1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kiến thức, thái độ, hành vi về chế độ ăn và tập luyện ở người chế độ và tập luyện ở người bệnh đái tháo đường type 2

87 37 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 4,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

[2] Theo tác giả Tạ Văn Bình, ngày nay việc phòng ngừa bệnh ĐTĐ được tập trung trên việc phòng ngừa sự phát triển những biến chứng của bệnh và một trong những điều kiện quan trọng để tiế

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TE

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ Hồ CHÍ MINH

! TBƯ Ờ NG GH ĐtẼU DƯỠNG ị

ở NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2

CHUYÊN NGÀNH: DIEU DƯỠNG

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là nghiên cứu của riêng tôi Các sô" liệu và kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bô" trong bâ"t kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Tác giá

Bùi Thị Khánh Thuận

Trang 3

MỤC TIÊU NGHIÊN c ứ u 4

1 Mục tiêu tổng q u á t 4

2 Mục tiêu cụ th ể 4

CHUƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

1.1 Học thuyết điều dưỡng và ứng dụng 5

1.2 Bệnh học đái tháo đường 10

1.3 Chế độ ăn (CĐA) và tập luyện (T L ) 16

1.4 Tổng quan tài liệ u 19

CHƯƠNG 2: Đ ố i TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u 30

2.1 Thiết k ế nghiên c ứ u 30

2.2 Đốì tượng nghiên cứu 30

2.3 Cỡ mẫu nghiên c ứ u 31

2.4 Thu thập dữ liệ u 32

2.5 Định nghĩa biến số trong nghiên cứu 34

2.6 Xử lý số liệ u 37

2.7 Y đức 37

CHƯƠNG 3: KET q u ả 38

3.1 Đặc điểm ch u n g 38

3.2 Thông kê về kiến thức 49

3.3 Thống kê về thái đ ộ 54

Trang 4

3.5 Xét mối liên quan giữa kiến thức, thái độ với hành v i 58

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 59

4.1 Thông tin chung về người bệnh 59

4.2 Kiến thức của người bệnh về chế độ ăn và tập luyện 63

4.3 Thái độ của người bệnh về chế độ ăn và tập luyện 66

4.4 Hành vi của người bệnh về chế độ ăn và tập luyện 66

4.5 Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ với hành v i 67

4.6 Học thuyết thích nghi của Roy và kết quả nghiên cứ u 68

HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN c ứ u 70

KẾT L U Ậ N 71

KIẾN N G H Ị 73

Trang 5

ĐTĐ Đái tháo đường

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Phân bô" theo điều tr ị 38

Bảng 3.2: Sự phân bố theo giới tín h 38

Bảng 3.4: Sự phân bô" theo nghề nghiệp 40

Bảng 3.5: Trình độ giáo d ụ c 40

Bảng 3.6: Sự phân bố theo nơi cư trú 41

Bảng 3.7: Bệnh kèm theo 42

Bảng 3.8: Sô"năm mắc bệnh 43

Bảng 3.9: Sự phát hiện Đ T Đ 44

Bảng 3.10: Người thân trong gia đình mắc b ệ n h 45

Bảng 3.11: Người nâu ăn chính trong gia đ ìn h 46

Bảng 3.12: Nguồn thông tin chính người bệnh nhận được 47

Bảng 3.13: Kiến thức về chê" độ ă n 49

Bảng 3.14: Kiến thức về việc tập lu y ệ n 51

Bảng 3.15: Phân loại mức độ kiến thức 53

Bảng 3.16: Thái độ của người bệnh 54

Bảng 3.17: Đánh giá về hành v i 56

Trang 7

Biểu đồ 3.1: Sự phân bố theo g iớ i 38

Biểu đồ 3.2: Sự phân bố theo tu ổ i 39

Biểu đồ 3.3: Sự phân bố theo trình độ giáo dục 41

Biểu đồ 3.4: Phân bô" theo nơi cư tr ú 42

Biểu đồ 3.5: Sô" năm mắc bệnh 43

Biểu đồ 3.6: Sự phát hiện Đ T Đ 44

Biểu đồ 3.7: Tỷ lệ có người thân mắc cùng b ệ n h 45

Biểu đồ 3.8: Phân bô" theo mối quan hệ gia đình 46

Biểu đồ 3.9: Nguồn thông tin chính NB nhận được 47

Biểu đồ 3.10: Người bệnh nhận được hướng dẫn 48

Biểu đồ 3.11: Kiến thức của NB về chế độ ă n 50

Biểu đồ 3.12: Kiến thức của NB về tập luyện 52

Biểu đồ 3.13: Mức độ kiến thức của NB về CĐA và T L 53

Biếu đồ 3.14: Tầm quan trọng của chê" độ ăn và tập lu y ệ n 55

Sơ đồ 1 : Sự ứng dụng học thuyết vào nghiên cứu 9

Trang 8

MỞ ĐẦU

Đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh rôl loạn chuyển hoá do nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên, đặc trưng của bệnh là tăng đường máu mãn tính cùng với rối loạn chuyển hoá carbohydrat, chất béo, protein do thiếu insulin có kèm theo hoặc không kèm theo sự kháng insulin với các mức độ khác nhau [1]

Bệnh ĐTĐ đang trở thành căn bệnh phổ biến và đang gia tăng nhanh trên giới ở cả những nước phát triển và những nước đang phát triển [22], Trên thế giới, sự gia tăng của bệnh được ước tính khoảng 46%, từ 55 triệu người bị bệnh ĐTĐ vào năm 2003 lên tới 83 triệu người năm 2030 [45]

Tại Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu của tác giả Tạ Văn Bình tỷ

lệ mắc bệnh ĐTĐ ở các thành phô" lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nấng

và thành phô" Hồ Chí Minh vào năm 2001 là 5,4% [3], Năm 2006 tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường ở Hà Nội (trong độ tuổi 20-70) là 5,7%, khu vực nội thành chiếm 8,1% và khu vực ngoại thành chiếm 3,5% [4]

Với xu hướng phát triển về mọi mặt của thê" giới hiện nay thì Tổ chức y tế th ế giới (WHO) đã dự đoán ĐTĐ sẽ là một trong những vấn đề sức khoẻ chính trong thê" kỷ 21 và ước tính có 80% tất cả các ca bệnh mới

sẽ là ở những nước đang phát triển [46]

Bệnh gây nên những biến chứng nặng nề ảnh hưởng tới cuộc sống không chỉ của NB mà cả những thành viên trong gia đình Ngoài ra, bệnh

Trang 9

còn tác động lên nền kinh tế của mỗi quốc gia với những chi phí rất lớn [45]

Theo tác giả Nguyễn Huy Cường, nguyên nhân chính dẫn tới sự bùng nổ của bệnh ĐTĐ là do cách sông thời đại ngày nay: đó là cuộc

sông ít hoạt động theo phong cách công sở và chế độ ăn uống khôns phù

hợp [9] Tác giả Wild (2004) thì cho rằng số người mắc bệnh ĐTĐ đang gia tăng như hiện nay là do sự phát triển của dân số, sự tăng tuổi thọ, sự

đô thị hoá, sự gia tăng tỷ lệ béo phì và cuộc sống không hoạt độns thể chất [46]

Bệnh ĐTĐ ngày nay không còn là căn bệnh nguy hiểm chết người như quan niệm trước đây nữa mà nó thuộc loại bệnh có thể phòng ngừa

và kiểm soát được Việc điều trị cho NB ĐTĐ type 2 cần phối hợp các yếu tố: chế độ ăn uống hợp lý, tránh lối sống tĩnh tại bằng việc vận động

cơ bắp và dùng thuốc hạ đường huyết [9]

