PHẠM NGỌC THẠCH TỔ CHỨC - QUẢN LÝ Y TẾĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Đề tài: NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VỀ VIỆC SỬ DỤNG VIÊN UỐNG TRÁNH THAI KHẨN CẤP CỦA SINH VIÊN Y ĐA KHOA TR
TỔNG QUAN Y VĂN
TỔNG QUAN VỀ TRÁNH THAI KHẨN CẤP
Trong thời đại ngày nay, quan hệ tình dục đã trở nên phổ biến hơn và không còn quá cấm kị như trước, đặc biệt là trong giới trẻ Tuy nhiên, việc hiểu rõ và sử dụng đúng các biện pháp tránh thai vẫn còn nhiều hạn chế, đặt ra nhu cầu nghiên cứu và giáo dục để nâng cao nhận thức Theo nghiên cứu của Kantorová V và cộng sự trên 185 quốc gia năm 2019, có khoảng 1.9 tỷ phụ nữ trong độ tuổi sinh sản, trong đó 1.11 tỷ có nhu cầu kế hoạch hóa gia đình, nhưng chỉ có 842 triệu người sử dụng các phương pháp tránh thai hiện đại, số còn lại chưa được đáp ứng đủ nhu cầu Dự báo đến năm 2030, số phụ nữ cần kế hoạch hóa gia đình sẽ tăng lên 1.19 tỷ, cùng với đó là sự cần thiết thúc đẩy việc tiếp cận các biện pháp tránh thai hiện đại, đặc biệt là các biện pháp tránh thai khẩn cấp (BPTTKC), nhằm đảm bảo sức khỏe sinh sản và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Biện pháp tránh thai là một phương pháp hay một thiết bị được sử dụng để ngừa thai.
Biện pháp tránh thai khẩn cấp là các phương pháp có thể sử dụng để phòng tránh thai sau quan hệ tình dục không an toàn Được khuyến cáo nên sử dụng trong vòng 5 ngày kể từ quan hệ, nhưng việc sử dụng càng sớm sau sự cố mới càng mang lại hiệu quả cao.
1.2 Các biện pháp tránh thai:
1.2.1 Biện pháp tránh thai hiện đại:
- Biện pháp tránh thai khẩn cấp: giảm nguy cơ có thai ngoài ý muốn và tỉ lệ nạo phá thai.
- Bao cao su (nam và nữ): thông dụng
- Viên uống tránh thai hằng ngày
- Các thiết bị và hệ thống trong tử cung: hiệu quả cao, thời gian dài nhất.
- Triệt sản (nam và nữ)
- Màng ngăn và nắp cổ tử cung
- Thuốc diệt tinh trùng (gel, bọt, kem, thuốc đạn,…)
1.2.2 Biện pháp tránh thai truyền thống:
- Cho con bú vô kinh
- Tính chu kì kinh nguyệt - tính ngày rụng trứng.
1.3 Các phương pháp tránh thai khẩn cấp:
1.3.1 Viên uống tránh thai khẩn cấp: (Xem thêm phần II)
- Viên kết hợp Estrogen - Progestin (COCs)
- Viên chỉ chứa Progestin (LNG)
- Thuốc điều biến thụ thể progesterone chọn lọc: Ulipristal acetate (UPA)
- Thuốc điều biến thụ thể progesterone: Mifepristone
1.3.2 Dụng cụ đặt tử cung có chứa đồng (Cu-IUD):
Cơ chế tác động của đồng bao gồm sự phóng thích liên tục của đồng vào buồng tử cung, gây ra phản ứng viêm trong khấ́p đường sinh dục, làm tổn thương giao tử và ảnh hưởng đến khả năng hình thành phôi sống Đồng còn làm thay đổi sinh hoá của chất nhầy cổ tử cung, từ đó ảnh hưởng đến sự di động, hoạt hoá và khả năng sống sót của tinh trùng Ngoài ra, đồng cũng tác động lên niêm mạc tử cung bằng cách thay đổi khả năng thụ cảm của nội mạc tử cung, ngăn chặn quá trình thụ tinh và làm tổ của trứng đã thụ tinh, qua đó ảnh hưởng đến khả năng sinh sản.
