Việc nhận biết khả năng điều trị HIV/AIDS ảnh hưởng đến thái độ, hành vi khám và điều trị bệnh của phụ nữ; kiến thức về mục đích của việc sử dụng BCS là dùng để KHHGĐ và phòng chống các
Trang 1UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
BÁO CÁO NGHIỆM THU
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở
Chủ nhiệm đề tài: QUÁCH THỊ HỒNG
Cơ quan chủ trì đề tài: Trung tâm NCKHXH&NV
AN GIANG, THÁNG 04 NĂM 2012
Trang 2UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
BÁO CÁO NGHIỆM THU
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở
Tên đề tài:
Đánh giá kiến thức, thái độ và hành vi
phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS của phụ nữ
độ tuổi từ 15-40 ở khu vực biên giới thị xã Tân Châu
Cơ quan chủ trì đề tài Chủ nhiệm đề tài
Nguyễn Trúc Lâm Quách Thị Hồng
Cơ quan chủ quản
Trang 3Tân Châu là thị xã đầu nguồn của tỉnh An Giang, có diện tích tự nhiên 159,428km2 Trong đó, chiều dài đường biên giới giáp Campuchia là 6,2 km tại hai xã là Vĩnh Xương và Phú Lộc, đặc biệt là cửa khẩu quốc tế Vĩnh Xương là cửa khẩu quan trọng để nhân dân hai nước trao đổi buôn bán, dịch vụ, sản xuất, phát triển du lịch Với đặc điểm trên thị xã Tân Châu vừa có những thuận lợi trong việc phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, đồng thời cũng có những khó khăn nhất định đối với công tác phòng chống các loại tệ nạn xã hội, đặc biệt là phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS, bởi do hoạt động mại dâm phía nước bạn rất phức tạp và không được kiểm soát chặt chẽ là nguyên nhân làm cho số lượng người nhiễm HIV tại thị xã Tân Châu ở mức cao
Theo báo cáo của Trung tâm Y tế thị xã Tân Châu, trong năm Tân Châu đã và đang thực hiện khá thành công các chương trình hoạt động phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS Cụ thể như: lần đầu tiên sau nhiều năm liền ngành Y tế thị xã ghi nhận số ca lây nhiễm giảm 34,5%, số ca tử vong do lây nhiễm HIV/AIDS giảm 5,9% so với những năm trước đây Tuy nhiên, công tác phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS vẫn còn tồn tại số một hạn chế nhất định làm ảnh hưởng đến kiến thức, thái độ và hành vi phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS của phụ nữ nói riêng, người dân của thị xã Tân châu nói chung Điều này được thể hiện phần nào thông qua kết quả khảo sát của
đề tài như sau:
Kiến thức phòng chống HIV/AIDS của phụ nữ tại thị xã Tân Châu còn thấp khi chưa hiểu chính xác về cách phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS, chẳng hạn như: 22,1% số phụ nữ hiểu đúng về khả năng điều trị HIV/AIDS là có thuốc làm hạn chế sự phát triển của bệnh và 46,6 % cho là không chữa được, 25% không biết HIV/AIDS có khả năng trị khỏi hay không Việc nhận biết khả năng điều trị HIV/AIDS ảnh hưởng đến thái độ, hành vi khám và điều trị bệnh của phụ nữ; kiến thức về mục đích của việc sử dụng BCS là dùng để KHHGĐ và phòng chống các bệnh lây truyền qua đường QHTD nhưng trên thực tế có nhiều phụ nữ cho rằng mục đích của việc sử dụng BCS chỉ là KHHGĐ (64,3%); chỉ có 0,5% phụ nữ trả lời đúng về cách QHTD an toàn, trong khi đó có đến 71,1% phụ nữ chưa hiểu đầy đủ về cách QHTD an toàn Kiến thức về đường lây truyền HIV từ mẹ sang con: 13,8% phụ nữ có câu trả lời đúng và đầy đủ; có đến 77,1% phụ
nữ hiểu chưa đầy đủ các đường lây truyền
Theo như phụ nữ tại thị xã Tân Châu cho biết, nguồn thông tin về kiến thức phòng chống HIV/AIDS chủ yếu họ tiếp cận được thông qua truyền hình chiếm 34,86%; đài phát thanh là 20,48%; bạn bè là 11,98% và người thân trong gia đình là 9,8%; các kênh ít tiếp xúc là thông qua cán bộ y tế chiếm 5,23% và các cuộc họp tại địa phương chiếm 1,96% Kênh truyền thông từ cán
Trang 4bộ địa phương đặc biệt là từ cán bộ y tế và cộng tác viên dân số luôn giữ vai trò chủ đạo vì có tác động trực tiếp, mạnh mẽ đến kiến thức, thái độ và trong một số trường hợp nó có thể làm thay đổi hành vi của các cá nhân nhất định Song, vai trò của cán bộ y tế và cộng tác viên dân số lại khá mờ nhạt trong việc nâng cao kiến thức, thái độ, hành vi của người dân trong công tác phòng chống HIV/AIDS tại địa phương
Xét về địa bàn, phụ nữ xã Phú Lộc có kiến thức đúng về cách phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS cao hơn so với hai địa bàn thuộc mẫu khảo sát của đề tài, trong khi đó phụ nữ phường Long Thạnh có kiến thức đúng về cách phòng chống HIV/AIDS là thấp nhất
Thái độ về phòng chống HIV/AIDS của phụ nữ thị xã Tân Châu rất tích cực khi nhiều chị
em phụ nữ cho rằng việc sử dụng BCS trong QHTD là rất cần thiết chiếm 52,3%; rất mong muốn chồng mình được tư vấn về cách phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS chiếm 71,9%; 72,9% số phụ
nữ cho rằng việc xa lánh những người nhiễm HIV/AIDS là sai vì họ không làm tổn hại đến ai
Xét về địa bàn, kiến thức về phòng chống HIV/AIDS của phụ nữ phường Long Thạnh thấp hơn so với phụ nữ hai xã Vĩnh Xương và Phú Lộc, nhưng thái độ kỳ thị đối với người có HIV của phụ nữ Phường Long Thạnh chiếm 3,4% thấp nhất và có thái độ bày tỏ sự cảm thông, chia sẽ đối với người có HIV chiếm tỷ lệ cao nhất (29,9%) Mối tương quan giữa kiến thức và thái độ có sự khác nhau giữa nhóm phụ nữ ở khu vực nông thôn và thành thị
Kết quả khảo sát cho thấy, thông qua các hoạt động truyền thông của địa phương, phụ nữ thị xã Tân Châu nhận biết được những tác động tiêu cực của thái độ phân biệt và hành vi kỳ thị của cộng đồng đối với người nhiễm và gia đình của người nhiễm Tuy nhiên, giữa kiến thức và hành vi lại có sự khác biệt rõ vì người dân nói chung và phụ nữ nói riêng còn có thái độ phân biệt và hành vi kỳ thị nặng nề đối với người nhiễm, gia đình người nhiễm HIV/AIDS Điều này ảnh hưởng rất nhiều đến kết quả phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS
Kiến thức về phòng chống HIV/AIDS của phụ nữ thị xã Tân Châu thấp là do hiệu quả truyền thông còn hạn chế, mang tính hình thức, chủ yếu chạy theo phong trào Đội ngũ cán bộ phụ trách mỏng về số lượng; trình độ chuyên môn, nghiệp vụ còn thấp lại phải kiêm nhiệm nhiều công việc khác nhau nên chưa tự xây dựng, tổ chức được các chương trình sinh hoạt, các buổi nói chuyện chuyên đề về HIV/AIDS; nội dung, hình thức tuyên truyền ít về số lượng lẫn chất lượng nên không tạo ra sự thu hút trong nhân dân, chưa tác động nhiều vào kiến thức phòng chống HIV/AIDS của người dân, đặc biệt các đối tượng là phụ nữ Công tác phát triển “giới” bằng cách nâng cao các quyền của phụ nữ trong công việc cũng như trong gia đình chưa được
Trang 5quan tâm, đây là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS
Trình độ học vấn của phụ nữ còn thấp đã làm ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu kiến thức
về phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS Song, đời sống kinh tế của phần lớn chị em phụ nữ còn nhiều khó khăn, đặc biệt trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế toàn cầu như hiện nay, đã phần nào tác động đến kiến thức, thái độ và hành vi phòng chống HIV/AIDS khi mà người phụ nữ vừa phải tập trung phát triển kinh tế gia đình vừa chăm sóc con cái nên có rất ít thời gian để quan tâm đến sức khỏe của bản thân nói chung và cách phòng chống HIV/AIDS nói riêng
Tác động tiêu cực của HIV/AIDS đối với mọi quốc gia, mọi dân tộc là khác nhau, mang tính chất vùng miền, đối tượng dễ bị ảnh hưởng nhất là thanh thiếu niên và người đang trong độ tuổi lao động, đặc biệt đối với phụ nữ là lực lượng lao động chính của gia đình và xã hội HIV/AIDS làm tăng sự nghèo khó của hộ gia đình, giảm thu nhập và suy kiệt kinh tế; làm quá tải các dịch vụ y tế; đe dọa sự phát triển giáo dục, gây hại đến sức khỏe trẻ em và trẻ sơ sinh….Những ảnh hưởng của HIV/AIDS càng nặng nề hơn với phụ nữ, do nhiều yếu tố khách quan nhưng trong đó quan trọng nhất là sự kỳ thị, phân biệt đối xử của cộng đồng đối với phụ nữ nhiễm HIV và gia đình của họ
