Kiến thức về phòng tránh lây nhiễm HIV/AIDS 43

Một phần của tài liệu Đánh giá kiến thức thái độ và hành vi phòng chống lây nhiễm HIV AIDS của phụ nữ độ tuổi từ 15 40 ở khu vực biên giới thị xã tân châu (Trang 62 - 76)

6. Kiến thức phòng chống HIV/AIDS 38

6.3 Kiến thức về phòng tránh lây nhiễm HIV/AIDS 43

Lây truyền HIV trong quan hệ vợ chồng, bạn tình tại Việt Nam được hiểu tốt nhất khi đặt vào bối cảnh xã hội rộng lớn, nơi tình trạng bất bình đẳng giới và các quyền con người không được thực hiện đầy đủ đã được khẳng định là có ảnh hưởng đến tính dễ tổn thương đối với phụ nữ. Trong bối cảnh này, các yếu tố thúc đẩy việc lây truyền HIV được

56 định hình bởi cách nhìn nhận về giới và tình dục, mối quan hệ TD với vợ chồng hay bạn tình, bạo hành giới và tình trạng kỳ thị, phân biệt đối xử có liên quan đến HIV.

Nền kinh tế thị trường đã đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy những ham muốn cá nhân và khả năng tiếp cận của nam giới với tình dục ngoài hôn nhân, qua đó dựng nên một nét tính cách mới của nam giới. Đàn ông thời nay thường có xu hướng chi tiêu phần thu nhập bội dư của mình ở những cơ sở có sử dụng phụ nữ để thu hút khách hàng như: cơ sở massage, quán bar, karaoke và các câu lạc bộ ban đêm, đây là những nơi đàn ông có thể mua dâm.

Điều này, đã đặt người phụ nữ đứng trước nguy cơ lây nhiễm HIV khi kết hôn hoặc có mối quan hệ bạn tình lâu dài với những người bạn nam, ngay cả khi chính bản thân người phụ nữ không có nguy cơ. Các dịch vụ chăm sóc sức khỏe TD và sức khỏe sinh sản mà phụ nữ thường được sử dụng nhiều hơn nam giới, vẫn chưa giải quyết một cách thỏa đáng việc ngăn ngừa các nguy cơ lây nhiễm HIV, tầm quan trọng của việc sử dụng BCS trong những tình huống nhất định hoặc các cách giúp người phụ nữ thương thuyết tốt hơn để có tình dục an toàn. Trong một số trường hợp nhất định, bạo lực giới còn là nỗi lo sợ bị bạo lực làm người phụ nữ yếu thế hơn trong việc thương thuyết sử dụng BCS hoặc thực hiện TD an toàn, để yêu cầu người có QHTD với mình đi xét nghiệm khi nghi ngờ nhiễm HIV hoặc yêu cầu chồng/bạn tình sống thủy chung.

Hiện nay, tỷ lệ sử dụng BCS tại Việt Nam vẫn còn ở mức thấp, chỉ vào khoảng 9%

trong số 79% phụ nữ đã lập gia đình hoặc sống chung như vợ chồng có sử dụng biện pháp tránh thai. [24]

57 Biểu đồ 12: Tỷ lệ % kiến thức về mục đích của việc sử dụng BCS trong QHTD

64,3

20 15,7

0 10 20 30 40 50 60 70

KHHGĐ KHHGĐ và

phòng tránh các bệnh lây truyền QĐTD

Không biết

Cho đến thời điểm hiện nay, vẫn còn nhiều người chưa hiểu hết mục đích của việc sử dụng BCS trong QHTD. Ngay cuối những năm 80, công dụng của BCS được cho là một trong những biện pháp KHHGĐ mang lại hiệu quả cao và cho đến nay phụ nữ ở khu vực biên giới thị xã Tân Châu cho rằng mục đích của việc sử dụng BCS là dùng để KHHGĐ chiếm 64,3%, chỉ có 20% số phụ nữ cho rằng BCS là để KHHGĐ và phòng tránh các bệnh lây nhiễm QĐTD.

