Thực trạng chất lượng các dịch vụ kỹ thuật hạ tầng (điện,nước, điện thoại, thông tinliên lạc, trông giữ xe,…) trong các khu đô thị tại Hà Nội và Đề xuất một vài giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý cho cấp cơ sở
Trang 1MỤC LỤC
Mục lục 1
Mở đầu 3
I Các khái niệm 5
1 Khái niệm về khu đô thị 5
2 Khái niệm về chung cư 5
3 Khái niệm về dịch vụ nhà chung cư 7
3.1 Khái niệm về dịch vụ 7
3.2 Khái niệm về dịch vụ nhà chung cư 7
3.3 Đặc điểm dịch vụ nhà chung cư 7
4 Khái niệm về chất lượng dịch vụ 8
4.1 Các quan niệm về chất lượng 8
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng 9
4.3 Chất lượng dịch vụ 9
4.4 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng dịch vụ 10
II Thực trạng chất lượng các dịch vụ kỹ thuật hạ tầng (điện,nước, điện thoại, thông tin liên lạc, trông giữ xe,…) trong các khu đô thị tại Hà Nội 11
1 Thực trạng mô hình quản lý 11
2 Thực trạng giải pháp quản lý 12
2.1 Thực trạng giải pháp quản lý đường nội bộ 12
2.2 Thực trạng giải pháp quản lý rác thải 12
2.3 Thực trạng giải pháp quản lý hệ thống cấp nước 13
2.4 Thực trạng giải pháp quản lý hệ thống thoát nước 14
2.5 Thực trạng giải pháp quản lý hệ thống điện 16
3 Sự tham gia của cộng đồng 17
4 Đánh giá thực trạng các khu đô thị tại Thành phố Hà Nội 18
III Đề xuất một vài giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý cho cấp cơ sở 21
1 Tổ chức tập huấn cho lực lượng cán bộ chuyên trách về quản lý đô thị 21
Trang 22
2 Tăng cường vai trò quản lý Nhà nước của các cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở
trong lĩnh vực quy hoạch 21
3 Tăng cường quyền hạn cho cán bộ thuộc UBND phường trong việc thực hiện giám sát xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật theo quy hoạch 21
4 Nâng cao trách nhiệm cho các cán bộ Phường thông qua giải pháp tài chính 21
5 Nâng cao chất lượng dịch vụ kỹ thuật hạ tầng 22
5.1 Cải tạo cảnh quan kiến trúc 22
5.2 Quản lý vấn đề cấp nước 22
5.3 Quản lý vấn đề thoát nước 22
5.4 Quản lý thu gom rác, chất thải 23
5.5 Quản lý chống ô nhiễm không khí, bụi, tiếng ồn 23
5.6 Các biện pháp khác 23
Kết luận 24
Trang 33
MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, bộ mặt đô thị của Hà Nội có nhiều chuyển biến tích cực Nhiều dự án lớn về nhà ở, giao thông đô thị được ra đời, phần nào đáp ứng nhu cầu về nhà ở cũng như tạo cảnh quan cho đô thị, đóng góp một phần quan trọng trong quá trình Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước
Hà Nội là một trong những đô thị đi đầu trong cả nước về tốc độ đô thị hoá, đặc biệt từ
sau khi Hà Nội mở rộng (1/8/2008) nhiều khu đô thị mới được hình thành, quỹ nhà của
thành phố được cải thiện đáng kể, giao thông nội đô không ngừng phát triển Vào những thập niên 80 của thế kỉ trước, Hà Nội chỉ có khoảng 30 tiểu khu ở mà trong đó có các dãy
nhà cao tầng (4,5 tầng), nhưng đến nay sau hơn 20 năm đổi mới số lượng khu đô thị mới