Do đó, cần làm giảm nguy cơ và rủi ro của phụ nữ trong cuộc chiến phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS thông qua việc nâng cao năng lực phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS phải xem đây như là trách nhiệm của bản thân, gia đình và xã hội nói chung, thị xã Tân Châu nói riêng, bằng các hoạt động cụ thể như sau:
Đối với Đảng Uỷ thị xã Tân Châu: Tăng cường sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp Uỷ
Đảng, sự chung tay góp sức của các ban, ngành, đoàn thể và chính quyền địa phương trong việc phát động thi đua, tổ chức các hoạt động văn hóa kết hợp lồng ghép các nội dung, tiết mục văn nghệ nhằm tuyên truyền, giáo dục về phòng chống HIV/AIDS
Có chế độ hỗ trợ, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ y tế, cộng tác viên dân số tại địa phương để nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống gia đình, góp phần tạo thêm động lực để họ an tâm công tác, toàn tâm với nghề
Tăng cường thêm nữa đầu tư công cho các tuyến trạm y tế địa phương (xã, phường) như: trang bị thêm máy móc, thiết bị, phương tiện kỹ thuật hiện đại phục vụ tốt hơn việc khám và chữa bệnh cho nhân dân
Trang 6Tích cực vận động, tranh thủ tối đa sự ủng hộ của các cá nhân, tổ chức, các mạnh thường quân trong và ngoài nước trong cuộc chiến phòng chống HIV/AIDS Bên cạnh đó, cần quản lý chặt chẽ, minh bạch trong các hoạt động điều phối và sử dụng các nguồn vốn đầu tư; ưu tiên cho việc mở rộng và nâng cao chất lượng các hoạt động truyền thông, giáo dục nâng cao kiến thức
và chuyển đổi hành vi của cộng đồng
Đối với cơ quan y tế địa phương: Cần bố trí cán bộ chuyên trách về HIV/AIDS để theo
dõi, bám sát diễn biến tình hình HIV/AIDS trên toàn địa bàn thị xã Tân Châu; tham mưu chính
xác, kịp thời cho lãnh đạo đơn vị và cấp trên trong việc phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS
Hằng năm, cần xây dựng và tổ chức ít nhất một cuộc điều tra xã hội học đánh giá hiệu quả công tác truyền thông như: thái độ, tác phong, trình độ chuyên môn, hiệu quả của từng hoạt động (nội dung, hình thức, thời gian, số lượng, ), mong muốn của người dân, đặc biệt quan tâm đến ý kiến của từng đối tượng cụ thể (phụ nữ, nam giới, người trẻ, người trung niên,… )
Riêng đối với các địa bàn thuộc mẫu khảo sát của đề tài cần quan tâm, chú ý hơn nữa đến nội dung và hình thức truyền thông cụ thể như sau:
Phường Long Thạnh:
Nội dung truyền thông: nâng cao kiến thức về mục đích của việc sử dụng BCS trong
QHTD, cách QHTD an toàn, kiến thức nhận biết những người có nguy cơ nhiễm HIV/AIDS, lợi ích của việc xét nghiệm HIV tự nguyện, kiến thức về cách phòng tránh lây nhiễm HIV trong gia đình
Hình thức truyền thông: tăng cường mức độ tiếp cận các kênh truyền thông trực tiếp từ
cán bộ địa phương như tư vấn trực tiếp (giữa cán bộ y tế với người phụ nữ) hoặc thông qua các cuộc họp tổ tại địa phương, tăng cường tần suất phát thanh tại địa phương
Xã Phú Lộc:
Nội dung truyền thông: nâng cao kiến thức về cách phòng tránh lây nhiễm HIV trong gia
đình, giảm thái độ phân biệt và hành vi kỳ thị đối với những người có HIV/AIDS
Hình thức truyền thông: tăng cường các loại tờ rơi /áp phích
Xã Vĩnh Xương:
Nội dung truyền thông: nâng cao kiến thức về khả năng điều trị của bệnh HIV/AIDS
hiện nay, giảm thái độ phân biệt và hành vi kỳ thị đối với những người có HIV/AIDS, cách
QHTD an toàn, kiến thức nhận biết những người có nguy cơ nhiễm HIV/AIDS
Trang 7Hình thức truyền thông: tăng cường mức độ tiếp cận các kênh truyền thông trực tiếp từ
cán bộ địa phương như tư vấn trực tiếp hoặc thông qua các cuộc họp tổ tại địa phương; báo/tạp chí và các loại tờ rơi /áp phích
Trang 8`
DANH SÁCH CÁ NHÂN THAM GIA CỘNG TÁC ĐỀ TÀI
1 Nguyễn Thái Ngọc Hà Trung tâm NC KH XH & NV –
Trang 9LỜI CẢM ƠN
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn đến:
- Trường đại học An Giang
- Sở Khoa học Công nghệ tỉnh An Giang
- Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Xã hội và Nhân văn
Đã quan tâm đầu tư, tạo điều kiện, giúp đỡ cho đề tài được thực hiện
Đã hết lòng giúp đỡ chúng tôi thực hiện đề tài được thuận lợi
Chân thành cảm ơn
Chủ nhiệm đề tài
Trang 10TÓM TẮT
Tân Châu là thị xã đầu nguồn của tỉnh An Giang, có diện tích tự nhiên 159,428km2 Trong đó, chiều dài đường biên giới giáp Campuchia là 6,2 km tại hai xã là Vĩnh Xương và Phú Lộc, đặc biệt là cửa khẩu quốc tế Vĩnh Xương là cửa khẩu quan trọng để nhân dân hai nước trao đổi buôn bán, dịch vụ, sản xuất, phát triển du lịch Với đặc điểm trên thị xã Tân Châu vừa có những thuận lợi trong việc phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, đồng thời cũng có những khó khăn nhất định đối với công tác phòng chống các loại tệ nạn xã hội, đặc biệt là phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS, bởi do hoạt động mại dâm phía nước bạn rất phức tạp và không được kiểm soát chặt chẽ là nguyên nhân làm cho số lượng người nhiễm HIV tại thị xã Tân Châu ở mức cao
Trong năm 2010, các chương trình Y tế quốc gia tiếp tục được thực hiện có hiệu quả, công tác phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS thể hiện sự tiến bộ, lần đầu tiên sau nhiều năm liền ngành Y tế thị xã ghi nhận số ca lây nhiễm giảm 34,5%, số ca tử vong do lây nhiễm HIV/AIDS giảm 5,9% so với năm 2009
Tuy nhiên, kiến thức phòng chống HIV/AIDS của phụ nữ tại thị xã Tân Châu còn thấp khi chưa hiểu chính xác về cách phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS, chẳng hạn như: 22,1% số phụ nữ hiểu đúng về khả năng điều trị HIV/AIDS là có thuốc làm hạn chế sự phát triển của bệnh; Nhiều phụ nữ cho rằng mục đích của việc sử dụng BCS chỉ là KHHGĐ (64,3%); chỉ có 0,5% phụ nữ trả lời đúng về cách QHTD an toàn; 13,8% phụ nữ
có câu trả lời đúng và đầy đủ về các đường lây truyền HIV từ mẹ sang con
Nguồn thông tin về kiến thức phòng chống HIV/AIDS họ tiếp cận chủ yếu thông qua truyền hình chiếm 34,86%; đài phát thanh là 20,48%; các kênh ít tiếp xúc là thông qua cán bộ y tế chiếm 5,23% và các cuộc họp tại địa phương chiếm 1,96%
Thái độ về phòng chống HIV/AIDS của phụ nữ thị xã Tân Châu rất tích cực khi nhiều chị em phụ nữ cho rằng việc sử dụng BCS trong QHTD là rất cần thiết (52,3%); rất mong muốn chồng mình được tư vấn về cách phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS chiếm 71,9%; 72,9% số phụ nữ cho rằng việc xa lánh những người nhiễm HIV/AIDS là sai vì
họ không làm tổn hại đến ai
Trang 11Hành vi về phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS của phụ nữ thị xã Tân Châu rất tích cực khi nhiều chị em phụ nữ cho rằng, nếu trong gia đình có người bị nhiễm HIV thì sẽ đưa đến Trung tâm y tế chăm sóc và điều trị theo sự hướng dẫn của bác sĩ chiếm 82,7% Kiến thức về phòng chống HIV/AIDS của phụ nữ thị xã Tân Châu thấp là do hiệu quả truyền thông còn hạn chế, mang tính hình thức, chủ yếu chạy theo phong trào Đội ngũ cán bộ phụ trách mỏng về số lượng; trình độ chuyên môn, nghiệp vụ còn thấp lại phải kiêm nhiệm nhiều công việc khác nhau nên chưa tự xây dựng, tổ chức được các chương trình sinh hoạt, các buổi nói chuyện chuyên đề về HIV/AIDS Bên cạnh đó, Trình
độ học vấn của phụ nữ còn thấp đã làm ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu kiến thức về phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS
Vì vậy, để nâng cao kiến thức phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS của phụ nữ, thị
xã Tân Châu cần tăng cường công tác quản lý và giám sát hiệu quả các hoạt động đặc biệt
là hiệu quả truyền thông phòng chống HIV/AIDS trong cộng đồng đối với các trạm y tế
