TIỂU LUẬN QUẢN LÝ CHI PHÍ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG Đề xuất một số giải pháp tăng cường công tác quản lý chi phí dự án đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên: Chi phí đầu tư xây dựng công trình; Những hạn chế trong việc quản lý chi phí dự án đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên;...
Trang 1MỤC LỤC
Mục lục
2.1.1 Khái niệm chi phí và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình 3 2.2 Cơ sở của việc xác định chi phí đầu tư xây dựng công trình 3 2.3 Các giai đoạn hình thành chi phí đầu tư xây dựng công trình 4
2.3.3 Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác sử dụng 5 2.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc hình thành chi phí ĐTXD công trình 6 2.4.1 Sản xuất xây dựng không ổn định làm phát sinh chi phí đầu tư xây dựng 6 2.4.2 Thời gian xây dựng công trình dài, luôn chịu sự biến động giá xây dựng và
2.4.3 Sản xuất xây dựng mang tính đơn chiếc theo đơn đặt hàng 7 2.4.4 Sản xuất xây dựng chịu ảnh hưởng nhiều của các yếu tố tự nhiên 7 2.4.5 Công tác tổ chức quá trình sản xuất xây dựng thường rất phức tạp 8 2.5 Những hạn chế trong việc quản lý chi phí dự án đầu tư xây dựng các công trình
2.6 Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm tăng cường công tác quản lý chi phí đầu
tư xây dựng công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 10 2.6.1 Hoàn thiện hệ thống luật pháp và cơ chế chính sách 10 2.6.2 Tăng cường công tác kiểm tra giám sát trong giai đoạn chuẩn bị và thực hiện
2.6.3 Thực hiện tốt công tác thanh quyết toán vốn đầu tư 16
Trang 21 Mở đầu:
1.1 Tính cấp thiết của đề tài:
Do đòi hỏi tất yếu của công cuộc đổi mới nền kinh tế và hội nhập, cơ chế chính sách quản lý kinh tế nói chung, quản lý các dự án đầu tư xây dựng công trình nói riêng của Việt Nam đã có những thay đổi theo hướng mở, tích cực và tiếp cận với các chuẩn mực quốc tế Để thực thi có hiệu quả hệ thống các văn bản mới đòi hỏi
cả một quá trình chuyển đổi mạnh mẽ ở tất cả các cấp, các ngành, các cơ quan quản lý nhà nước cho đến các đối tượng chịu sự quản lý
Như bất cứ một quốc gia đang phát triển nào, hoạt động đầu tư xây dựng là một trong những lĩnh vực nóng và quan trọng của đất nước ta trong giai đoạn phát triển hiện nay Chúng ta đã thu được những thành tựu nhất định trong quản lý đầu
tư nói riêng Tuy vậy, vẫn còn rất nhiều bất cập trong quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình, như: thời gian thực hiện dự án đầu tư sử dụng vốn nhà nước thường bị kéo dài so với kế hoạch; tiến độ giải ngân các dự án chậm và đạt mức thấp; tổng mức đầu tư, tổng dự toán thường xuyên phải điều chỉnh làm tăng chi phí phí đầu tư và kéo dài thời gian thực hiện dự án;… Những tồn tại đó đã làm hiệu quả đầu tư xây dựng nhiều công trình trên thực tế không cao, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và xu thế hội nhập quốc tế
Để giải quyết được các vấn đề trên đòi hỏi cần phải tìm được những giải pháp
để đổi mới việc quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình Vì vậy, học viên đã lựa chọn đề tài: " Đề xuất một số giải pháp tăng cường công tác quản lý chi phí dự
án đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên" làm Tiểu luận môn Quản lý chi phí dự án đầu tư xây dựng của mình
1.2 Mục đích nghiên cứu của đề tài:
- Phân tích đánh giá thực trạng công tác quản lý chi phí các dự án đầu tư xây dựng công trình thuỷ lợi trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong thời gian qua nhằm tìm ra những vấn đề còn tồn tại trong công tác này;
- Đề xuất một số giải pháp có cơ sở khoa học và có tính khả thi cao, nhằm tăng cường công tác quản lý chi phí dự án đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi trên
Trang 3địa bàn Tỉnh.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu công tác quản lý chi phí dự
án đầu tư xây dựng các công trình thuỷ lợi, như: Tạo vốn, công tác giải ngân, kiểm tra kiểm soát việc lập và sử dụng nguồn vốn đầu tư qua các giai đoạn của quá trình đầu tư
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chủ yếu nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý chi phí dự án đầu tư xây dựng các công trình thuỷ lợi sử dụng vốn ngân sách trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
1.4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu:
Đề tài dựa trên cách tiếp cận của phép duy vật biện chứng để xem xét và phân tích các hiện tượng nghiên cứu
Để nghiên cứu, đánh giá và đề xuất các giải pháp liên quan đến việc quản lý chi phí dự án đầu tư xây dựng các công trình thuỷ lợi trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Tiểu luận đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như:
- Phân tích và hệ thống hóa lý luận;
- Điều tra thu thập và xử lý thông tin thứ cấp;
- Phân tích định tính kết hợp với định lượng;
- Tổng kết kinh nghiệm thực tế;
- Kế thừa thông tin các công trình nghiên cứu đã công bố có liên quan đến đề tài
Trang 42 Nội dung tiểu luận:
2.1 Chi phí đầu tư xây dựng công trình:
2.1.1 Khái niệm chi phí và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình:
* Khái niệm về chi phí đầu tư xây dựng:
Chi phí đầu tư xây dựng công trình là toàn bộ chi phí cần thiết để xây dựng mới hoặc sửa chữa, cải tạo, mở rộng hay trang bị kỹ thuật công trình Do đặc điểm của sản xuất xây dựng và đặc thù công trình xây dựng nên mỗi công trình có chi phí khác nhau được xác định theo đặc điểm, tính chất kỹ thuật và yêu cầu công nghệ trong quá trình xây dựng
Quản lý chi phí đầu tư xây dựng là công việc giám sát các chi phí phát sinh trong quá trình thực hiện việc đầu tư dự án từ khâu chuẩn bị đầu tư đến khi bàn giao đưa vào sử dụng của các đối tượng quản lý
* Khái niệm về quản lý chi phí đầu tư:
Quản lý chi phí xây dựng được hiểu là điều khiển việc hình thành chi phí, giá xây dựng công trình sao cho không phá vỡ hạn mức đã được xác định trong từng giai đoạn, là việc làm thường xuyên, liên tục điều chỉnh những phát sinh trong suốt quá trình quản lý dự án nhằm bảo đảm cho dự án đạt được hiệu quả kinh tế đầu tư, lợi ích xã hội được xác định
Quản lý chi phí là quá trình kiểm soát chi tiêu trong giới hạn ngân sách bằng việc giám sát và đánh giá việc thực hiện chi phí
Quản lý chi phí là việc giúp dự án được thực hiện trong phạm vi ngân sách đã
có, lưu ý các vấn đề phát sinh về mặt chi phí có thể xảy ra nhằm đưa ra các biện pháp giải quyết hay giảm thiểu chi phí