Đặt dụng cụ tử cung chứa Đồng (Cu-IUD) là phương pháp tránh thai khẩn cấp hiệu quả nhất, có thể ngăn ngừa thai trong vòng 5 ngày sau quan hệ tình dục không an toàn Theo một tổng quan hệ thống của Cleland K và cộng sự năm 2012, phương pháp này đã được công nhận là giải pháp đáng tin cậy trong việc phòng tránh thai khẩn cấp, mang lại hiệu quả cao và có thể thực hiện dễ dàng trong thời gian ngắn sau quan hệ.
Trong 35 năm qua, đã có 42 nghiên cứu về hiệu quả của Cu-IUD trong tránh thai khẩn cấp, với tổng cộng chỉ 10 ca mang thai trong 7.034 trường hợp đặt DCTC sau giao hợp không an toàn, tỷ lệ thất bại chỉ 0,14% (KTC 95% = 0,08% - 0,25%) Cu-IUD là lựa chọn phù hợp cho phụ nữ muốn tránh thai khẩn cấp đồng thời duy trì khả năng tránh thai hàng ngày sau đó, đặc biệt khi không muốn sử dụng nội tiết do các vấn đề về sức khỏe như bệnh lý tim mạch hoặc rối loạn đông máu Mặc dù hiệu quả cao nhất trong các phương pháp tránh thai khẩn cấp, nhưng Cu-IUD ít được chọn hơn do yêu cầu can thiệp thủ thuật, trong khi thuốc tránh thai khẩn cấp như mifepristone hoặc ulipristal acetate dễ sử dụng và có hiệu quả không kém Hiện nay, Cu-IUD vẫn là biện pháp tránh thai khẩn cấp hiệu quả nhất, theo sau là thuốc mifepristone liều trung bình (25-50 mg) hoặc ulipristal acetate (tỷ lệ thất bại khoảng 1,4%) và levonorgestrel (tỷ lệ thất bại 2-3%).
- Chỉ định: Các trường hợp tránh thai chủ động và tránh thai khẩn cấp (xem mục đối tượng).
Chống chỉ định của DCTC theo các chuyên gia và tổ chức sức khỏe sinh sản bao gồm các tình trạng như viêm vùng chậu, như nhiễm Chlamydia hoặc các loại vi khuẩn khác, cũng như việc người dùng nghĩ rằng mình đã có thai Ngoài ra, những trường hợp mắc ung thư cổ tử cung hoặc tử cung, viêm phần phụ sau sinh hoặc sẩy thai trong vòng 3 tháng, dị ứng với đồng, bệnh lý về đông máu (có thể làm tình trạng ra máu âm đạo nặng hơn) và ung thư vú đều không phù hợp để sử dụng DCTC.
Tác dụng phụ phổ biến nhất khi sử dụng DCTC là ra huyết âm đạo nhiều, kéo dài và không đều, gây khó chịu cho người dùng Ngoài ra, nó còn làm tăng nguy cơ mắc thống kinh, gây đau bụng trong kỳ kinh Phụ nữ đã từng sinh đẻ thường gặp ít tác dụng phụ hơn so với phụ nữ chưa sinh sau khi đặt DCTC.
Biến chứng của đặt vòng tránh thai bao gồm tuột vòng, tăng nguy cơ bị thai ngoài tử cung nếu phương pháp tránh thai thất bại, và nhiễm trùng vòi trứng (viêm phần phụ) có thể dẫn đến vô sinh nếu không được điều trị kịp thời Ngoài ra, DCTC còn có thể xuyên qua cơ tử cung, yêu cầu phải phẫu thuật để lấy ra.