xã, phường thông qua việc nâng cao năng lực của cán bộ quản lý, cán bộ y tế hay công tác viên dân số bằng cách nâng cao trình độ công tác chuyên môn, quyền lợi và nghĩa vụ, trong đó chú trọng đến quyền lợi của người làm công tác truyền thông
Cần nâng cao số lượng, chất lượng, tính phù hợp và hiệu quả của các hoạt động thông tin, giáo dục và truyền thông thay đổi hành vi rộng rãi trong cộng đồng, đến từng người dân, từng hộ gia đình, nhất là đến các thanh thiếu niên và những đối tượng có hành
vi nguy cơ cao lây nhiễm HIV/AIDS
Trang 12MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
3 Nội dung nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 5 PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1 Khái quát lịch sử vấn đề nghiên cứu 9
1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 9
1.2 Tình hình nghiên cứu trong tỉnh An Giang 12
2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 13
3 Một số nguyên tắc phòng chống HIV/AIDS 18
4 Lồng ghép giới trong phòng, chống HIV/AIDS ở cơ sở 22
CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ HÀNH VI PC LÂY NHIỄM HIV/AIDS CỦA PHỤ NỮ Ở ĐỘ TUỔI TỪ 15-40 Ở KHU VỰC BIÊN GIỚI TX TÂN CHÂU 1 Tổng quan về thị xã Tân Châu 29
2 Vài nét về Phường Long Thạnh 31
3 Vài nét về Xã Phú Lộc 32
4 Vài nét về xã Vĩnh Xương 33
5 Một số đặc điểm nhân khẩu của phụ nữ có độ tuổi từ 15-40 ở TX Tân Châu 34
6 Kiến thức phòng chống HIV/AIDS 38
6.1 Kiến thức về bệnh HIV/AIDS 38
6.2 Kiến thức về các đường lây truyền HIV/AIDS 41
6.3 Kiến thức về phòng tránh lây nhiễm HIV/AIDS 43
7 Thái độ phòng chống HIV/AIDS 57
Trang 137.1 Thái độ phòng tránh lây nhiễm HIV 57
7.2 Thái độ đối với người bị nhiễm HIV 61
8 Hành vi phòng chống HIV/AIDS 63
8.1 Hành vi sử dụng các biện pháp trong QHTD 63
8.2 Hành vi xử lý khi trong gia đình có người nhiễm 66
CHƯƠNG III: YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ HÀNH VI PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS 1 Kết quả hoạt động phòng chống HIV/AIDS của Đảng Uỷ và sự gắn kết giữa các ban ngành đoàn thể trong công tác phòng chống HIV 81
2 Về phía trạm y tế 83
3 Cán bộ y tế và cộng tác viên dân số tại các xã, ấp 85
4 Phụ nữ biên giới thị xã Tân Châu 87
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1 Kết luận 94
2 Kiến nghị 96
2.1 Đối với Đảng Uỷ thị xã Tân Châu 96
2.2 Đối với cơ quan y tế địa phương 97
2.3 Đối với Hội phụ nữ 100
Trang 14DANH SÁCH CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
BẢNG
Bảng 1: Tỷ lệ % mức độ tiếp cận các phương tiện truyền thông 37
Bảng 2: Tỷ lệ % kiến thức về khả năng nhận biết người bị nhiễm HIV/AIDS 38
Bảng 3: Tỷ lệ % kiến thức về những người có khả năng bị lây nhiễm HIV/AIDS xét theo địa bàn 51
Bảng 4: Tỷ lệ % kiến thức về lợi ích của người nhiễm HIV khi sống chung với gia đình 53
Bảng 5: Tỷ lệ % thái độ đối với người bị nhiễm HIV 61
Bảng 6: Tỷ lệ % thái độ đối với người bị nhiễm HIV xét theo địa bàn 62
Bảng 7: Tỷ lệ % hành vi sử dụng biện pháp tránh thai xét theo địa bàn 64
Bảng 8: Tỷ lệ % hành vi xử lý khi bị kim tiêm đâm phải 64
Bảng 9: Tỷ lệ % hành vi xử lý khi trong gia đình có người nhiễm HIV 66
Bảng 10: Tỷ lệ % nội dung đánh giá của phụ nữ về hiệu quả công tác phòng chống HIV/AIDS ở địa phương 71
Bảng 11: Tỷ % các kênh thông tin về HIV/AIDS được phụ nữ ở khu vực biên giới tiếp cận xét theo địa bàn 76
BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1: Số lượng người nhiễm HIV trong năm 2010 tại ba địa bàn khảo sát của đề tài 30
Biểu đồ 2: Tỷ lệ % tình trạng hôn nhân của phụ nữ thị xã Tân Châu 35
Biểu đồ 3: Tỷ lệ % trình độ học vấn của phụ nữ ở thị xã Tân Châu 36
Biểu đồ 4: Tỷ lệ % tình trạng việc làm của phụ nữ ở thị xã Tân Châu 37
Biểu đồ 5: Tỷ lệ % nghề nghiệp hiện nay của phụ nữ ở thị xã Tân Châu 37
Biểu đồ 6: Tỷ lệ % kiến thức về khả năng nhận biết người bị nhiễm HIV/AIDS xét theo địa bàn 39
Biểu đồ 7: Tỷ lệ % kiến thức về khả năng điều trị HIV/AIDS hiện nay 40
Trang 15Biểu đồ 8: Tỷ lệ % kiến thức về khả năng điều trị HIV/AIDS xét
về địa bàn cư trú 41
Biểu đồ 9: Tỷ lệ % kiến thức về đường lây truyền HIV 41 Biểu đồ 10: Tỷ lệ % kiến thức về đường lây truyền từ mẹ sang con 42 Biểu đồ 11: Tỷ lệ % kiến thức về đường lây truyền từ mẹ sang con
Biểu đồ 19: Tỷ lệ % kiến thức về lợi ích của việc xét nghiệm HIV/AIDS
tự nguyện xét theo địa bàn 52
Biểu đồ 20: Tỷ lệ % kiến thức về lợi ích của người nhiễm HIV khi
sống chung với gia đình 53
Biểu đồ 21: Tỷ lệ % kiến thức về phòng tránh lây nhiễm HIV trong gia đình 54 Biểu đồ 22: Tỷ lệ % kiến thức về phòng tránh lây nhiễm HIV trong gia đình 56 Biểu đồ 23: Tỷ lệ % thái độ về việc sử dụng BCS trong QHTD 57 Biểu đồ 24: Tỷ lệ % thái độ về việc sử dụng BCS trong QHTD xét theo địa bàn 58 Biểu đồ 25: Tỷ lệ % thái độ đối với việc chồng được tư vấn về cách
phòng chống lây nhiễm 59
Biểu đồ 26: Tỷ lệ % thái độ đối với việc chồng được tư vấn về cách
Trang 16phòng chống lây nhiễm xét theo địa bàn 61
Biểu đồ 27: Tỷ lệ % hành vi sử dụng biện pháp tránh thai xét theo
tình trạng hôn nhân 63 Biểu đồ 28: Tỷ lệ % hành vi xử lý khi bản thân bị nhiễm HIV/AIDS 65 Biểu đồ 29: Tỷ lệ % hành vi xử lý khi trong gia đình có người nhiễm HIV 67
xét theo trình độ chuyên môn
Biểu đồ 30: Tỷ lệ % Kiến thức về biện pháp phòng tránh lây nhiễm HIV/AIDS 89
của phụ nữ xét theo nghề nghiệp
Biểu đồ 31: Tỷ lệ % Thái độ đối với việc sử dụng BCS trong QHTD 90
xét theo nghề nghiệp của phụ nữ thị xã Tân Châu
Biểu đồ 32: Tỷ lệ % các kênh thông tin về HIV/AIDS được phụ nữ 91
ở khu vực biên giới tiếp cận
Trang 17CHÚ THÍCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCS: Bao cao su CTV: Cộng tác viên GDSK: Giáo dục sức khỏe NCSK: Nâng cao sức khỏe KHHGĐ: Kế hoạch hóa gia đình SKSS: Sức khỏe sinh sản
QĐTD: Qua đường tình dục QHTD: Quan hệ tình dục TD: Tình dục
TTYT DP: Trung tâm Y tế dự phòng UBND: Ủy ban nhân dân
VN: Việt Nam
Trang 18
PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 191 Tính cấp thiết
HIV/AIDS là một bệnh mới nổi lên trong hai thập kỷ cuối của thế kỷ XX Cấp độ toàn cầu, dịch HIV/AIDS là một trong những mối đe doạ nguy hiểm nhất đối với phát triển con người Hiểm hoạ HIV/AIDS mang tính toàn cầu và đang gia tăng nhanh chóng
ở các nước đang phát triển Những hậu quả mà HIV/AIDS gây ra là rất nguy hiểm, ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc và toàn thế giới Ở Việt Nam tình hình lây nhiễm HIV/AIDS vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp HIV/AIDS xuất hiện ở tất
cả các tỉnh, thành phố và có xu hướng ngày càng lan rộng Ngoài các nhóm có nguy cơ lây nhiễm cao như: tiêm chích ma tuý, mại dâm, tình dục đồng giới, tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS ở phụ nữ mang thai, trẻ em và thanh niên tăng nhanh HIV/AIDS đang đe doạ trực tiếp đến sức khoẻ, tính mạng con người, trật tự an toàn xã hội, đến sự phát triển của đất nước, tương lai của giống nòi
Với địa hình vừa là đồng bằng và đồi núi, cùng với đường biên giới dài 104 km giáp Campuchia, tỉnh An Giang có nhiều thuận lợi trong việc phát triển nông nghiệp, thương mại và dịch vụ giữa hai nước Song cũng do đường biên giới dài và khó kiểm soát
đã làm xuất hiện nhiều vấn đề xã hội đáng quan tâm như: vận chuyển hàng lậu trái phép, buôn bán người qua biên giới, buôn bán ma tuý, hoạt động mại dâm, đặc biệt là tình trạng lây nhiễm HIV/AIDS không ngừng gia tăng Ngoài hoạt động giao thương giữa hai nước thì phần lớn người dân ở khu vực này chủ yếu làm nông nghiệp đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn, trình độ học vấn còn thấp, đặc biệt là kiến thức và kỹ năng trong việc phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS
Theo báo cáo của Trung tâm phòng chống HIV và Lao tỉnh An Giang, dịch HIV ở
