1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tôn giáo - Tín ngưỡng

21 534 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 856,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tùy theo hoàn cảnh, trình độ phát triển kinh tế, xã hội của mỗi dân tộc, địa phương, quốc gia mà niềm tin vào "cái thiêng" thể hiện ra các hình thức tôn giáo, tín ngưỡng cụ thể khác nhau

Trang 1

Tôn giáo - Tín ngưỡng

Tôn giáo có hệ thống giáo lý, kinh điển được truyền thụ qua giảng dạy và học tập ở các tu viện, thánh đường, học viện Còn tín ngưỡng là một hệ thống các niềm tin mà con người tin vào để giải thích thế giới và để mang lại sự bình

an cho cá nhân và cộng đồng

Tín ngưỡng là một hệ thống các niềm tin mà con người tin vào để giải thích thế giới và để mang lại sự bình an cho cá nhân và cộng đồng Tín ngưỡng đôi khi được hiểu là tôn giáo Điểm khác biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo ở chỗ, tín ngưỡng mang tính dân tộc nhiều hơn tôn giáo, tín ngưỡng có tổ chức không chặt chẽ như tôn giáo Khi nói đến tín ngưỡng người ta thường nói đến tín ngưỡng của một dân tộc hay một số dân tộc

có một số đặc điểm chung còn tôn giáo thì không mang tính dân tộc Tín ngưỡng không có một hệ thống điều hành và tổ chức như tôn giáo, nếu

có thì hệ thống đó cũng lẻ tẻ và rời rạc Tín ngưỡng nếu phát triển đến một mức độ nào đó thì có thể thành tôn giáo

Cơ sở của mọi tôn giáo, tín ngưỡng là niềm tin của con người vào những cái "siêu nhiên" (hay nói gọn lại là "cái thiêng") - cái đối lập với cái "trần tục", cái hiện hữu Niềm tin vào "cái thiêng" thuộc về bản chất con người, nó ra đời

và tồn tại, phát triển cùng với con người và loài người, nó là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh của con người, cũng giống như đời sống vật chất, đời sống xã hội tinh thần, tư tưởng, đời sống tình cảm

Tùy theo hoàn cảnh, trình độ phát triển kinh tế, xã hội của mỗi dân tộc, địa phương, quốc gia mà niềm tin vào "cái thiêng" thể hiện ra các hình thức tôn giáo, tín ngưỡng cụ thể khác nhau Chẳng hạn như niềm tin vào Đức Chúa, Đức

Mẹ Đồng Trinh của Kito giáo, niềm tin vào Đức Phật của Phật giáo, niềm tin vào Thánh, Thần của tín ngưỡng Thành Hoàng, Đạo thờ Mẫu Các hình thức tôn giáo tín ngưỡng này dù rộng hẹp khác nhau, dù phổ quát toàn thế giới hay

là đặc thù cho mỗi dân tộc thì cũng đều là một thực thể biểu hiện niềm tin vào cái thiêng chung của con người mà thôi

Hiện tại, có nhiều ý kiến khác nhau khi sử dụng khái niệm "tôn giáo" và "tín ngưỡng" Theo quan điểm truyền thống, người ta có ý thức phân biệt tôn giáo và tín ngưỡng, thường coi tín ngưỡng ở trình độ phát triển thấp hơn so với tôn giáo Loại quan điểm thứ hai là đồng nhất giữa tôn giáo và tín ngưỡng và đều gọi chung là tôn giáo, tuy có phân biệt tôn giáo dân tộc, tôn giáo nguyên thủy, tôn giáo địa phương, tôn giáo thế giới

Sự khác nhau giữa tôn giáo và tín ngưỡng thể hiện ở một số điểm như: Tôn giáo có hệ thống giáo lý, kinh điển được truyền thụ qua giảng dạy và học tập ở các tu viện, thánh đường, học viện có hệ thống thần điện, có tổ chức giáo hội, hội đoàn chặt chẽ, có nơi thờ cúng riêng như nhà thờ, chùa, thánh đường , nghi lễ thờ cúng chặt chẽ, có

sự tách biệt giữa thế giới thần linh và con người Còn tín ngưỡng thì chưa có hệ thống giáo lý mà chỉ có các huyền thoại, thần tích, truyền thuyết Tín ngưỡng mang tính chất dân gian, gắn với sinh hoạt văn hóa dân gian Trong tín

