1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kiến thức, thái độ, hành vi về sức khỏe sinh sản của phụ nữ vùng ven biển nghiên cứu trường hợp tại hai xã thuộc huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định

115 443 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với huyện Nghĩa Hưng, theo báo cáo tổng kết năm 2015, công tác Dân KHHGĐ của huyện đặc biệt là ở các xã ven biển vẫn còn tồn tại nhiều mặt hạn chế như: kết quả thực hiện gói dịch vụ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỒ THỊ LÀNH

KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, HÀNH VI

VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA PHỤ NỮ VÙNG VEN BIỂN

(Nghiên cứu trường hợp tại hai xã thuộc huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định)

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

GS.TS Nguyễn Hữu Minh

HÀ NỘI, năm 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

- Trước hết, Tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy cô Học viện Khoa học xã hội, đặc biệt là những thầy, cô đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn cho tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu tại trường

Tôi xin được cảm ơn UBND tỉnh Nam Định, Sở Y tế tỉnh, Chi cục Dân KHHGĐ, Trung tâm Dân số-KHHGĐ huyện Nghĩa Hưng đã tạo mọi điều kiện để tôi có thể theo học lớp Cao học trong suốt thời gian qua

số-Xin cảm ơn Trung tâm Dân số-KHHGĐ huyện, Ban Dân số-KHHGĐ, Trạm y tế xã Nam Điền và thị trấn Liễu Đề đã tạo điều kiện cho tôi điều tra, khảo sát để có dữ liệu viết luận văn

Cảm ơn gia đình, bạn bè, những người đã giúp đỡ và luôn bên cạnh tôi suốt thời gian qua để tôi hoàn thành tốt luận văn này

Đặc biệt, tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Thầy - Giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Hữu Minh đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Mặc dù tôi đã cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả năng lực và sự nhiệt tình của mình, song chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự đóng góp quý báu của Quý Thầy cô để luận văn của tôi hoàn thiện hơn

Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn cho tất cả

Học viên thực hiện

Đỗ Thị Lành

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi

Những kết quả và các số liệu trong luận văn chưa được ai công bố dưới bất kì hình thức nào Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng khoa học về sự cam đoan này./

Hà Nội, ngày 28 tháng 02 năm 2017

Tác giả

Đỗ Thị Lành

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 23

1.1 Cơ sở lý luận 23

1.2 Khái quát về đặc điểm địa lý, kinh tế - xã hội tại địa bàn nghiên cứu 29

1.3 Thực trạng SKSS [23] 30

1.4 Một số đặc điểm về mẫu tại địa bàn nghiên cứu 31

CHƯƠNG 2 : TÌM HIỂU KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, HÀNH VI VỀ CÁC BIỆN PHÁP TRÁNH THAI HIỆN ĐẠI VÀ BỆNH PHỤ KHOA 36

2.1 Kiến thức về các biện pháp tránh thai hiện đại và bệnh phụ khoa 36

2 2 Thái độ đối với các biện pháp tránh thai hiện đại và bệnh phụ khoa 44

2.3 Hành vi áp dụng các biện pháp tránh thai hiện đại và phòng tránh bệnh phụ khoa 47

CHƯƠNG 3 : CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, HÀNH VI VỀ SKSS CỦA PHỤ NỮ VEN BIỂN 53

3.1 Các yếu tố thuộc về tôn giáo, phong tục tập quán về sinh sản 53

3.2 Môi trường sống 57

3.3 Tiếp cận dịch vụ y tế 60

3.4 Các yếu tố về đặc điểm cá nhân người phụ nữ: lứa tuổi và học vấn 68

PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73

3.1 Kết luận 73

3.2 Một số kiến nghị 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Thực trạng Dân số - SKSS của địa bàn nghiên cứu 30

Bảng 1.2 Đặc điểm nhân khẩu học của mẫu nghiên cứu 31

Bảng 2.1 Kiến thức về các biện pháp tránh thai hiện đại 36

Bảng 2.3 Nguồn biết BPTT 40

Bảng 2.4 Hiểu biết của phụ nữ về Bệnh phụ khoa 41

Bảng 2.5 Nguyên nhân gây BPK 43

Bảng 2.6 Vấn đề ưu tiên trong cuộc sống (%) 44

Bảng 2.7 Mức độ sử dụng BPTT của những người đang sử dụng 48

Bảng 2.8 Quyền quyết định trong sinh sản 50

Bảng 3.1 Hiểu biết về BPTT theo tôn giáo (%) 53

Bảng 3.2 BPTT đang sử dụng theo tôn giáo (%) 54

Bảng 3.3 Tuổi kết hôn và tuổi có con lần đầu 56

Bảng 3.4 Tương quan giữa nghề nghiệp và BPK (%) 58

Bảng 3.5 Đánh giá chất lượng nguồn nước (%) 59

Bảng 3.6 Nguồn nước sử dụng để tắm và BPK mắc phải (%) 60

Bảng 3.7 Lựa chọn cơ sở y tế để khám bệnh phụ khoa 61

Bảng 3.8 Thuận lợi khi tiếp cận bệnh viện nhà nước 62

Bảng 3.9 Thuận lợi khi tiếp cận trạm y tế 63

Bảng 3.10 Khó khăn khi tiếp cận bệnh viện nhà nước 63

Bảng 3.11 Khó khăn khi tiếp cận trạm y tế 64

Bảng 3.12 Tiếp cận cơ sở y tế với việc biết về các BPTT 65

Bảng 3.13 Đánh giá về hiệu quả truyền thông và cung cấp các BPTT, khám chữa BPK 67

Bảng 3.14 Hiểu biết về BPK theo tuổi và trình độ học vấn (%) 68

Bảng 3.15 Quan niệm về con cái với việc áp dụng BPTT (%) 70

Trang 7

KHHGĐ: Kế hoạch hóa gia đình

LTQĐTD: Lây truyền qua đường tình dục

SKSS: Sức khỏe sinh sản

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sức khỏe là vốn quý giá nhất của con người Muốn có sự hài hòa giữa nhịp độ tăng dân số và phát triển kinh tế thì chúng ta cần phải có một dân số ổn định, mỗi người, mỗi gia đình đều có sức khỏe tốt, đặc biệt là sức khỏe sinh sản Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra quan điểm cho rằng “Đầu tư cho sức khỏe nói chung và cho sức khỏe sinh sản cũng là đầu tư cho phát triển” [3]

Mặc dù cả nam và nữ cùng tham gia vào các hoạt động sinh sản; song việc mang thai, sinh đẻ, nuôi con bằng sữa mẹ vẫn là đặc quyền của phụ nữ Do vậy, đối với phụ nữ, chăm sóc sức khỏe sinh sản là rất quan trọng

Trên thế giới, vấn đề sức khỏe sinh sản đã và đang được các nước hết sức quan tâm Các nghiên cứu cho thấy, hàng năm trên thế giới ước có tới 600.000 phụ nữ chết liên quan đến sinh sản, và trong số đó, 90% là ở các nước đang phát triển 120 triệu phụ nữ trên thế giới không muốn mang thai nhưng không biết dùng các biện pháp tránh thai; 70 triệu phụ nữ phá thai/năm, trong đó có 20 triệu ca phá thai được thực hiện trong điều kiện không an toàn và chiếm 10% tổng số tử vong hàng năm cùng với hàng triệu người bị tàn phế Mỗi năm trên thế giới có đến 15 triệu trẻ em gái vị thành niên (15-19 tuổi) đã mang thai; trên 300 triệu trường hợp mắc các bệnh nhiễm trùng qua đường tình dục, trong đó có đến trên 40 triệu người nhiễm HIV, đối tượng chủ yếu lại trong độ tuổi lao động (20 - 40 tuổi) dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng [24]

Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn coi công tác dân số là một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển toàn diện của đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế - xã hội hàng đầu, là một yếu tố cơ bản góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình, cả cộng đồng và toàn xã hội Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, với những cố gắng vượt bậc của Bộ Y tế, Tổng cục Dân số-KHHGĐ, với sự ủng hộ giúp đỡ của các cơ quan, tổ chức quốc tế, sự tham gia của các địa phương, đơn vị, sự đồng tình của nhân dân, công tác Dân số - KHHGĐ

Trang 9

nói chung và sự chăm lo về sức khỏe sinh sản trong những năm qua đã đạt được những thành tựu đáng kể

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, đặc biệt là do điều kiện kinh tế - xã hội còn hạn chế, tình hình sức khỏe ở nước ta còn tồn tại nhiều vấn đề, có những vấn đề rất gay gắt Tại Việt Nam vẫn còn khoảng 30.000 trẻ dưới 5 tuổi, 22.000 trẻ dưới 1 tuổi

và 17.000 trẻ sơ sinh tử vong hàng năm So với các nước trong khu vực, tỷ suất tử vong trẻ em ở nước ta còn cao hơn so với một số nước như Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Singapore…[32]

Tỷ suất tử vong mẹ ở khu vực nông thôn cao gấp ba lần khu vực thành thị, tương tự tỷ suất tử vong trẻ em ở khu vực nông thôn cao gấp 2 lần so với thành thị Bên cạnh đó, mỗi năm Việt Nam có khoảng 800 bà mẹ chết do các nguyên nhân liên quan đến thai sản

Các chỉ số về phòng ngừa và điều trị vô sinh, chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên, giảm phá thai và phá thai an toàn, phòng chống nhiễm khuẩn đường sinh sản, chăm sóc SKSS cho nhóm đặc thù như dân tộc thiểu số, người khuyết tật, người có HIV, người di cư và một số dân tộc có nguy cơ suy thoái… còn thiếu số liệu đánh giá và chưa được đầu tư thỏa đáng

Hơn nữa, do nguồn kinh phí hoạt động “eo hẹp”, mạng lưới cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS còn nhiều hạn chế cả về nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị và năng lực cung cấp dịch vụ, đặc biệt là ở tuyến huyện và tuyến xã

Tăng cường chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ và trẻ em cả nước nói chung, miền núi, hải đảo, vùng sâu vùng xa nói riêng đang là một vấn đề ưu tiên trong chiến lược chăm sóc sức khỏe cộng đồng Những nỗ lực trong việc triển khai các chiến lược quốc gia cũng như các chương trình y tế đã đem lại những cơ hội khả quan cho việc chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ Tuy nhiên, trong thực tế cơ hội được chăm sóc sức khỏe không diễn ra đồng đều giữa các vùng: miền xuôi và miền núi, nông thôn và thành thị, vùng sâu vùng xa và nơi trung tâm

Năm 2010 dân số vùng ven biển khoảng 27 triệu người với 18 triệu lao động

Dự báo, năm 2020, dân số vùng ven biển khoảng 30 triệu người với 19 triệu lao

Trang 10

động Đây là lực lượng rất quan trọng đóng góp cho sự nghiệp phát triển kinh tế biển đất nước, bảo đảm an ninh, quốc phòng và thực hiện chủ trương dân sự hóa trên các vùng biển, đảo của Tổ quốc Khoảng 20 triệu người dân ven biển và trên các hải đảo có sinh kế trực tiếp hay gián tiếp phụ thuộc vào nguồn lợi từ biển Tuy nhiên, trình độ dân trí ở nhiều nơi còn thấp, cuộc sống của số đông cư dân, nhất là vùng bãi ngang ven biển còn rất khó khăn và chịu nhiều rủi ro, đặc biệt vẫn còn khoảng 157 xã bãi ngang ven biển đang trong tình trạng nghèo khó [11] Một bất cập nữa đó là tỷ suất chết mẹ, tỷ lệ mang thai ngoài ý muốn, tỷ lệ mắc các bệnh viêm nhiễm đường sinh sản, bệnh lây truyền qua đường tình dục của phụ nữ vùng ven biển còn cao Số trẻ sinh ra bị dị tật, dị dạng và thiểu năng trí tuệ cũng ở mức đáng lo ngại Sở dĩ có hiện trạng đó là do đa số các phụ nữ chuẩn bị kết hôn hoặc trước khi sinh phải sống trong môi trường biển, ngập mặn chưa được tư vấn, khám

để ngăn ngừa những yếu tố nguy cơ cao ảnh hưởng trực tiếp đến sự mang thai và chất lượng bào thai Trong khi đó, cơ sở vật chất, mạng lưới cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản - kế hoạch hóa gia đình (SKSS/KHHGĐ) ở cấp xã còn thiếu

và yếu, chưa phù hợp với đặc điểm môi trường và khí hậu biển, không bền vững Một số xã ven biển, đảo chưa có trạm y tế, 19,7% trạm y tế xã chưa có bác sĩ Trong nhiều năm qua, dù nhiều cấp, ngành đã có những nỗ lực, cố gắng nhưng vấn đề chăm sóc SKSS/KHHGĐ tại vùng ven biển vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập Nguyên nhân chủ yếu là do lao động nghề biển luôn phải tiếp xúc môi trường có độ ẩm cao, thiếu nước ngọt và bị ô nhiễm Bên cạnh đó, nghề biển có đặc thù nam giới là lao động chính, phải thường xuyên làm ăn xa nhà dài ngày, dễ gặp rủi ro, vì vậy nhu cầu sinh con, đặc biệt là sinh con trai rất phổ biến Nhận thức của người dân vùng biển, đảo về việc chăm sóc sự phát triển của bào thai và trẻ sơ sinh còn hạn chế Các kiến thức về sinh sản, phòng ngừa các yếu tố có nguy cơ cao ảnh hưởng đến chất lượng giống nòi ở mức rất khiêm tốn Đáng chú ý, phần lớn cán bộ y tế cấp cơ sở còn thiếu về số lượng, hạn chế về năng lực nên việc tổ chức cung cấp các dịch vụ SKSS/KHHGĐ tại vùng ven biển chưa được thường xuyên và có chất lượng Với sự hình thành các khu kinh tế biển như hiện nay, việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ của

Trang 11

người dân, nhất là lao động nhập cư được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe

bà mẹ, trẻ em, SKSS/KHHGĐ theo nhận định là sẽ trở nên quá tải [10]

Nam Định là một trong 28 tỉnh ven biển của cả nước, trong đó có 03 huyện ven biển là Nghĩa Hưng, Hải Hậu và Giao Thủy Đối với người dân vùng ven biển,

do đặc thù lao động nghề biển, người dân có tâm lý thích sinh đông con, nhất là con trai để có người đi biển, có thêm nhân lực làm kinh tế gia đình các xã ven biển huyện Nghĩa Hưng cũng không ngoại lệ Hơn nữa, kiến thức về sức khỏe sinh sản, phòng tránh viêm nhiễm đường sinh sản, … của người dân còn hạn chế

Đối với huyện Nghĩa Hưng, theo báo cáo tổng kết năm 2015, công tác Dân KHHGĐ của huyện (đặc biệt là ở các xã ven biển) vẫn còn tồn tại nhiều mặt hạn chế như: kết quả thực hiện gói dịch vụ kế hoạch hoá gia đình đạt kết quả chưa cao,

số-số người áp dụng các biện pháp tránh thai mang tính chất bền vững còn thấp; tỉ lệ phụ nữ mắc bệnh phụ khoa chiếm tỉ lệ cao, công tác truyền thông tuy đã huy động tất cả các ban, ngành, đoàn thể vào cuộc nhưng việc chuyển đổi hành vi và nhận thức của người dân còn thấp; dịch vụ KHHGĐ và đội ngũ cán bộ y tế xã, phường, thị trấn tại một số địa phương còn yếu chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người dân; một số cấp uỷ Đảng, chính quyền chưa quán triệt chính sách Dân số - KHHGĐ đến từng cán bộ; nhân dân cho rằng chính sách - quy chế Dân số - KHHGĐ có phần nào

đó được nới nhẹ hơn so với trước đây [1]

Vậy những yếu tố nào ảnh hưởng đến SKSS của phụ nữ ven biển? Thực trạng SKSS và kiến thức, thái độ, hành vi về SKSS của phụ nữ ven biển hiện nay như thế nào?