Thuốc tránh thai khẩn cấp được dùng trong những trường hợp sau đây:
- Chưa sử dụng biện pháp tránh thai nào sau khi quan hệ tình dục
- Bị tấn công tình dục
- Bỏ lỡ thuốc tránh thai:
Trễ hơn 3 giờ so với thời gian uống thuốc chỉ có progesterone hoặc trễ hơn 27 giờ so với viên kế tiếp.
Trễ hơn 12 giờ so với thời gian uống thuốc chứa desogestrel thông thường hoặc trễ hơn 36 giờ sau so với viên kế tiếp.
- Xuất tinh ngoài âm đạo sau quan hệ bị thất bại.
- Bao cao su không đảm bảo chất lượng, bị rách, bị trượt.
- Tính toán sai khoảng thời gian kiêng giao hợp.
TỔNG QUAN VỀ VIÊN UỐNG TRÁNH THAI KHẨN CẤP
Viên uống tránh thai khẩn cấp (VUTTKC) là phương pháp tránh thai khẩn cấp hiệu quả khi quan hệ tình dục không an toàn hoặc khi các phương pháp ngừa thai khác thất bại, như quên uống thuốc tránh thai hàng ngày hoặc chẳng may bị rách hoặc thủng bao cao su Sử dụng viên uống tránh thai khẩn cấp giúp giảm nguy cơ mang thai ngoài ý muốn khi các biện pháp phòng tránh thông thường không được đảm bảo Đây là lựa chọn phù hợp trong những trường hợp khẩn cấp để đảm bảo an toàn sinh học và tránh những hậu quả không mong muốn.
- VUTTKC hoạt động theo cơ chế là ngăn chặn hoặc trì hoãn quá trình phóng thích trứng từ buồng trứng, ngăn chặn sự làm tổ của trứng.
Hiện nay, VUTTKC tại Việt Nam được phân thành 4 loại như đã đề cập, nhưng chỉ có 2 loại được Bộ Y tế khuyến cáo theo Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản năm 2016.
- Viên uống kết hợp estrogen-progestin (COCs):
Mỗi viên chứa 30 mcg Ethinylestradiol và 0.15 mg hoặc 0.125 mg Levonorgestrel
Uống 02 lần, mỗi lần uống 04 viên cách nhau 12 giờ Đảm bảo mỗi lần có ít nhất 0.1mg Ethinylestradiol và 0.5mg Levonorgestrel.
- Viên uống chỉ chứa progestin (LNG):
Uống 01 viên, liều duy nhất.
Mỗi viên chứa 0.75 mg Levonorgestrel
Uống 02 lần, mỗi lần uống 01 viên cách nhau 12 giờ hoặc uống cả 02 viên/lần.
Hiện nay, phương pháp phổ biến nhất được sử dụng làm BPTTKC là viên uống chỉ chứa Levonorgestrel (LNG) [19], [20]
Theo một tổng quan hệ thống của Shen J và cộng sự năm 2019 về Sự can thiệp cho
Tránh thai khẩn cấp bằng Levonorgestrel có hiệu quả cao hơn và gây ít tác dụng phụ hơn so với viên kết hợp Estrogen - Progestin Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mang thai sau khi sử dụng Levonorgestrel thấp hơn so với viên kết hợp Estradiol - Levonorgestrel (RR 0.57, HC 95% = 0.39 - 0.84), dựa trên tổng cộng 6 RCTs với 4.750 người tham gia, độ phân tầng heterogeneity I² = 23%, và mức độ chứng cứ cao.