Tín ngưỡng dân gian thờ Mẫu

Trang 2

ngưỡng có sự hòa nhập giữa thế giới thần linh và con người, nơi thờ cúng và nghi lễ còn phân tán, chưa thành quy ước chặt chẽ.

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Phật Giáo

Việt Nam nằm trên đường giao lưu Ấn Độ - Trung Quốc Khi Phật Giáo từ Ấn Độ truyền ra nước ngoài theo hai đường nam bắc thì Việt Nam tiếp xúc với cả hai con đường truyền bá đó, hình thành nên hai dòng phật giáo Băc Tông và Nam Tông

Đạo Phật được truyền vào Việt Nam khá sớm và đã có những thời từng được coi là quốc đạo Ngày nay, dù trên đất nước Việt Nam có sự đan xen hài hòa giữa nhiều tôn giáo khác nhau, nhưng nhìn chung trong tâm thức của đại đa

số người Việt vẫn coi đạo Phật là tôn giáo của mình

Theo nhiều nghiên cứu khoa học, Phật giáo đã vào Việt Nam từ rất sớm Có thể sớm hơn cả là Phật giáo Tiểu thừa từ bán đảo

Ấn Độ qua Myanmar, Campuchia và vào Việt Nam rồi ngược lên phía Bắc đến Đèo Ngang Dòng Đại Thừa của đạo Phật được sản sinh ra khi có phong trào cải cách Phật giáo, đã đi từ Ấn Độ

- Nepal qua cao nguyên Tây Tạng vào Trung Quốc rồi xuống Việt Nam cho đến Đèo Ngang Nhưng dòng Đại Thừa khi vào Việt Nam thì phần nào đã được Trung Quốc hóa

Lịch sử Phật giáo Việt Nam ghi nhận, thế kỷ X - XIV là thời kỳ phát triển Phật giáo cực thịnh Tới Triều Lý, Phật giáo được tôn vinh lên hàng quốc đạo, các triều vua đều tin thờ Đạo Phật và chùa chiền được mọc lên khắp nơi Năm

1031, triều đình bỏ tiền của ra xây dựng 950 ngôi chùa miếu Năm 1129, toàn quốc đã cử hành lễ khánh thành cho 84.000 ngôi chùa bảo tháp Lúc đó, "Đế và tăng" cùng cai trị thiên hạ, không ít tăng sư đã trực tiếp tham gia nắm giữ triều chính Sách Việt Giám Thông Khảo Tổng Luận cho biết, vào thời gian đó "Tăng ni dân gian bán - Phật tự thiên

hạ mãn" (Tăng ni nửa dân gian, chùa phật tràn thiên hạ)

Đến đời vua Lý thứ ba, Lý Thánh Tông, Việt Nam xuất hiện thêm phái thiền tông Thảo Đường do tăng nhân Trung Quốc Thảo Đường sáng lập Chính vua Lý Thánh Tông là đệ tử đời thứ nhất của Thảo Đường Khởi xướng "Thiền tịnh nhất trí" - đem tu thiền và niệm Phật kết hợp lại Phái này tồn tại được gần 200 năm (từ 1009-1205) Trong thiền tăng có ba đời Thánh Tông, Anh Tông và Cao Tông Những năm đầu nhà Trần, Đạo Phật vẫn được coi là quốc đạo, nhưng đến cuối đời Trần, triều đình áp dụng chính sách coi trọng Nho giáo, nên đạo Phật ngày càng suy yếu Vào

Phật A Di Đà

Trang 3

đời thứ ba của nhà Trần, từ trong phái Thảo Đường đã chia ra làm phái Trúc Lâm coi Trần Nhân Tông là tổ thứ nhất Nhà vua truyền ngôi để chuyên tâm trước thuật và có hàng ngàn đệ tử Phái Trúc Lâm mong muốn điều hòa ba đạo Nho, Phật giáo, Đạo giáo Và nhà sư Huyền Quang, tổ đời thứ ba của phái Trúc Lâm được coi là "trạng nguyên" của tam giáo.

