần của quy định này là nhằm tận dụng, không bỏ lọt một nguồn thông tin quan trọng trong phát hiện tham nhũng đó là tố cáo giấu tên vì sợ bị trả thù, trù dập

Có thể nói, sự tham gia của xã hội trong phòng, chống nhũng là một yếu tố thiết yếu trong một hệ thống phòng, chống tham nhũng hiệu quả Xét trong bối cảnh

xã hội Việt Nam với mọi giai đoạn của lịch sử đấu tranh dân tộc luôn ghi đậm dấu

ấn vai trò của nhân dân, của tinh thần đoàn kết dân tộc thì điều này lại càng đúng Việc Luật phòng, chống tham nhũng đã có những quy định thể hiện sự tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật hiện hành nhằm khuyến khích và đảm bảo việc tham gia chủ động, tích cực và hiệu quả của xã hội trong phòng, chống tham nhũng là điểm mới đáng ghi nhận

Trang 23

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Có thể thấy rằng, tham nhũng trong xã hội phong kiến Việt Nam nói chung

và Quốc triều hình luật nói riêng đã diễn ra hết sức phức tạp và phổ biến Tư tưởng phòng, chống tham nhũng của các triều đại phong kiến Việt nam và Quốc triều hìnhluật tương đối toàn diện và triệt để Tuy vậy, vì nhiều lý do khác nhau tham nhũng không bị loại bỏ hoàn toàn, trong mỗi giai đoạn của các triều đại, khi quản lý bị buông lỏng thì nạn tham nhũng lại phát triển mạnh mẽ, làm đất nước suy yếu, niềm tin của dân chúng đối với vương triều bị suy giảm nghiêm trọng Ở khía cạnh nào

đó, tham nhũng là một nguyên nhân dẫn đến sự suy vong của các vương triều phong kiến Việt Nam Thiết nghĩ, đó cũng là bài học lịch sử để lại cho chúng ta nhiều suy ngẫm

Với quyết tâm chống tham nhũng triệt để, tạo sự ổn định chính trị, xã hội để phát triển kinh tế trong quá trình hội nhập, Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật phòng, chống tham nhũng nói riêng Trong bối cảnh phòng, chống tham nhũng hiện nay ở Việt Nam - một xã hội mang đậm những dấu ấn văn hoá truyền thống – thì việc nghiên

cứu những kinh nghiệm của cha ông với mục đích “ôn cố tri tân” thiết nghĩ, là một

việc làm có nhiều ý nghĩa thiết thực Qua đó, rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu của cha ông trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng để đề ra những giải pháp vừa thiết thực hiệu quả vừa hợp lòng dân trong hoàn cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay ở Việt Nam

2.2 Các biện pháp (9) phòng, chống tham nhũng trong Quốc triều hình luật.

Bộ “Luật Hồng Đức” ra đời lúc bấy giờ là một Bộ Luật chống tham nhũng

mạnh mẽ nhất, tích cực nhất ở nước ta thời trước Trong 722 điều của Bộ Luật Hồng Đức thì có trên 40 điều bao hàm nội dung bài trừ tham nhũng Có một số điều còn hạn chế các đặc quyền, đặc lợi của quan lại Nhiều điều khác ấn định mức xử phạt, trừng trị các hành vi đục khoét của công, lợi dụng quyền lực để sách nhiễu dân

lành Điều l38, Bộ Luật Hồng Đức có ghi: “ quan lại mà tham nhũng, nhận hối lộ,

làm sai phép thì bị phạt; tham ô từ một đến chín quan tiền, bị cách chức Từ l0 đến

19 quan bị phạt trượng, đi đày Từ 20 quan trở lên bị chém Các người ăn lễ từ một đến chín quan, phạt từ 80 đến 100 quan Từ 20 quan trở lên, phạm tội làm phu Của hối lộ bỏ vào kho một phần, một phần trả lại chủ ” Chỉ lấy của dân từ một quan

tiền đã bị cách chức, 20 quan đã bị tử hình đủ thấy pháp nước thời ấy nghiêm đến thế nào!

(9) Nguồn: Tạp chí Thanh tra Chính phủ - Viện khoa học Thanh tra của Ths Phạm Thị Huệ

Trang 24

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Kẻ gian tham bị trừng trị thì người trung lương ắt được bảo vệ Chính vua Lê Thánh Tông đã minh oan cho khai quốc công thần Nguyễn Trãi trong vụ án Lệ Chi viên Nhờ pháp luật nghiêm minh nên thời ấy, tài sản của dân, của nước đều dồi

dào, phong tục thuần hậu, nhân dân yên ổn Đúng như sử sách đã ghi: “Ngủ đêm,

mọi nhà không phải đóng cửa Ngoài đường, không ai nhặt của rơi”(10)