Phương pháp chữa bệnh ĐTĐ type 2 phụ thuộc vào tình trạng của từng NB và bao giờ cũng phải gắn liền với việc thay đổi chế độ ăn uống cho thích hợp, tăng cường hoạt động và giảm béo phì Nếu được chữa trị tốt và những người bệnh (NB) ĐTĐ chịu thay đổi chế độ ăn uống, hoạt động thích hợp thì họ có cơ hội sống thọ như những người khoẻ mạnh bình thường [9]

Từ năm 1921, các nhà khoa học đã chiết suất được insulin từ tuy của động vật và việc sử dụng insulin là liệu pháp cơ bản điều trị cho người bệnh ĐTĐ cho tới hiện nay Thêm nữa, ngày càng có nhiều thuốc

Trang 10

mới điều trị ĐTĐ có tác dụng kiểm soát đường huyết khá tốt được chỉ định và bán rộng rãi trên thị trường Tuy nhiên sô" NB mắc ĐTĐ vẫn gia tăng và tỷ lệ mắc biến chứng do bệnh ngày một nhiều [2]

Theo tác giả Tạ Văn Bình, ngày nay việc phòng ngừa bệnh ĐTĐ được tập trung trên việc phòng ngừa sự phát triển những biến chứng của bệnh và một trong những điều kiện quan trọng để tiến hành phòng chông bệnh ở cả ba cấp có hiệu quả là phải nâng cao trình độ hiểu biết về bệnh không chỉ có NB mà cả cộng đồng [2]

Hiện nay đề tài đánh giá kiến thức (KT), thái độ (TĐ), hành vi (HV) của NB ĐTĐ về chế độ ăn và tập luyện ở Việt Nam còn hạn chế, vì vậy người nghiên cứu đã thực hiện đề tài này với mục đích: Xác định mức

độ kiến thức, thái độ, hành vi về chế độ ăn và tập luyện ở NB ĐTĐ type

2 tại Bệnh viện Nhân dân 115 thành phố Hồ Chí Minh

Nghiên cứu này sẽ góp phần trong việc xây dựng và áp dụng những chương trình giáo dục phù hợp cho NB ĐTĐ type 2 nói riêng và cho cả cộng đồng nói chung Thêm nữa, kết quả nghiên cứu có thể làm nền tảng cho những nghiên cứu can thiệp về kiến thức, thái độ, hành vi trong tương

lai ở Việt Nam.

Trang 11

MỤC TIÊU NGHIÊN c ứ u

1 Mục tiêu tống quát

Xác định mức độ kiến thức, thái độ, hành vi về chế độ ăn và tập luyện đôi với NB ĐTĐ type 2 tại Bệnh viện Nhân dân 115 thành phô" Hồ Chí Minh

2 Mục tiêu cụ thể

2.1 Xác định mức độ kiến thức của người bệnh liên quan đến chế

độ ăn và tập luyện dành cho ĐTĐ type 2

2.2 Xác định thái độ của người bệnh về sự quan trọng của chế độ

ăn và tập luyện dành cho ĐTĐ type 2

2.3 Xác định những hành vi của người bệnh liên quan đến chế độ

ăn và tập luyện

2.4 Tìm mối liên quan giữa kiến thức và thái độ với hành vi về chế

độ ăn và tập luyện của NB ĐTĐ type 2

Trang 12

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Học thuyết điều dưỡng và ứng dụng [41], [42]

1.1.1 Giới thiệu học thuyết

Trên thực tế có rất nhiều học thuyết (HT) có thể được áp dụng để hướng dẫn nghiên cứu này và học thuyết thích nghi của Roy (HTR) là sự lựa chọn thích hợp nhất

HTR được bắt nguồn từ HT về tâm sinh lý của Helson với sự phát triển 3 khái niệm từ HT này, đó là khái niệm kích thích trọng tâm, kích thích theo bối cảnh và các kích thích còn lại khác

HTR cũng được phát triển thêm từ 4 mô hình thích nghi của chính tác giả từ những nghiên cứu, thực hành điều dưỡng, kinh nghiệm của chính bản thân tác giả, đồng nghiệp và từ học trò Bôn mô hình đó là mô hình sinh lý học, mô hình khái niệm bản thân, mô hình vai trò chức năng

và mô hình sự phụ thuộc lẫn nhau

1.1.2 N hững khái niệm chính được áp dụng trong nghiên cứu

Mức độ thích nghi: Mô hình HTR tập trung vào khái niệm thích

nghi của con người Roy đã định nghĩa mức độ thích nghi là sự thể hiện những hoàn cảnh của quá trình sông, được mô tả bởi 3 mức độ là hoà hợp,-

bù trừ và thoả hiệp

Con người: Theo Roy, con người là một hệ thống thích nghi và toàn

diện Con người có khả năng suy nghĩ, cảm xúc và có ý thức sâu sắc Vì thế mà con người có thể đưa ra những quyết định có ích để thay đổi và tác động trở lại môi trường

Trang 13

Môi trường: Là tất cả những tình trạng, trường hợp và những tác

động xung quanh mà tác động đến sự phát triển và những hành vi của cá nhân hoặc nhóm Theo Roy, môi trường có 3 thành phần là kích thích trọng tâm, kích thích hoàn cảnh và các kích thích còn lại khác

Kích thích trọng tâm: Là những kích thích bên trong hoặc những

kích thích bên ngoài nhiều nhất ngay tức thời tác động lên con người

Mô hình khái niệm bản thân: được coi là những đặc tính tâm lý và

tinh thần, được hình thành từ cả những sự nhận thức bên trong và từ những sự nhận thức khác, nó thay đổi theo thời gian và hướng dẫn những hành động của con người

Khái niệm về bản thân được bao gồm 2 thành phần đó là khái niệm bản thân về thể chất và bản thân về cá nhân, trong đó thì khái niệm về cá nhân kết hợp chặt chẽ đặc tính cá nhân, ý kiến cá nhân và tinh thần-đạo đức

Mô hình vai trò chức năng: là một trong hai mô hình xã hội, quan

tâm đến những vai trò của cá nhân trong xã hội, được bao gồm 3 vai trò

là vai trò chủ yếu, vai trò thứ yếu và vai trò thứ ba

Những vai trò này được thực hiện bởi cả hành vi cụ thể và những hành vi bằng biểu cảm Trong đó những hành vi cụ thể là một sự hoạt động thể chất của các cá nhân, điều này giúp cho các cá nhân đạt được sự làm chủ các vai trò của mình

Trang 14

1.1.3 S ự liên quan giữa các khái niệm trong học thuyết và đề tài

Theo Roy, con người và môi trường tác động qua lại với nhau; môi trường tác động tới con người bằng các kích thích (kích thích trọng tâm, hoàn cảnh và kích thích khác) và con người đáp ứng lại với các kích thích thông qua 4 mô hình thích nghi (mô hình thể chất, bản thân, sự phụ thuộc lẫn nhau và mô hình vai trò chức năng)

Những kích thích của môi trường có thể đe doạ hoặc có thể là cải thiện sự toàn vẹn của con người và con người khi đáp ứng với các kích thích của môi trường có thể là đáp ứng thích nghi cũng có thể là đáp ứng không thích nghi

Những đáp ứng thích nghi sẽ làm tăng sự hoà hợp của con người với môi trường, giúp con người đạt được những mục tiêu của sự thích nghi