Quản lý chi phí kỹ thuật được sử dụng để giám sát chi phí cho dự án từ giai đoạn ý tưởng đến giai đoạn quyết toán của dự án đầu tư xây dựng
2.2 Cơ sở của việc xác định chi phí đầu tư xây dựng công trình:
Cơ sở của việc xác định chi phí đầu tư xây dựng là thông qua chỉ tiêu tổng mức đầu tư, dự toán công trình, giá thanh toán và quyết toán vốn đầu tư khi kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác sử dụng
Trang 5Tổng mức đầu tư (TMĐT) là chi phí dự tính để thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình và được ghi trong quyết định đầu tư
TMĐT được tính toán và xác định trong giai đoạn lập dự án đầu tư xây dựng công trình
TMĐT là cơ sở để chủ đầu tư lập kế hoạch và quản lý vốn khi thực hiện đầu tư xây dựng công trình
TMĐT được tính toán dựa trên 3 phương pháp là dựa trên thiết kế cơ sở, dựa trên công suất sử dụng và giá xây dựng tổng hợp hoặc suất vốn đầu tư, dựa trên cơ
sở số liệu của các dự án có chỉ tiêu kinh tế – kỹ thuật tương tự đã thực hiện
TMĐT bao gồm: Chi phí xây dựng, chi phí thiết bị, chi phí bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư; chi phí quản lý dự án, chi phí tư vấn đầu tư xây dựng, chi phí khác
và chi phí dự phòng
Dự toán xây dựng công trình được tính toán và xác định theo công trình xây dựng cụ thể và là căn cứ để chủ đầu tư quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình
Dự toán công trình bao gồm: Chi phí xây dựng, chi phí thiết bị, chi phí quản lý dự
án, chi phí tư vấn đầu tư xây dựng, chi phí khác, chi phí dự phòng của công trình
Dự toán được lập căn cứ trên cơ sở khối lượng công việc xác định theo thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế bản vẽ thi công
2.3 Các giai đoạn hình thành chi phí đầu tư xây dựng công trình:
Chi phí đầu tư xây dựng công trình được hình thành và quản lý qua 3 giai đoạn của quá trình đầu tư :
2.3.1 Giai đoạn chuẩn bị đầu tư:
Giai đoạn chuẩn bị đầu tư là giai đoạn hình thành tổng mức đầu tư Tổng mức đầu tư được ước tính trên cơ sở suất vốn đầu tư hoặc chi phí các công trình tương
tự đã thực hiện và các yếu tố chi phí ảnh hưởng tới tổng mức đầu tư theo độ dài thời gian xây dựng công trình
2.3.2 Giai đoạn thực hiện đầu tư:
Giai đoạn này xác định tổng mức đầu tư, là chi phí dự tính của dự án được xác định từ thiết kế cơ sở, tính theo diện tích hoặc công suất sử dụng hoặc tính trên cơ
sở số liệu các dự án có chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật tương tự đã thực hiện Tổng mức
Trang 6đầu tư là cơ sở để chủ đầu tư lập kế hoạch và quản lý vốn khi thực hiện đầu tư xây dựng công trình Tổng mức đầu tư là một trong những căn cứ quan trọng để đảm bảo tính khả thi của dự án và quyết định thực hiện dự án, đồng thời dùng làm hạn mức là giới hạn tối đa không được phép vượt qua nhằm làm mục tiêu quản lý giá xây dựng công trình, là sự chuẩn bị cho việc biên soạn tổng dự toán, dự toán ở các bước tiếp sau
Trong giai đoạn này phải lập được dự toán và chi phí trong khâu đấu thầu :
- Dự toán xây dựng công trình: được lập căn cứ trên cơ sở khối lượng các công việc xác định theo thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế bản vẽ thi công và đơn giá xây dựng công trình, định mức chi phí tính theo tỷ lệ phần trăm (%), là căn cứ để chủ đầu tư quản lý chi phí đầu tư xây dựng và các bước tiếp theo