Biểu đồ 13: Tỷ lệ % kiến thức về mục đích của việc sử dụng BCS trong QHTD xét theo độ tuổi

1.9 0.5

8.1 4.8

3.3

17.6

5.7 3.8

17.1

2.9 1.4

19.5

4.8 6.7

0 2 4 6 8 10 12 14 16 18 20

15-17 18-25 26-30 31-35 36-40

KHHGĐ KHHGĐ và phòng chống lây nhiễm QĐTD Không biết

58 Xét về độ tuổi, phụ nữ có có độ tuổi từ 36-40 tuổi cho rằng công dụng của BCS chỉ dùng để KHHGĐ, trong khi nhóm phụ nữ ở độ tuổi 26-30 tuổi cho rằng sử dụng BCS trong QHTD là dùng để KHGD và phòng tránh các bệnh lây QĐTD. Điều này có thể lí giải như sau, những người phụ nữ có độ tuổi cao nhất thuộc đối tượng khảo sát của đề tài chủ yếu chăm lo việc gia đình, ít tiếp cận với các kênh truyền thông nên khả năng hiểu hết về mục đích của việc sử dụng BCS còn hạn chế so với nhóm phụ nữ có độ tuổi nhỏ hơn, những người trẻ thường năng động hơn nên có nhiều cơ hội tiếp cận và giao lưu với nhiều kênh thông tin.

Bên cạnh đó, kiến thức về mục đích sử dụng BCS khi QHTD còn bị hạn chế bởi trình độ học vấn cụ thể như sau:

Biểu đồ 14: Tỷ lệ % kiến thức về mục đích của việc sử dụng BCS trong QHTD xét theo trình độ học vấn

4.4

1.8 1.9 2.4

1.5

23.3

4.9 5.8

19.9

4.9 3.9

14.6

6.8

2.4

0 5 10 15 20 25

Không học Chỉ biết đọc, viết Cấp 1 Cấp 2 Cấp 3

KHHGĐ KHHGĐ và phòng chống lây nhiễm QĐTD Không biết

Phụ nữ có trình độ học vấn cấp 1 cho rằng mục đích của việc sử dụng BCS trong QHTD là dùng để KHHGĐ chiếm tỷ lệ cao nhất 23,3%, trong khi nhóm phụ nữ có trình độ học vấn Cấp 3 thì cho rằng việc sử dụng BCS trong QHTD là để KHHGĐ và phòng tránh các bệnh lây QĐTD chiếm tỷ lệ cao hơn so với các cấp học khác là 6,8%. Qua đây có thể kết luận, yếu tố học vấn cũng phần nào tác động đến kiến thức về việc sử dụng

59 BCS nói riêng cũng như việc phòng chống lây nhiễm HIV nói chung ở khu vực biên giới thị xã Tân Châu hiện nay.

Biểu đồ 15: Tỷ lệ % kiến thức về mục đích của việc sử dụng BCS trong QHTD xét theo địa bàn

21.9

4.3 7.1

22.9

6.7 3.8

19.5

9.0

4.8

0 5 10 15 20 25

P.Long Thạnh xã Phú Lộc xã Vĩnh Xương

KHHGĐ KHHGĐ và phòng chống lây nhiễm QĐTD Không biết

Xét về địa bàn, phụ nữ xã Vĩnh Xương có câu trả lời đúng chiếm 9% cao hơn hẳn so với hai địa bàn còn lại thuộc mẫu khảo sát của đề tài. Bên cạnh đó, phụ nữ ở xã Phú Lộc chưa hiểu hết mục đích của việc sử dụng BCS khi QHTD khi có câu trả lời là dùng để KHHGĐ chiếm tỷ lệ là 22,9%. Điều đáng nói ở đây là, phường Long Thạnh là khu vực nội ô của thị xã Tân Châu, là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị thì lại có kiến thức về mục đích sử dụng BCS thấp nhất so với hai địa bàn còn lại khi có câu trả lời là không biết chiếm 7,1% và KHHGĐ và phòng chống lây nhiễm QĐTD là 4,3%.