và các toà nhà cao tầng đã được cải thiện một cách rõ rệt Tốc độ đô thị hoá nhanh trong khi trình độ phát triển ở nông thôn rất chậm đã kéo theo các vấn đề xã hội như: việc làm, môi trường, quy hoạch, hạ tầng kỹ thuật , hạ tầng xã hội,… đặc biệt là vấn đề nhà ở đô thị, trong đó có vấn đề nhà ở cho công nhân tại các khu công nghiệp tập trung, nhà ở cho một bộ phận đối tượng sinh viên mới ra trường chưa có điều kiện để tạo lập nhà ở …điều này đã và đang tạo ra sức ép rất lớn cho chính phủ và các nhà hoạch định chính sách về nhà ở Mặt khác , tốc độ tăng dân số nhanh làm cho quỹ đất ngày càng bị thu hẹp Chính
vì vậy , nhà nước chủ trương khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển nhà
ở đặc biệt là phát triển nhà ở cung cư cao tầng theo dự án Đến nay đó xuất hiện nhiều mô hình nhà chung cư mới, nhiều kiểu dáng đáp ứng một phần nhu cầu ngày càng tăng lên về chất lượng của nhân dân Nhà ở chung cư cao tầng theo dự án được xây dựng đó tạo ra diện mạo mới cho đô thị văn minh với sự đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật, vơi sự đồng bộ về cảnh quan môi trường nên đã được xã hội chấp nhận Hơn nữa, xây dựng nhà chung cư cũng hình thành nếp sống đô thị văn minh, hiện đại Đối với Việt Nam, chủ trương phát triển chung cư cao tầng sẽ tạo cơ hội cho các ngành xây dựng tiếp cận với tiến bộ khoa học kỹ thuật , tạo nguồn ngân sách lớn cho nhà nước
Theo số liệu thống kê ở Hà Nội của Sở Địa Chính Hà Nội năm 2002, nhà ở chung cư cao tầng (4-6 tầng ) gồm 434 nhà ở 24 khu tâp thể, diện tích sàn xây dựng là: 920.195m 2
; 27.573 hợp đồng thuê nhà; 137.163 người Còn theo thống kê của Sở Quy hoạch Kiến trúc, hiện nay thành phố Hà Nội đã có gần 200 công trình cao từ 9 tầng trở lên, chưa kể số chung cư 5-6 tầng được xây dựng mới, chủ yếu phục vụ công tác tái định cư, giải phóng mặt bằng Trong đó, cùng với những thành công của cả nước trong công tác xây dựng và quản lý nhà chung cư cao tầng, đầu quí I-2004 Tổng công ty Đầu tư Phát triển nhà và Đô thị đã đưa vào vận hành 20 khối nhà chung cư cao tầng với tổng số 1.764 căn hộ
Cùng với công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng thì công tác quản lý sau đầu tư đặc biệt là công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật luôn là một nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa sống
Trang 44
còn đối với các khu đô thị Kiểm điểm lại công tác quản lý sau đầu tư đối với hệ thống hạ tầng kỹ thuật tại các khu đô thị trong những năm gần đây cho thấy, hầu như công tác này chưa được chú trọng, quan tâm một cách đúng mức Nhiều khu đô thị của Thành phố đều
có dấu hiệu xuống cấp nhanh chóng mặc dù thời gian đưa vào sử dụng chưa lâu Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên nhưng theo nhìn nhận khách quan thì nguyên nhân chủ yếu là do công tác quản lý sau đầu tư tại các khu đô thị này chưa thực sự được chú trọng
Trang 55
I CÁC KHÁI NIỆM:
1 Khái niệm về khu đô thị:
- Theo định nghĩa chung:
Đô thị hay khu đô thị là một khu vực có mật độ dân số cao và mật độ gia tăng các công trình kiến trúc do con người xây dựng so với các khu vực xung quanh nó Đô thị bao gồm thành phố, thị xã, trung tâm dân cư đông đúc nhưng thuật từ này thông thường không mở rộng đến các khu định cư nông thôn như làng, xã, ấp
Các đô thị được thành lập và phát triển thêm qua quá trình đô thị hóa Đo đạt tầm rộng của một đô thị sẽ giúp ích cho việc phân tích mật độ dân số, sự mở rộng đô thị, và biết được các số liệu về dân số nông thôn và thành thị
- Theo định nghĩa ở Việt Nam:
Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn
2 Khái niệm về chung cƣ:
* Định nghĩa “chung cƣ” tại Việt Nam:
Theo Điều 70 của Luật Nhà ở 2005:
- Nhà chung cư là nhà ở có từ hai tầng trở lên, có lối đi, cầu thang và hệ thống công trình hạ tầng sử dụng chung cho nhiều hộ gia đình, cá nhân Nhà chung cư có phần sở hữu riêng của từng hộ gia đình, cá nhân và phần sở hữu chung của tất cả các hộ gia đình, cá nhân sử dụng nhà chung cư
- Phần sở hữu riêng trong nhà chung cư bao gồm:
+ Phần diện tích bên trong căn hộ, bao gồm cả diện tích ban công, lôgia gắn liền với căn hộ đó;
+ Phần diện tích khác trong nhà chung cư được công nhận là sở hữu riêng theo quy định của pháp luật;
+ Hệ thống trang thiết bị kỹ thuật sử dụng riêng gắn liền với căn hộ, phần diện tích thuộc sở hữu riêng
- Phần sở hữu chung trong nhà chung cư bao gồm:
+ Phần diện tích nhà còn lại của nhà chung cư ngoài phần diện tích thuộc sở hữu riêng quy định tại khoản 2 Điều này;
Trang 66
+ Không gian và hệ thống kết cấu chịu lực, trang thiết bị kỹ thuật dùng chung trong nhà chung cư, gồm khung, cột, tường chịu lực, tường bao ngôi nhà, tường phân chia các căn hộ, sàn, mái, sân thượng, hành lang, cầu thang bộ, thang máy, đường thoát hiểm, lồng
xả rác, hộp kỹ thuật, nơi để xe, hệ thống cấp điện, nước, ga, thông tin liên lạc, phát thanh, truyền hình, thoát nước, bể phốt, thu lôi, cứu hoả và các phần khác không thuộc sở hữu riêng của căn hộ nào;
+ Hệ thống hạ tầng kỹ thuật bên ngoài nhưng được kết nối với nhà chung cư đó
* Phân loại chung cƣ:
Tại Hội nghị quốc tế về Kiến trúc năm 1972, nhà cao tầng (cao ốc) được phân thành 4 loại như sau:
+ Nhà cao tầng loại 1: 9~16 tầng ( cao nhất không quá 50 m)
+ Nhà cao tầng loại 2: 17~25 tầng ( cao nhất không quá 75 m)
+ Nhà cao tầng loại 3: 26~40 tầng ( cao nhất không quá 100 m)
+ Nhà cao tầng loại 4: > 40 tầng ( cao hơn 100 m)
- Về mặt sử dụng, chung cư cao ốc có 3 loại hình:
+ Cao ốc chỉ có căn hộ (chung cư đơn thuần)
+ Cao ốc hỗn hợp: mấy tầng dưới mở rộng làm cửa hàng, các tầng trên hình tháp gồm các căn hộ
+ Cao ốc đa năng: gồm có cửa hàng, văn phòng và căn hộ
- Về mặt sở hữu, chung cư phân thành hai nhóm:
+ Chung cư cho thuê thuộc một chủ sở hữu
+ Chung cư sở hữu chung có nhiều chủ sở hữu
Chung cư cao ốc sở hữu chung là dạng chung cư hiện đang được phát triển mạnh mẽ tại nhiều đô thị nước ta