An Giang xuất phát từ nhóm gái mại dâm hành nghề tại Campuchia hồi hương về Việt
Nam khoảng năm 1992-1993, được phát hiện cùng lúc tại 5 huyện, thị kể cả thành thị, nông thôn và đã lan truyền trên diện rộng tại tất cả các xã, phường trong tỉnh Lứa tuổi nhiễm HIV nhiều nhất tập trung vào hai nhóm tuổi có nhu cầu sinh hoạt tình dục cao là 20-29 tuổi và 30-39 tuổi Hình thức lây nhiễm chủ yếu qua đường tình dục (83%), nữ giới chiếm 40% Với những người phụ nữ bị nhiễm HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh An Giang
hiện nay thì có đến 70% số nữ giới bị lây nhiễm từ chồng Trong những năm tới việc đối
Trang 20phó với nguy cơ lây nhiễm từ mẹ sang con cũng là một thách thức rất lớn, khi 70% số nữ giới nhiễm HIV là phụ nữ bình thường thuộc nhóm tuổi từ 20-39 tuổi.[14]
Tân Châu là thị xã biên giới giáp Campuchia, có cửa khẩu quốc tế Vĩnh Xương thuận tiện cho việc phát triển kinh tế cửa khẩu và nhu cầu giao thương, trao đổi hàng hóa, dịch vụ của nhân dân hai nước Với hệ thống đường giao thông thuỷ, bộ thông suốt thuận lợi, mỗi ngày có hàng ngàn lượt người qua lại để trao đổi, buôn bán, sản xuất và du lịch Trong khi đó, hoạt động mại dâm bên phía nước bạn rất phức tạp lại không được kiểm soát chặt chẽ, đây chính là nguyên nhân làm cho số lượng người nhiễm HIV tại thị xã Tân Châu ở mức cao, chủ yếu lây qua đường QHTD
Trường hợp nhiễm HIV đầu tiên trên địa bàn thị xã Tân Châu được phát hiện vào năm 1993 là một nữ hoạt động mại dâm ở Campuchia hồi hương về Việt Nam, từ năm
1997 đến 2007 số ca nhiễm mới tăng hàng năm bình quân ở mức trên dưới 100 người Đến cuối tháng 10 năm 2008, toàn huyện có 33 người nhiễm HIV mới - lũy tích 1.115 người nhiễm HIV, số người nhiễm HIV còn sống được quản lý là 199 người (trong đó có
17 trẻ em) Tỷ lệ người mắc HIV/AIDS/ 100.000 dân 0,67%, trong đó nữ 34% [14]
Trong tương lai, để góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh nói chung và trên địa bàn thị xã Tân Châu nói riêng, đặc biệt
là nhóm đối tượng phụ nữ ở khu vực biên giới là công tác vô cùng quan trọng và cấp thiết, đòi hỏi sự quan tâm, chỉ đạo sâu sắc của lãnh đạo các cấp, các ngành liên quan và chính quyền địa phương Vì vậy, việc tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm tìm ra các giải pháp nâng cao kiến thức và kỹ năng phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS cho phụ nữ ở khu vực biên giới là điều cần thiết
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá kiến thức, thái độ và hành vi trong phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS của phụ nữ biên giới, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng về phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS cho phụ nữ ở khu vực biên giới thị xã Tân Châu tỉnh
An Giang
Trang 21Mục tiêu chi tiết
- Đánh giá kiến thức, thái độ, hành vi trong việc phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS
của phụ nữ khu vực biên giới
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng, chi phối đến kiến thức, thái độ và hành vi trong
phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS của phụ nữ ở khu vực biên giới
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng thực hành trong phòng
chống lây nhiễm HIV/AIDS cho phụ nữ ở khu vực biên giới thị xã Tân Châu
3 Nội dung nghiên cứu
3.1 Nghiên cứu lý thuyết và thông tin thứ cấp
Nghiên cứu các thuật ngữ, khái niệm về kiến thức, thái độ, hành vi phòng chống HIV/AIDS…
Nghiên cứu các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng đặc biệt là ở khu vực biên giới tỉnh An Giang
Nghiên cứu các báo cáo tổng kết hoạt động phòng chống HIV/AIDS của các cơ quan chức năng; Trung tâm phòng chống HIV và Lao của tỉnh, Trung tâm Y tế thị xã Tân Châu; Trạm y tế xã Phú Vĩnh; Trạm y tế xã Vĩnh Xương; Trạm y tế xã phường Long Thạnh qua các năm
Nghiên cứu kết quả báo cáo của các đề tài, dự án có nội dung nghiên cứu liên quan đến công tác phòng chống HIV/AIDS trong cả nước, đặc biệt các đề tài, dự án đã và đang triển khai trên địa bàn tỉnh An Giang
3.2 Đánh giá kiến thức, thái độ và hành vi phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS của phụ nữ ở khu vực biên giới thị xã Tân Châu
Đánh giá kiến thức, thái độ và hành vi phòng chống lây nhiễm của phụ nữ ở khu vực biên giới nhằm:
+ Nắm rõ thực trạng kiến thức, thái độ, hành vi phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS của phụ nữ ở khu vực biên giới
+ Phân tích sự khác biệt về kiến thức, thái độ và hành vi phòng chống HIV/AIDS giữa 2 xã giáp biên giới Campuchia với 1 phường thuộc nội ô thị xã Tân Châu
Trang 22+ Qua đó tìm hiểu những yếu tố tác động đến kiến thức, thái độ và hành vi cũng như những mong muốn của họ về việc nâng cao kiến thức và kỹ năng phòng tránh lây nhiễm cho bản thân, gia đình và cộng đồng
3.3 Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng thực hành trong phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS cho phụ nữ ở khu vực biên giới thị xã Tân Châu.
- Giải pháp đối với Trung tâm Y tế thị xã Tân Châu
- Giải pháp đối với Trạm y tế ở các xã, phường
- Giải pháp đối với Hội Phụ nữ thị xã Tân Châu
- Giải pháp đối với phụ nữ ở khu vực biên giới thị xã Tân Châu
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp nghiên cứu tư liệu
Các đề tài, dự án của các tổ chức trong nước và trong tỉnh về phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng đặc biệt là đối tượng nữ
Thu thập tài liệu thứ cấp, nghiên cứu tổng quan các báo cáo kinh tế xã hội, báo cáo kết quả phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS của tỉnh, thị xã Tân Châu đặc biệt là hai xã giáp với biên giới Campuchia
Nghiên cứu hệ thống các chủ trương, chính sách về phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS của thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang và chính phủ
4.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng (phiếu khảo sát)[Xem phụ lục 1]
Nhằm nắm rõ thực trạng kiến thức, thái độ, hành vi phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS của phụ nữ ở khu vực biên giới, qua đó tìm hiểu những yếu tố tác động đến kiến thức, thái độ và hành vi cũng như những mong muốn của họ về việc nâng cao kiến thức và kỹ năng phòng tránh lây nhiễm cho bản thân, gia đình và cộng đồng
4.2.1 Chọn địa bàn khảo sát
Hai xã giáp biên giới Campuchia là Phú Lộc và Vĩnh Xương và một phường thuộc khu vực nội ô thị xã Tân Châu là phường Long Thạnh
Trang 23D = 0,04 (mức sai số cho phép 4% hay độ tin cậy là 95%)
(Nguồn : Krejcie & Morgan, trích từ Phan Văn Dốp, Phương pháp nghiên cứu
Khoa học Xã hội - các tiếp cận định lượng và định tính, 2004)
Phương pháp chọn mẫu được sử dụng trong việc thu thập thông tin này là phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên có chủ đích
Tổng số mẫu khảo sát là 588 nữ hiện đang sinh sống và làm việc trên địa bàn hai
xã Phú Lộc và Vĩnh Xương, phường Long Thạnh Trong đó, xã Phú Lộc 196 mẫu, xã Vĩnh Xương 196 mẫu, phường Long Thạnh 196 mẫu
Đối tượng được khảo sát có độ tuổi từ 15–40 tuổi, chưa bị nhiễm HIV/AIDS
4.3 Phương pháp nghiên cứu định tính
− Phó chủ tịch phụ trách Văn Xã: 04 người [Xem phụ lục 4]
− Giám đốc Trung tâm Y tế thị xã Tân Châu: 01 người [Xem phụ lục 4]
− Trưởng Trạm y tế xã: 02 người [Xem phụ lục 4]
Trang 24− Chủ tịch hội Phụ nữ: 04 người [Xem phụ lục 5]
− Cán bộ y tế và cộng tác viên dân số: 04 người [Xem phụ lục 5]
4.3.2 Thảo luận nhóm tập trung
Tổng số người tham gia thảo luận nhóm là 30 phụ nữ, chia làm hai nhóm thảo luận, mỗi nhóm đại diện cho một xã, phường [Xem phụ lục 5]
4.4 Đội ngũ điều tra viên
Bao gồm cán bộ thuộc Trung tâm nghiên cứu Khoa học Xã hội và Nhân văn trường Đại học An Giang và một số cán bộ y tế tại các xã, phường thuộc thị xã Tân Châu