Đề tài “Kiến thức, thái độ, hành vi về sức khỏe sinh sản của phụ nữ vùng

ven biển - nghiên cứu trường hợp tại hai xã thuộc huyện Nghĩa Hưng - tỉnh Nam Định” đi vào tìm hiểu kiến thức, thái độ, hành vi về SKSS của phụ nữ vùng ven

biển, từ đó xem xét những ảnh hưởng của điều kiện kinh tế - xã hội, phong tục tập quán, môi trường sống cũng như khả năng tiếp cận dịch vụ y tế đến SKSS của họ Kết quả nghiên cứu hy vọng sẽ góp phần hỗ trợ cho công tác hoạch định các chính sách, xây dựng các chương trình chăm sóc SKSS phù hợp với đặc điểm của phụ nữ

Trang 12

ven biển Đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục ý thức cho người dân

về SKSS có hiệu quả hơn, đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng của người dân

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

2.1 Nghiên cứu về sức khỏe sinh sản trên thế giới

Sau bốn lần hội nghị về Dân số - Kế hoạch hóa gia đình ở Roma (1954), Belgrade (1965), Bucharest (1979), Mexico (1984), vấn đề dân số - kế hoạch hóa gia đình ngày càng được nhìn nhận một cách thực tế hơn Tuy nhiên, phải đến Hội nghị Cairo (1994) thì vấn đề này mới được nhìn nhận một cách toàn diện

Trong kế hoạch hành động sau Hội nghị Cairo của Quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA), sức khỏe sinh sản đã được xác định bao gồm sáu nội dung chính có liên quan mật thiết với nhau, đó là sức khỏe phụ nữ và làm mẹ an toàn, vô sinh, bệnh nhiễm khuẩn và bệnh lây truyền qua đường tình dục, tình dục

Hội nghị Phụ nữ thế giới lần thứ IV diễn ra ở Bắc Kinh (1995) đã khẳng định các quyền chăm sóc sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục: sức khỏe sinh sản là vấn đề của mọi người trên thế giới vì những lý do chính như: sự thiếu kiến thức về tình dục, các dịch

vụ hay thông tin về sức khỏe sinh sản không phù hợp hoặc kém chất lượng; sự phổ biến của các hành vi tình dục có nguy cơ cao; các hành vi kì thị về mặt xã hội, và thái độ tiêu cực đối với phụ nữ và trẻ em; và quyền lực ít ỏi của phụ nữ và trẻ em không bảo vệ được

họ trong việc quyết định đời sống tình dục và sinh sản (Chương trình hành động Hội

nghị Phụ nữ thế giới lần thứ IV, Bắc Kinh, Đoạn 9.5)

Vấn đề vai trò và trách nhiệm của nam giới trong sức khỏe sinh sản và quyền sinh sản đều được đề cập trong Hội nghị Cairo và hội nghị Bắc Kinh Nam giới có vai trò quan trọng trong sức khỏe sinh sản và thực hiện nam nữ bình đẳng, do vậy mọi chương trình và dịch vụ về sức khỏe sinh sản phải đặc biệt chú ý đến vai trò và trách nhiệm của nam giới Sức khỏe sinh sản sẽ không được cải thiện đáng kể nếu như không có sự bình đẳng giữa nam và nữ Sức khỏe sinh sản là một phần quan trọng của sức khỏe nói chung, không những nó phản ánh sức khỏe trong thời thanh niên và thời kỳ trưởng thành mà còn ảnh hưởng tới sức khỏe sau thời kỳ sinh sản của cả nam và nữ Sức khỏe sinh sản cho mọi người không thể thực hiện ngày một

Trang 13

ngày hai Vì vậy, việc xây dựng và thi hành các chính sách và chương trình sức khỏe sinh sản đòi hỏi một sự tiếp cận và tham gia ngày càng rộng bao gồm cả sự đánh giá dựa trên cộng đồng về những gì đã làm được và nhận dạng những khoảng cách và yếu kém cũng như những phương pháp nhằm tăng cường các mối liên kết giữa các chương trình

để đáp ứng tốt hơn các mối quan tâm về sức khỏe sinh sản [18, tr20]

Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển (ICPD) tổ chức ở Cairo năm 1994 đã đánh dấu một thay đổi quan trọng trong cách đề cập đến những vấn đề dân số của cộng đồng quốc tế Nó cũng dẫn đến một vài thay đổi trong cách mà các chính phủ

và cơ quan quốc tế thực hiện các chương trình

2.2 Nghiên cứu về sức khỏe sinh sản ở Việt Nam

Sớm nhận thức được tầm quan trọng của mối quan hệ giữa dân số, phát triển

và cuộc chiến chống đói nghèo, Việt Nam đã tham gia chương trình dân số toàn cầu

từ năm 1960 Các văn bản đầu tiên về chính sách dân số đã nhấn mạnh đến việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình Chỉ thị số 99/CT-TTg ngày 16 tháng 10 năm 1963 của Thủ tướng chính phủ về công tác hướng dẫn sinh đẻ có kế hoạch đã đề cập:

“Đối tượng tuyên truyền, giáo dục là những cặp vợ chồng, những người sắp trở thành vợ chồng Đối tượng bao gồm nam, nữ thanh niên, những người trung niên và các bậc bô lão, vì các cụ hay đòi sớm có con Cần chú trọng cả thanh niên và nam giới Tuyên truyền giáo dục phải thích hợp với từng đối tượng”

Đến ngày 22 tháng 12 năm 2000, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 147/2000/QĐ-TTg về chiến lược dân số Việt Nam 2001-2010 với mục tiêu chuyển hướng tiếp cận từ số lượng sang chất lượng, trọng tâm là giảm sinh và giải quyết những vấn đề dân số rộng hơn như quy mô dân số, cơ cấu dân số, chất lượng dân

số, phân bố dân cư và sức khỏe sinh sản, bình đẳng giới

Công tác dân số của Việt Nam trong thế kỷ XXI chuyển hướng nhằm giải quyết các vấn đề dân số, trong đó có tăng cường chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) là một trong những vấn đề được đặt lên hàng đầu Chính vì thế, đã có rất nhiều chính sách dân số và chương trình CSSKSS được ban hành Cụ thể mục tiêu của chiến lược quốc gia về CSSKSS giai đoạn 2001-2010 là đảm bảo đến năm

Trang 14

2010, tình trạng sức khỏe ở Việt Nam sẽ được cải thiện đáng kể, khoảng cách giữa các vùng, các đối tượng sẽ được thu hẹp bằng việc đáp ứng tốt hơn các nhu cầu đa dạng về CSSKSS phù hợp với điều kiện địa phương và đặc biệt quan tâm đến những vùng khó khăn

Nhóm các giải pháp cụ thể được Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em thực hiện trong chiến lược quốc gia về CSSKSS giai đoạn 2001-2010, bao gồm: Thứ nhất, truyền thông thay đổi hành vi nhằm tạo ra sự chuyển đổi hành vi bền vững về dân

số, SKSS và KHHGĐ trên cơ sở cung cấp đầy đủ thông tin với hình thức phù hợp từng khu vực, từng vùng và từng nhóm đối tượng Thứ hai, chú trọng hình thức tư vấn, đối thoại, vận động trực tiếp các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ (Quyết định số 136/2000/QĐ-TTg ngày 28/11/2000 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược quốc gia về chăm sóc SKSS giai đoạn 2001-2010, trang 15) Quyết định số 52/2009/QĐ-TTg ngày 09/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án kiểm soát dân số các vùng biển, đảo và ven biển giai đoạn 2009-2020 hướng đến đối tượng là những người làm việc và người dân sinh sống trên đảo, ven biển, trong các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu du lịch, khu kinh

tế thuộc khu vực đảo, ven biển và trên biển; ưu tiên các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, thanh niên, người dân sống, làm việc tại cửa sông và ven biển Đề án đã chú trọng đến việc đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em và kế hoạch hoá gia đình ở các vùng biển, đảo và ven biển; Nâng cao chất lượng dân số khi sinh tại các vùng biển, đảo và ven biển; Hỗ trợ phòng, chống bệnh lây truyền qua đường tình dục, phòng ngừa mang thai ngoài ý muốn, phá thai an toàn; Xây dựng và hoàn thiện hệ thống thông tin quản lý