60 Biểu đồ 16: Tỷ lệ % kiến thức về QHTD an toàn

34,8

26,5

9,8

0,5

18,1

10,3

0 5 10 15 20 25 30 35

Đúng 1 câu Đúng 2 câu Đúng 3 câu Đúng 4 câu Trả lời sai Không biết

Kết quả khảo sát cho thấy, chỉ có 0,5% số phụ nữ ở khu vực biên giới thị xã Tân Châu trả lời đúng bốn câu như: sử dụng BCS đúng cách; chung thủy một vợ một chồng;

không QHTD với gái mại dâm; không QHTD với người đồng tính luyến ái. Trong khi đó, có đến 34,8% số phụ nữ chỉ chọn đúng một câu trả lời; 18,3% phụ nữ có câu trả lời sai như: trước khi QHTD cần nhìn kỹ bên ngoài của người bạn tình hoặc vợ/chồng xem có dấu hiệu bệnh không hay hạn chế quan hệ với nhiều người, đặc biệt là những người xa lạ.

10,3% số phụ nữ cho rằng không biết cách QHTD an toàn là gì. Qua các số liệu trên đã cho thấy phần nào kiến thức về cách QHTD an toàn của phụ nữ ở khu vực biên giới thị xã Tân Châu còn rất thấp.

Xét về độ tuổi, nhóm phụ nữ có độ tuổi từ 36-40 tuổi có câu trả lời đúng chiếm 20,1%, cao nhất so với các nhóm tuổi còn lại. Trong khi, nhóm có độ tuổi nhỏ nhất (từ 15-18 tuổi) có các câu trả lời đúng lại thấp nhất (3%), điều này được lý giải như sau: với những nhóm phụ nữ thuộc nhóm tuổi 36-40 tuổi hầu như đã có gia đình nên cơ hội tiếp cận các dịch vụ y tế đặc biệt về việc chăm sóc sức khỏe sinh sản nhiều hơn hẳn so với phụ nữ thuộc nhóm tuổi nhỏ nhất, vì thực tế cho thấy phụ nữ còn độc thân chưa có chồng rất ngại đến các Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản vì sợ gia đình, bạn bè, hàng xóm nghĩ là mình “có vấn đề” gì đó nên mới đến những nơi này. Đây là nguyên nhân chính cản trở quá trình tiếp cận thông tin trực tiếp từ các cán bộ y tế địa phương, làm ảnh hưởng đến việc tiếp thu kiến thức về phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS cho chính bản thân

61 người phụ nữ và gia đình họ. Vì vậy chính quyền địa phương đặc biệt là các cán bộ quản lý ngành y tế địa phương cần có chiến lược phòng chống HIV/AIDS hiệu quả, đặc biệt đối với nhóm phụ nữ có độ tuổi từ 15-18 tuổi.

Xét về địa bàn, phụ nữ xã Phú Lộc có câu trả lời sai thấp nhất (4,4%) và nhiều nhất là phụ nữ xã Vĩnh Xương (7,3%) kế đến là phụ nữ phường Long Thạnh (6,4%).

Điều đáng quan tâm ở đây là số phụ nữ ở phường Long Thạnh cho rằng không biết cách QHTD an toàn là như thế nào cao hơn hẳn so với hai địa bàn còn lại thuộc mẫu khảo sát của đề tài.