đó là tồn tại, phát triển, tái sản xuất, làm chủ bản thân và tác động ngược trở lại môi trường

Những đáp ứng không thích nghi sẽ làm thất bại hoặc đe doạ những mục tiêu đạt được sự thích nghi của con người

Tác giả Roy đã định nghĩa chung về điều dưỡng là một nghề chăm sóc sức khoẻ, tập trung vào những quá trình của cuộc sống, nhấn mạnh sự cải thiện sức khoẻ cho các cá nhân, gia đình, tập thể và cho xã hội

Những hoạt động của điều dưỡng là đánh giá những hành vi của người bệnh, những kích thích của môi trường để đưa ra những quyết định, những biện pháp để quản lý những kích thích

Trang 15

Người nghiên cứu đã áp dụng những khái niệm từ HTR là môi trường, con người, kích thích trọng tâm, mô hình khái niệm bản thân và

mô hình vai trò chức năng để hướng dẫn cho nghiên cứu

Với nghiên cứu này thì kích thích trọng tâm có thể là các yếu tố tuổi, giới, nghề nghiệp, trình độ giáo dục, nơi sống, nguồn thông tin nhận được Kích thích trọng tâm cũng là kiến thức của NB về CĐA và TL

Khái niệm bản thân theo Roy là những ý kiến bản thân và trong nghiên cứu chính là kiến thức, thái độ của NB về CĐA và TL

Vai trò chức năng trong nghiên cứu này chính là hành vi của NB về CĐA và TL

Một sơ đồ đã được thiết k ế thể hiện sự liên quan giữa những khái niệm trong học thuyết, sự liên quan giữa những khái niệm trong nghiên cứu và sự liên quan giữa HT và nghiên cứu

Tóm tắt sự ứng dụng học thuyết vào nghiên cứu:

Trang 16

Học thuyết thích nghi của Roy

Sơ đồ 1: Sự ứng dụng học thuyết vào nghiên cứu

Trang 17

1.2.Bệnh học đái tháo đường [1], [2], [9], [18]

1.2.1 Định nghĩa

Đái tháo đường (ĐTĐ) là một trong những bệnh chuyển hoá hay gặp Bao gồm rối loạn chuyển hoá chất glucid, lipid, protein, kèm theo một tình trạng thiếu insulin dẫn đến hậu quả đường huyết tăng cao và đường niệu dương tính

Sự tăng đường huyết mãn tính thường được kết hợp vối tình trạng bệnh mãn tính như sự suy giảm hoạt động của các cơ quan, đặc biệt là tim, thận, mắt, thần kinh và mạch máu

1.2.2 Các yếu tố nguy cơ gây bệnh ĐTĐ

- Béo phì, cao huyết áp, sơ vữa động mạch

- Di truyền, nhiễm virut, hoặc mắc một sô" bệnh tự miễn

- Thói quen ít vận động, ăn nhiều thức ăn nhiều năng lượng, sử dụng nhiều chất kích thích như rượu, thuốc lá

- Phụ nữ sinh con trên 4 kg

- Sử dụng các thuốc: corticoid, thuốc lợi tiểu nhóm thiazid, thuốc ngừa thai

1.2.3 Phân loại đái tháo đường

* Đái tháo đường type 1

Được gây ra bởi tuyến tuy không tiết hoặc tiết rất ít insulin do tế bào sản suất ra insulin bị phá huỷ Đối với loại này NB phụ thuộc hoàn toàn vào insulin, nghĩa là chỉ có tiêm insulin đều đặn mới cho phép duy trì các hoạt động bình thường của cơ thể

Trang 18

* Đái tháo đường type 2

Bệnh thường gặp ở người trưởng thành (trên 40 tuổi) Tuy nhiên trong một thập kỷ gần đây bệnh ĐTĐ type 2 càng có xu hướng trẻ hoá

V Nguyên nhân gây bệnh là do tuyến tuy tiết thiếu hoặc tiết insulin kém chất lượng gặp điều kiện bên ngoài là lối sông tĩnh tại ít vận động,

ăn nhiều dẫn đến thừa cân phối hợp làm bệnh phát sinh

ĐTĐ type 2 thường gặp ở những người tuổi già, béo phì, có người thân trong gia đình mắc bệnh, tiền sử ĐTĐ thai nghén, thiếu hụt trong chuyển hoá đường và có liên quan tới chủng tộc

Bệnh thường diễn biến âm thầm, phát hiện được một cách ngẫu nhiên hoặc khi đã nặng có biến chứng

1.2.4 Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ [1], [18]

- Có các triệu chứng của ĐTĐ như ăn nhiều, uống nhiều, tiểu nhiều, giảm cân nhiều và đường máu bất kỳ (thử ở mọi thời gian trong ngày, ít liên quan tới tình trạng ăn uống của NB) > 200 mg/L (11,1 mmol/L)

Trang 19

- Đường huyết lúc đói (thử sau khi ăn 8h hoặc lâu hơn) là > 126mg/dL (7mmol/l).

- Đường huyết > 200 mg/L tại thời điểm sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp Glucose

1.2.5 Biến chứng của bệnh đái tháo đường [1], [2], [9], Ị 18]

* Biến chứng cấp tính

- Hạ đường huyết:

Hạ đường huyết ĐTĐ mô tả mức độ đường trong máu của NB ĐTĐ thấp, đây là biến chứng hay gặp nhất làm cho NB phải điều trị tại các phòng cấp cứu và nhập viện

Biến chứng xảy ra khi NB sử dụng thuốc để hạ đường huyết quá liều hoặc do người bệnh thực hiện chế độ ăn quá khắt khe làm cho đường huyết hạ thấp hơn nhu cầu của cơ thể cho các hoạt động

Hạ đường huyết có thể gặp ở mọi đối tượng NB nhưng thường hay

xảy ra trên những NB mắc ĐTĐ type 1- những người phải sử dụng insulin lâu dài để duy trì các hoạt động của cơ thể

Dấu hiệu của hạ đường huyết bao gồm: tâm tính nóng nảy hoặc buồn bã, da xám, mất phương hướng, lú lẫn, toát mồ hôi, cuối cùng NB sẽ rơi vào tình trạng hôn mê

- Nhiễm toan ceton và hôn mê nhiễm toan ceton:

Đây là biến chứng tiềm ẩn đe doạ cuộc sông của NB và thường hay gặp ở những NB ĐTĐ type 1, nhưng cũng có thể gặp ở ĐTĐ type 2

Trang 20

Biến chứng xảy ra do tình trạng thiếu insulin một cách trầm trọng Hậu quả của việc thiếu insulin này làm cho cơ thể sử dụng các acid béo cho các hoạt động và thể ceton được thành lập và tích luỹ trong cơ thể

Một số dấu hiệu tiền triệu có thể gặp như là nôn và buồn nôn, khát

là dấu hiệu dễ thấy, tiểu nhiều, có khi đau bụng dữ dội Diễn biến bệnh ngày càng trầm trọng và nếu không xử trí kịp thời NB sẽ rơi vào hôn mê

- Tăng đường huyết và hôn mê do tăng áp lực thẩm thâu:

Hôn mê do tăng áp lực thẩm thấu là một trong những biến chứng của ĐTĐ với tỷ lệ tử vong cao, thường gặp ở NB ĐTĐ type 2

Biến chứng trầm trọng hơn khi kết hợp với tình trạng bệnh nhiễm khuẩn, nhồi máu cơ tim, đột quỵ và những trình trạng bệnh cấp tính khác