Quyết định số 2013/QĐ-TTg ngày 14/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chiến lược dân số và SKSS Việt Nam giai đoạn 2011-2020 trong đó đặc biệt chú trọng đến việc giải quyết đồng bộ các vấn đề dân số, sức khỏe sinh sản, tập trung nâng cao chất lượng dân số, cải thiện sức khỏe bà mẹ và trẻ em, phát huy lợi thế của cơ cấu “dân số vàng”, chủ động điều chỉnh tốc độ tăng dân số và kiểm soát

tỷ số giới tính khi sinh

Trang 15

Trong Chương trình hành động của Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển ở Cairo (1994) đã ghi nhận 13 thành tố của SKSS, căn cứ vào tình hình cụ thể của đất nước, Việt Nam đã chọn 7 nội dung cơ bản về SKSS như sau:

1 Quyền sinh sản

2 Kế hoạch hóa gia đình

3 Các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS

4 Sức khỏe sinh sản vị thành niên

5 Nạo, hút thai

6 Làm mẹ an toàn

7 Bình đẳng giới trong chăm sóc sức khỏe sinh sản

Ở Việt Nam, có một số đề tài cũng đề cập đến vấn đề sức khỏe nói chung và SKSS nói riêng Chúng tôi liệt kê ra đây một số đề tài cũng như một số sách viết về vấn đề này trong sự hiểu biết của chúng tôi

Trong công trình “Gia đình nông thôn và vấn đề chăm sóc sức khỏe cộng

đồng” của tác giả Trịnh Hòa Bình thực hiện năm 1997 với phương pháp phỏng vấn

bằng bảng hỏi, quan sát, phỏng vấn sâu và phân tích tài liệu sẵn có, tác giả đã đề cập đến vai trò của gia đình trong việc chăm sóc sức khỏe nông thôn, trước hết là ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ Đồng thời, tác giả cũng mô tả hiện trạng sức khỏe và chăm sóc sức khỏe của gia đình nông thôn trong thời kì đổi mới, sức khỏe của cư dân nông thôn chịu tác động của nhiều yếu tố Trước hết là tình trạng kinh tế lạc hậu kéo dài, cộng thêm những hậu quả nặng nề của 30 năm chiến tranh đã gây tác hại rất lớn đến sức khỏe của nhân dân Thứ hai là xuất hiện sự phân hóa ngày càng mạnh mẽ về đời sống kinh tế và các điều kiện xã hội cần cho cuộc sống con người, trong khi một bộ phận dân cư vượt lên các điều kiện đời sống mọi mặt thì đa số nhân dân, đặc biệt là ở nông thôn, còn phải bươn chải để có được miếng cơm manh

áo hàng ngày Thứ ba là sự cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường buộc con người phải lao động với cường độ rất cao để đảm bào cuộc sống hàng ngày và có tích lũy; người ta bị hút vào các hoạt động kiếm sống tới mức không tiếc sức lực, không chỉ

Trang 16

để tồn tại mà còn vì tham vọng làm giàu Thứ tư, bản thân kinh tế thị trường không bao hàm trong nó nội dung bảo trợ xã hội, mặc dù sự phát triển ổn định của xã hội nói chung, của kinh tế thị trường nói riêng đều cần dựa trên một hệ thống an sinh xã hội tốt Cuối cùng là trong điều kiện một nước lạc hậu bắt đầu phát triển kinh tế thị trường với quá trình công nghiệp hóa - đô thị hóa, thì sự ô nhiễm trên quy mô lớn là yếu tố tác hại không lường hết, không chỉ với cư dân đô thị, mà còn lan tỏa đến cả các vùng nông thôn

Tác giả cũng chỉ rõ: “Đối tượng chịu tác hại trước hết của các điều kiện bất

lợi là phụ nữ và trẻ em”

Từ việc tìm hiểu, phân tích vai trò của gia đình nông thôn trong vấn đề chăm sóc sức khỏe và mô tả hiện trạng sức khỏe của cư dân nông thôn, tác giả đã đưa ra một sô kết luận và kiến nghị:

- Hệ thống các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, chi phí cho thuốc men chữa bệnh nói chung còn quá đắt so với khả năng của người nông dân Đảng, Nhà nước và cả cộng đồng cũng như mỗi gia đình cần đặc biệt quan tâm, cùng có những phương sách thích hợp để giải quyết

- Gia đình Việt Nam, nhất là gia đình nông thôn có tiềm năng to lớn trong việc

tự giải quyết một phần việc chăm sóc sức khỏe của gia đình, giảm bớt một phần gánh nặng của cộng đồng và Nhà nước Trong mỗi gia đình, người phụ nữ đã giữ một vị trí hết sức đặc biệt đối với chăm sóc sức khỏe cho mỗi thành viên Đồng thời, phải kể đến tình yêu thương gắn bó lẫn nhau giữa các thành viên, sự quan tâm thường xuyên của cha mẹ đối với con cái, sự lo lắng về sức khỏe mỗi khi trái gió trở trời… Vì vậy, khai thác tiềm năng to lớn của tình nghĩa gia đình trong việc chăm sóc sức khỏe là một việc làm đầy ý nghĩa thiết thực cần được Đảng và Nhà nước quán triệt, cần được cộng đồng quan tâm và cần được thực hiện thường xuyên ở mỗi gia đình

- Về mặt cộng đồng, tổ chức y tế cơ sở, các đoàn thể, các hội… cần tổ chức tốt việc tuyên truyền thường xuyên nhằm nâng cao nhận thức cho nhân dân

Trang 17

Với đề tài “Phụ nữ, sức khỏe và môi trường” - Trung tâm nghiên cứu giới,

gia đình và môi trường trong phát triển thực hiện năm 2000 với phương pháp chính

là sử dụng bảng câu hỏi cấu trúc, các nhà nghiên cứu đã đi vào tìm hiểu về điều kiện

và môi trường làm việc trong mối liên quan với sức khỏe lao động nữ, đặc biệt là SKSS của phụ nữ cũng như tìm hiểu về hiểu biết, nhận thức của lao động nữ và người sử dụng lao động về tác động tiêu cực của môi trường làm việc không đảm bảo vệ sinh đối với sức khỏe tại bốn địa bàn là xã Ninh Nhất (Hoa Lư - Ninh Bình),

xã Phước Lộc (Nhà Bè - Thành phố Hồ Chí Minh), Công ty Dệt 8-3 (Hà Nội) và Công ty nước giải khát quốc tế Thành phố Hồ Chí Minh

Qua nghiên cứu, người ta đã phát hiện ra rằng: Môi trường ở nông thôn bị ô nhiễm nặng; Phụ nữ nông thôn mang thai và sinh đẻ nhiều; Phụ nữ nông thôn thường lao động vất vả trong thời kì mang thai; Tình trạng nạo hút thai, sảy thai là tình trạng phổ biến với phụ nữ nông thôn

Từ những phát hiện qua nghiên cứu, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những kiến nghị để giải quyết vấn đề: Đó là việc xử lý nguồn nước bị ô nhiễm, tăng cường nguồn nước ngọt cũng như tuyên truyền ý thức giữ gìn, bảo vệ môi trường, loại bỏ những thói quen lạc hậu trong nhân dân Đồng thời, tuyên truyền giáo dục thường xuyên về vấn đề chăm sóc SKSS cũng như việc trạm y tế phải thiết lập một tổ, nhóm chuyên môn để vừa làm công tác tuyên truyền, vừa khám, phát hiện bệnh (đặc biệt là bệnh phụ khoa) cho chị em ngay tại địa bàn xóm, ấp