- Nếu dùng trong vòng 5 ngày sau khi quan hệ, tỷ lệ thất bại dao động từ 0.2% đến 3% [5]
- Sử dụng càng sớm càng tốt, tốt nhất là trong 72 giờ sau khi quan hệ không an toàn. o Ưu điểm:
- Tiện lợi, dễ sử dụng, không cần can thiệp thủ thuật
- Không gây ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng sinh sản về sau
- Phương pháp tránh thai an toàn, tác dụng phụ tồn tại trong thời gian ngắn. o Nhược điểm:
- Không phải là BPTTKC hiệu quả nhất
2.5 Chỉ định: Đối tượng cần tránh thai khẩn cấp (xem mục 1.4).
- Dị ứng với bất cứ thành phần nào của thuốc.
- Thận trọng với người có suy chức năng gan, thận.
Có thai hoặc nghi ngờ có thai.
Đang cho con bú trong vòng 6 tuần sau sinh
Lớn tuổi (≥ 35 tuổi) và hút thuốc lá thuờng xuyên ≥ 15 điếu/ngày
Có nhiều nguy cơ bị bệnh mạch vành (lớn tuổi, hút thuốc lá, đái tháo đường, tăng huyết áp…).
Sắp phẫu thuật phải nằm trên 1 tuần.
Đang bị ung thư vú.
Đái tháo đường có biến chứng (thận, thần kinh, võng mạc, mạch máu).
Đang bị lupus ban đỏ hệ thống và có kháng thể kháng phospholipid (hoặc không làm xét nghiệm).
Bệnh gan nặng, đặc biệt khi có suy giảm chức năng gan trầm trọng, bao gồm các tình trạng như viêm gan cấp đang tiến triển, xơ gan mất bù hoặc u gan, ngoại trừ những trường hợp u gan lành tính dạng nốt (benign focal nodular hyperplasia).
Người đã hoặc đang gặp các bệnh lý tim mạch và đông máu như bệnh mạch máu, thuyên tắc tĩnh mạch sâu, thuyên tắc phổi, bệnh lý đông máu, thiếu máu cơ tim, bệnh van tim phức tạp, tai biến mạch máu não hoặc có cơ địa huyết khối di truyền cần thận trọng, vì những tình trạng này có thể ảnh hưởng đến quá trình điều trị và sức khỏe chung của họ.
Đang bị ung thư vú.
- Gây rối loạn kinh nguyệt
- Ra huyết âm đạo bất thường lượng ít
- Đau vú, đau đầu, đau bụng và chóng mặt,
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VỀ VIÊN UỐNG TRÁNH THAI KHẨN CẤP
3.1 Thực trạng trên thế giới:
Hai thập kỷ trước, Tổ chức Y tế Thế giới ước tính hàng năm có 84 triệu ca mang thai ngoài ý muốn toàn cầu, trong đó hơn 6 triệu là lứa tuổi vị thành niên Trung bình mỗi năm xảy ra khoảng 46 triệu ca phá thai, trong đó hơn 20 triệu ca là phá thai không an toàn, tập trung chủ yếu tại các quốc gia đang phát triển Tình trạng phá thai toàn cầu hiện nay ở mức đáng báo động, đặc biệt trong nhóm vị thành niên và thanh niên (15-24 tuổi), chiếm đến 40% trong tổng số 20 triệu ca phá thai không an toàn hàng năm Hàng năm, khoảng 70 nghìn phụ nữ tử vong do phá thai không an toàn, cùng với hơn 5 triệu người phải đối mặt với các thương tích vĩnh viễn hoặc tạm thời liên quan đến phá thai không an toàn.
Tỷ lệ quan hệ tình dục ở người trẻ ngày càng gia tăng đang gây ra những hậu quả đáng lo ngại đối với sức khỏe sinh sản và quyền của trẻ em gái vị thành niên Trong khi các biện pháp tránh thai hiện đại như phương pháp tránh thai (BPTT) có hiệu quả cao, thì tỷ lệ sử dụng vẫn còn thấp, làm tăng nguy cơ các vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản Các nghiên cứu từ các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình cho thấy, việc nâng cao nhận thức về sức khỏe tình dục và quyền của trẻ em gái là cần thiết để cải thiện tình hình và giảm thiểu các hậu quả tiêu cực.