Sự thiếu hụt trầm trọng insulin đã gây nên biến chứng với lượng đường trong máu tăng cao hơn 600mg/dl và áp lực thẩm thâu tăng hơn 350 mOsm Kết quả là NB tiểu nhiều làm giảm đáng kể lượng dịch trong cơ thể gây nên tình trạng cô đặc hemoglobin và lượng đường trong máu tăng cao Thể ceton không gặp trong biến chứng này do sự có mặt của insulin

Biến chứng thường gặp ở những NB ĐTĐ type 2, NB sử dụng thuốc corticoid, dùng insulin không đủ liều, ăn quá nhiều thức ăn ngọt, tình trạng không hoạt động thể chất, hoặc uống quá nhiều rượu với những triệu chứng báo trước như tiểu nhiều hơn, khát nhiều hơn, ngứa da không

rõ nguyên nhân, phản xạ chậm chạp và ngủ nhiều

Trang 21

* Biến chứng mãn tính

Bệnh đái tháo đường có thể gây nên những biến chứng mãn tính trên mạch máu, thần kinh ngoại biên, tim mạch, thận, mắt và tình trạng nhiễm trùng

- Bệnh lý về mắt:

Bệnh lý về võng mạc là sự tổn thương võng mạc do những biến chứng của ĐTĐ gây nên mà hậu quả cuối cùng là NB sẽ bị mù

Biến chứng này thường không có những triệu chứng sớm, tuy nhiên

NB với bệnh lý về võng mạc thường cảm thấy nhìn mờ Trong một vài trường hợp những mạch máu phía trong mắt bị vỡ làm cho NB có thể không nhìn thây rõ bất cứ vật gì

- Bệnh lý về thận:

Bệnh lý thận trên những NB ĐTĐ được gây ra bởi bệnh lý của các mao mạch tiểu cầu thận do mắc ĐTĐ kéo dài Biến chứng có thể xảy ra trên cả NB type 1 và NB type 2

Suy thận là do tình trạng bệnh lý của các tiểu cầu thận đã làm cho suy giảm chức năng lọc và gây ra những rối loạn chức năng khác của thận, gây nên tình trạng tăng huyết áp và sự ứ dịch trong cơ thể

Bệnh lý thận do ĐTĐ trong giai đoạn sớm của bệnh thì không có dâu hiệu và triệu chứng Những phát triển trong giai đoạn cuối của bệnh

có thể là do sự bài tiết số lượng lớn protein trong nước tiểu hoặc là do bị suy thận

Trang 22

có thể thây protein niệu và đường trong nước tiểu.

- Biến chứng trên tim mạch:

Người bệnh ĐTĐ type 1 và type 2 có nguy cơ mắc bệnh về tim mạch như là bệnh lý động mạch ngoại biên, suy tim ứ huyết, bệnh lý mạch vành và nhồi máu cơ tim do những biến chứng từ mạch máu

- Biến chứng trên thần kinh:

Những bệnh lý thần kinh do ĐTĐ là hậu quả của sự tổn thương mạch máu nhỏ cung cấp máu cho các dây thần kinh Biến chứng bao gồm tổn thương dây thần kinh ngoại biên, viêm đơn dây thần kinh, viêm đa dây thần kinh và tổn thương dây thần kinh thực vật

Triệu chứng thay đổi tuỳ thuộc vào dây thần kinh tác động bị tổn thương Một số triệu chứng thường gặp là tê và có cảm giác kim châm ở chi, giảm cảm giác, tiêu chảy, suy giảm chức năng sinh dục, tiểu tiện không tự chủ, thị lực giảm, hoa mắt, chóng mặt, yếu cơ, nuốt khó

- Nhiễm trùng:

Người bệnh ĐTĐ có nguy cơ bị nhiễm trùng cao vì khả năng thực bào giảm do thiếu insulin dẫn tới sức đề kháng của cơ thể giảm, kết hợp với đường máu cao và suy giảm tuần hoàn

Trang 23

Nhiễm trùng thường gặp là viêm phổi, lao phổi, nhiễm trùng đường tiểu, nhiễm trùng bàng quang, nhiễm trùng da Người bệnh ĐTĐ còn có nguy cơ nhiễm trùng vết thương sau phẫu thuật và đặc biệt là nhiễm trùng bàn chân Nhiễm trùng chân được gây ra do sự kết hợp những biến chứng của ĐTĐ như biến chứng mạch máu, biến chứng thần kinh, biến chứng nhiễm trùng và sinh lý của bàn chân.

1.3 C hế độ ăn (CĐA) và tập luyện (TL) [2], [9]

1.3.1 C h ế độ ăn

C hế độ ăn trong ĐTĐ là một biện pháp điều trị Một chế độ ăn thích hợp phải đáp ứng được các yêu cầu sau:

- Đủ calo cho các hoạt động sông bình thường

- Tỷ lệ thành phần các chất đạm, mỡ, đường cân đối

- Đủ vitamin và các chất khoáng

- Chia bữa ăn phù hợp với thay đổi sinh lý

- Phôi hợp với thuốc điều trị nếu có

Việc ăn theo một chế độ ăn thích hợp đối với NB ĐTĐ là rất quan trọng vì:

- Không tạo ra sự dư thừa năng lượng Thừa năng lượng là nguyên nhân gây béo phì cũng là nguyên nhân gây ra các bệnh khác như rối loạn chuyển hoá lipid làm bệnh ĐTĐ càng nặng thêm

- Giúp duy trì đường máu phù hợp, không gây thừa đường, không gây nhiễm độc đường hoặc không gây hạ đường máu

Trang 24

Theo tác giả Tạ văn Bình, không có một chế độ ăn chung cho tất cả

Một s ố lời khuyên về CĐA dành cho NB ĐTĐ:

- Giữ các lịch bữa ăn đúng giờ, chỉ ăn thịt tối đa (trong khuôn khổ cho phép) trong 2 bữa, các bữa còn lại ăn rau và các sản phẩm ngũ cốc

- Loại bỏ thức ăn nhiều mỡ

- Trong bữa ăn nên ăn nhiều thức ăn ít năng lượng Thí dụ: rau, nấm khô, dưa chuột

- Không được bỏ bữa ngay cả khi không muốn ăn

- Làm mọi việc để gây cảm giác ngon miệng khi ăn

- Ăn chậm, nhai kỹ

- C hế biến thức ăn dạng luộc và nấu là chính, không rán, chiên với mỡ

- Hạn chế ăn mặn

- Tránh các đồ uống có rượu.

Trang 25

- Nên chia ra các bữa ăn chính và các bữa ăn phụ (lý tưởng là 5-6 bữa/ngày) Nên có bữa ăn phụ trước khi đi ngủ.