Cuốn “Sức khỏe phụ nữ từ góc độ xã hội” của tác giả Nguyễn Thị Oanh viết

năm 2002, đã đưa ra những con số đáng báo động về tỉ lệ tử vong và thương tật liên quan đến mang thai và sinh sản Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra những nguyên nhân bệnh tật và tử vong mang tính kinh tế - xã hội như: Phương tiện giao thông kém, dịch vụ chăm sóc người mẹ không đảm bảo; các khía cạnh văn hóa - xã hội, tập tục trói buộc người phụ nữ ở xã hội truyền thống và phong kiến; học vấn kém, sự bất bình đẳng về giới, hủ tục, sự chấp nhận định mệnh của người phụ nữ…

Tác giả Đặng Nguyên Anh và Nguyễn Đức Vinh khi nghiên cứu về “Tiếp cận

tránh thai - yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của chương trình dân

Trang 18

số-kế hoạch hóa gia đình ở Việt Nam” đã cho thấy có sự chênh lệch khá rõ nét

giữa thành thị và nông thôn trong mức độ tiếp cận các biện pháp tránh thai Khoảng cách địa lý cũng ảnh hưởng mạnh đến việc sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại Nhu cầu kế hoạch hóa gia đình chưa được đáp ứng…[15, tr263]

Đề tài “Chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ các hộ gia đình ven biển” (2011)

của tác giả Nguyễn Thị Thu Hương khảo sát tại phường Cao Xanh - Thành phố Hạ Long

- Tỉnh Quảng Ninh đã chỉ ra rằng: Phụ nữ ven biển còn nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các thông tin về SKSS, đồng thời còn nhiều hủ tục trong chăm sóc SKSS Môi trường sống có ảnh hưởng rất nhiều đến SKSS của phụ nữ ven biển…

Nghiên cứu “Một số yếu tố tác động của môi trường biển đến cơ cấu bệnh,

tật đặc thù vùng biển, đảo và ven biển Việt Nam” của Tổng cục Dân số - Kế hoạch

hóa gia đình (2010) cho thấy: Ở khu vực ven biển, tỉ lệ người mắc bệnh viêm nhiễm đường sinh dục dưới rất cao do nghề nghiệp phải ngâm mình dưới nước Nghiên cứu cũng chỉ ra các yếu tố của môi trường biển ảnh hưởng tới cơ cấu bệnh tật đó là: môi trường tự nhiên (nguồn nước sinh hoạt không đảm bảo), môi trường xã hội (trình độ học vấn thấp, mức sống thấp, rác thải, nước thải ô nhiễm môi trường, điều kiện làm việc phải ngâm mình dưới nước, thiếu phương tiện cấp cứu) [20]

Khảo sát về “Những yếu tố phong tục, tập quán và nghề nghiệp tác động đến thái độ, hành vi sinh sản và chăm sóc sức khỏe sinh sản của người dân vùng biển, đảo và ven biển Việt Nam” (2011), được triển khai trên 5 tỉnh: Quảng Ninh,

Thừa Thiên Huế, Bình Định, Bà Rịa - Vũng Tàu và Kiên Giang, đại diện cho ba khu vực Bắc- Trung- Nam đã cho thấy: bên cạnh những tác động tích cực thì phong tục tập quán và nghề nghiệp vẫn còn những tác động không tích cực đến hành vi sinh sản, chăm sóc sức khỏe sinh sản của người dân vùng biển, đảo và ven biển Khảo sát cũng chỉ ra có sự khác biệt về mức độ tác động này giữa những người trong độ tuổi sinh đẻ, vị thành niên và thanh niên Những người trong độ tuổi sinh

đẻ thì hành vi sinh sản, chăm sóc sức khỏe sinh sản đều chịu tác động của các yếu

tố phong tục, tập quán và nghề nghiệp, còn đối với vị thành niên và thanh niên chưa kết hôn chỉ chịu tác động nhiều từ yếu tố nghề nghiệp

Trang 19

Cuộc khảo sát cũng cho thấy rằng: Nguyện vọng sinh con trai là yếu tố quan trọng thúc đẩy việc tiếp tục sinh đẻ ngay cả khi đã có đủ số con mong muốn Tâm lý

có con trai để "nối dõi tông đường", nhu cầu lao động cơ bắp đã đề cao vai trò con trai và thích đông con Điều này thể hiện rất rõ trong các gia đình làm nghề đánh bắt hải sản và nông nghiệp Sự tác động của các yếu tố vị trí địa lý, điều kiện kinh tế, hưởng thụ các phúc lợi xã hội, môi trường sống, làm việc…góp phần làm tăng thêm tác động không tích cực đến hành vi sinh sản, chăm sóc sức khỏe sinh sản của người dân trong khu vực này [15]

Đề tài “Thực trạng Chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ huyện đảo

Bạch Long Vĩ - Hải Phòng” tìm hiểu về thực trạng chăm sóc SKSS và các yếu tố

ảnh hưởng đến việc chăm sóc SKSS của phụ nữ huyện đảo đã chỉ ra rằng: Nhận thức của phụ nữ huyện đảo về SKSS chưa được đầy đủ, thiếu kiến thức về nạo hút thai và bệnh phụ khoa và các biện pháp tránh thai; công tác truyền thông vê SKSS còn nhiều thiếu sót; nhu cầu về chăm sóc SKSS của phụ nữ huyện đảo rất cao nhưng dịch vụ y tế còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu người dân [30]

Tại “Báo cáo chung Tổng quan ngành Y tế năm 2015” (Bộ Y tế) đã chỉ ra

các yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ con người Cụ thể là: các yếu tố nhân khẩu, các yếu tố kinh tế - xã hội, các yếu tố môi trường tự nhiên (ô nhiễm môi trường, nước sạch và công trình vệ sinh), các yếu tố hành vi lối sống, các yếu tố liên quan đến tiếp cận dịch vụ y tế [4, tr27-34]

Những nghiên cứu trên đã cung cấp cho chúng tôi hệ thống lý thuyết và những cách tiếp cận đa chiều về SKSS, về vai trò quan trọng của SKSS đối với phụ nữ nói riêng và cả hai giới nói chung

Tóm lại, những nghiên cứu về SKSS phụ nữ mà chúng tôi tiếp cận được ở trên đã xoay quanh những vấn đề mà chúng tôi quan tâm về SKSS: kiến thức, thái độ hành vi về SKSS và những yếu tố tác động đến SKSS của phụ nữ Các nghiên cứu đã cho thấy vấn

đề SKSS phụ nữ còn tồn tại nhiều vấn đề Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến SKSS phụ nữ như môi trường sống, phong tục tập quán, điều kiện kinh tế xã hội…

Trang 20

Trên cơ sở của những nghiên cứu đi trước, luận văn nghiên cứu về các biện pháp tránh thai hiện đại và bệnh phụ khoa gắn với phụ nữ ven biển như là điểm nhấn mới trong nghiên cứu về SKSS Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu kiến thức, thái

độ, hành vi về các biện pháp tránh thai hiện đại và bệnh phụ khoa - là hai nội dung quan trọng đối với SKSS của phụ nữ ven biển Đồng thời, chúng tôi cũng đi vào tìm hiểu những yếu tố tác động đến kiến thức, thái độ, hành vi đối với các biện pháp tránh thai hiện đại và bệnh phụ khoa của phụ nữ ven biển tại địa bàn nghiên cứu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, chúng tôi đặt ra cho mình những nhiệm vụ

cụ thể sau đây:

Thu thập, phân tích các thông tin có sẵn về sức khỏe sinh sản, các yếu tố ảnh hưởng đến SKSS

Xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu sức khỏe sinh sản

Tìm hiểu kiến thức, thái độ, hành vi của phụ nữ ven biển đối với các biện pháp tránh thai hiện đại; bệnh phụ khoa