Chùa Vĩnh Nghiêm tại TP.Hồ Chí Minh

Sau khi Triều Lê thờ đạo Nho làm quốc giáo, Phật giáo bị áp chế Chùa chiền bị cấm xây, thậm chí còn tổ chức đấu

tố phê phán những ai tin vào Phật giáo

Các thế kỷ tiếp theo, trong khoảng 200 năm, đất nước bị loạn lạc, Phật giáo luôn bị đả kích và suy yếu Mãi đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, dưới tác động của làn sóng cải cách Phật giáo châu Á, giới Phật giáo Việt Nam cũng nổi lên phong trào phục hưng Phật giáo, tổ chức ra Hiệp hội Phật giáo, dựng trường học và giảng dạy Phật giáo hiện đại

Theo Thế giới & Việt Nam

Lễ Hằng Thuận

Trang 4

Ở Việt Nam có một nghi lễ cưới hỏi được tổ chức tại chùa, cho đến nay đã bị mai một mà theo Phật Giáo gọi là lễ Hằng Thuận Lễ này đối với những người Việt ly hương rất được coi trọng vì khi xa quê hương, ngôi chùa trở thành mái ấm gia đình thân thuộc của mỗi người Việc tổ chức một lễ cưới tại chùa cũng mang lại nhiều ý nghĩa cho đời sống tâm linh của chú rể và cô dâu sau này.

Lễ Hằng Thuận diễn ra trước sự chứng kiến của hai họ và trước Tam Bảo chứng minh, đặc biệt là lại được nghe những điều giảng dạy về đạo đức làm người trong đời sống hôn nhân theo tinh thần Phật dạy trong Kinh Thiện Sanh của chư Tăng

Ni Đó cũng là bài học về việc đối nhân xử thế cho đôi nam nữ trong cuộc sống về sau này

Việc chú rể và cô dâu trao nhẫn cưới cho nhau thể hiện sự cư xử trong tinh thần nhường nhịn yêu thương tương kính lẫn nhau của hai người Đạo phật quan niệm, cuộc sống lứa đôi nếu thiếu đi yếu tính đó thì khó có thể xây dựng được hạnh phúc lâu bền Do đó, khi hai bên trao nhẫn cho nhau, dưới sự chứng minh của Tam Bảo và hai họ, thì đây

là một điều mang ý nghĩa hết sức quan trọng Người ta gọi lễ Hằng Thuận là vì lẽ đó Hằng là luôn luôn, thuận là hòa thuận Hằng Thuận có nghĩa là sống thuận theo đạo vợ chồng, một đạo lý sống chung hòa hợp theo nguyên tắc giữ gìn 5 giới Muốn luôn luôn hòa thuận với nhau, thì cả hai đều phải biết tương kính nhường nhịn nhau

Trang 5

Lễ Hằng Thuận

Mặc dù việc tổ chức một nghi thức đơn giản cho lễ cưới của người Phật tử trong chùa không phải là một truyền thống của Phật giáo, nhưng nó cũng nói lên ý nghĩa đặc thù trong chiều hướng xây dựng hạnh phúc gia đình dựa trên tinh thần yêu thương qua nếp sống cư xử hòa kính của người Phật tử Những lời phát nguyện trước Tam Bảo của hai người có một tác động rất mạnh mẽ cho đời sống tâm linh về sau Do đó, việc tổ chức lễ cưới trong chùa cũng mang lại nhiều ý nghĩa tốt đẹp và rất hữu ích

Hải Lưu (Tổng hợp)