- Cải thiện tình trạng hoạt động của các cơ quan, nâng cao tình trạng sức khoẻ của toàn cơ thể Luyện tập đúng và khoa học làm cho tinh thần hoạt bát, nhanh nhẹn sảng khoái, làm tăng sức đề kháng của cơ thể với các stress

- Tăng tiêu thụ năng lượng, làm giảm nguy cơ béo phì

- Lao động giúp NB không bị mặc cảm là người không có ích cho xã hội; đồng thời cũng là biện pháp chính đáng để tăng nguồn tài chính phục vụ cho công tác điều trị, cải thiện đời sông cho bản thân, tích luỹ cần thiết cho tương lai

- Luyện tập từ từ và thích hợp

- Phải được phép của thầy thuốc về mức độ và thời gian tập luyện

+ Mức độ tập luyện tuỳ theo tuổi, tình trạng bệnh lý của từng NB

Đi bộ với tốc độ 4-5km/giờ có thể thích hợp với đa số mọi người

Trang 26

+ Việc tập luyện thường xuyên cần được coi là thói quen hàng ngày Thời gian tập mỗi ngày ít nhất là 30 phút/ngày và có thể tập luyện bất cứ lúc nào trong ngày đều tốt

- Phải phòng hạ đường máu khi luyện tập do khi vận động thể lực nhiều như chơi thể thao hoặc lao động nặng sẽ làm tiêu thụ nhiều glucose dự trữ trong gan, cơ Và khi lượng dự trữ này cạn kiệt NB có nguy cơ hạ đường huyết

- Không tham gia luyện tập khi đang mắc các bệnh câp tính, lượng đường máu quá cao, ceton máu tăng cao, ceton niệu dương tính nặng

1.4 Tổng quan tài liệu

Đái tháo đường (ĐTĐ) là một vấn đề phổ biến ở những nước phát triển và đang trở nên phổ biến ở những nước đang phát triển [46] Tỷ lệ mắc bệnh ngày càng gia tăng trên khắp thế giới và là gánh nặng lớn cho mỗi cá nhân NB, hệ thông chăm sóc sức khoẻ và cho cả xã hội ở tất cả các quốc gia trên thế giới [45]

Theo WHO, ĐTĐ đặc biệt là ĐTĐ type 2 đang là một trong những mối quan tâm sức khoẻ chính và tổ chức này đã dự đoán rằng sẽ có một

sự gia tăng báo động số người mắc ĐTĐ type 2 trong dân số, cả ở những nước phát triển và những nước đang phát triển trong hai thập kỷ tới [45]

Vào năm 1985 có khoảng 30 triệu người mắc ĐTĐ ừên thế giới và con số này đã tăng lên tới khoảng 230 triệu người vào năm 2006 chiếm khoảng 6% dân số của toàn thế giới, trong đó thì ĐTĐ type 2 chiếm 90- 95% các ca bệnh [45]

Trang 27

Nước Mỹ là một trong những quốc gia có tỷ lệ lưu hành bệnh cao trên thế giới Theo thống kê gần đây của Hội ĐTĐ Mỹ, có 23,6 triệu người dân Mỹ mắc ĐTĐ, ước tính khoảng 8% dân số Tỷ lệ mắc ĐTĐ tại

Mỹ tăng 13,5% từ 2005 đến 2007 [21]

Kết quả nghiên cứu tại Canada vào năm 2007 báo cáo rằng đã có

sự gia tăng khoảng 27% tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ tại quốc gia này, từ 6,9% vào năm 2000 lên đến 8,8% vào năm 2005 [36]

Tác giả Chittleborough đã tiến hành nghiên cứu tại miền Nam của Austrial đã báo cáo tỷ lệ mắc bệnh đang gia tăng mạnh ở quốc gia này từ 3,5% vào năm 1991 lên tới 6,7% vào năm 2003 [27]

Việt Nam là một quốc gia đang phát triển với những sự biến đổi sâu sắc trong xã hội trong thập kỷ qua cũng đã có sự gia tăng đáng kể số

NB mắc ĐTĐ Năm 1994, tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ tại Hà Nội khoảng 1,9% [14]; Tại H uế là 0,96% vào năm 1996 [10]; Tại thành phố Hố Chí Minh

là 2,52% vào năm 1994 [17]

Kết quả nghiên cứu được thực hiện tại thành phố Hồ Chí Minh báo cáo năm 2004 đã chỉ ra rằng tỷ lệ mắc bệnh ở nội thành là 6,9% và ở các vùng ngoại thành là 4,8% [15]

Nghiên cứu khác báo cáo năm 2006 đã cho kết quả tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ ở nội thành Hà Nội là 8,1% và ở ngoại thành là 3,5% [4]

Theo kết quả báo cáo của tác giả Tạ Văn Bình năm 2006, tỷ lệ mắc bệnh ở các thành phô" lớn gồm Hà nội, Hải phòng, Đà nấng, thành

20

Trang 28

phô" Hồ Chí Minh là 5,4% và trên toàn quốc tỷ lệ mắc bệnh ở thành phố’

là 4,4% trong đó ĐTĐ type 2 chiếm khoảng 90% [3]

Tổ chức thế giới kết luận bệnh ĐTĐ là một trong những nguyên nhân gây tử vong sớm cho con người và trên thế giới cứ 10 giây lại có một NB tử vong do bệnh ĐTĐ và do những biến chứng của bệnh Với tình trạng bệnh gia tăng như hiện nay thì tỷ lệ người tử vong do bệnh được dự đoán là sẽ tăng lên đến 25% trong thập kỷ tới [45]

Tại Mỹ, vào năm 2006 ĐTĐ là một trong bảy nguyên nhân gây tử

vong hàng đầu và theo thông kê thì nguy cơ tử vong ở NB ĐTĐ cao hơn

gấp khoảng 2 lần người không bị bệnh ĐTĐ ở cùng độ tuổi [30]

Theo WHO, những biến chứng của bệnh ĐTĐ đang là vân đề nan giải của mỗi quốc gia Căn bệnh này đã gây nên gần một triệu ca cắt cụt chi mỗi năm, phần lớn những trường hợp đục thuỷ tinh thể và có ít nhất 5% trường hợp bị mù là do bệnh võng mạc tiểu đường Ngoài ra, ĐTĐ còn là một trong những nguyên nhân gây suy thận lớn nhất ở những quốc gia phát triển và chịu trách nhiệm cho những cho phí khổng lồ cho việc chăm sóc và điều trị bệnh [45]

Báo cáo tại Mỹ năm 2007 đã cho thấy cứ 14 người dân thì có 1 người bị bệnh ĐTĐ và có khoảng 40% dân số Mỹ có nguy cơ mắc bệnh này hàng năm ĐTĐ gây nên hơn 200 trường hợp tử vong, 80 trường hợp cắt cụt chi, 44 ca bệnh suy thận giai đoạn cuối và 24 ca bệnh bị mù hàng năm [18]

Trang 29

Năm 2004, theo kết quả của một nghiên cứu đã cho thấy NB ĐTĐ

có nguy cơ bị đột quỵ cao hơn từ 2 đến 4 lần so với người không bị ĐTĐ

và đã có 16% NB ĐTĐ trong độ tuổi lớn hơn 65 tử vong được ghi nhận là

có liên quan với đột quỵ [30]

Theo thống kê của Hội ĐTĐ Mỹ, khoảng 75% NB ĐTĐ có chỉ số huyết áp cao hơn mức 130/80 mmHg, hoặc đang dùng thuốc cao huyết áp vào năm 2004 [30]

Tại Châu Phi, sự gia tăng biến chứng song song với sự gia tăng tỷ

lệ mắc ĐTĐ Những biến chứng hay gặp gồm có nhiễm trùng, các bệnh

về mắt, lao phổi và đột quỵ Có đến 30% trường hợp tử vong tại các quốc gia Châu Phi liên quan tới ĐTĐ, đó là do biến chứng cấp tính của bệnh, nhiễm trùng và đột quỵ [44]

Cùng với sự bùng phát của căn bệnh này trên khắp thế giới thì chi phí cho cho những việc liên quan tới bệnh cũng gia tăng đáng kể Theo WHO, thế giới đã tiêu tốn khoảng 215-375 tỷ đô la cho việc chăm sóc ĐTĐ và biến chứng của bệnh [45]