4.5 Thời gian điều tra
- Đi tiền trạm: 02/08/2011
- Thời gian khảo sát tại xã Vĩnh Xương: từ ngày 19/08/2011 đến ngày 05/09/2011
- Thời gian khảo sát tại xã Phú Lộc: từ ngày 09/09/2011 đến ngày 12/10/2011
- Thời gian khảo sát tại Phường Long Thạnh:07/08/2011 đến ngày 08/09/2011
4.6 Cách phân tích số liệu
Đề tài sử dụng phần mền SPSS 15.0 và Excel 2003 để xử lý và phân tích số liệu
Trang 25
PHẦN NỘI DUNG
Trang 26CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1 Khái quát lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS cao so với các nước trong khu vực Bắt đầu từ những năm 90 Việt Nam đã và đang nhận được nhiều sự hỗ trợ
từ phía các nước phát triển cũng như các tổ chức phòng chống HIV/AIDS trên thế giới cả
về vật chất lẫn kiến thức và kinh nghiệm phòng chống HIV Theo sau đó là sự thành công của nhiều chương trình, dự án cũng như các công trình nghiên cứu liên quan đến phòng chống HIV/AIDS trong cộng đồng Tuy nhiên, trong đề tài này, chúng tôi chỉ tóm lược kết quả nghiên cứu của một số công trình nghiên cứu có liên quan, như sau:
Nghiên cứu điều tra cơ bản: Kiến thức, thái độ và hành vi của thính giả nghe đài về vấn đề liên quan đến phòng chống HIV/AIDS và Sức khỏe sinh sản của Trung tâm Nghiên cứu Phát triển y tế cộng đồng [17]
Kết quả nghiên cứu cho thấy có khoảng 50% đối tượng nghiên cứu được đánh giá
là có kiến thức khá đầy đủ về SKSS Các nhân tố quan trọng tác động tới kiến thức về SKSS, KHHGĐ là trình độ học vấn, mức độ tiếp cận các phương tiện truyền thông đại chúng, mức độ nói chuyện với những người khác về các vấn đề trên Trình độ học vấn là nhân tố ảnh hưởng nhiều nhất đến kiến thức về phòng chống HIV/AIDS, nhưng vẫn còn không ít phụ nữ chưa được biết về HIV/AIDS do mạng lưới thông tin trong cộng đồng chưa sâu rộng; kiến thức về phòng chống HIV/AIDS ở phụ nữ còn thấp nên còn thiếu các
hành vi thực hành về tình dục an toàn, SKSS và phòng chống HIV/AIDS
Do đó, cần có biện pháp giáo dục SKSS để người dân đặc biệt là phụ nữ nhận biết nguy cơ lây nhiễm
Cần xây dựng đội ngũ tư vấn mạnh về lượng và chất ở địa phương
Các chương trình phòng chống lây nhiễm HIV và chăm sóc SKSS cần chú ý hơn nữa đến đối tượng là thanh niên, đặc biệt là nữ thanh niên
Trang 27Nâng cao nhận thức phòng chống HIV/AIDS tại Hòa Bình của Trung tâm Nghiên cứu Phát triển y tế cộng đồng [16]
Kết quả nghiên cứu cho thấy có hơn 70% người dân nêu đúng các đường lây truyền HIV; có sự khác biệt về kiến thức giữa nghề nghiệp và giữa các nhóm có nguy cơ cao; tuy nhiên ở đây không có sự khác biệt về giới tính, độ tuổi, tình trạng hôn nhân; hệ thống cơ sở y tế ở địa phương còn hạn chế, các nhân viên y tế và dược sĩ địa phương còn thiếu kiến thức và các kỹ năng cần thiết về tư vấn
Vì vậy cần nâng cao các hoạt động thông tin giải trí và giáo dục về QHTD an toàn thông qua việc sử dụng các hình thức tuyên truyền nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng thực hành cho các nhân viên y tế, bên cạnh việc tổ chức các khóa đào tạo cho các nhóm đối tượng có nguy cơ cao và nhóm nhiễm HIV/AIDS
Báo cáo điều tra cơ bản về chương trình giáo dục và truyền thông SKSS và phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam của Trung tâm Nghiên cứu Phát triển y tế cộng đồng [15]
Kết quả nghiên cứu cho thấy các chương trình giáo dục và truyền thông về SKSS
và phòng chống HIV/AIDS đã tới được với nhiều đối tượng và đã có hiệu quả rõ rệt trong việc nâng cao kiến thức cho cộng đồng Song, ở đây có sự không đồng đều về mức độ tiếp cận thông tin giữa các vùng miền, trình độ học vấn, nhóm dân cư Nhóm tác giả đã đưa ra các yếu tố tác động đến kiến thức của người dân như độ tuổi, trình độ học vấn, tần xuất xem tivi, đọc báo, mức độ nói chuyện với vợ chồng hoặc bạn tình,…Vẫn còn những khoảng trống kiến thức quan trọng về SKSS và QHTD an toàn của người dân để có thể thực hành QHTD an toàn và tự bảo vệ mình trong việc phòng tránh lây nhiễm HIV/AIDS
cũng như các bệnh lây truyền qua đường TD khác, đó là:
- Hiểu biết đầy đủ về tất cả đường lây truyền còn thấp
- Ít hiểu biết về tác dụng phòng tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục của BCS
- Chưa đánh giá đúng các nguy cơ lây nhiễm của bản thân
- Chưa thật sự hiểu biết về phương thức phòng tránh lây nhiễm có hiệu quả
Trang 28Vì vậy cần tăng cường công tác tổ chức triển khai các hoạt động truyền thông đặc biệt là truyền thanh vào các buổi sáng và tối trong ngày lồng ghép các vở kịch hay mang tính hấp dẫn phù hợp với sở thích và văn hóa của từng vùng
Bạo lực giới vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của HIV/AIDS của Trần Đức Quang; Qũy Dân số Liên hợp Quốc [13]
Nghiên cứu cho thấy nguy cơ nhiễm HIV ở phụ nữ bị bạo lực cao hơn so với
những người không bị bạo lực Bạo lực ở phụ nữ là sự cản trở đối với những nỗ lực phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS, cản trở phụ nữ đi xét nghiệm và hạn chế việc tiếp cận với phòng tránh và điều trị, điều này cũng cản trở họ đưa ra các quyết định về sức khỏe
và tương lai của mình Trong nhiều trường hợp, các nạn nhân của bạo hành luôn sợ hãi hoặc không thể thảo luận việc dùng BCS Để giải quyết vấn đề này cần có hành động
phối hợp của cá nhân, cộng đồng và chính quyền địa phương
HIV/AIDS, Giới, Thanh niên ở nông thôn và thành thị Việt Nam: Kiến thức, thái độ, hành vi và khuyến nghị cho phòng tránh của Nguyễn Thị Tiềng và các cộng
sự [10]
Kết quả nghiên cứu cho thấy có lỗ hổng kiến thức đúng về phòng chống lây nhiễm
HIV của thanh niên ở cả hai khu vực đặc biệt là khu vực nông thôn Những yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức của thanh niên là vùng miền, giới, trình độ học vấn, hoàn cảnh gia đình,… Điều này làm hạn chế khả năng tự bảo vệ mình trong việc phòng tránh lây nhiễm HIV/AIDS Qua đó, các tác giả đưa ra một số kiến nghị như sau: Cần phát triển các góc dịch vụ tư vấn thân thiện, chú ý đến các nhân tố mang tính đặc trưng giới, cải thiện việc tiếp cận dịch vụ của thanh niên ngoài trường học, cần quan tâm đến khu vực nông thôn
Xây dựng mô hình phòng chống HIV/AIDS cho gái mại dâm tỉnh Quảng Ninh của Nguyễn Minh Tâm và Lê Thị Hà [8]
Kết quả nghiên cứu cho thấy nhận thức về khả năng lây nhiễm HIV/AIDS qua đường tình dục không đồng đều, có sự mâu thuẫn giữa nhận thức, thái độ, hành vi của nữ tiếp viên đối với phòng chống HIV/AIDS Kết quả nghiên cứu còn cho thấy mong muốn của họ là được tham gia các hoạt động hoặc câu lạc bộ với những người cùng làm việc
Trang 29như họ, được tư vấn bảo vệ sức khỏe, khám chữa bệnh miễn phí, hướng dẫn cách xử lý những khó khăn trong cuộc sống
Qua đó nhóm tác giả đề xuất là phải cần tiếp tục nâng cao nhận thức cho nữ tiếp viên về các con đường lây nhiễm và các biện pháp phòng tránh, cần có các biện pháp tác động đến tâm lý, thời gian, hướng dẫn kỹ năng để thay đổi thái độ, hành vi của các nữ
tiếp viên; xây dựng mô hình thí điểm câu lạc bộ nữ tiếp viên, đội giáo dục đồng đẳng là chỗ dựa tin cậy, hỗ trợ chăm sóc sức khỏe, tư vấn phòng chống HIV/AIDS; tăng cường
mạng lưới đầu tư y tế và BCS cho phụ nữ khi có hoàn cảnh khó khăn được tiếp cận dễ dàng
1.2 Tình hình nghiên cứu trong tỉnh An Giang