- Nhà ở chung cư cao tầng tại Hà Nội: bao gồm nhà ở chung cư cao tầng thuộc sở hữu nhà nước và nhà ở chung cư cao tầng thuộc khu đô thị mới
+ Nhà ở chung cư cao tầng thuộc sở hữu nhà nước: xây dựng chủ yếu trong thời kỳ thực hiện ở cơ chế bao cấp nhà ở Đây là giải pháp để giải quyết nhu cầu bức bách về chỗ
ở cho người dân đô thị
+ Nhà ở chung cư cao tầng tại các dự án xây dựng khu đô thị mới: được xây dựng để bán hoặc cho thuê
Trang 7- Đặc tính của dịch vụ:
+ Tính đồng thời (Simultaneity): sản xuất và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời;
+ Tính không thể tách rời (Inseparability): sản xuất và tiêu dùng dịch vụ không thể tách rời Thiếu mặt này thì sẽ không có mặt kia;
+ Tính chất không đồng nhất (Variability):không có chất lượng đồng nhất;
+ Vô hình (Intangibility):không có hình hài rõ rệt Không thể thấy trước khi tiêu dùng; + Không lưu trữ được (Perishability): không lập kho để lưu trữ như hàng hóa được
3.2 Khái niệm về dịch vụ nhà chung cƣ :
Chúng ta có thể hiểu khái niệm dịch vụ nhà chung cư như sau: Dịch vụ nhà chung cư là tập hợp tất cả các loại hình dịch vụ tại các khu chung cư nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu của người dân sinh sống tại đó
kế hoach định sẵn: hoạt động cung ứng dịch vụ này được tiến hành trên mục tiêu của chủ đầu tư dự án, với sự thỏa thuận về dịch vụ sẽ cung cấp cho khách hàng khi khách đến mua căn hộ, tổ chức dịch vụ chỉ có thể hoạt động kho khách hàng chuyển đến căn hộ đó sinh sống
- Đặc điểm của dịch vụ :
Đặc thù của công tác quản lý và cung cấp dịch vụ tại các chung cư là nhà cung cấp dịch vụ bắt buộc phải cung cấp dịch vụ khi khách hàng đang có quyền sử dụng các căn hộ trong khối nhà nhà cao tầng đó, nhưng làm thế nào để đáp ứng đa dạng các yêu cầu của khách hàng là yếu tố rất quan trọng, điều đó đòi hỏi nhà cung cấp dịch vụ phải xây dựng
Trang 88
được chính sách dịch vụ đồng bộ và khoa học đáp ứng được tương đối các đối tượng khách hàng Bên cạnh đó không thể thiếu được những nội quy cam kết của nhà cung cấp dịch vụ và khách hàng khi sinh sống và được sử dụng dịch vụ sau bán hàng tại các căn hộ
mà khách hàng đã mua
- Cường độ công việc :
Vì nhân dân sinh sống tại các chung cư có cuộc sống bình thường như các hộ gia đình khác, nên cường độ làm việc của nhân viên phục vụ dịch vụ tại các chung cư là rất cao, phải đảm bảo cho dịch vụ hoạt động 24/24h điều đó đòi hỏi số lượng nhân viên tương đối lớn mới có thể đáp ứng được công tác phục vụ
- Sự đáp ứng khách hàng :
Khi khách hàng đánh giá chất lượng dịch vụ, họ không hề phân tích ra nhiều mặt Họ xét đoán cả cụm tổng thể, họ hình dung ra một ấn tượng chung và ít khi lưu ý đến mặt khá trên một số phương diện cụ thể Thậm chí khách hàng thường có xu hướng tập trung vào khâu yếu nhất trong cả một chuỗi chất lượng và rồi họ sẽ chê bai toàn bộ dịch vụ Do vậy, điều quan trọng nhất trong chính sách chất lượng dịch vụ để làm thỏa mãn khách hàng là phải đảm bảo độ đồng đều ở mức cao nhất giữa các yếu tố và tính nhất quán giữa khách hàng Vì vậy một dịch vụ thường sẽ thuận lợi hơn nhiều nếu như khách hàng nhận ra rằng dịch vụ đó cũng được cung cấp tương tự như mình đối với khách hàng khác