Lịch sử Đức Phật Thích Ca Mâu Ni

Đức Phật Thích Ca tên là Gotama (Cồ Đàm), nguyên là Thái tử Siddhartha (Tất Đạt Đa, tiếng Phạn có nghĩa là: kẻ

sẽ giữ chức vụ mà mình phải giữ), con của vua Suddhodana (Tịnh Phạn), thuộc đẳng cấp quí tộc của bộ tộc Sakya (Thích Ca), mẹ là hoàng hậu Maha Maya nước Kapilavastu (Ca Tì La Vệ) thuộc Bắc Trung Ấn Độ, nay thuộc Nêpal

Đức Phật sinh vào ngày trăng tròn, tháng tư (mùng 8 theo lịch Trung Hoa hoặc 15 theo lịch Ấn Độ), năm 624 trước Công nguyên Mất vào ngày 15/02/544 trước Công Nguyên, thọ 80 tuổi

Theo tín đồ Phật giáo, Hoàng hậu Maha Maya thấy voi trắng sáu ngà biến thành hào quang soi vào bụng, mang thai

10 tháng rồi sinh ra Thái tử tại vườn ngự uyển Lubini (Lâm Tì Ni), dưới gốc cây Asaka (Vô ưu), gần thành Kapilavastu Năm 17 tuổi, thái tử cưới vợ là công chúa Da Du Đà La, có một con trai là La Hầu La Năm 29 tuổi (sách Trung Hoa chép là 19 tuổi), nhân thấy những cảnh khổ đau, chết chóc, Ngài bỏ cung điện, đến bên dòng sông Amona, cắt tóc làm đạo sĩ, thuộc dòng tu khổ hạnh Sau 6 năm tìm con đường tu tập giải thoát khổ đau, sức khỏe Ngài sa sút Nhờ uống sữa của một người chăn dê mà sức khoẻ ngài dần hồi phục Ngài xuống sông Ni Liên

Trang 6

tắm rửa rồi tham thiền nhập định dưới gốc cây Tất bát đa (Bồ đề), tại xứ Ba La Nại Sau 49 ngày đêm suy niệm, chiến đấu với nội ngoại ma, Ngài chứng đắc chân lý giác ngộ và giải thoát (Nirvana - Niết bàn) Năm ấy Ngài 35 tuổi (có sách nói 31 tuổi) Ngài lấy hiệu là Cakya Muni (Thích Ca Mâu Ni) Đệ tử đầu tiên của Đức Phật là năm anh em nhà Kiều Trần Như, là những người tu khổ hạnh mà Đức Phật đã từng theo học trước đó Từ đó, Đức Phật đi nhiều nơi để thuyết pháp Sau 49 năm hành đạo (có sách nói 41 năm), cơ duyên hoằng hóa đã đủ, Đức Phật đến rừng Sa

La, thành Kusivagara (Câu Thi La) nhập Niết bàn vào lúc giữa đêm trăng tròn, thọ 80 tuổi

Theo Báo Thiện Tâm

Những đặc điểm của Phật giáo

Thứ nhất, đạo Phật chỉ thấy và chỉ nói những sự thật mà sự vật có, không thêm không bớt Đạo Phật cấm đoán những tín ngưỡng và những hành động không phát sinh từ sự hiểu biết của con người

Đặc điểm thứ hai là của đạo Phật là tôn trọng sự sống Không sát sanh, ăn chay, là những điều tượng trưng cụ thể cho đặc điểm ấy Đạo Phật xem sự sống trên tất cả Cho nên tôn trọng sự sống không những bằng cách giúp nhau