Trong thời gian qua, trên địa bàn tỉnh An Giang có rất nhiều công trình nghiên cứu, dự án về phòng chống HIV/AIDS như: “Dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS” do Trung tâm kiểm soát bệnh tật Hoa kỳ tài trợ; “Tăng cường chăm sóc tư vấn, hỗ trợ người nhiễm HIV và các hoạt động phòng chống HIV/AIDS dựa vào cộng đồng tại Việt Nam” do Quỹ toàn cầu phòng chống HIV/AIDS, Lao và Sốt rét; “Phòng, chống HIV/AIDS tại Việt Nam” do Ngân hàng thế giới tài trợ,… đặc biệt là dự án “Cộng đồng hành động phòng chống AIDS” với các hoạt động truyền thông thay đổi hành vi thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, đội ngũ cán bộ chuyên trách phòng chống HIV/AIDS, các đồng đẳng viên, tổ chức khám điều trị các bệnh lây truyền qua đường tình dục, xây dựng những mô hình khuyến khích những người nhiễm trực tiếp tham gia phòng chống HIV Tuy nhiên, trong đề tài này, chúng tôi chỉ lược khảo một số công trình nghiên cứu liên quan đến các vấn đề về kiến thức, thái độ và hành vi phòng chống HIV/AIDS, chẳng hạn như:
Khảo sát về kiến thức, thái độ, hành vi phòng chống HIV/AIDS trong sinh viên của Ths.Lê Tài Năng [4]
Kết quả nghiên cứu cho thấy có hơn 90% sinh viên nắm vững kiến thức về phòng
chống lây nhiễm HIV/AIDS, ở đây tác giả còn cho thấy có mối liên hệ giữa kiến thức đúng sẽ có thái độ và hành vi phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS đúng ở sinh viên đại học An Giang
Trang 30Kiến thức và thái độ về phòng chống HIV/AIDS trong thanh niên 15-24 tuổi tại An Giang của Nguyễn Đức Sơn [7]
Kết quả nghiên cứu cho thấy có hơn 70% thanh niên có kiến thức đúng về phòng
chống lây nhiễm HIV/AIDS và có thái độ tích cực đối với người bị nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng Tuy nhiên vẫn còn không ít thanh niên chưa hiểu biết đầy đủ về HIV/AIDS hoặc vẫn còn thờ ơ và thiếu trách nhiệm đối với bản thân và cộng đồng Từ đó tác giả đưa ra các kiến nghị như sau: cần tiếp tục tăng cường hơn nữa công tác thông tin, giáo dục truyền thông về HIV/AIDS nhằm nâng cao nhận thức, thực hành về các biện pháp phòng chống HIV/AIDS cho thanh niên khi tiếp xúc, tham gia chăm sóc người
nhiễm tại cộng đồng
Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm HIV/STI và hành vi phòng chống lây nhiễm HIV/STI trong nhóm nông dân tại huyện Phú Tân tỉnh An Giang của Nguyễn Thanh Long [9]
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm QĐTD trong nhóm nông dân huyện Phú
Tân là cao, cùng với tỷ lệ sử dụng BCS trong QHTD thấp Tỷ lệ nghe biết về HIV/STI cao, nhưng tỷ lệ người có kiến thức đầy đủ về HIV/AIDS còn thấp; tình trạng phân biệt đối xử với người bị nhiễm HIV vẫn còn phổ biến; các kênh truyền thông mà cộng đồng người dân ở Phú Tân tiếp cận thường xuyên nhất là các loại phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là truyền hình và đài, ngược lại kênh truyền thông tiếp xúc trực tiếp như qua cán bộ y tế, cộng tác viên còn rất thấp
Từ đó, tác giả đưa ra các giải pháp như: cần nâng cao nhận thức của các nhóm nông dân về các bệnh lây truyền qua đường TD; xây dựng cơ chế phối hợp giữa cơ sở y
tế nhà nước và tư nhân; tăng cường khả năng tiếp cận các dịch vụ và nâng cao chất lượng dịch vụ, trong đó cần xem trọng việc tư vấn dự phòng lây nhiễm cho bạn tình người nhiễm
Có rất nhiều đề tài, dự án về phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS đã và đang thực hiện trên địa bàn tỉnh An Giang trong thời gian qua Song, cho đến thời điểm hiện nay chưa có một công trình nghiên cứu cụ thể nào về kiến thức, thái độ, hành vi phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS của phụ nữ ở khu vực biên giới thị xã Tân Châu
Trang 312 Một số khái niệm liên quan đến đề tài
2.1 Kiến thức
Kiến thức là sự hiểu biết, kinh nghiệm được tổng hợp, khái quát hóa từ quá trình
sự học tập, trải nghiệm trong cuộc sống, thông qua việc tiếp thu kiến thức từ cha mẹ, giáo viên, bạn bè, các phương tiện truyền thông đại chúng
Có thể đánh giá kiến thức của một cá nhân hay cộng đồng nhất định là đúng hay sai về một vấn đề cụ thể nào đó Chẳng hạn như: kiến thức đúng về các bệnh lây truyền QĐTD. [2]
Kiến thức của phụ nữ ở khu vực biên giới thị xã Tân Châu trong việc phòng chống HIV/AIDS là những hiểu biết của phụ nữ về bệnh HIV/AIDS, về con đường lây truyền HIV/AIDS cũng như các biện pháp phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS
2.2 Thái độ
Thể hiện một phản ứng, quan điểm của cá nhân đối với một người, sự kiện, quan điểm nào đó Nó phản ánh những gì người ta thích hoặc không thích, ủng hộ hoặc không ủng hộ Thái độ bắt nguồn từ trải nghiệm của bản thân hoặc từ những người thân Thái độ biểu hiện sự thích thú, tin tưởng, ủng hộ điều này hoặc đề phòng, cảnh giác với điều khác của chúng ta Tuy nhiên, thực tế cho thấy người ta không luôn ứng xử theo thái độ của
họ.[2]
Thái độ của phụ nữ ở khu vực biên giới thị xã Tân Châu trong việc phòng chống HIV/AIDS là những cảm xúc, niềm tin và quan điểm của phụ nữ đối với bệnh HIV/AIDS, đối với người nhiễm HIV/AIDS và đối với việc phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS Nó được thông qua việc cảm thấy sợ hãi hay bình thường khi nghe tới HIV/AIDS, mức độ kỳ thị (xem những người nhiễm là những người xấu cần phải né tránh hay cách ly họ ra khỏi cộng đồng) hay không kỳ thị đối với người nhiễm HIV/AIDS Thái độ ủng hộ hay phản đối trong việc sử dụng BCS khi QHTD
2.3 Hành vi
Hành vi là cách ứng xử của con người đối với một sự vật, sự kiện, hiện tượng trong một hoàn cảnh, tình huống cụ thể, được biểu hiện bằng lời nói, cử chỉ, hành động nhất định Hành vi hàm chứa các yếu tố nhận thức, kiến thức, thái độ, niềm tin, giá trị xã
Trang 32hội cụ thể của mỗi con người Các yếu tố này thường đan xen, liên kết chặt chẽ với nhau, khó có thể phân tách rõ ràng. [2]
Trong đó, hành vi sức khỏe là hành vi của con người có liên quan đến việc tạo ra, bảo vệ và nâng cao sức khỏe hoặc liên quan đến một vấn đề sức khỏe nhất định, như: hành vi tập thể dục buổi sáng, hành vi về dinh dưỡng, về vệ sinh môi trường,…
Hành vi sức khỏe của cá nhân là trọng tâm của quá trình GDSK và NCSK Gochman (1982) đã định nghĩa hành vi sức khỏe là “những thuộc tính cá nhân như niềm tin, sự mong đợi, động lực thúc đẩy, giá trị, nhận thức, kinh nghiệm; những đặc điểm về tính cách bao gồm tình cảm, cảm xúc; các loại hành vi hành động và thói quen có liên quan đến sự duy trì, phục hồi và cải thiện sức khỏe có khi rõ ràng, công khai, có thể quan sát được như hút thuốc lá, cũng có khi là những trạng thái cảm xúc không dễ dàng quan sát được như thái độ đối với việc dùng mũ bảo hiểm khi đi xe máy…
Hành vi của phụ nữ ở khu vực biên giới thị xã Tân Châu trong việc phòng chống HIV/AIDS là những hành động hay cách họ xử lý trong cuộc sống hàng ngày để phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS Hành vi khi tiếp xúc với người nhiễm là tôn trọng, thân thiện hay né tránh (tạo một khoảng cách nhất định) Hành vi đúng hay không đúng trong việc sử dụng BCS khi QHTD Hành vi khi tiếp xúc và xử lý các vật dụng có dính máu của những người bị nhiễm HIV/AIDS
2.4 Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và hành vi
Thông thường để làm được một điều gì người ta phải có hiểu biết đầy đủ về điều
đó Tuy nhiên không phải có hiểu biết thì người ta sẽ làm, giữa biết và làm còn có thái
độ muốn hay không muốn
Rất nhiều trường hợp biết và làm của con người trái ngược với nhau
Kiến thức, thái độ là hai yếu tố quan trọng trong tiến trình thay đổi hành vi Xét theo logic hành động thì để có hành vi có lợi cho sức khỏe thì người dân phải:
− Có hiểu biết về lợi và hại của từng loại hành vi và biết cách thực hiện hành vi mới
− Có thái độ hướng tới hành vi mới để có một sự thay đổi tốt hơn
− Có kỹ năng thực hành chính xác và phù hợp với kiến thức và thái độ[4]
Trang 332.5 Các khái niệm về HIV/AIDS
Theo luật phòng, chống vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Khóa XI, Luật số: 64/2006/Q11, ngày 29 tháng 06 năm 2006
HIV là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Human Immunodeficiency Virus” là vi