- Theo tiêu chuẩn GB/T 10300 - 1988 của Trung Quốc: Chất lượng là tổng hòa đặc trưng, đặc tính của sản phẩm, quá trình hoặc dịch vụ thỏa mãn quy định hoặc đáp ứng yêu cầu (hoặc nhu cầu)
- Theo quan điểm của Nhật: Chất lượng là một chỉ tiêu tổng hợp được tạo nên từ nhiều yếu tố chi tiết
- Theo quan điểm của Việt Nam:
+ Chất lượng là tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật, sự việc,…làm cho sự vật, sự việc này phân biệt với sự vật, sự việc khác
+ Theo quyết định số 18/2003/QĐ - BXD ngày 27 tháng 6 năm 2003: Chất lượng công trình xây dựng là những yêu cầu về an toàn, bền vững, kỹ thuật và mỹ thuật của công
Trang 9- Đội ngũ quản lý doanh nghiệp: đây chính là những người góp phần quyết định đến việc nâng cao chất lượng hoạt động của doanh nghiệp Kinh nghiệm chỉ cho thấy rằng 80% các vấn đề về chất lượng đều xuất phát từ quản lý
- Người lao động: những người trực tiếp tác động đến chất lượng Họ thường xuyên hàng ngày, hàng giờ đảm bảo chất lượng sản phẩm và dịch vụ sản xuất ra đáp ứng nhu cầu của khách hàng Nghiên cứu chỉ cho thấy rằng hầu hết các vấn đề về chất lượng thì người lao động trực tiếp gây nên chiếm khoảng 20%
- Các yếu tố khác: nguyên vật liệu, công nghệ, quy trình sản xuất và máy móc thiết bị
4.3 Chất lƣợng dịch vụ:
Trong một thời gian dài, nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng định nghĩa và đo lường chất lượng dịch vụ Lấy ví dụ, Lehtinen & Lehtinen (1982) cho là chất lượng dịch vụ phải được đánh giá trên hai khía cạnh: quá trình cung cấp dịch vụ và kết quả của dịch vụ Gronroos (1984) cũng đề nghị hai thành phần của chất lượng dịch vụ, đó là: chất lượng
kỹ thuật, đó là những gì mà khách hàng nhận được và chất lượng chức năng, diễn giải dịch vụ được cung cấp như thế nào
Trang 1010
Tuy nhiên, khi nói đến chất lượng dịch vụ, chúng ta không thể nào không đề cập đến đóng góp rất lớn của Parasuraman & ctg (1988, 1991) Parasuraman & ctg (1988, trang 17) định nghĩa chất lượng dịch vụ là “mức độ khác nhau giữa sự mong đợi của người tiêu dùng về dịch vụ và nhận thức của họ về kết quả của dịch vụ” Các tác giả này đã khởi xướng và sử dụng nghiên cứu định tính và định lượng để xây dựng và kiểm định thang đo các thành phần của chất lượng dịch vụ (gọi là thang đo SERVQUAL) Thang đo SERVQUAL được điều chỉnh và kiểm định ở nhiều loại hình dịch vụ khác nhau Cuối cùng thang đo SERVQUAL bao gồm 22 biến để đo lường năm thành phần của chất lượng dịch vụ, đó là: độ tin cậy (reliability), tính đáp ứng (responsiveness), tính đảm bảo (assurance), phương tiện hữu hình (tangibles) và sự đồng cảm (empathy) Parasuraman & ctg (1991) khẳng định rằng SERVQUAL là thang đo hoàn chỉnh về chất lượng dịch vụ, đạt giá trị và độ tin cậy, và có thể được ứng dụng cho mọi loại hình dịch vụ khác nhau Tuy nhiên, mỗi ngành dịch vụ cụ thể có những đặc thù riêng của chúng Nhiều nhà nghiên cứu khác cũng đã kiểm định thang đo này với nhiều loại hình dịch vụ cũng như tại nhiều quốc gia khác nhau Kết quả cho thấy các thành phần của chất lượng dịch vụ không thống nhất với nhau ở từng ngành dịch vụ và từng thị trường khác nhau