Mô tả về điều kiện kinh tế - xã hội, môi trường sống, phong tục tập quán trong mối liên hệ với sức khỏe phụ nữ ven biển, đặc biệt là sức khỏe sinh sản của phụ nữ tại địa bàn nghiên cứu

Tìm hiểu những thuận lợi và trở ngại trong việc Tiếp cận dịch vụ y tế của phụ nữ ven biển trong việc áp dụng các biện pháp tránh thai hiện đại; khám chữa bệnh phụ khoa

Đưa ra một số khuyến nghị góp phần cải thiện SKSS cho phụ nữ ven biển

Trang 21

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trong đề tài này, chúng tôi đi vào tìm hiểu thực trạng, những yếu tố ảnh hưởng đến SKSS của phụ nữ ven biển Đồng thời, tìm hiểu kiến thức, thái độ, hành vi liên quan đến SKSS của phụ nữ ven biển hiện nay

4.2 Khách thể nghiên cứu

Do đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là SKSS của phụ nữ ven biển, nên chúng tôi chọn những phụ nữ sinh sống và làm việc tại những xã ven biển trong độ tuổi từ 15-49 tuổi Đồng thời còn có các cơ quan như: Đội lưu động y tế - Dân số huyện, Trung tâm Dân số-KHHGĐ huyện, Trạm y tế, Ban Dân số-KHHGĐ tại địa bàn nghiên cứu

4.3 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: Địa bàn nghiên cứu được chọn là huyện Nghĩa Hưng -

một trong ba huyện ven biển của tỉnh Nam Định

- Phạm vi thời gian: Để nghiên cứu về SKSS của phụ nữ ven biển, chúng tôi

nghiên cứu, cập nhật các số liệu từ năm 2015 đến tháng 9 năm 2016 tại địa bàn nghiên cứu

4.4 Giới hạn của nghiên cứu

Luận văn này giới hạn vào một số nội dung quan trọng đối với vấn đề sức khỏe sinh sản của phụ nữ vùng ven biển, đó là hai vấn đề: Các biện pháp tránh thai hiện đại và bệnh phụ khoa

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Để nghiên cứu, làm rõ thực trạng SKSS của phụ nữ ven biển, chúng tôi dựa trên cách tiếp cận như sau:

* Cách tiếp cận SKSS dưới góc độ Giới

Ở đây, chúng ta cần phân biệt hai khái niệm Giới và Giới tính

- Giới tính: Là phạm trù chỉ về mặt sinh học, là sự khác biệt giữa hai người

nam và nữ Giới tính không thay đổi theo thời gian

Trang 22

- Giới: Là phạm trù chỉ về mặt xã hội, nó cũng nói đến sự khác biệt giữa nam

và nữ nhưng nó do xã hội, phong tục tập quán quy định Giới thay đổi theo thời gian

và không gian Nó do giáo dục mà có

Từ xưa đến nay, người phụ nữ có vai trò quan trọng, họ có mặt trong công cuộc dựng nước, giữ nước, trong lao động sản xuất để phát triển kinh tế - xã hội Trong xã hội truyền thống, vai trò của người phụ nữ không được tôn trọng, không được đối xử bình đẳng, không có cơ hội để phát triển khả năng của mình Họ

là người chịu vất vả và thiệt thòi nhất

Trong xã hội hiện đại, bước vào công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước, phụ nữ càng thể hiện vai trò của mình đối với sự phát triển của toàn xã hội Trình độ học vấn của phụ nữ được nâng lên, lực lượng lao động nữ tham gia vào thị trường lao động ngày càng nhiều và số phụ nữ chiếm vị trí cao trong xã hội cũng tăng lên đáng kể Phụ nữ đã và đang giữ vai trò to lớn trong các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - khoa học

Cuộc sống công nghiệp đòi hỏi mọi cá nhân làm việc căng thẳng, lao động cật lực để có hiệu suất công việc cao nhất Thời gian dành cho gia đình và cá nhân ít đi, phụ nữ phải gánh chịu một áp lực công việc lớn hơn nam giới do phải đảm nhiệm cùng lúc nhiều vai trò gia đình và xã hội Việc xây dựng gia đình hạnh phúc, hòa thuận, bình đẳng, sinh đẻ có kế hoạch, nuôi dưỡng, giáo dục con cái, bảo đảm sức khỏe và nhu cầu sinh hoạt như ăn, mặc, ở, giải trí cho cả gia đình được xem là vai trò của cả vợ lẫn chồng nhưng trên thực tế vẫn là nhiệm vụ chủ yếu của người phụ nữ Điều đáng nói thêm là, tuy phụ nữ là người giữ vai trò quan trọng trong gia đình và ngoài xã hội, là người luôn chịu trách nhiệm và quan tâm đến sức khỏe của các thành viên trong gia đình, song chính bản thân người phụ nữ lại chưa được quan tâm đúng mức về sức khỏe, đặc biệt là SKSS

Khi đề cập đến vấn đề SKSS, cả nam và nữ đều là chủ thể của vấn đề Tuy nhiên, việc mang thai, sinh đẻ, nuôi con bằng sữa mẹ vẫn là đặc quyền của người phụ nữ, nên chủ thể trọng tâm của SKSS vẫn là phụ nữ

Trang 23

Ở nước ta, do chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo - tư tưởng “Tam tòng, tứ đức” nên người phụ nữ phải chịu nhiều thiệt thòi hơn nam giới Người phụ nữ thường thụ động trước những vấn đề về hôn nhân, quan hệ tình dục, vấn đề sinh con, nuôi con và kế hoạch hóa gia đình

Cách tiếp cận giới trong SKSS nghĩa là coi SKSS không phải là vấn đề của riêng phụ nữ, mà nó còn là của cả nam giới nữa Bởi vì, ai cũng có quyền có cuộc sống tình dục an toàn, hài lòng, có khả năng sinh con và tự quyết định thời gian sinh con cũng như số con của mình Vì vậy, đòi hỏi người chồng phải có trách nhiệm trong việc chăm sóc vợ khi mang thai, sinh con, nuôi con, cần hợp tác và ủng hộ người phụ nữ trong việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình và các quyết định về sinh sản

* Cách tiếp cận SKSS dưới góc độ Dân số và Phát triển

Dân số là một cộng đồng người sống trên một lãnh thổ tại một thời điểm xác

định Thuật ngữ dân số không chỉ hàm chứa số dân mà còn hàm chứa về mặt chất lượng dân số như kết cấu, sự phân bố, trình độ học vấn

Dân số - Quy mô dân số và chất lượng dân số là một vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Vì vậy, việc hoạch định chính sách dân số của từng nước qua từng thời kì phát triển sẽ tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế, đến sự phát triển của quốc gia đó

Ngày nay, nhiều nước trên thế giới đã nhận thức rõ tầm quan trọng phải điều chỉnh quy mô dân số, bởi có như vậy mới nâng cao được chất lượng dân số, mới phát huy được quyền cơ bản của con người - quyền sinh sản, đúng như tinh thần mà Hội nghị quốc tế ở Cairo về Dân số và Phát triển đã nhấn mạnh: Thực hiện công bằng giới, nâng cao quyền bình đẳng quyền năng của người phụ nữ, đảm bảo cho phụ nữ có khả năng kiểm soát vấn đề sinh đẻ của mình, được tiếp cận rộng rãi các dịch vụ CSSKSS, trong đó có kế hoạch hóa gia đình, sức khỏe tình dục dựa trên cơ

sở sự bình đẳng nam, nữ

Nếu sức khỏe của người dân được đảm bảo, nó sẽ tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội Muốn vậy, chúng ta phải điều chỉnh quy mô dân số cho phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Việc điều chỉnh quy mô dân số

Trang 24

gắn liền với quá trình sinh sản Muốn có số dân hợp lý, chúng ta phải quan tâm đến

số con của mỗi gia đình Vấn đề đặt ra ở đây là phải tìm hiểu xem quan niệm của người dân về số con họ muốn như thế nào, từ đó có những chương trình kế hoạch hóa gia đình cho hợp lý