để sống còn, mà còn có khi phải hy sinh sự sống để bảo vệ sự sống

Đạo Phật dạy cho người ta thấy ở đời phải tự lập chứ không thể biệt lập

Đặc điểm thứ tư của đạo Phật là xác nhận "người là trung tâm điểm của xã hội loài người" Trên thế giới loài người này không có gì tự nhiên sinh ra hay từ hư không rơi xuống, mà đều do năng lực hoạt động của con người tạo thành Năng lực hoạt động của con người tạo tác chi phối tất cả Tất cả khổ hay vui, tiến hóa hay thoái hóa, là đều

do con người dã man hay văn minh

Đặc điểm thứ năm là đạo Phật là quan điểm muốn cải tạo xã hội trước hết phải cải tạo tâm trí con người Con người là trung tâm điểm của xã hội loài người, xã hội ấy tiến hoá hay thoái hóa là hoàn toàn do hoạt động con người chi phối; mà hoạt động con người lại do tâm trí con người chủ đạo, vậy xã hội là phản ảnh trung thành của tâm trí con người Cho nên muốn cải tạo xã hội, căn bản là phải cải tạo con người

Mục đích đạo Phật là "đào luyện con người thành bi, trí, dũng" Bi là tôn trọng quyền sống của người khác Trí là hành động sáng suốt lợi lạc Dũng là quyết tâm qủa cảm hành động Dũng không có bi và trí thì sẽ thành tàn ác và manh động Trí không có bi và dũng thì sẽ thành gian xảo và mộng tưởng Bi không có trí và dũng sẽ thành tình cảm và nhút nhát Bi là tư cách tiến hóa, trí là trí thức tiến hoá, dũng là năng lực tiến hoá Con người như thế là con người mới, căn bản của xã hội mới

Đặc điểm thứ bảy của đạo Phật là xây dựng một xã hội mới, mà căn bản là con người mới

Đặc điểm thứ tám của đạo Phật là luôn hướng con người tiến đến đỉnh cao của sự tiến hóa trong xã hội

Đặc điểm thứ chín là đạo Phật dạy phải "tự lực giải thoát" Con người mới là phải tự rèn luyện, để hướng đến một cuộc sống tốt đẹp hơn

Đức Phật hướng dẫn mọi người hướng đến chân lý tối cao, nhưng lại để cho con người tự thể nghiệm bản thân

Trang 7

mình với những chân lý ấy.

Với tất cả đặc điểm trên đạo Phật mang đến cho con người một tinh thần tốt đẹp

Theo Báo Thiện Tâm

Sự tích Quan Thế Âm

Quan Thế Âm là một vị Bồ Tát thường hay cứu giúp con người, hầu bên tay trái Ðức Phật A Di Ðà

Kinh Bi Hoa chép rằng:Vào thời xa xưa, Ngài Quan Thế Âm làm thái tử con vua Vô Tránh Niệm Vua tu hành thành Phật ở cõi Cực Lạc phương tây hiệu là A Di Ðà, Thái tử cũng công hạnh trọn đủ và trở thành Bồ Tát hiệu là Quan Thế Âm, cùng với đức Phật A Di Ðà tiếp dẫn con người về cõi Phật

Ðức Quan Thế Âm Bồ Tát cứu độ chúng sanh thoát khỏi 3 tánh tham, sân, si, nếu chúng sanh niệm đến danh hiệu Ngài Ðức Quán Thế Âm lại thường hiện thân vào tất cả từng lớp chúng sanh để cứu chúng sanh thoát khỏi các nạn tai ách Quan Thế Âm là tượng trưng cho sự Từ Bi và tất cả mọi người thường niệm danh hiệu Ngài là Nam mô Ðại từ đại bi cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ Tát

Ðức Quan Thế Âm rất được mọi người tôn thờ Một khi có tai nạn xảy ra, mọi người liền niệm danh hiệu Ngài để nhờ Ngài cứu độ Người ta thường vẽ tượng Ngài bằng hình dáng phụ nữ tượng trưng cho lòng thương không bờ bến của Ngài Ngài cầm một cành dương liễu và bình nước cam lồ để rưới tắt phiền não, đem lại nước trong mát cho mọi loài Người ta vẽ Ngài đi trên hoa sen giữa bể đào với hàm ý rằng trong bể khổ sóng gió Ðức Quan Thế

Âm bao giờ cũng gần gũi, cứu vớt con người

Theo Báo Thiện Tâm

Thiên Chúa Giáo

Vào thế kỷ XVI, Thiên chúa giáo được truyền vào Việt Nam do các giáo sĩ Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và sau là Pháp