Theo các nghiên cứu, tỷ lệ quan hệ tình dục trước hôn nhân của phụ nữ từ 15 đến 19 tuổi trên thế giới dao động từ dưới 1% ở Nam Á đến 20% ở Châu Phi cận Sahara, đồng thời tại các khu vực châu Á, tỷ lệ này cũng khá thấp, chỉ dưới 1%, trong khi đó ở Mỹ Latinh và Caribe, tỷ lệ này lên tới 23% Năm 2016, khoảng 38 triệu phụ nữ vị thành niên trong độ tuổi 15–19 sống ở các khu vực đang phát triển có quan hệ tình dục nhưng không muốn có con trong hai năm tới, tuy nhiên chỉ 15 triệu người đã sử dụng các phương pháp tránh thai hiện đại, còn lại hơn 23 triệu người có nhu cầu tránh thai chưa được đáp ứng, làm tăng nguy cơ mang thai ngoài ý muốn Ngoài ra, kiến thức và thái độ của phụ nữ trong độ tuổi sinh sản về các biện pháp tránh thai còn hạn chế, điều này ảnh hưởng đến khả năng sử dụng các phương pháp tránh thai hiệu quả.
Nghiên cứu của MN và cộng sự cho thấy thanh thiếu niên từ các nước thu nhập thấp và trung bình có kiến thức về tránh thai và phá thai rất hạn chế, thiếu chính xác và không đầy đủ Nhiều báo cáo và nghiên cứu cũng chỉ ra rằng kiến thức, thái độ và thực hành liên quan đến các biện pháp tránh thai khẩn cấp nói chung, đặc biệt là sử dụng VUTTKC (Vật dụng tránh thai khẩn cấp) còn ở mức thấp.
3.2 Thực trạng tại việt nam:
Tình trạng phá thai tại Việt Nam đang diễn biến đáng báo động, với hơn 208.885 ca phá thai được báo cáo trong năm 2018, chủ yếu ở nhóm tuổi VTN - TN, đặc biệt là nhóm 15-24 tuổi, chiếm đến 34.4% trong lần mang thai đầu tiên Nguyên nhân chính dẫn đến việc phá thai là mang thai ngoài ý muốn, chiếm tới 62% theo khảo sát của Tổng cục Thống kê năm 2016, trong khi tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai (BPTT) còn hạn chế, đặc biệt trong nhóm tuổi 15-24, khi 64.9% phụ nữ 15-19 tuổi và 45.1% phụ nữ 20-24 không sử dụng bất kỳ BPTT nào Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, thiếu kiến thức, thái độ chưa tốt về các phương pháp tránh thai cùng với việc thiếu tiếp cận hoặc sử dụng BPTT hiện đại là nguyên nhân chính khiến tỷ lệ mang thai ngoài ý muốn và phá thai cao trong nhóm vị thành niên và thanh niên Các số liệu từ các nghiên cứu trước cho thấy, nhiều phụ nữ VTN - TN còn thiếu kiến thức, có thái độ chưa tích cực và thực hành chăm sóc SKSS kém, đồng thời tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai còn thấp, đặc biệt là trong các đối tượng chưa lập gia đình hoặc chưa có kiến thức đầy đủ về các phương pháp tránh thai hiện đại, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe sinh sản của nhóm tuổi này.
Hiện nay tại Việt Nam, tỷ lệ phá thai còn cao trong đối tượng VTN - TN, phản ánh rõ thực trạng sử dụng các biện pháp tránh thai còn hạn chế Đồng thời, kiến thức và thái độ của VTN - TN đối với các biện pháp tránh thai, đặc biệt là BPTTKC, vẫn còn nhiều hạn chế Ngoài ra, các nghiên cứu về vấn đề này còn thiếu và gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến việc xây dựng các chương trình giáo dục thực hành và kế hoạch hóa gia đình hiệu quả.
CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
4.1 Knowledge and attitudes of medical students about emergency contraception
Asut O, Vaizoglu S, Cali S Knowledge and attitudes of medical students about emergency contraception Cukurova Medical 2019;44(2):p 612-20.
- Đánh giá kiến thức, thực hành về Thuốc tránh thai khẩn cấp ở sinh viên ngành y tế năm thứ nhất ở Nicosia.
4.1.3 Đối tượng, số lượng nghiên cứu:
- Đối tượng: Sinh viên ngành y tế năm thứ nhất của Trường Y tế Nicosia.
- Số lượng: 467 trong đó 418 sinh viên đồng ý khảo sát.
- Nghiên cứu cắt ngang và định lượng.
- Khảo sát bằng bảng câu hỏi tự trả lời
4.1.5 Các nhóm biến số chính:
- Biến kinh tế xã hội: Tuổi, Giới, Tình trạng hôn nhân, Quốc tịch, vị trí chính của nơi cư trú cho đến khi 12 tuổi.
- Kiến thức về thuốc tránh thai khẩn cấp:
Kiến thức về tránh thai khẩn cấp (TTKC):
+ Định nghĩa TTKC: 2 giá trị: Đúng/ Sai
+ Mục đích của TTKC: 2 giá trị: Đúng/ Sai
+ Các phương pháp TTKC: 3 đáp án (Viên uống TTKC – dụng cụ tử cung – Thuốc tránh thai kết hợp)
+ Hoàn thiện kiến thức về các phương pháp: 2 giá trị: Hoàn thiện/ chưa hoàn thiện
Kiến thức về chỉ định của tránh thai khẩn cấp (TTKC)
Kiến thức về định nghĩa Viên uống tránh thai khẩn cấp: 4 mức độ (đúng – không đúng – không đủ - không có kiến thức)
Kiến thức về thời gian sử dụng hiệu quả nhất của tránh thai khẩn cấp: 4 mức độ (đúng – không đủ – không đúng - không có kiến thức)
Hoạt động tình dục là một phần quan trọng trong cuộc sống của nhiều người, đặc biệt là ở độ tuổi quan hệ lần đầu Việc lựa chọn phương pháp tránh thai phù hợp khi quan hệ lần đầu đóng vai trò thiết yếu để phòng ngừa thai ngoài ý muốn và các bệnh lây truyền qua đường tình dục Hiện nay, nhiều người trẻ bắt đầu sử dụng tránh thai khẩn cấp như một giải pháp tạm thời khi quên hoặc không sử dụng các phương pháp tránh thai chính, nhưng việc này cần được thực hiện đúng cách để đảm bảo an toàn sức khỏe Understanding and tư vấn đúng đắn về hành vi tình dục và các biện pháp tránh thai là yếu tố quan trọng giúp giảm thiểu các rủi ro liên quan đến sức khỏe sinh sản.
4.1.6 Kết quả chính - Kết luân của tác giả:
Tỉ lệ tham gia: 418/467 sinh viên năm thứ nhất độ tuổi trung bình 19 tuổi, chiếm tỉ lệ 89,5%, Trong đó Nam chiếm 49,8% (208 sinh viên) và Nữ chiếm 50.2% (210 sinh viên).
Kiến thức về định nghĩa Tránh thai khẩn cấp:
+ 57,6% sinh viên có kiến thức đúng về VUTTKC, 57,2% sinh viên có kiến thức về mục đích VUTTKC.
+ 56,6% sinh viên có kiến thức về Viên uống tránh thai khẩn cấp nhưng chỉ14,2% có kiến thức đúng, 16,6% còn thiếu, còn lại là kiến thức sai.
+ 33,9% sinh viên hiểu đúng về thời gian tác dụng của thuốc tránh thai khẩn cấp, 13.2% sinh viên hiểu thiếu, 45.2% sinh viên hiểu sai còn lại là không biết gì.