Theo thống kê tại Mỹ vào năm 2007, chi phí trung bình cho những

NB ĐTĐ cao hơn khoảng 2,3 lần so với nếu không có căn bệnh này và ước tính tổng chi phí cả trực tiếp và gián tiếp cho ĐTĐ là 174 tỷ đô la [30]

Tại Việt Nam, khoảng 95% NB ĐTĐ có biến chứng trong khi tỷ lệ này ở các nước lân cận là 78% Nghiên cứu tại thành phố Hồ Chí Minh

vào năm 1994-1995 đã cho thấy trong số 175 NB ĐTĐ, 41% có cao huyết

Trang 30

Trung bình tổng chi phí cho một đợt điều trị nội trú xấp xỉ 1,5 triệu

đồng và chi phí này có thể tăng lên theo số lượng biến chứng, mức độ

nặng của bệnh [12]

Tác giả Michael đã chỉ ra rằng điểm cốt lõi, cơ bản của việc điều trị ĐTĐ là phải quan tâm đến lối sống của NB Một lối sống không khoẻ mạnh theo tác gia như là thiếu hụt hoạt động thể chất, ăn uống dư thừa năng lượng là những yếu tô" khởi phát và yếu tô" làm gia tăng bệnh ĐTĐ type 2 [39]

Theo tác giả Tạ Văn Bình, bệnh ĐTĐ được điều trị không chỉ đơn thuần bằng thuốc như các bệnh khác mà CĐA và TL là một phần quan trọng của công tác điều trị bệnh [2]

Việc áp dụng một chế độ ăn thích hợp đối với NB ĐTĐ sẽ giúp cơ thể NB không tạo ra sự dư thừa năng lượng- nguyên nhân gây nên béo phì và các bệnh chuyển hoá khác, đây là những yếu tố làm cho bệnh phát triển nặng hơn Hơn nữa, có ăn đúng chế độ mới duy trì lượng đường trong máu phù hợp, không gây thừa đường và cũng không gây hạ đường

Trang 31

huyết do thực hiện chế độ ăn thiếu năng lượng đồng thời còn giúp NB tránh được những biến chứng cấp tính của bệnh như hạ đường huyết và biến chứng do đường huyết tăng quá cao [9]

Một nghiên cứu được thực hiện trên đốì tượng là những người phụ

nữ bị ĐTĐ tại Anh đã cho thây có 61% NB mắc ĐTĐ type 2 là liên quan mật thiết với thừa cân Nghiên cứu đã kết luận thừa cân và béo phì là những yếu tố dự đoán quan trọng của ĐTĐ; sự thiếu hụt hoạt động thể chất và một chế độ ăn uống không hợp lý là những yếu tố nguy cơ làm gia tăng có ý nghĩa bệnh ĐTĐ Tác giả của nghiên cứu cũng kết luận rằng có thể phòng và kiểm soát ĐTĐ type 2 bằng việc thực hiện liệu pháp giảm cân, tập thể dục thường xuyên và thay đổi chế độ ăn [31]

Tác giả Jenkins và kết quả nghiên cứu cho thấy việc áp dụng một chế độ ăn kiêng gồm ngũ cốc và rau quả sẽ đem lại những thuận lợi trong quá trình chuyển hoá của cơ thể cho việc phòng, điều trị bệnh ĐTĐ và các biến chứng của bệnh [35]

Khi nghiên cứu về những ảnh hưởng của chế độ ăn với hàm lượng Protein cao và Carbohydrat thấp trong việc kiểm soát đường máu trên những NB ĐTĐ type 2, kết quả đã cho thấy sau 5 tuần thực hiện chế độ

ăn theo yêu cầu nghiên cứu thì đường huyết lúc đói trung bình đã giảm từ

10 ± 0,6mmol/l xuống còn 8,8 ± 0,6mmol/l Tác giả đã kết luận việc áp dụng chế độ ăn với Carbohydrat thấp thì không chỉ làm giảm sự tập trung đường máu sau ăn mà còn làm giảm sự tập trung đường máu qua đêm

Trang 32

Quan điểm điều trị hiện đại ngày nay về điều trị ĐTĐ là đưa đường máu càng về gần giá trị bình thường càng tốt và phòng tránh, chữa trị được biến chứng Một CĐA hợp lý, vận động cơ bắp thích hợp để tránh lối sống tĩnh tại và dùng thuốc hạ đường máu khi cần thiết là những biện pháp để đạt được những mục tiêu của điều trị ĐTĐ [4]

Tập luyện là rất tốt cho tất cả mọi người đặc biệt cho NB ĐTĐ [9] Trong một báo cáo của Hiệp hội ĐTĐ Mỹ năm 2005, tập luyện thường xuyên là một trong những thành phần quan trọng của việc quản lý cân nặng toàn diện cho NB ĐTĐ [20], Thêm nữa việc tập luyện này còn cải thiện sự nhạy cảm của insulin, giúp kiểm soát đường máu và chọn lọc những yếu tố nguy cơ về bệnh tim mạch [32]

Lợi ích của hoạt động thể chất cũng đã được ghi nhận đó là làm tăng tiêu thụ đường dễ dàng, làm giảm đường máu do đó có thể làm giảm liều insulin hoặc các thuốc hạ đường máu khác; tiêu thụ năng lượng, dẫn tới làm giảm tình trạng béo phì và thừa cân, điều này rất quan trọng đối với những NB ĐTĐ [2]

Trang 33

Hoạt động thể chất, tập luyện thường xuyên còn làm cho con người

hoạt bát, vui vẻ, tăng sức đề kháng với các stress

Tác giả Boule cùng các cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu thử

nghiệm lâm sàng có nhóm chứng trên những NB ĐTĐ type 2 với mục

đích xác định những ảnh hưởng của việc tập luyện trong kiểm soát đường

huyết và khối cân nặng cơ thể Kết quả nghiên cứu đã cho thấy giá trị

H bA lc sau khi can thiệp đã giảm ở nhóm người bệnh tập thể dục và đồng

thời có một sự giảm khác biệt về chỉ số cân nặng của cơ thể giữa nhóm

tập và nhóm không tập [25]

Theo tác giả Collberg, ĐTĐ type 2 có thể được ngăn ngừa và kiểm

soát với việc gia tăng tập luyện Kết luận này được tác giả đưa ra khi thực

hiện nghiên cứu sự tác động của tập luyện trên hoạt động của insulin ở

những NB ĐTĐ type 2 [29]

Kết quả nghiên cứu của tác giả Baum năm 2007 về sự tác động của

tập luyện trong việc kiểm soát đường máu trên 40 NB ĐTĐ type 2 đã

cho thấy có một sự giảm nhẹ đường máu khi đói ở những nhóm tập thể

dục sau 12 tuần và H bA lc cũng có khuynh hướng giảm [26]

Một nghiên cứu khác được thực hiện tại V iệt nam của tác giả Tạ

Văn Bình về ảnh hưởng của thói quen ăn uống và tình trạng hoạt động

thể lực đến rối loạn chuyển hoá đường đã chỉ ra rằng hoạt động thể lực và

mắc ĐTĐ có liên quan chặt chẽ với nhau Những người đi bộ trên 30

phúưngày tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ chiếm 22,2%; người đi bộ dưới

30phúƯngày chiếm 49,2% [6]