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp chọn mẫu

* Mẫu đối với nghiên cứu định lượng:

Nghiên cứu này áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống, một phương pháp được sử dụng trong các nghiên cứu định lượng về cấu trúc gia đình Trong đó, chúng tôi chọn nghiên cứu 01 đơn vị là xã Nam Điền - 01 xã sát biển của huyện Để có sự so sánh những khác biệt về kiến thức, thái độ, hành vi về SKSS của phụ nữ ven biển và phụ nữ không thuộc vùng ven biển, chúng tôi chọn thêm thị trấn Liễu Đề - 01 đơn vị thuộc trung tâm huyện, cách biển 35km để so sánh Ngoài sự khác nhau về vị trí địa lý thì những tiêu chí chọn mẫu vẫn đảm bảo

sự giống nhau về khách thể nghiên cứu

Tiêu chí chọn mẫu: phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (15-49 tuổi) đã kết hôn và

sinh con, có hộ khẩu thường trú tại địa bàn nghiên cứu Việc chọn mẫu dựa trên danh sách phụ nữ 15-49 tuổi có chồng do cán bộ chuyên trách Dân số-KHHGĐ thị trấn Liễu Đề và xã Nam Điền cung cấp

Xác định cỡ mẫu: Do hạn chế về mặt thời gian, kinh phí thực hiện, nhân lực

hiện có nên chúng tôi chọn khảo sát 200 mẫu, trong đó mỗi xã/thị trấn là 100 mẫu

5.2.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài này chúng tôi sử dụng ba phương pháp nghiên cứu cơ bản:

- Nghiên cứu tài liệu sẵn có

- Nghiên cứu định lượng

- Nghiên cứu định tính

Trong đó, chủ yếu là phương pháp nghiên cứu định lượng và sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính để bổ sung chuyên sâu cho một số vấn đề nghiên cứu mà

Trang 25

bằng phương pháp nghiên cứu định lượng khó thu thập được hết các khía cạnh của vấn đề

- Phương pháp chung: Phương pháp mô tả và so sánh

- Nghiên cứu tài liệu sẵn có: Gồm những bài báo khoa học đăng trên các tạp

chí, sách; những đề tài nghiên cứu khoa học đã được thực hiện có liên quan đến đề tài Những báo cáo hàng năm của các cơ quan chuyên môn tại hai địa bàn nghiên cứu cùng với những số liệu thống kê về dân số, kinh tế - xã hội tại các điểm nghiên cứu… cũng được thu thập để có được những thông tin phong phú, hỗ trợ cho thông tin từ phỏng vấn bảng hỏi

- Nghiên cứu thực địa:

Nghiên cứu định lượng được sử dụng như là phương pháp thu thập thông tin chủ yếu của nghiên cứu này Bảng hỏi được soạn thảo cho hai xã/thị trấn

là như nhau Bảng hỏi bao gồm các câu hỏi đóng và câu hỏi mở, trong đó câu hỏi đóng là chủ yếu

Bằng việc sử dụng bảng hỏi, thông tin thu được bao gồm những đặc điểm về Kinh

tế - xã hội; những yếu tố về tiếp cận dịch vụ y tế, các yếu tố văn hóa, phong tục tập quán về SKSS; yếu tố môi trường sống và kiến thức, thái độ, hành vi về SKSS của phụ

nữ trên địa bàn khảo sát Phương pháp phỏng vấn bảng hỏi được áp dụng phỏng vấn từng người trực tiếp, nó cho phép thu được thông tin có kết quả tốt hơn

Với những câu hỏi liên quan đến sinh sản, người phỏng vấn cố gắng tạo nên một trạng thái tự nhiên thoải mái để người trả lời không e ngại và có thể nhớ lại các

sự kiện trong cuộc sống, càng chi tiết càng tốt Nhằm đạt được thông tin khách quan

và tạo thuận lợi cho việc thu thập thông tin, cách thức phỏng vấn được thực hiện trong đề tài này là chỉ để phụ nữ hỏi

Ngoài phương pháp thu thập thông tin định lượng, chúng tôi sử dụng cả phương pháp thu thập thông tin định tính, đó là phỏng vấn sâu một số người dân và cán bộ Đội lưu động Y tế - dân số huyện, cán bộ Dân số-KHHGĐ tại địa bàn nghiên cứu nhằm thu thập thông tin giúp cho việc phân tích, lý giải các nguyên nhân của vấn đề

Trang 26

* Mẫu đối với nghiên cứu định tính:

- Đội trưởng Đội lưu động Y tế - dân số: 01 người

- Lãnh đạo Trung tâm Dân số - KHHGĐ huyện: 01 người

- Cán bộ trạm y tế của 2 xã (trưởng trạm y tế hoặc nữ hộ sinh): 02 người

- Cán bộ chuyên trách Dân số-KHHGĐ của 02 xã: 02 người

- Phụ nữ 15-49 tuổi có chồng con tại 02 xã: 06 người (mỗi xã 3 người)

Đồng thời, phương pháp quan sát cũng được sử dụng trong nghiên cứu này

- Phương pháp xử lý thông tin:

Đối với thông tin từ bảng hỏi, chúng tôi tiến hành xử lý theo chương trình SPSS- phần mềm tin học dành cho các ngành Khoa học xã hội Đối với thông tin từ phỏng vấn sâu, chúng tôi tiến hành nghe lại ghi âm, sau đó sắp xếp các nội dung

cho phù hợp với từng chương của đề tài

5.2.3 Câu hỏi nghiên cứu

- Kiến thức, thái độ, hành vi về các biện pháp tránh thai hiện đại và bệnh phụ khoa của phụ nữ ven biển hiện nay như thế nào?

- Các yếu tố môi trường sống, phong tục tập quán, tiếp cận dịch vụ y tế có ảnh hưởng như thế nào đến kiến thức, thái độ và hành vi về các biện pháp TTHĐ và bệnh phụ khoa của phụ nữ ven biển hiện nay?

5.2.4 Giả thuyết nghiên cứu

a) Nhận thức và hành vi của phụ nữ ven biển về các biện pháp TT và bệnh phụ khoa chưa cao Đa số phụ nữ chưa hiểu hết các biện pháp tránh thai, bệnh phụ khoa b) Yếu tố tôn giáo, phong tục tập quán về sinh sản có ảnh hưởng quan trọng đến việc tiếp nhận kiến thức và thực hiện hành vi về áp dụng các biện pháp tránh thai hiện đại và khám chữa bệnh phụ khoa của phụ nữ ven biển

c) Môi trường nước mặn, thiếu nước sạch ảnh hưởng không tốt đến đường sinh sản của phụ nữ ven biển

d) Tiếp cận dịch vụ y tế công (bệnh viện nhà nước và trạm y tế xã) tốt giúp nâng cao kiến thức về các BPTTHĐ và bệnh phụ khoa cho phụ nữ ven biển và từ đó

họ có thái độ đúng về nó

Trang 27

5.2.5 Khung phân tích

Các yếu tố: Tiếp cận dịch vụ y tế, phong tục tập quán, môi trường sống tác động đến kiến thức, thái độ, hành vi về SKSS của người dân và giữa các yếu tố này lại có sự tác động qua lại với nhau

Yếu tố tiếp cận dịch vụ y tế và phong tục tập quán có ảnh hưởng qua lại với nhau Khi tiếp cận được dịch vụ y tế, người dân có kiến thức đúng về SKSS, từ đó có thể thay đổi phong tục tập quán về SKSS Ngược lại, phong tục tập quán lại có thể là yếu tố cản trở người dân tiếp cận dịch vụ y tế bởi vì có những kiến thức không đúng với niềm tin của cá nhân, từ đó cá nhân có thái độ không đúng về SKSS