Vào đầu Công nguyên, Jesus sáng lập một tôn giáo mới, thờ Chúa Trời (Thiên Chúa) gọi là đạo Thiên Chúa Tín đồ đạo này tôn Jesus là đấng cứu thế nên đạo Thiên Chúa còn gọi là đạo Kitô hay đạo Cơ đốc Năm 1054, đạo Thiên Chúa bị phân hóa thành hai nhánh: Công giáo thuộc Giáo hội La Mã dưới quyền của giáo hoàng ở Tòa thánh Vatican (Roma, Italia) và Chính thống giáo gồm nhiều giáo hội khác nhau Đến thế kỷ XVI, Jean Calvin (người Pháp) và Martin Luther (người Đức) khởi xướng phong trào Cải cách tôn giáo ở châu Âu dẫn đến sự ra đời của đạo Tin Lành Như vậy, Công giáo, Chính thống giáo, đạo Tin lành chinh là những nhánh của đạo Thiên Chúa giáo

Trang 8

Nhà thờ Thiên Chúa Giáo - Nhà thờ Con Gà ở Lâm Đồng

Sự du nhập và phát triển của Công giáo ở Việt Nam

Vào thế kỷ XVI, Thiên chúa giáo được truyền vào Việt Nam do các giáo sĩ Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và sau là Pháp

Sự truyền đạo giai đoạn đầu ít gặp trở ngại do tính khoan dung của người Việt Nam và tính không đối dầu của tôn giáo bản địa, nhưng sự truyền đạo đạt kết quả không cao Sau đó Pháp vận động Giáo Hoàng cho phép độc quyền truyền đạo tại Việt Nam Hội truyền giáo Pa-ri được thành lập năm 1660 cùng nhà nước Pháp tuyển chọn, đào tạo giáo sĩ, cử sang hoạt động ở Việt Nam và một số nước khác

Cuối thế kỷ XVIII, Giáo hội Công giáo Việt Nam đã có ba địa phận (Đàng trong, Đàng ngoài và Tây đàng ngoài) với khoảng 3 vạn giáo dân và 70 linh mục Việt Nam Dưới triều Nguyễn, lúc đầu sự truyền giáo được nhà Nguyễn tạo nhiều điều kiện thuận lợi, nhưng sau đó thấy những hoạt động của giáo sĩ vừa truyền đạo vừa phục vụ cho âm mưu xâm lược của thực dân Pháp nên nhà Nguyễn đã cấm đạo nhất là từ khi thực dân Pháp bộc lộ rõ ý đồ thôn tính Việt Nam Việc cấm đạo gay gắt tạo sự chia rẽ nhất định trong nhân dân

Trang 9

Bên trong nhà thờ Thiên Chúa giáo

Trong hơn 100 năm dưới chế độ thực dân, Thiên chúa giáo được dùng để duy trì sự thống trị của Pháp, đồng thời chèn ép các tôn giáo khác gây chia rẽ giữa các tín đồ tôn giáo khác nhau hoặc với người không có đạo Giáo hội Công giáo được nhiều đặc quyền, đặc lợi, những tổ chức, giáo sĩ theo chúng được ưu đãi Tuy thế , giáo hội Thiên Chúa giáo ở Việt Nam vẫn bị coi là giáo hội thuộc địa Có thể thấy điều đó rất rõ sau gần 400 năm truyền đạo vào nước ta, mãi đến năm 1933 mới có một giáo sĩ Việt Nam được phong làm giám mục

Sau 1975, với thắng lợi vĩ đại của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và những tác động của sự chuyển đổi của Công đồng Vaticăng II từ sau năm 1975, Giáo hội Thiên chúa giáoViệt Nam có nhiều sự biến đổi Năm 1976, Giáo hoàng phong chức Hồng y đầu tiên cho một Giám mục Việt Nam Năm 1980, các Giám mục trong cả nước đã họp hội nghị để thống nhất đường lối của giáo hội Hội nghị đã thành lập Hội đồng giám mục Việt Nam và ra thư chung 1980 với phương châm "sống phúc âm trong lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc đồng bào"