Trang 34

Cũng giống như các nước phát triển khác trong khu vực, do trình độ hiểu biết còn hạn chế, NB thường được phát hiện ở giai đoạn muộn và thường đến bệnh viện với những biến chứng nặng nề [8]

Giáo dục cho NB ĐTĐ là một việc làm cần thiết Tại Ấn độ, đã có

sự gia tăng những bằng chứng gợi ý rằng giáo dục cho NB mắc những bệnh mãn tính nhưĐTĐ là một việc làm quan trọng để quản lý căn bệnh

n à y [38]

Tác giả Samira đã tiến hành nghiên cứu về tác động của giáo dục sau 3 tháng và sau 6 tháng trong việc kiểm soát đường máu trên 130 NB ĐTĐ type 2 đã kết luận rằng hàm lượng HbAlc, huyết áp của NB và lượng Cholesterol đã được cải thiện [43]

Nghiên cứu can thiệp được thực hiện tại Ấn độ trên 26 NB ĐTĐ type 2 về sự tác động của việc thay đổi và giáo dục về chế độ ăn trong quản lý bệnh ĐTĐ type 2 đã cho thấy mức đường máu trung bình đã giảm

ở nhóm nhận được giáo dục và áp dụng thay đổi chế độ ăn sau 2, 4 và 6 tháng Hơn nữa, lượng cholesterol trung bình ở nhóm can thiệp đã giảm

có ỷ nghĩa so với nhóm chứng sau 4 tháng Nghiên cứu này đã kết luận rằng sự gia tăng kiến thức NB ĐTĐ do các giai đoạn của giáo dục và sự cải thiện thực hành trong ăn uống có thể là những yếu tố mang lại sự thay đổi theo mong muốn những chỉ số liên quan tới ĐTĐ [37], Kết luận này cũng tương tự như kết quả trong nghiên cứu của Mazzuca, mức đường máu lúc đói đã giảm ở những nhóm nhận được can thiệp và cân nặng cơ thể, huyết áp của NB cũng đã có giảm [38]

Trang 35

Nghiên cứu về hiệu quả giáo dục tự chăm sóc trên 140 NB ĐTĐ tại Bệnh viện Nội tiết Hà nội, kết quả cho thấy sau khi được giáo dục, kiến thức tự chăm sóc của NB được cải thiện nhiều NB biết cách lựa chọn CĐA và chế độ TL Tác giả đã kết luận việc giáo dục gia đình và NB ĐTĐ cách tự chăm sóc, theo dõi đã góp phần nâng cao chất lượng quản lý bệnh [7]

Naeenem đánh giá kiến thức (KT), thái độ (TĐ), hành vi (HV) về bệnh ĐTĐ trên 100 NB ĐTĐ đến khám tại Phòng Chăm sóc ĐTĐ ở Pakistan đã chỉ ra rằng chỉ có 13% NB có kiến thức, thái độ và nhữns thói quen sức khoẻ tốt và 10,7% NB đã kiểm soát đường máu tốt Trong khi

có đến 67% NB đã không tập luyện dưới bất kỳ hình thức nào

Tác giả kết luận sự hiểu sai về CĐA, Insulin,bệnh ĐTĐ là thường gặp và cần có những thông tin sức khoẻ nhiều hơn đến NB và thông qua những chương trình phổ biến kiến thức rộng để thay đổi thái độ cộng đồng về bệnh ĐTĐ [40]

Nghiên cứu mô tả cắt ngang kiến thức, thái độ, hành vi của 182 NB ĐTĐ type 2 về ĐTĐ tại Nepal năm 2007 đã kết luận KT, TĐ, HV của

NB còn thấp và cần có những biện pháp can thiệp về giáo dục để nâng cao KT, TĐ, HV cho NB ĐTĐ [47]

Malaysia là một trong 10 quốc gia Đông Nam Á đang có sự gia

tăng về tỷ lệ mắc ĐTĐ Một nghiên cứu KT, TĐ, HV về bệnh ĐTĐ được

thực hiện trên 100 NB ĐTĐ đang điều trị ngoại trú tại Phòng khám lâm sàng về ĐTĐ tại Manjung đã cho thấy có 87% NB trả lời đúng hơn 50%

Trang 36

các câu hỏi về kiến thức nhưng chỉ có 56% NB đã thực hành cả 4 lĩnh vực tập thể dục thường xuyên, áp dụng CĐA cho NB ĐTĐ, theo dõi đường máu và theo dõi cân nặng cơ thể Tác giả đã kết luận cần có biện pháp để nâng cao thực hành của NB ĐTĐ tại quốc gia này [19]

Trang 37

Thiết k ế nghiên cứu mô tả cắt ngang đã được sử dụng trong đề tài.

2.2 Đôi tượng nghiên cứu

2.2.1.Dân s ố mục tiêu

Tất cả những NB được chẩn đoán là ĐTĐ type 2 điều trị nội trú hoặc ngoại trú tại Bệnh viện Nhân dân 115 - TPHCM

Một mẫu tiện ích bao gồm tất cả những NB được chẩn đoán ĐTĐ

j

type 2 đang điều trị nội trú hoặc ngoại trú tại khoa Nội tiết- Bệnh viện Nhân dân 115 - TPHCM từ tháng 3/2009 đến tháng 4/2009

2.2.3.Tiêu chuẩn chọn mẫu

Người bệnh được chẩn đoán là ĐTĐ type 2

Điều trị nội trú hoặc ngoại trú tại khoa nội tiết từ 3/2009 đến 4/2009

2.2.4 Tiêu chuẩn loại trừ

Người bệnh dưới 18 tuổi.

Không trả lời được phỏng vấn do hôn mê, lú lẫn, không tỉnh táo.

NB không đồng ý để trả lời phỏng vấn

NB đã tham gia phỏng vân

Trang 38

2.3 Cỡ mẫu nghiên cứu

Cỡ mẫu trong nghiên cứu được tính theo công thức:

n = z 2 ( 1 - 0 / 2 )

p x ( l -p)

d2

Trong đó:

n: Cỡ mẫu ước lượng

Z: Trị sô"phân phôi chuẩn, z=l,96

a: Xác xuất sai lầm loại 1, a =0,05

P: Tỷ lệ bệnh lựa chọn, p = 50%

d: Sai sô" ước lượng, d= 0,1

Thay các giá trị vào công thức:

Trang 39

2.4 Thu thập dữ liệu

2.4.1 Công cụ thu thập:

Kiến thức (KT), thái độ (TĐ) và hành vi (HV) của NB về chế độ ăn

và tập luyện được đo lường bằng bộ câu hỏi

Bộ câu hỏi không sử dụng từ ngữ địa phương, không dùng từ ngữ chuyên môn và được đảm bảo chắc chắn rằng người bệnh có thể đọc, hiểu nội dung và trả lời các câu hỏi

Câu hỏi về CĐA và TL được thiết k ế dựa trên những khuyến cáo của Hiệp hội ĐTĐ Mỹ, những khuyến cáo của các chuyên gia tại Việt Nam về ĐTĐ; dựa trên những BCH của những nghiên cứu đã thực hiện tại V iệt Nam trong cùng lĩnh vực nghiên cứu

Bộ câu hỏi cũng đã được các chuyên gia trong và ngoài nước xem xét và chỉnh sửa

Sau khi được thiết kế, người nghiên cứu đã tiến hành nghiên cứu thử trên 20 NB ĐTĐ type 2 tại khoa Nội tiết-Bệnh viện Nhân dân 115 để kiểm tra độ tin cậy và được chỉnh sửa hoàn chỉnh trước khi sử dụng để phỏng vấn người bệnh