rút gây suy giảm miễn dịch ở người, làm cho cơ thể suy giảm khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh Vi rút HIV có dạng hình cầu, kích thước rất nhỏ (100-200nm), không nhìn thấy được bằng kính hiển vi thông thường mà phải dùng kính hiển vi điện tử có độ phóng đại hàng chục ngàn lần
AIDS là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Acquired Immune Deficiency
Syndrome” là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải do HIV gây ra, thường được biểu hiện thông qua các nhiễm trùng cơ hội, các ung thu và có thể dẫn đến tử vong
Các con đường lây nhiễm HIV:
Cho đến nay, HIV/AIDS vẫn được xác định chỉ lây qua ba đường chính: đường máu, đường tình dục và mẹ truyền sang con Hành vi của con người nếu không đảm bảo
an toàn đối với ba đường lây này thì HIV sẽ lây truyền từ người này sang người khác rất
dễ dàng Một người không biết mình đã bị nhiễm HIV có thể làm lây HIV cho nhiều người khác một cách vô tình hay cố ý và sẽ tạo nên “cái chết cộng đồng” Sự lây nhiễm HIV chủ yếu là các hành vi không an toàn nếu chỉ dựa vào ngành y tế thì sẽ không thể nào tác động một cách toàn diện và triệt để vào nhận thức về HIV/AIDS cũng như sự thay đổi hành vi an toàn của cộng đồng Cụ thể như:
- Lây truyền HIV qua đường máu: khả năng lây truyền HIV qua đường máu là rất cao (gần 100%), vì vi rút HIV có nhiều trong máu, luôn hiện diện trong máu của người nhiễm HIV, chúng tồn tại và sinh sôi nảy nở trong suốt thời gian bệnh nhân HIV còn sống Truyền máu có nhiễm HIV, dùng chung bơm kim tiêm hoặc các vật sắc nhọn xuyên, chích qua da có dính máu của người khác như: tiêm chích ma túy, cắt, lể, nẻ, xâm mình, xâm mài,… và tiếp xúc trực tiếp với máu của người nhiễm HIV qua vết thương hở, tổn thương ở chân răng, viêm nướu, viêm lợi răng làm lây truyền HIV khi hôn sâu Tuy
Trang 34nhiên, tỷ lệ lây truyền HIV qua đường máu ở Tân Châu không cao so với lây truyền qua đường TD
- Lây truyền HIV qua đường tình dục: vi rút HIV có nhiều trong tinh dịch, quan
hệ TD không an toàn với nhiều người hoặc với người nhiễm HIV, không sử dụng bao cao
su hoặc sử dụng BCS không đúng cách có khả năng làm lây nhiễm HIV Bên cạnh đó, khả năng lây nhiễm ở nữ giới sẽ cao hơn so với nam, vì bộ phận sinh dục nữ luôn là nơi chứa tinh dịch và rất dễ bị viêm nhiễm một số bệnh phụ khoa gây tổn thương niêm mạc
âm đạo, tạo điều kiện thuận lợi cho vi rút HIV đi thẳng vào máu Thực tế hiện nay cho thấy, bệnh nhân nhiễm HIV tại thị xã Tân Châu chủ yếu bị lây truyền qua đường TD là 85%
- Lây truyền HIV từ mẹ sang con: người mẹ nhiễm HIV, mang thai có khả năng lây truyền HIV cho con với tỷ lệ từ 30 % đến 40 %, sự lây truyền này diễn ra ở ba giai đoạn: lúc mang thai (25%), khi sinh đẻ (50%); cho con bú (25%) [25]
Cách phòng tránh lây nhiễm HIV/AIDS
Phòng lây nhiễm HIV qua đường máu:
- Không dùng chung bơm, kim tiêm khi tiêm hay chích Nên sử dụng bơm kim tiêm dùng 1 lần rồi bỏ đi Tốt nhất là không tiêm chích ma tuý
- Hạn chế truyền máu, sử dụng các loại thuốc tiêm chích
- Không dùng chung những vật xuyên qua da và niêm mạc như: bàn chải đánh răng, dao cạo râu, kim xăm mình, kim xuyên lỗ tai, …
- Khi đi cắt tóc không nên sử dụng chung lưỡi dao cạo, đồ dùng ngoái tai vì những đồ dùng này vẫn có thể gây tổn thương da và lây nhiễm HIV/AIDS
Phòng nhiễm HIV qua đường tình dục
- Khi chưa có đủ điều kiện, không biết rõ về lịch sử của người tình không nên vội vàng có quan hệ tình dục Việc tránh có quan hệ tình dục là biện pháp phòng tránh HIV/AIDS và các nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục hiệu quả nhất
- Đã có bạn tình hoặc đã lập gia đình, việc sống chung thuỷ đối với cả hai người
là cách phòng tránh hữu hiệu nhất cho việc lây nhiễm HIV/AIDS và nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục
Trang 35- Trong trường hợp có quan hệ với một người mà mình không biết rõ về lịch sử tình dục của họ thì việc dùng bao cao su đúng cách là rất cần thiết Cần phải dùng bao cao su khi có quan hệ tình dục với tất cả các đường âm đạo, miệng và hậu môn
- Phát hiện sớm và chữa trị kịp thời các bệnh lây truyền qua đường tình dục cũng giúp giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS vì những tổn thương do nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục sẽ là cửa vào lý tưởng cho HIV
Phòng lây nhiễm HIV từ mẹ sang con:
- Người phụ nữ bị nhiễm HIV thì không nên có thai, nếu đã có thai thì không nên sinh con
- Trường hợp muốn sinh con, cần đến cơ sở y tế để được tư vấn về cách phòng lây nhiễm HIV cho con
- Sau khi đẻ nếu có điều kiện thì nên cho trẻ dùng sữa bò thay thế sữa mẹ
Kiến thức, thái độ, hành vi phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS
Là sự hiểu biết cũng như cách phản ứng thông qua lời nói, cử chỉ, nét mặt đặc biệt
là hành động trong việc ngăn ngừa và đối phó với tình trạng lây nhiễm HIV/AIDS
3 Một số nguyên tắc phòng chống HIV/AIDS [11]
Kết hợp các biện pháp xã hội và biện pháp chuyên môn kỹ thuật trong phòng chống HIV/AIDS trên nguyên tắc lấy phòng ngừa là chính, trong đó thông tin, giáo dục, truyền thông nhằm thay đổi hành vi là biện pháp chủ yếu
Thực hiện việc phối hợp liên ngành và huy động xã hội trong phòng chống HIV/AIDS; lồng ghép các hoạt động phòng chống HIV/AIDS trong các chương trình phát triển kinh tế - xã hội
Kết hợp chặt chẽ phòng chống HIV/AIDS với phòng, chống ma túy, mại dâm, chú trọng triển khai các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV
Không kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIVvà thành viên trong gia đình họ; tạo điều kiện để người nhiễm HIV và thành viên gia đình họ tham gia các hoạt động
xã hội, đặc biệt là các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS
Trang 36Cụ thể như sau:
3.1 Nhóm giải pháp xã hội
3.1.1 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và chính quyền các cấp đối với công tác
phòng, chống HIV/AIDS
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phòng, chống HIV/AIDS
- Tăng cường chức năng kiểm tra, giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp đối với công cuộc phòng, chống HIV/AIDS
- Tăng cường sự chỉ đạo, điều hành của chính quyền các cấp trong tổ chức thực hiện công tác phòng, chống HIV/AIDS
3.1.2 Các giải pháp về phối hợp liên ngành và huy động cộng đồng
Phối hợp liên ngành
- Xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình phòng, chống HIV/AIDS mang tính liên ngành, toàn diện, đặc biệt chú trọng việc lồng ghép có hiệu quả với các chương trình phòng, chống tệ nạn ma tuý, mại dâm để ngăn ngừa lây nhiễm HIV/AIDS; huy động mọi
tổ chức, cá nhân tham gia các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS Uỷ ban nhân dân tỉnh chỉ đạo điều hành các hoạt động liên ngành trong công tác phòng, chống HIV/AIDS
- Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các Sở, ngành trong công tác phòng, chống HIV /AIDS Các Sở, ngành chủ động đưa công tác phòng, chống HIV/AIDS vào kế hoạch hoạt động hàng năm
- Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh và các tổ chức thành viên tăng cường vận động toàn dân tham gia công tác phòng, chống HIV/AIDS Phát huy vai trò, tính chủ động của Mặt trận Tổ quốc VN và các đoàn thể trong việc vận động người dân tích cực tham gia phòng, chống HIV/AIDS Gắn công tác phòng, chống HIV/AIDS vào phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư Phát huy vai trò của tổ trưởng dân phố, các chức sắc tôn giáo, người cao tuổi làm nòng cốt cho việc vận động người dân tham gia
- Xã hội hoá công tác phòng, chống HIV/AIDS, huy động nhiều hơn nữa sự tham gia của tất cả các đoàn thể, cộng đồng và các cá nhân trong công cuộc phòng, chống HIV/AIDS
Trang 37 Huy động nguồn lực cộng đồng