Kiến thức về những người có khả năng bị lây nhiễm HIV/AIDS

Biểu đồ 17: Tỷ lệ % kiến thức về những người có khả năng bị lây nhiễm HIV/AIDS

63,4

9,3

18

9,3

0 10 20 30 40 50 60 70

Chỉ có những người nghiện ma

túy

Có thể bất cứ ai, bản thân mình hay

gia đình mình

Người thường xuyên QHTD với

gái mại dâm

Không biết

Nhìn chung kiến thức về lây nhiễm HIV/AIDS của phụ nữ ở khu vực biên giới không cao. Kết quả khảo sát cho thấy chỉ có 9,3% số phụ nữ có câu trả lời đúng là có thể bất cứ ai, bản thân mình hay gia đình mình. Trong khi đó, có đến 63,4% số phụ nữ cho rằng chỉ có những người tiêm chích ma túy hay những người thường xuyên quan hệ TD với gái mại dâm (18%). Trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày mỗi người chúng ta đều tiềm ẩn nguy cơ bị lây nhiễm HIV/AIDS qua nhiều đường khác nhau. Song nhiều người cho rằng mình sống tốt thì sẽ không bao giờ bị lây HIV/AIDS.

62 Phụ nữ nói chung và nữ thanh niên nói riêng là những nhóm có nguy cơ bị lây nhiễm HIV/AIDS cao nhất vì sự lây nhiễm HIV/AIDS qua con đường tình dục mà phụ nữ là đối tượng phải chịu hậu quả nặng nề của dịch bệnh này.

Nhiều phụ nữ nghĩ rằng mình không thể bị nhiễm HIV/AIDS vì mình đã và sẽ mãi mãi chung thủy với chồng hay với bạn tình của mình. Nhưng, chính họ lại có nguy cơ bị lây nhiễm HIV/AIDS do sự không chung thủy "một vợ, một chồng" của chồng, bạn tình của họ. Ngay cả khi họ biết được những quan hệ "rộng rãi" của chồng, bạn tình đối với những người phụ nữ khác hay gái mại dâm, thậm chí biết chắc chắn rằng người này có tiêm chích ma túy họ cũng không muốn, không thể thuyết phục hoặc yêu cầu chồng, bạn tình sử dụng BCS.

Hiện tượng đồng tính luyến ái ngày càng có xu hướng gia tăng trên phạm vi toàn cầu cũng như ở nước ta. Thực tế cho thấy, những người đồng tính nam do sức ép của gia đình, xã hội vẫn có thể lấy vợ, và những người vợ của họ là những đối tượng có nguy cơ bị lây nhiễm HIV rất lớn vì hành vi tình dục đồng tính của chồng, bạn tình của mình. Các bệnh lây truyền qua đường tình dục là nhân tố chủ yếu lây nhiễm HIV như: giang mai, lậu, chlamydia, candida sinh dục, herpes sinh dục,... có thể làm gia tăng khả năng lây nhiễm HIV lên gấp bốn lần khi quan hệ tình dục không sử dụng BCS. Ðó là bước đầu tiên để phòng ngừa lây nhiễm HIV cho phụ nữ. Nhưng đáng tiếc, hiện nay, chất lượng chẩn đoán và điều trị STDs ở nhiều nơi còn chưa đáp ứng được yêu cầu. Mặt khác, do sợ bị kỳ thị, xấu hổ nên có đến 90% số người bệnh STDs đã không đến bệnh viện để khám chữa bệnh kịp thời. Họ thường đến các cơ sở y tế tư nhân, hoặc dò hỏi kinh nghiệm của bạn bè để mua thuốc tự điều trị. Tiềm ẩn nhiều rủi ro, dễ dẫn đến tình trạng kháng thuốc, làm ảnh hưởng đến khả năng điều trị sau này.

Phần lớn những người bệnh STDs tại nước ta không thông báo tình trạng bệnh tật cho bạn tình cũng không đưa bạn tình cùng đi xét nghiệm và điều trị. Chính vì vậy họ đã truyền bệnh hoặc tái truyền bệnh cho nhau.