Bộ câu hỏi gồm 4 phần:

Phần 1: Gồm 14 câu hỏi về đặc tính dân số mẫu như tuổi, giới,

nghề nghiệp, trình độ học vân, nơi thường trú, năm mắc bệnh, sự phát hiện bệnh, người nâu ăn chính và nguồn thông tin chính nhận được

Phẩn 2: Gồm 15 câu hỏi được sử dụng để đánh giá kiến thức của

NB về chế độ ăn và tập luyện Trong phần này, người bệnh sẽ trả lời theo

Trang 40

hình thức Đúng/Sai hoặc chọn ý đúng nhất cho các câu hỏi Trả lời đúng một câu hỏi được tính 1 điểm và được điểm 0 nếu câu trả lời của người bệnh là không biết hoặc NB trả lời sai

Phẩn 3: Gồm 5 câu hỏi được sử dụng để đánh giá thái dộ của người

bệnh về CĐA và TL Mỗi câu hỏi có 4 đáp án và các câu hỏi được thiết

k ế theo thang điểm Likert-Scale NB chọn một đáp án cho mỗi câu hỏi

Phần 4: Gồm 15 câu hỏi được thiết k ế để đánh giá neười bệnh về

những hành vi liên quan tới CĐA và TL ở phần này, câu hỏi được thiết

k ế theo hình thức trả lời Có/Không và thang điểm Likert-Scale cho mỗi câu hỏi NB chỉ được lựa chọn một đáp áp cho một câu hỏi

Việc thu thập dữ liệu cho nghiên cứu được tiến hành như sau:

- Người nghiên cứu hoàn chỉnh BCH

- Gặp Trưởng khoa và Điều dưỡng trưởng - Khoa Nội tiết - Bệnh viện Nhân dân 115 để trình bày mục tiêu của đề tài và những công việc mà người nghiên cứu muôn thực hiện tại khoa và đã nhận được sự chấp thuận

- Liên hệ với khoa để nhận được danh sách những NB mới nhập viện và đáp ứng đủ tiêu chuẩn của nghiên cứu

- Trước khi tiến hành phỏng vân, người nghiên cứu gặp NB, giới thiệu bản thân và trình bày lý do của việc gặp gỡ này

Ngày đăng: 04/03/2021, 09:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Thanh Bình (1991). Đái tháo đường. học. Tr. 95-155. Nhà xuất bản Đà nấng Sách, tạp chí
Tiêu đề: học
Tác giả: Diệp Thanh Bình
Nhà XB: Nhàxuất bản Đà nấng
Năm: 1991
9. Nguyễn Huy Cường (2008). Đại cương về bệnh đái tháo đường.đái tháo đường- những quan điểm hiện (4, tr. 5). Nhà xuẩt bản Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: đái tháo đường- những quan điểm hiện
Tác giả: Nguyễn Huy Cường
Năm: 2008
14. Phan Sĩ Quốc (1994). Blood glucose distribution and prevalence of diabetes in Hanoi. American jounal of epidemiology, 139 (7), tr.145 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 139 (7)
Tác giả: Phan Sĩ Quốc
Năm: 1994
18. Abrahamson, M. J., & Aronson, M. (2007). Controlling Blood Glucose and Obesity. ACP Diabetes Care Guide. (First edition, pp 36-72). Diabetes Initiative Sách, tạp chí
Tiêu đề: ACP Diabetes Care Guide
Tác giả: Abrahamson, M. J., & Aronson, M
Năm: 2007
20. American Diabetes Association. (2005). W eight M anagem ent Lifestyle Modification in the Prevention and M anagem ent of type II Diabetes: Rationale and Strategies. Clinical Diabetes, 23 (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clinical Diabetes, 23
Tác giả: American Diabetes Association
Năm: 2005
22. Bazzano, L. A., Serdula, M„ & Liu, s . (2005). Prevention of Type II D iabetes by Diet and Lifestyle Modification. American College o f Nutrition, 24 (5), pp 310-319 Sách, tạp chí
Tiêu đề: American College o fNutrition, 24
Tác giả: Bazzano, L. A., Serdula, M„ & Liu, s
Năm: 2005
24. Barnard, N. (2007). The impact of a low-fat vegan diet on people with type 2 diabetes. Diabetes Voice. 52 (2). pp 12-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diabetes Voice
Tác giả: Barnard, N
Năm: 2007
26. Baum, K., Votteeler, T., & Schiab, J. (2007). Efficiency of vibration exercise for glycemic control in type 2 diabetes patient.International journal o f medical science. 4(3). pp 159-163 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International journal o f medical science
Tác giả: Baum, K., Votteeler, T., & Schiab, J
Năm: 2007
31. Frank, B. H, et al. (2001). Diet, lifestyle, and risk of type 2 diabetes mellitus in Women. The new England journal o f medicine, 345 (11).pp 790-797 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The new England journal o f medicine
Tác giả: Frank, B. H, et al
Năm: 2001
32. Fowler, M. J. (2007). Diabetes Treatment, Part 1: Diet and Exercise.Clinical Diabetes, 25 (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clinical Diabetes, 25
Tác giả: Fowler, M. J
Năm: 2007
33. Gannon, M, & Nuttall F. Q. (2004). Effects of a high-protein, low- carbohydrate diet on blood glucose control in people with type 2 diabetes. Diabetes, 53. pp 2375-2382 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diabetes
Tác giả: Gannon, M, & Nuttall F. Q
Năm: 2004
35. Jenkins, D. J, et al. (2003). Type 2 diabetes and the vegetarian diet.American society and clinical nutrition. 78. pp 610-616 Sách, tạp chí
Tiêu đề: American society and clinical nutrition
Tác giả: Jenkins, D. J, et al
Năm: 2003
39. Michael, M.F (2007). Diabetes treatment, part 1: Exercise and Diet.Clinical diabetes. 25 (3), pp 105 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clinical diabetes
Tác giả: Michael, M.F
Năm: 2007
41. Phillips, K. D (2006). Roy’ adaptation model in nursing practice.Nursing theory: Utilization & Application. (Third edition, pp 307).Mosby Elsevier Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nursing theory: Utilization & Application
Tác giả: Phillips, K. D
Năm: 2006
42. Philips, K. D (2006). Adaptation Model. Nursing theorists and work. (Sixth edition, pp 355). Mosby Elsevier Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nursing theorists andwork
Tác giả: Philips, K. D
Năm: 2006
43. Samira, H., Husref, T., & Muharem, Z. (2007). Impact of education on metabolic control in type 2 diabetes in family practice.Medicinski arhiv. 61(4). pp 236-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Medicinski arhiv
Tác giả: Samira, H., Husref, T., & Muharem, Z
Năm: 2007
46. Wild, S„ Roglic, G., Green, A., Sicree, R., & King, H. (2004). Global of Diabetes Estimates for the year 2000 and projects for 2030.Diabetes Care, 27 (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diabetes Care, 27
Tác giả: Wild, S„ Roglic, G., Green, A., Sicree, R., & King, H
Năm: 2004
21. American Diabetes Association (2008). Diabetes Statistics. R eưieved January 28, 2009 from: http://www.diabetes.org/diabetes-statistics Link
30. D iabetes Home (2007). National diabetes statistics, 2007. Retrieved May 16, 2009 from http://diabetes.niddk.nih.gov Link
34. Janice, R. H (2005). Diet and Diabetes. Retrieved September 14, 2008 from: http://osufacts.okstate.edu Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w