- Khuyến khích các tổ chức tôn giáo, các tổ chức xã hội, từ thiện, tổ chức phi chính phủ, các nhóm cộng đồng, kể cả bản thân người nhiễm HIV/AIDS và gia đình họ tham gia công tác phòng chống HIV/AIDS; giáo dục sự thương yêu, đùm bọc, phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình, bản sắc văn hoá dân tộc của người VN trong chăm sóc,
hỗ trợ người có nguy cơ bị nhiễm HIV và người nhiễm HIV/AIDS
- Lồng ghép các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS vào các phong trào quần chúng, các hoạt động thể dục thể thao, văn hoá, văn nghệ tại cộng đồng, các lớp tập huấn, các cuộc nói chuyện Tăng cường tính chủ động của cộng đồng, tổ chức các diễn đàn kêu gọi sự cam kết tham gia của cộng đồng Phát huy tính tích cực, chủ động tham gia của cộng đồng trong các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS
- Phát động phong trào thi đua noi gương người tốt, việc tốt, có chính sách động viên, khen thưởng kịp thời các tổ chức quần chúng, cá nhân lập thành tích xuất sắc trong công cuộc phòng, chống HIV/AIDS
- Nâng cao trách nhiệm từng thành viên trong gia đình về hoạt động phòng, chống HIV/AIDS thông qua việc tuyên truyền, giáo dục, tư vấn các chuẩn mực đạo đức gia đình, phong tục, tập quán tốt đẹp, duy trì nếp sống văn hoá lành mạnh
- Giáo dục quyền bình đẳng của người nhiễm HIV/AIDS cũng như quyền của từng
cá nhân trong cộng đồng về trách nhiệm và áp dụng các biện pháp dự phòng lây nhiễm HIV, đồng thời trở thành người cộng tác tuyên truyền về phòng, chống HIV/AIDS
- Tăng cường sự hiểu biết và bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ để họ tham gia tích cực vào các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS Tạo mọi điều kiện cho phụ nữ tham gia học tập, trao đổi kinh nghiệm, kỹ năng sống
Huy động doanh nghiệp tham gia phòng, chống HIV/AIDS
- Vận động các doanh nghiệp, các hội nghề nghiệp, các tổ chức tư nhân tham gia tích cực vào các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS Quy định cụ thể về triển khai các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại nơi làm việc Vận động đóng góp các nguồn lực của các tổ chức doanh nghiệp cho công tác phòng, chống HIV/AIDS tại nơi làm việc, bảo đảm sức khoẻ cho người lao động
Trang 38- Kêu gọi các doanh nghiệp, các đơn vị kinh tế thu nhận và đào tạo các đối tượng
có nguy cơ lây nhiễm, hoặc bị ảnh hưởng do HIV/AIDS được vào làm việc
- Nghiêm cấm các doanh nghiệp sa thải người nhiễm HIV/AIDS Không được xem xét song hành vấn đề nhiễm HIV của người lao động với việc tuyển dụng, tăng lương hay bổ nhiệm họ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo
- Các doanh nghiệp có nhiệm vụ cung cấp thông tin phòng, chống HIV/AIDS cho cán bộ, công nhân của đơn vị để biết
- Tổ chức khám sức khoẻ định kỳ theo quy định để thông qua đó khám, phát hiện
và điều trị các bệnh lây truyền qua đường tình dục cho người lao động, đặc biệt là lao động nữ
3.2 Nhóm giải pháp kỹ thuật
Thực hiện tốt giám sát trọng điểm, giám sát hành vi và xét nghiệm phát hiện; an toàn truyền máu và các chế phẩm máu; an toàn trong các dịch vụ y tế và các dịch vụ xã hội có liên quan đến máu; điều trị và chăm sóc HIV/AIDS thông qua các chương trình,
dự án đã và đang thực hiện với sự tài trợ của quốc tế và quốc gia
3.2.1 Chương trình thông tin, giáo dục và truyền thông thay đổi hành vi phòng lây nhiễm HIV/AIDS
- Thông tin theo chiều sâu và rộng trên các phương tiện thông tin đại chúng
- Đa dạng hoá hình thức với các phòng tư vấn tự nguyện xét nghiệm, câu lạc bộ, nhóm bạn giúp bạn, qua các nhóm giáo dục viên đồng đẳng
3.2.2 Chương trình can thiệp giảm thiểu tác hại dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS
- Chương trình 100% bao cao su ở tất cả các điểm vui chơi, giải trí, nhà hàng, khách sạn, nhà trọ,…
- Chương trình sử dụng chất thay thế
- Chương trình trao đổi bơm kim tiêm, dịch vụ làm sạch bơm kim tiêm,…
3.2.3 Chương trình can thiệp chăm sóc hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS
- Chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS tại gia đình
- Giáo dục, hướng dẫn người nhiễm và gia đình biết cách chăm sóc và phòng lây truyền trong gia đình
Trang 39- Điều trị các nhiễm trùng cơ hội, tiến tới điều trị bằng các thuốc kháng vi rút
- Phòng ngừa các nhiễm trùng cơ hội
- Lồng ghép với chương trình chống Lao
- Hỗ trợ tâm lý
3.2.4 Chương trình giám sát HIV/AIDS, theo dõi, đánh giá chương trình
- Thực hiện giám sát trọng điểm HIV/AIDS/STI
- Giám sát hành vi
- Theo dõi thu thập thông tin thụ động qua báo cáo
- Lượng giá các hoạt động
3.2.5 Chương trình tiếp cận thuốc điều trị HIV/AIDS
3.2.6 Chương trình dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con:
- Triển khai rộng khắp phòng tư vấn xét nghiệm tự nguyện cho bà mẹ mang thai
- Điều trị các bệnh lây truyền qua đường tình dục
- Điều trị dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con bằng thuốc kháng vi rút
3.2.7 Chương trình quản lý và điều trị các nhiễm khuẩn lây truyền QĐTD
3.2.8 Chương trình truyền máu an toàn
3.2.9 Chương trình tăng cường năng lực và hợp tác quốc tế
- Đào tạo, đào tạo lại liên tục nhằm nâng cao năng lực cho cán bộ làm công tác phòng chống AIDS
- Nâng cao năng lực cho nhóm giáo dục viên đồng đẳng
- Tranh thủ tối đa và duy trì hợp tác quốc tế.[20]
4 Lồng ghép giới trong phòng, chống HIV/AIDS ở cơ sở
Do việc lây truyền HIV qua con đường quan hệ tình dục khác giới ngày càng tăng, tỷ lệ giữa số phụ nữ và nam giới bị nhiễm đang tăng lên hàng năm Theo tổ chức phòng chống AIDS của Liên Hiệp Quốc (UNAIDS) cho biết, năm 2001 tỷ lệ lây nhiễm HIV trong phụ nữ và trẻ em chỉ là 0,02%, đến năm 2005 tỷ lệ này là 1,4%, nghĩa là gấp
70 lần
Trang 404.1 Dịch HIV nhìn từ góc độ giới
4.1.1 Phụ nữ nhiễm HIV/AIDS ngày càng gia tăng
Do việc lây truyền HIV qua con đường quan hệ tình dục khác giới ngày càng tăng, tỷ lệ giữa số phụ nữ bị nhiễm và nam giới bị nhiễm đang tăng lên hàng năm Tổ chức Phòng chống AIDS của Liên Hiệp Quốc (UNAIDS) cho biết, năm 2001 tỷ lệ lây nhiễm HIV trong phụ nữ và trẻ em chỉ là trên không nằm trong nhóm có hành vi nguy cơ cao như mại dâm, nghiện ma túy Hiện tại, gần nửa số người nhiễm HIV là phụ nữ và tại nhiều nước, tỉ lệ phụ nữ lây nhiễm HIV tăng nhanh hơn so với ở nam giới
Ở Việt Nam, tất cả các tỉnh/thành phố, 96% các huyện và trên 65% các xã, phường báo cáo có người nhiễm HIV Người nhiễm HIV ở Việt Nam tập trung chủ yếu trong nhóm tuổi từ 20-29 tuổi (54,6%), nam giới chiếm 84,54% trong số các trường hợp nhiễm HIV được phát hiện
Theo Cục phòng chống AIDS, trong số người nhiễm HIV ở Việt Nam thì phụ nữ chiếm 1/3 và hầu hết đều đang ở độ tuổi sinh đẻ; hơn 1% phụ nữ mang thai có kết quả xét nghiệm dương tính với HIV Tỷ lệ phụ nữ mang thai bị nhiễm HIV trong năm 2004 cũng tăng hơn năm 2003 (0,35% so với 0,24%) Điều đó cho thấy dịch HIV đang lan rộng trong cộng đồng và có nguy cơ bùng phát
Vấn đề đặc biệt quan tâm là sự gia tăng nhanh chóng số HIV trong nữ thanh niên Hiện nay nhóm này chiếm hơn 60% những người trong độ tuổi từ 15-24 tuổi đang sống chung với HIV/AIDS Nữ thanh niên có nguy cơ nhiễm HIV cao gấp ba lần nam thanh niên cùng lứa tuổi Các nghiên cứu cho thấy rằng phụ nữ và nam giới nhiễm HIV ở các
độ tuổi khác nhau nhưng phụ nữ nhiễm HIV ở độ tuổi trẻ hơn nam giới
4.1.2 Bất bình đẳng giới làm gia tăng nguy cơ lây nhiễm HIV
Bất bình đẳng về giới là một trong những nguyên nhân dẫn đến hậu quả phụ nữ
có ít khả năng hơn nam giới trong việc tự bảo vệ chính bản thân mình trước nguy cơ của đại dịch HIV/AIDS Những mối quan hệ bất bình đẳng về quyền lợi, áp bức tình dục và bạo lực là những hiện tượng tương đối phổ biến xảy ra với phụ nữ ở mọi lứa tuổi
Bất bình đẳng giới đang đe dọa quyền được đảm bảo sức khoẻ của phụ nữ, một yếu tố cơ bản của quyền an sinh và đang làm gia tăng nguy cơ lây nhiễm HIV Trên toàn