Sinh viên đã quan hệ tình dục có kiến thức đúng về viên uống tránh thai khẩn cấp chiếm tỷ lệ khá cao, đạt 25,0%, so với 10,2% ở sinh viên chưa quan hệ tình dục Tuy nhiên, tỷ lệ sinh viên đã quan hệ tình dục có kiến thức sai về viên uống tránh thai khẩn cấp vẫn lên đến 75%, trong khi đó, gần 90% sinh viên chưa quan hệ tình dục (89,8%) còn thiếu kiến thức chính xác về vấn đề này.
20% sinh viên nam từng cho bạn tình sử dụng viên uống tránh thai khẩn cấp và 36,8% sinh viên nữ từng sử dụng viên uống tránh thai khẩn cấp.
Tỉ lệ kiến thức về viên uống tránh thai khẩn cấp có sự khác biệt giữa các châu lục: Châu Âu 15.6%, Châu Phi 17.5% và Châu Á 6.8%.
- Kết luận của tác giả:
Sinh viên ngành y tế còn thiếu kiến thức và hành vi đúng đắn về VUTTKC, mặc dù phần lớn đã biết đến viên uống tránh thai khẩn cấp Tuy nhiên, trình độ hiểu biết còn hạn chế do phần lớn sinh viên mới bắt đầu học tập năm thứ nhất, chưa có nhiều trải nghiệm thực tế về chủ đề này.
- Mẫu khảo sát nhỏ, tập trung: 418 sinh viên năm 1 của trường ĐH Nicosia
Sự phân hóa quốc tịch trong khảo sát không cao, chủ yếu tập trung tại Thổ Nhĩ Kỳ và Nigeria Do đó, tỷ lệ sinh viên được phân loại theo quốc tịch có thể không chính xác, ảnh hưởng đến độ chính xác của dữ liệu nghiên cứu Việc này cần được xem xét kỹ lưỡng để đảm bảo tính khả thi và độ tin cậy của các phân tích liên quan đến đặc điểm quốc tịch của sinh viên.
Trong khảo sát, tỉ lệ nhận biết về viên uống tránh thai nói chung còn thấp, chỉ có 56.6% người tham gia biết đến loại hình này, trong đó chỉ 14.2% hiểu đúng về công dụng của viên uống tránh thai Mặc dù vậy, mức độ nhận biết này vẫn thấp hơn so với khảo sát tại Mullana, Ấn Độ năm 2013, nơi mà tất cả các đối tượng tham gia đều biết đến viên uống tránh thai khẩn cấp Điều này cho thấy cần tăng cường công tác tuyên truyền và nâng cao kiến thức về các phương pháp tránh thai, đặc biệt là viên uống tránh thai và viên uống tránh thai khẩn cấp.
Khảo sát được thực hiện tại tầng sinh viên năm nhất, do đó kiến thức còn hạn chế và không thể phản ánh đầy đủ toàn diện về y khoa của trường cũng như tình hình nhận thức của sinh viên y học trên toàn thế giới.
4.2 A survey of knowledge, attitudes and practice of emergency contraception among university students in Cameroon
Kongnyuy EJ, Ngassa P, Fomulu N, Wiysonge CS, Kouam L, Doh AS A survey of knowledge, attitudes and practice of emergency contraception among university students in Cameroon BMC Emergency Medicine 2007;7(1):7.
- Đánh giá mức độ hiểu biết, thái độ và thực hành về viên uống tránh thai khẩn cấp trên đối tượng sinh viên ĐH ở Cameroon.
4.2.3 Đối tượng, số lượng nghiên cứu:
- Đối tượng: Sinh viên trường ĐH Buea (05 khoa: Quản lí và khoa học xã hội, Khoa học sức khỏe, Khoa học, Nghệ thuật và Giáo dục).