- Chi phí được lập trong khâu đấu thầu và lựa chọn nhà thầu: Xác định giá gói thầu, giá dự thầu, giá đánh giá và giá đề nghị trúng thầu
+ Giá gói thầu là giá trị gói thầu được xác định trong kế hoạch đấu thầu trên cơ sở tổng mức đầu tư hoặc dự toán, tổng dự toán được duyệt và các quy định hiện hành
+ Giá dự thầu là giá do nhà thầu nêu trong đơn dự thầu thuộc hồ sơ dự thầu
+ Giá đề nghị trúng thầu là do bên mời thầu đề nghị trên cơ sở giá dự thầu của nhà thầu được lựa chọn trúng thầu sau sửa lỗi, hiệu chỉnh các sai lệch theo yêu cầu của
hồ sơ mời thầu
+ Giá trúng thầu: Là giá được phê duyệt trong kết quả lựa chọn nhà thầu làm cơ sở
để thương thảo, hoàn thiện và ký kết hợp đồng
+ Giá ký hợp đồng: Giá ký hợp đồng được xác định sau quá trình đấu thầu, khi ký kết hợp đồng nhận thầu thực hiện xây dựng công trình Giá ký hợp đồng do bên giao thầu và bên nhận thầu cùng đồng ý thống nhất xác định để làm cơ sở thanh toán của cả hai bên
2.3.3 Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác sử dụng:
Chi phí hình thành khi nghiệm thu bàn giao công trình là giá quyết toán Giá quyết toán là toàn bộ chi phí hợp pháp đã được thực hiện trong quá trình đầu tư xây dựng để đưa dự án vào khai thác sử dụng Chi phí hợp pháp là chi phí được
Trang 7thực hiện đúng với thiết kế, dự toán được phê duyệt, bảo đảm đúng định mức, đơn giá, chế độ tài chính kế toán, hợp đồng kinh tế đã ký kết và các quy định khác của
2.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc hình thành chi phí đầu tư xây dựng công trình:
So với các ngành sản xuất khác, ngành xây dựng cơ bản có những đặc điểm kinh
tế – kỹ thuật riêng biệt, thể hiện rất rõ nét ở sản phẩm xây lắp và quá trình tạo ra sản phẩm của ngành
2.4.1 Sản xuất xây dựng không ổn định làm phát sinh chi phí đầu tư xây dựng:
Các công trình xây dựng nằm ở các địa điểm khác nhau Sau khi hoàn thành công trình; con người, công cụ lao động, máy móc phải di chuyển đến địa điểm mới Các phương án về kỹ thuật và tổ chức sản xuất cũng luôn thay đổi theo từng địa điểm xây dựng Đặc điểm này làm cho sản xuất xây dựng hay bị gián đoạn, làm phát sinh các chi phí cho khâu di chuyển lực lượng thi công và chi phí xây dựng các công trình phụ trợ, công trình tạm phục vụ thi công
Các đơn giá xây dựng công trình được quy định cho từng công trình theo từng khu vực và theo từng loại công tác riêng biệt trên cơ sở các định mức chi phí về vật liệu, cước vận chuyển, giá ca máy và tiền lương của công nhân xây lắp Nếu các bảng giá này được tính toán phù hợp với mức giá trên thị trường thì giá sản phẩm xây dựng được xác định bằng phương pháp dự toán cũng sẽ mang tính chất như giá thị trường tại một thời điểm nhất định
Ngoài ra, khi tiến hành xây dựng công trình ở những vùng miền núi, xa xôi hẻo lánh hoặc những công trình theo tuyến thường cần phải xây dựng những xí nghiệp phụ trợ (sản xuất cấu kiện bê tông đúc sẵn, bê tông cốt thép, khai thác đá ) hoặc những công trình tạm loại lớn (đường ô tô tạm, cầu, cống, nhà ở cho công nhân ) Tất cả những điều đó làm cho sản phẩm xây dựng không có giá thống nhất trên thị trường như các sản phẩm công nghiệp Từng sản phẩm xây dựng có giá riêng được xác định bằng phương pháp riêng gọi là phương pháp lập dự toán Cơ sở để lập dự toán là khối lượng công tác được xác định theo tài liệu thiết kế và chi phí xã hội