4.4 Các chỉ tiêu phản ánh chất lƣợng dịch vụ:
- Sự tin cậy;
- Sự nhanh chóng và kịp thời đáp ứng yêu cầu của khách hàng;
- Bố trí trang thiết bị dụng cụ, con người phục vụ;
- Giao tiếp giữa người phục vụ và khách hàng;
- Hiếu khách, và hiểu biết khách hàng;
- Sự thành thạo trong các thao tác phục vụ;
- Ấn tượng với khách hàng;
- Giá cả
Trang 1111
II THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CÁC DỊCH VỤ KỸ THUẬT HẠ TẦNG (ĐIỆN, NƯỚC, ĐIỆN THOẠI, THÔNG TIN LIÊN LẠC, TRÔNG GIỮ XE,…) TRONG CÁC KHU ĐÔ THỊ TẠI HÀ NỘI:
1 Thực trạng mô hình quản lý:
Mô hình quản lý của các khu đô thị của TP Hà Nội nhìn chung còn gặp nhiều bất cập, nhiều đơn vị quản lý độc lập không nhất quán về cách quản lý dẫn đến tình trạng “Cha chung không ai khóc” Công tác quản lý chồng chéo, thiếu đồng nhất về mô hình cũng như phương pháp quản lý đặc biệt là quản lý Hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị
Ví dụ: Phần hè giao thông được bàn giao cho Sở Giao thông vận tải Hà Nội quản lý, phần hè thuộc cảnh quan ô đất ngoài nhà được bàn giao cho đơn vị quản lý nhà quản lý và
cả hai hệ thống hè trên đều được bàn giao cả cho UBND Phường sở tại để quản lý về mặt hành chính Như vậy, sẽ dẫn đến tình trạng chồng chéo, thiếu kiểm soát, các đơn vị sẽ đổ lỗi cho nhau hoặc trốn tránh trách nhiệm khi có sự cố xảy ra Ngoài ra các hệ thống khác như: cấp nước, thoát nước, cấp điện, mạng điện thoại, truyền hình, hệ thống PCCC, Đều được bàn giao cho các đơn vị chuyên ngành khai thác và đồng quản lý với các tổ chức này là đơn vị quản lý nhà Sự phối hợp cũng như mô hình quản lý của các đơn vị này chưa thực sự mang lại hiệu quả, mỗi ngành, mỗi cơ quan chỉ biết thực hiện xong nhiệm
vụ của mình mà không suy xét đến lợi ích chung, công tác quản lý phân tán, chưa tập trung vào một đầu mối, thiếu tính đồng nhất
Đối với mô hình quản lý của UBND các phường chưa thật sự chuyên nghiệp, lực
lượng chuyên môn mỏng trong khi lại phải giải quyết một khối lượng cộng việc lớn nên không thể đáp ứng được nhu cầu hiện tại
Các tổ chức quản lý có sự tham gia của cộng đồng do các UBND phường sở tại lập lên, đa số chỉ mang tính hình thức, không có sự kết nối, liên kết chặt chẽ và chưa phát huy được hết nội lực trong dân
Đối với mô hình quản lý của đơn vị quản lý nhà mới chỉ dừng lại ở công tác quản lý
tòa nhà chứ chưa thật sự chú trọng đến hệ thống hạ tầng của cả khu Thậm chí đơn vị này cũng chưa góp tiếng nói cũng như tham mưu cho các đơn vị cấp trên về các vướng mắc trong khâu quy hoạch, quản lý, kế hoạch nâng cấp kịp thời các hệ thống hạ tầng Ví dụ: Rất nhiều khu đô thị ở Hà Nội khi lập quy hoạch và phê duyệt tổng mức đầu tư đều thiếu máy phát điện dự phòng, thiếu chợ dân sinh, hệ thống giao thông tĩnh chưa phù hợp, Nắm được những bất cập đó nhưng đơn vị quản lý nhà vẫn chưa có một động thái tích cực nào nhằm khắc phục vấn đề trên gây nhiều bức xúc cho cư dân sinh sống tại khu vực