63 Bảng 3: Tỷ lệ % kiến thức về những người có khả năng bị lây nhiễm HIV/AIDS

xét theo địa bàn

Nội dung trả lời Phường Long Thạnh

Phú Lộc

Vĩnh Xương

Chỉ có những người nghiện ma túy 26,8 17,6 19

Có thể bất cứ ai, bản thân mình hay gia đình mình

0,5 7,3 1,5 Người thường xuyên QHTD với gái mại

dâm

4,4 4,4 9,3

Không biết 2,4 3,4 3,4

Kết quả khảo sát còn cho thấy, phụ nữ phường Long Thạnh (33,6%) và xã Vĩnh Xương (21,7%) hiểu chưa đầy đủ và chính xác về những người có nguy cơ bị lây nhiễm HIV/AIDS. Từ đó, ảnh hưởng đến thái độ và hành vi của họ như xem nhẹ hoặc không cảnh giác trong việc bảo vệ bản thân và gia đình với bệnh HIV/AIDS.

Kiến thức về lợi ích của việc xét nghiệm HIV/AIDS tự nguyện

Biểu đồ 18: Tỷ lệ % kiến thức về lợi ích của việc xét nghiệm HIV/AIDS tự nguyện

45

37,6

17,4

0 5 10 15 20 25 30 35 40 45

Không biết Biết nhưng không chính xác

Biết rõ

Ngày nay, việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế tại địa phương được đại đa số người dân quan tâm, tin tưởng vì hiệu quả khám và điều trị đạt kết quả cao. Song, vẫn còn có sự khác biệt về khả năng và mức độ tiếp cận các dịch vụ y tế giữa các khu vực nông thôn và thành thị, ở khu vực nông thôn khi người dân vẫn còn tin tưởng nhiều vào

64 hiệu quả điều trị của thuốc nam và e ngại đến các cơ sở y tế tại địa phương. Kết quả khảo sát cho thấy, rất nhiều trường hợp bị nhiễm HIV nhưng bản thân họ vẫn không biết mình đã bị nhiễm đến khi bệnh chuyển sang AIDS với sự xuất hiện của các loại bệnh nhiễm trùng cơ hội thì họ mới biết mình bị nhiễm. Điều đáng quan tâm ở đây là, trong suốt thời gian dài để phát hiện ra mình bị nhiễm HIV thì chính họ đã vô tình lây nhiễm cho một hoặc nhiều người trong cộng đồng. Vì vậy, việc thường xuyên đi xét nghiệm máu nói chung và HIV nói riêng sẽ giúp mỗi người chúng ta phòng tránh được rất nhiều căn bệnh tiềm ẩn. Theo như kết quả khảo sát cho thấy, kiến thức về lợi ích của việc xét nghiệm HIV/AIDS tự nguyện của phụ nữ ở khu vực biên giới còn rất thấp, cụ thể như: chỉ với 17,4% cho rằng biết rất rõ, trong khi đó có đến 45% số phụ nữ cho rằng không biết;

37,6% biết nhưng không chính xác.

Biểu đồ 19: Tỷ lệ % kiến thức về lợi ích của việc xét nghiệm HIV/AIDS tự nguyện xét theo địa bàn

18,8

9,9 16,3

12,5 16,3

8,9

3,5

6,9

0 2 4 6 8 10 12 14 16 18 20

Không bết Biết nhưng không chính xác Biết rõ

P.Long Thạnh xã Phú Lộc xã Vĩnh Xương

Xét về địa bàn, phụ nữ phường Long Thạnh nhận biết về lợi ích của việc xét nghiệm HIV tự nguyện là rất thấp khi có đến 18,8% cho là không biết và chỉ có 3,5% cho là biết rõ. Ngược lại, phụ nữ xã Phú Lộc có kiến thức về lợi ích của việc xét nghiệm HIV tự nguyện là cao nhất khi có đến 16,3% cho rằng biết nhưng không chính xác và có 6,9%

biết rõ cao hơn so với hai địa bàn còn lại.