Trang 8cần thiết để hoàn thành một đơn vị khối lượng công tác tương ứng (gọi là đơn giá xây dựng)
2.4.2 Thời gian xây dựng công trình dài, luôn chịu sự biến động giá xây dựng
và khó khăn trong quản lý chi phí:
Sản phẩm xây dựng có quy mô lớn và mức độ phức tạp về kỹ thuật xây dựng công trình nên thời gian xây dựng công trình dài Vì vậy, chúng được tiến hành theo một trình tự nhất định bao gồm các giai đoạn khác nhau Các tài liệu thiết kế
và giá trị dự toán xây dựng được tính toán đầy đủ và chính xác dần theo từng giai đoạn đó
Đặc điểm này làm cho công tác thanh toán, quyết toán gặp nhiều khó khăn, phải chú ý đến yếu tố thời gian khi lựa chọn phương án Nếu công trình hoàn thành đưa vào sử dụng không đúng tiến độ không những làm thiệt hại về kinh tế, mà còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến các ngành có liên quan, nguyên nhân của tình trạng
nợ đọng kéo dài
2.4.3 Sản xuất xây dựng mang tính đơn chiếc theo đơn đặt hàng:
Từ đặc điểm của sản xuất xây dựng là sản xuất cá biệt theo đơn đặt hàng nên việc mua bán sản phẩm được xác định trước khi thi công Mỗi dự án xây dựng công trình đều phải xác định tổng mức đầu tư, dự toán xây dựng công trình để làm căn
cứ cho quá trình tổ chức thực hiện hoạt động đầu tư và xây dựng cũng như làm cơ
sở để xây dựng giá gói thầu trong kế hoạch đấu thầu, xác định hạn mức kế hoạch vốn đầu tư hàng năm, cấp phát vốn đầu tư để thanh toán cho khối lượng thực hiện
và quyết toán vốn đầu tư đã hoàn thành
2.4.4 Sản xuất xây dựng chịu ảnh hưởng nhiều của các yếu tố tự nhiên:
Đặc điểm này đòi hỏi các doanh nghiệp xây dựng khi tiến hành xây dựng công trình phải lập tiến độ thi công hợp lý để tránh thời tiết xấu, tránh thời kỳ mưa lũ, bão lụt, giảm thời gian tổn thất do thời tiết gây ra Phải nghiên cứu các giải pháp
để bảo đảm chế độ, chính sách thích hợp đối với người lao động, chế độ tiền lương, tiền thưởng và các khoản phụ cấp khác,… Mặt khác, công tác tổ chức thi công, tổ chức lao động tại hiện trường cần có các giải pháp bảo vệ sức khoẻ, an toàn cho người lao động Đồng thời phải tổ chức tốt hệ thống kho bãi để bảo quản vật tư, tài
Trang 9sản; tránh hư hỏng, mất mát tài sản, vật tư, thiết bị do thiên nhiên hoặc con người gây ra trong hoạt động đầu tư và xây dựng
Chất lượng và chi phí xây dựng chịu ảnh hưởng trực tiếp của các điều kiện tự nhiên, khí hậu, do đó để quản lý tốt chi phí đầu tư xây dựng công trình đòi hỏi trước khi khởi công phải làm tốt công tác chuẩn bị đầu tư và chuẩn bị xây dựng Công trình xây dựng phức tạp, có thể bao gồm nhiều hạng mục công trình, một hạng mục lại có thể bao gồm nhiều bộ phận kết cấu Từ đặc điểm này, yêu cầu vốn đầu tư lớn, do đó trong quản lý kinh tế, hoạt động đầu tư và xây dựng đòi hỏi phải làm tốt công tác kế hoạch hoá vốn đầu tư, lập định mức kinh tế kỹ thuật và quản lý theo định mức, tiêu chuẩn kỹ thuật xây dựng
2.4.5 Công tác tổ chức quá trình sản xuất xây dựng thường rất phức tạp:
Trong quá trình thi công xây dựng thường có nhiều đơn vị thuộc các thành phần kinh tế tham gia thực hiện phần công việc của mình theo một trình tự nhất định về thời gian và không gian trên mặt bằng thi công chật hẹp Đặc điểm này đòi hỏi các doanh nghiệp xây dựng phải có trình độ phối hợp cao trong sản xuất để bảo đảm tiến độ thi công và chất lượng công trình
Ngoài ra do sự chi phối của đặc điểm này nên không chỉ cần giải pháp để tổ chức phối hợp giữa các đơn vị trong quá trình thi công, mà còn phải nghiên cứu để có các biện pháp kiểm tra, giám sát tốt hoạt động thi công của các đơn vị và sự phối hợp giữa các đơn vị nhằm bảo đảm chất lượng công trình và giảm tối đa lãng phí, thất thoát trong quá trình thực hiện dự án
2.5 Những hạn chế trong việc quản lý chi phí dự án đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên:
- Công tác tư vấn khảo sát còn nhiều hạn chế, nhất là bước lập dự án và thiết kế cơ
sở chưa đảm bảo chất lượng, nên đến giai đoạn khảo sát thiết kế kỹ thuật phải điều chỉnh, bổ sung, nhiều trường hợp phải điều chỉnh qui mô, giải pháp kỹ thuật, kéo dài thời gian thực hiện Việc áp dụng các tiêu chuẩn thiết kế, quy chuẩn kỹ thuật, công nghệ chưa đảm bảo sự lựa chọn tối ưu về kinh tế - kỹ thuật và phù hợp với điều kiện cụ thể của từng dự án;
Trang 10- Ở bước thiết kế kỹ thuật và thiết kế bản vẽ thi công: Các giải pháp thiết kế đưa ra một số dự án không phù hợp, các công trình đang thi công dở dang phải thay đổi giải pháp kỹ thuật, phải tạm dừng để điều chỉnh thiết kế hoặc thiết kế bổ sung, dẫn đến tăng chi phí của dự án…;
- Chưa áp dụng đầy đủ quy định của nhà nước trong quản lý chi phí dự án dẫn đến làm kéo dài thời gian thực hiện các thủ tục đầu tư, chủ đầu tư của các dự án không chủ động được trong quá trình thực hiện, không thể chủ động để đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án khi;
- Công tác bố trí vốn vẫn còn tình trạng dàn trải, lượng nợ đọng vốn xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách còn lớn, nhiều công trình hoàn thành nhưng chưa có khả năng thanh toán và thiếu khả năng cân đối; nhiều dự án phải kéo dài thời gian thực hiện, công trình chậm được đưa vào khai thác sử dụng;
- Công tác lựa chọn nhà thầu xây lắp chưa hiệu quả; vẫn còn những nhà thầu chưa đảm bảo chất lượng, năng lực kém được lựa chọn để thi công xây dựng công trình dẫn đến chất lượng công trình không đạt yêu cầu, tiến độ thi công bị kéo dài, làm tăng vốn đầu tư dự án Chất lượng nhân lực của nhà thầu chưa đáp ứng yêu cầu, thiếu cán bộ có kinh nghiệm quản lý, đặc biệt thiếu thợ tay nghề giỏi Nhiều đơn vị
sử dụng lao động thời vụ không qua đào tạo để giảm chi phí;
- Việc tổ chức đấu thầu tuyển chọn tư vấn, từ tư vấn lập dự án, tư vấn khảo sát thiết
kế đến tư vấn thẩm tra, tư vấn giám sát, tư vấn kiểm định chất lượng vẫn mang nặng tính hình thức, kém tính cạnh tranh, chất lượng tư vấn kém ảnh hưởng đến chất lượng và tiến độ thực hiện dự án;
- Các chủ đầu tư chưa chấp hành đúng theo chế độ quy định về công tác quyết toán, còn tình trạng các công trình đưa vào sử dụng nhưng chưa tiến hành nghiệm thu bàn giao; các công trình bào giao đưa vào sử dụng quá lâu nhưng chủ đầu tư vẫn không thực hiện việc lập báo cáo quyết toán theo quy định