Số tín đồ Công giáo nước ta hiện nay khoảng 5 triệu, hiện nay đang có cuộc sống ổn định theo chính sách tôn giáo của Đảng theo đúng phương châm "tốt đời, đẹp đạo", "kính Chúa yêu nước"

Theo VOCW

Trang 10

Giáo phận Bùi Chu

Nhắc đến Bùi Chu là nhiều người nghĩ ngay đến vùng công giáo lớn nhất nước ta Tuy nhiên, không phải ai cũng từng nghe đến tên gọi của miền đất nổi tiếng này

Từ năm 1640-1954, Bùi Chu là vùng truyền giáo Sau đó, vào năm 1960, giáo phận Bùi chu được Tòa Thánh nâng lên bậc giáo phận chính tòa Tuy có diện tích nhỏ nhất, nhưng giáo phận Bùi Chu có số giáo hữu đông nhất trong Giáo Hội Việt Nam

Năm 1659, Tòa Thánh chính thức thành lập hai giáo phận tại Việt Nam thì vùng đất Bùi Chu đã có đông giáo hữu thuộc giáo phận Ðàng Ngoài do các thừa sai dòng Tên phục vụ,

từ năm 1676 thêm các cha Ða Minh

Ngày 19-2-1670, Ðức cha P Lambert de la Motte lập dòng cho hai chị Phaolô và Anê tại họ Bắc Câu, xứ Kiên Lao Cũng năm 1670, Kiên Lao là giáo xứ có đông giáo hữu nhất trong giáo phận Ðàng Ngoài và cha Simon Kiên (nguyên quán) phục vụ rồi qua đời tại đây (1671-1673)

Năm 1679, giáo phận Ðàng Ngoài được chia làm hai: Tây Ðàng Ngoài do Ðức cha Jacques de Bourges cai quản, giáo phận Ðông Ðàng Ngoài do Ðức cha F Deydier Phan cai quản Suốt thời gian 1679-1848, tòa giám mục thường được đặt tại Lục Thuỷ Hạ (nay là Liên Thủy), Trà Lũ, Trung Linh, Bùi Chu

Năm 1848, Tòa Thánh chia đôi giáo phận Ðông Ðàng Ngoài: một giữ tên cũ giáo phận Ðông và một lấy tên giáo phận Trung do Ðức cha Domingo Marti Gia coi sóc Gọi là Trung vì nó nằm giữa giáo phận Ðông và Tây Giáo phận mới tuy hẹp đất nhưng số giáo hữu đông gấp ba lần giáo phận cũ Giáo phận Ðông có 45,000 tín hữu, giáo phận Trung

có tới 139,000 tín hữu

Năm 1858, Ðức cha Valentin Berrio Ochoa Vinh và cha chính Emmanuel Riano Hòa dâng giáo phận cho Ðức Trinh

Nữ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội và hứa sẽ xây dựng một nhà thờ khang trang để kính Ðức Mẹ Sau nhiều lần xây dựng, đến thánh Phú Nhai hiện nay (xức dầu thánh hiến trọng thể vào ngày 7-12-1933) là chứng tích tình Mẹ che chở giáo phận và lòng yêu mến của toàn thể con cái Bùi Chu đối với Ðức Trinh Nữ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội.Ngày 3-12-1924, tất cả các giáo phận ở Việt Nam đều được Tòa Thánh đổi tên theo địa hạt hành chính nơi đặt tòa giám mục, nên giáo phận Trung được đổi thành giáo phận Bùi Chu do Ðức cha Pedro Munagorri Trung coi sóc.Năm 1936, Tòa Thánh chia giáo phận Bùi Chu thành hai: một giữ tên cũ Bùi Chu do Ðức cha Ðôminicô Maria Hồ Ngọc Cẩn coi sóc, một lấy tên giáo phận Thái Bình

Ngày đăng: 30/06/2014, 16:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w