65 Kiến thức về lợi ích của người nhiễm HIV khi sống chung với gia đình

Biểu đồ 20: Tỷ lệ % kiến thức về lợi ích của người nhiễm HIV khi sống chung với gia đình

53,62

23,67

10,63

0,97

11,11

0 10 20 30 40 50 60

Đúng 1 câu Đúng 2 câu Sai 1 câu Sai 2 câu Không biết

Nhìn vào biểu đồ cho thấy, khả năng nhận biết về lợi ích khi để người nhiễm sống chung với gia đình của phụ nữ vẫn còn thấp khi chỉ có 23,7 % chọn hai câu trả lời đúng, nhưng có tới 53,6% số phụ nữ chỉ nhận biết được một lợi ích, cụ thể như:

Bảng 4: Tỷ lệ % kiến thức về lợi ích của người nhiễm HIV khi sống chung với gia đình

Nội dung câu trả lời Tỷ lệ % Khi còn khỏe người nhiễm vẫn có thể tiếp tục kiếm sống cho bản

thân và gia đình 12,1

Khi để người thân bị nhiễm sống chung sẽ không bị hàng xóm, bà

con họ hàng chê trách là không có tình người. 3,4 Tình thương, sự nâng đỡ và chăm sóc của gia đình giúp người

nhiễm vượt qua khủng hoảng trở lại cuộc sống có ích cho bản thân và gia đình.

65,8

Không được lợi gì mà phải chịu sự đàm tiếu của mọi người 4,0

Không biết 14,8 Tổng cộng 100,0

66 Với 65,8% phụ nữ ở khu vực biên giới cho rằng tình thương, sự nâng đỡ và chăm sóc của gia đình giúp người nhiễm vượt qua khủng hoảng trở lại cuộc sống có ích cho bản thân và gia đình. Ngày nay, người dân đã có những hiểu biết nhiều về bệnh HIV/AIDS nên cũng dễ thông cảm và chia sẻ hơn với người nhiễm, qua đó họ tin rằng sự thương yêu, đùm bọc của gia đình sẽ giúp người nhiễm sớm trở lại cuộc sống bình thường, họ cũng tin rằng người nhiễm vẫn có thể kiếm sống, chăm sóc, và bảo vệ cho chính bản thân và gia đình mình.

Chỉ với 3,4 % chị em phụ nữ cho rằng việc để người nhiễm sống chung với gia đình để không bị bà con hàng xóm chê trách và 4% phụ nữ cho rằng để người nhiễm sống chung không được lợi gì mà phải chịu sự đàm tiếu cho mọi người. Qua đây cho thấy, còn một số ít phụ nữ suy nghĩ chưa đúng cũng như chưa thông cảm người nhiễm HIV/AIDS.

Bên cạnh đó, nhiều phụ nữ còn lúng túng và không biết sẽ xử lý như thế nào nếu người thân trong gia đình bị nhiễm HIV/AIDS (14,8%), tỷ lệ này không nhiều nhưng cũng đã ảnh hưởng đến công tác phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS trong gia đình cũng như trong cộng đồng. Thái độ và hành vi kỳ thị, phân biệt đối xử không tốt đối với người nhiễm cũng là một trong những yếu tố làm ảnh hưởng đến kết quả phòng chống lây nhiễm HIV.

Vì vậy, chính quyền địa phương cần đẩy mạnh công tác truyền thông nhằm nâng cao kiến thức về lợi ích của người nhiễm khi sống chung với gia đình, giúp cho người nhiễm sống vui khỏe, tự tin hòa nhập cộng đồng, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng chống HIV/AIDS.

Một phần của tài liệu Đánh giá kiến thức thái độ và hành vi phòng chống lây nhiễm HIV AIDS của phụ nữ độ tuổi từ 15 40 ở khu vực biên giới thị xã tân châu (Trang 62 - 76)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(128 trang)