Ngày nay, phòng ngừa tham nhũng được coi là một cách thức chống tham nhũng căn bản và triệt để được các nước trên thế giới lựa chọn Kinh nghiệm cho thấy, các biện pháp phòng ngừa nếu được thực hiện tốt sẽ có tác dụng ngăn chặn ngay từ đầu các điều kiện, cơ hội sản sinh ra tham nhũng, nói cách khác nó thủ tiêu các nguyên nhân của tham nhũng và do vậy nó mang lại hiệu quả rộng lớn, lâu dài

và triệt để Thực hiện phòng ngừa tham nhũng tốt sẽ tránh được sự mất ổn định xã hội do hậu quả của tham nhũng mang lại nên nó là biện pháp chống tham nhũng rất hiệu quả và triệt để

Nghiên cứu các quy định pháp luật phong kiến và Quốc triều hình luật cũng

có thể nhận thấy rằng, mặc dù các đạo luật nổi tiếng của các triều đại phong kiến Việt Nam nói chung và Quốc triều hình luật nói riêng mà chúng ta còn lưu giữ được cho đến ngày nay là các Bộ hình luật, pháp luật thiên về việc quy định các biện pháp trừng phạt, nhưng các bộ hình luật cũng như các Sắc, Sệnh, Chỉ dụ, của các vị vua phong kiến nói chung và vua Lê Thánh Tông nói riêng cũng thể hiện rất rõ tinh thần, tư tưởng phòng ngừa tham nhũng Tuy rằng trong từng giai đoạn, thời kỳ khác nhau ứng với mỗi triều đại khác nhau, những tinh thần ấy được cụ thể hoá bằng những biện pháp khác nhau, nhưng luôn góp phần quan trọng vào việc xây dựng một bộ máy chính quyền trong sạch, vững mạnh, một đội ngũ quan lại thanh liêm Tinh thần, tư tưởng đó được thể hiện rõ qua các biện pháp chính sau:

- Thứ nhất là các triều đại phong kiến Việt Nam đều chú trọng cải cách bộ

máy hành chính:

Các đạo luật phong kiến Việt Nam đều có rất nhiều quy định về xây dựng bộ máy chính quyền trong sạch, vững mạnh Bộ luật Hồng Đức có nhiều điều luật thể hiện sự cải cách mạnh mẽ dưới triều Lê Dưới thời vua Lê Thánh Tông, cải cách mạnh mẽ và hiệu quả nhất đó là chế độ quan lại luôn ràng buộc, giám sát lẫn nhau Quyền hạn, trách nhiệm của từng bộ phận, khu vực, quan lại được quy định rõ ràng

và có sự giám sát lẫn nhau Mỗi bộ phụ trách một việc, các bộ chịu sự giám sát của các khoa, các hiến ty giám sát công việc của các Đạo; các quan lại chịu sự giám sát

(10) Nguồn: Tạp chí thanh tra tháng 10/2005.

Trang 25

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

lẫn nhau, quan trên giám sát quan dưới Bộ máy nhà nước phong kiến thời Lê Thánh Tông được xem là bộ máy phong kiến tập quyền vững mạnh, chặt chẽ, thể hiện sức mạnh chi phôi của chính quyền trung ương xuống các địa phương trong cả nước và quyền lực tối cao của người đứng đầu nhà nước

Việc tuyển chọn quan lại thời Lê dựa vào nhiều con đường như khoa cử, tiến

cử, khảo công khảo khoá Triều đình còn thường xuyên tổ chức các kỳ khảo công nhằm khảo xét việc hay, dở và năng lực của quan lại hàng năm Nhà vua còn tổ chức các khoa thi Hoành từ để chọn người hiền tài trong số các quan lại đương chức Trong việc lựa chọn quan lại, thanh liêm luôn được xem là tiêu chuẩn hàng đầu Đặc biệt dưới thời Lê Thánh Tông, lần đầu tiên chế độ thử việc đối với quan lại đã được áp dụng

Một trong những biện pháp rất được các triều đại tin dùng đó là lệ hồi tỵ Theo lệ này thì viên quan đứng đầu một địa hạt không được phép nhậm chức tại quê hương mình, không được lấy vợ là người sở tại, không được phép có bất động sản trên địa hạt mình cai quản, không được có người cấp phó là đồng hương, và điều quan trọng là các quan lại này đều được dịch chuyển địa hạt cai quản theo một chu trình nhất định Dưới thời Lê, lệ này được áp dụng thường xuyên nhằm hạn chế và ngăn chặn những khả năng nảy sinh các hành vi trái với chức trách được giao của các quan lại

- Thứ hai là thiết lập một chế độ lương bổng công bằng, hợp lý cho đội ngũ

quan lại:

Một trong những biện pháp được các triều đình phong kiến thiết lập và luôn

cố gắng thực hiện đó là định rõ chế độ bổng lộc cho đội ngũ quan lại tuỳ thuộc vào chức quan và tính chất công việc cũng như khả năng của từng người Ngay khi lên ngôi, Vua Lê Thánh Tông đã lập ra quan chế, lễ nghi, chế độ lộc điền, tiền tuế bổng cho các quan văn võ trong triều Những ai làm điều gì nhũng nhiễu, thì đều phải nghiêm trị(11) Chế độ bổng lộc này được xác định trên nguyên tắc: “Cấp bổng lộc

để khuyến khích người có công, tùy theo trách nhiệm nặng hay nhẹ, những hoàng tông và công thần tuy không có hạng định về phẩm tước, mà cấp lộc còn có từng bậc khác nhau, huống chi các quan văn, quan võ trong kinh và ngoài các đạo chức việc không giống nhau, thì việc cấp lộc nên làm cho tỏ rõ việc nặng nhọc, việc nhàn rỗi…”(12) Vua Lê Thánh Tông còn ra lệnh để khiển trách và răn đe các quan phải

thực hiện nghiêm chế độ lương bổng: “Nhà nước đã có quy định lương bổng để giữ

(11) Nguồn: Việt nam sử lược, Trần Trọng Kim, Nxb Tổng hợp TP HCM, tr 230.

(12) Nguồn: Đại Việt sử ký toàn thư Nxb Khoa học xã hội Hà Nội.1998 tr 469 - 474.

Trang 26

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

liêm khiết, lại có ban bố phép tắc để theo đó mà làm Nay bọn các ngươi không chịu giữ phép, khi làm việc công thì mượn tiếng việc công để lo chạy việc tư, khi xét kiện tụng thì lo nhận hối lộ mà bẻ cong phép nước, khiến những người đi đường ai cũng than oán Xét mỗi tệ hại này hẳn không là việc nhỏ Nay các ngươi phải gột rửa lòng mình, giữ thân liêm khiết, găng gỏi việc công, yêu thương quân dân, khiến chúng dần dần được yên nghiệp, thì các ngươi cũng được yên nghiệp Nếu vẫn mê muộn không chừa, bị người cáo giác, hoặc dò xét được thực trạng sẽ bị trị năng hơn luật thường 2 bậc Quan trên và đồng liêu không biết khuyên răn, thì khi việc bị phát giác, cũng bị trị tội theo luật và cắt phần thưởng”.(13)

- Thứ ba là thành lập các cơ quan giám sát thực quyền và hiệu quả:

Cùng với việc cải cách, củng cố bộ máy quan lại, các triều đình phong kiếnViệt Nam nói chung và Quốc triều hình luật nói riêng còn có những biện pháp, quy chế tương đối chặt chẽ để có thể giám sát hành vi của các quan lại Dưới triều Lê, vua Lê Thánh Tông đã đặt ra 6 khoa để giám sát các quan lại thi hành công vụ Ngự

sử đài được đặt ở vị trí quan trọng, đứng đầu các bộ phận trong Ngự sử đài thường

là những người có học vị tiến sĩ nắm giữ Ngoài Ngự sử đài, triều đình còn đặt ra Lục khoa là cơ quan thanh tra ở sáu bộ, có trách nhiệm tâu hặc quan lại sai trái và các việc không đúng thể thức ở mỗi bộ Ở địa phương triều đình lập ra cơ quan Giám sát Ngự sử để đi xem xét công việc ở cấp đạo trở xuống Mỗi đạo lại có Hiến sát sứ ty để thanh tra quan lại tránh sự nhũng nhiễu dân chúng, đồng thời còn để kịp thời phát giác và hạch tội các quan, làm rõ những điều uẩn khuất trong dân chúng

Từ đó, tạo nên một hệ thống giám sát từ trung ương đến các địa phương chặt chẽ, vừa tăng cường được hiệu lực của cơ chế quân chủ tập quyền, vừa đảm bảo sự minh bạch, góp phần làm trong sạch bộ máy cai trị thời này

- Thứ tư là sự kế thừa trong các quy định phòng, chống tham nhũng ngày

nay:

Những nghiên cứu pháp luật phòng ngừa tham nhũng qua các triều đại phong kiến, cho chúng ta thấy, quan điểm phòng, chống tham nhũng của các nhà nước phong kiến khá toàn diện, triệt để Điều này được thể hiện rõ nhất trong những triều đại hưng thịnh, quốc thái dân an như niên đại Hồng Đức dưới triều vua Lê Thánh Tông Quan điểm, tư tưởng phòng, chống tham nhũng được thể hiện nhất quán trong các Chỉ, Dụ, Sắc, Lệnh của Hoàng đế và đặc biệt là qua các bộ luật còn lưu giữ được đến ngày nay như bộ Quốc triều hình luật thời Lê Các biện pháp phòng,

(13) Nguồn: Đại Việt sử ký toàn thư Tập II, Nxb Khoa học xã hội Hà Nội.1998 tr 361.

Ngày đăng: 05/04/2018, 23:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w