Chỉ có 700 sinh viên đã có mặt trong khuôn viên trường đại học tại thời điểm thực hiện nghiên cứu mới đủ điều kiện tham gia khảo sát Điều này đảm bảo dữ liệu chính xác, phản ánh đúng số lượng sinh viên hiện diện thực tế tại trường Số lượng sinh viên tham gia khảo sát giới hạn bởi số sinh viên có mặt trong khuôn viên, giúp nghiên cứu đánh giá đúng các yếu tố liên quan đến trải nghiệm học tập trong môi trường đại học.
- Khảo sát bằng bảng câu hỏi tự trả lời.
4.2.5 Các nhóm biến số chính:
- Biến kinh tế - xã hội: Tuổi, Giới, Tình trạng hôn nhân, Tôn giáo, Trình độ trong trường (sinh viên năm thứ mấy).
- Kiến thức về viên uống tránh thai khẩn cấp:
Loại nào là viên uống tránh thai khẩn cấp?: Định danh 4 giá trị
Thời gian tối đa để phụ nữ sử dụng viên uống tránh thai khẩn cấp sau khi quan hệ tình dục?: Định lượng rời rạc 4 giá trị.
Viên uống tránh thai khẩn cấp là một phương pháp phá thai sớm?: 2 giá trị (Đúng/Sai).
Khi được sử dụng sớm, viên uống tránh thai khẩn cấp có thể ngăn ngừa các bệnh lây truyền qua đường tình dục?: 2 giá trị (Đúng/ Sai).
- Mức độ kiến thức về viên uống tránh thai khẩn cấp: 2 giá trị (Đủ/ Chưa đủ)
- Thái độ của sinh viên: Định danh 04 giá trị (Thang đo Likert 4 điểm: Rất đồng ý – Đồng ý – Không đồng ý – Rất không đồng ý).
Tôi sẽ sử dụng viên uống tránh thai khẩn cấp nếu có quan hệ tình dục không an toàn trong suốt chu kỳ không an toàn.
Viên uống tránh thai khẩn cấp an toàn cho người sử dụng.
Tôi muốn giới thiệu viên uống tránh thai khẩn cấp cho bạn bè.
Cung cấp thuốc ngừa thai khẩn cấp sẽ làm nản lòng việc nhất quán sử dụng bao cao su.
- Đánh giá thái độ: 2 giá trị (Tích cực/ Tiêu cực)
- Kinh nghiệm sử dụng trước đây của sinh viên về viên uống tránh thai khẩn cấp và các nguy cơ tình dục liên quan.
4.2.6 Kết quả chính – Kết luận của tác giả:
Tỉ lệ tham gia: 94.9% (664/700) Trong đó, tỉ lệ nam (57.2%) (Nam:Nữ 380:284) và tỉ lệ độc thân là 95.8%.
+ 418 (63%) sinh viên từng nghe về VUTTKC Tỉ lệ sv nam từng nghe về VUTTKC là 63.2% (240 sv) và đối với nữ là 62.7% (178 sv).
+ Nguồn kiến thức: 291 (69.6%) từ bạn bè và thành viên trong gia đình, 83 (19.9%) từ nhân viên y tế và 44 (10.5%) từ phương tiện thông tin nghe nhìn (TV, radio, internet và sách).
+ Nhìn chung, mức độ kiến thức của sinh viên về VUTTKC là thấp: chỉ có 32 sv(4.8%) có thể chọn đúng levonorgestrel (Norlevo®) là VUTTKC, có tới 130 sv
(19.6%) nghĩ Estrone/Progesterone (Synergon®) là 1 loại VUTTKC; có 38 sv (5.7%) biết thời gian sử dụng tối đa của VUTTKC sau quan hệ tình dục không an toàn.
+ Yếu tố ảnh hưởng có ý nghĩa tới mức độ kiến thức của sv là giới nữ (p