Mô hình quản lý chồng chéo nêu trên đã gây tác hại không nhỏ đến công tác vận hành
Hệ thống hạ tầng kỹ thuật Nếu như mô hình quản lý được tập trung, một đầu mối chính thì chắc chắn các hệ thống này sẽ phát huy tối đa công năng cũng như tăng tuổi thọ phục
vụ cho người sử dụng
Trang 1212
2 Thực trạng giải pháp quản lý:
2.1 Thực trạng giải pháp quản lý đường nội bộ:
Hệ thống giao thông nội bộ của các khu đô thị được bàn giao cho đơn vị chuyên môn
thuộc Sở giao thông vận tải Hà Nội quản lý và vận hành (không có khai thác) Nhưng
những đơn vị này chỉ quản lý về mặt chất lượng thông qua các giải pháp nâng cấp, duy tu, bảo dưỡng định kỳ chứ không tham gia trong quá trình quản lý sử dụng, công tác quản lý
sử dụng thuộc trách nhiệm của các UBND phường sở tại
Giải pháp duy tu, bảo dưỡng định kỳ của cơ quan chuyên môn thì thường gặp trở ngại
về việc xác định thời gian định kỳ bảo dưỡng Thông thường các hệ thống đường giao thông trong các khu đô thị là đường nội bộ nên thời gian giữa các lần duy tu dài hơn so với đường cấp thành phố và kinh phí cho công tác này cũng thấp hơn Nhưng trên thực tế, sau khi các hệ thống đường nội bộ này được đấu nối với hệ thống đường thành phố thì mật độ và lưu lượng giao thông tăng hơn rất nhiều so với tính toán ban đầu và đặc biệt là hầu hết các tuyến đường kể trên chưa được lắp đặt hệ thống biển báo phân luồng kịp thời nên dẫn đến tình trạng các xe tải trọng lớn hơn thiết kế thường xuyên tập kết, lưu thông trên các tuyến đường dẫn đến tình trạng xuống cấp nhanh chóng, mất kiểm soát về chất lượng đường Bên cạnh đó, các giải pháp của UBND Phường sở tại chưa thực sự đi vào chiều sâu, nguyên nhân chủ yếu là do đội ngũ cán bộ chuyên trách của Phường còn thiếu
và yếu, các chế tài có tính răn đe, giáo dục chưa cao
2.2 Thực trạng giải pháp quản lý rác thải:
Công tác quản lý Môi trường nói chung và thu gom rác thải nói riêng còn nhiều bất cập Các giải pháp thường thấy là các đơn vị có trách nhiệm thu gom rác thải chỉ tập trung vào việc “giải quyết hậu quả” chứ chưa có biện pháp hữu hiệu nào cho việc giáo dục, nhắc nhở các hành vi vi phạm của chủ thể tham gia sử dụng hệ thống hạ tầng Các đơn vị này vẫn làm việc theo hình thức thụ động chỉ đơn thuần thu gom tại chỗ và vận chuyển đến bãi chôn lấp của Thành phố, các chế tài xử phạt chưa được đề cao Sự phối kết hợp cùng các đơn vị khác như UBND Phường, Ban quản lý nhà, tổ dân phố, chưa thực sự mang lại hiệu quả đáng kể nào Bên cạnh đó, công tác thu gom rác thải vẫn mang tính thủ công, manh mún, chưa được đầu tư các trang thiết bị hiện đại hơn Ngoài ra, trang thiết bị bảo hộ cho người lao động còn sơ xài, thiếu tính chuyên nghiệp