Bên cạnh đó, môi trường sống và phong tục tập quán cũng có ảnh hưởng hai chiều với nhau Phong tục tập quán được hình thành từ môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Trước một môi trường thiên nhiên với địa hình, địa thế, khí hậu, thời tiết, thủy văn, thổ nhưỡng… con người phải tìm cách ứng xử để đảm bảo cho mình một cuộc sống vật chất với các điều kiện ăn, ở, mặc, đi lại; từ đó dần dần hình thành

Trang 28

môi trường xã hội bao gồm các thiết chế tổ chức, các mối quan hệ xã hội và các quy tắc ứng xử trong cộng đồng mà mọi người phải tuân thủ; trở thành tập quán, thành phong tục và có tác dụng “chế định” thế ứng xử của mỗi cá nhân Khi môi trường sống không đầy đủ về cơ sở hạ tầng, không đáp ứng được các điều kiện tối thiểu về

ăn, ở, mặc, đi lại, khám chữa bệnh… thì dù có kiến thức đầy đủ, có thái độ đúng đắn nhưng cá nhân cũng không thực hiện hành vi về SKSS

Các yếu tố tiếp cận dịch vụ y tế, phong tục tập quán, môi trường sống đều chịu ảnh hưởng từ đặc điểm kinh tế - văn hóa - xã hội Đặc điểm kinh tế - xã hội có vai trò vô cùng quan trọng, là nền tảng cho sự phát triển cơ sở hạ tầng vật chất Đặc điểm kinh tế - văn hóa - xã hội có mối quan hệ hai chiều với sự phát triển tất cả mọi mặt liên quan đến con người, và cũng chính con người tạo nên các đặc điểm về kinh

tế - văn hóa - xã hội

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Kết quả nghiên cứu có thể đóng góp vào việc xác định hệ thống các yếu tố tác động đến SKSS của phụ nữ ven biển như: tôn giáo, phong tục tập quán về sinh đẻ, môi trường sống, tiếp cận dịch vụ y tế…

Gợi ra những khía cạnh của việc vận dụng lý thuyết về hành động hợp lý, mô hình KAP vào nghiên cứu khía cạnh, kiến thức, thái độ, hành vi SKSS của phụ nữ ven biển

- Cung cấp những giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiểu biết, nhận thức của phụ nữ ven biển về tầm quan trọng của việc chăm sóc sức khỏe, đặc

Trang 29

biệt là SKSS; từ đó cải thiện hành vi phòng ngừa về y tế, sức khỏe của phụ nữ ven biển

- Những khuyến nghị thích hợp để nâng cao nhận thức của người dân ven biển về những nghĩa vụ của họ trong việc bảo vệ môi trường sống

7 Cơ cấu của luận văn

Luận văn gồm có: Phần mở đầu, phần kết quả nghiên cứu và phần kết luận, khuyến nghị

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, cấu trúc của luận văn được chia làm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và khái quát về địa bàn nghiên cứu

Chương 2: Tìm hiểu Kiến thức, thái độ, hành vi về các biện pháp tránh thai hiện đại và bệnh phụ khoa

Chương 3: Các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức, thái độ, hành vi về SKSS của phụ nữ ven biển

Trang 30

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Trong nội dung này, chúng tôi sẽ trình bày và phân tích cơ sở lý luận dựa trên những nghiên cứu đi trước, làm rõ một số khái niệm liên quan và lý thuyết áp dụng cho đề tài như là cách tiếp cận đề tài Ngoài ra, chúng tôi cũng khái quát về địa bàn nghiên cứu như là cơ sở thực tiễn của đề tài, trình bày rõ về điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế, xã hội của địa bàn nghiên cứu đồng thời phân tích thực trạng SKSS của phụ nữ trên địa bàn để làm cơ sở nghiên cứu cho những nội dung tiếp theo

Cụ thể, nội dung này được kết cấu thành các tiểu mục:

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Một số khái niệm liên quan

Khái niệm về Sức khỏe

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã định nghĩa về sức khỏe như sau: “Sức khỏe là

trạng thái thoải mái, đầy đủ về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không chỉ là không

có bệnh tật hay thương tật” (WHO, Hiến chương Ottawa, 1970)

Khái niệm này được xây dựng trên quan điểm dự phòng, sức khỏe là yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt, lao động, học tập của con người, ảnh hưởng đến đời sống hoạt động sản xuất vật chất, tinh thần, sản xuất nòi giống của xã hội Không có sức khỏe thì không thể lao động có năng suất cao, ngược lại sức khỏe phụ thuộc vào nhiều yếu tố Nó là khái niệm tổng hợp, đòi hỏi sự tham gia đóng góp của toàn xã hội và sự tham gia của bản thân mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng nhất định Mỗi

cá nhân phải có kiến thức, hiểu biết để hành động và ứng xử hợp lý, tạo ra sức khỏe cho bản thân và gia đình [18, tr.222-223]

Khái niệm về Sức khỏe sinh sản

Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển (ICPD) tại Cairo (1994) đã đưa ra định nghĩa về Sức khỏe sinh sản như sau:

“Sức khỏe sinh sản là trạng thái khỏe mạnh toàn diện về thể chất, tinh thần và

xã hội của tất cả những gì liên quan đến hoạt động và chức năng của bộ máy sinh sản chứ không phải là không có bệnh tật hay khuyết tật của bộ máy đó”

Trang 31

Có thể định nghĩa đơn giản: Sức khỏe sinh sản là không bị bệnh tật ở hệ thống sinh sản, được nhận thông tin và tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, các biện pháp kế hoạch hóa gia đình, thai nghén và sinh đẻ [18, tr.221]

Sức khỏe sinh sản bao gồm:

- Thể chất: tức là bộ máy sinh sản phải được bình thường và khỏe mạnh về

hoạt động tình dục và chức năng sinh sản

- Tinh thần: là sự thoải mái, bằng lòng, không lo lắng, băn khoăn về bộ máy

SKSS ở Việt Nam bao gồm 7 vấn đề lớn, nhưng trong đề tài này chúng tôi chỉ

đi vào tìm hiểu 02 nội dung quan trọng đối với SKSS của phụ nữ ven biển, đó là: Các biện pháp tránh thai hiện đại và bệnh phụ khoa

Khái niệm về Kế hoạch hóa gia đình

KHHGĐ là sự cố gắng có ý thức của các cặp vợ chồng nhằm điều chỉnh số con mong muốn và khoảng cách giữa các lần sinh KHHGĐ không chỉ là sử dụng các biện pháp tránh thai để tránh mang thai ngoài ý muốn, mà còn là những cố gắng của các cặp vợ chồng hiếm muộn để có thai và sinh con [14]

Trong luận văn này, chúng tôi chỉ đi vào tìm hiểu việc sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại để tránh mang thai ngoài ý muốn của phụ nữ ven biển Có nghĩa

là, tìm hiểu xem hiện nay phụ nữ ven biển có sử dụng BPTT hay không, sử dụng như thế nào, những BPTT nào đang được phụ nữ ven biển sử dụng phổ biến…

Khái niệm về Bệnh phụ khoa

Bệnh phụ khoa hay còn gọi là bệnh viêm nhiễm đường sinh sản là bệnh lý nhiễm trùng do nguyên nhân vi khuẩn, nấm hoặc ký sinh trùng Vị trí viêm nhiễm

Trang 32

có thể là âm hộ, tầng sinh môn, âm đạo, cổ tử cung và viêm phần phụ Viêm nhiễm đường sinh sản không chỉ là một bệnh lý đơn thuần của đường sinh sản mà nó còn gây ra những rối loạn trong đời sống và hoạt động tình dục của người phụ nữ Viêm nhiễm đường sinh sản bao gồm cả nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục [13]

Khái niệm về Kiến thức, thái độ, hành vi

Kiến thức: là nhận ra ý nghĩa, bản chất, lý lẽ của sự việc bằng sự vận dụng trí

tuệ Hiểu biết được ý nghĩ, tình cảm, quan điểm của người khác về tình hình, lĩnh vực nào đó Có kiến thức là nhờ một quá trình thông qua giáo dục, thông tin, truyền thông, bằng cách tác động bởi các yếu tố bên ngoài và bằng ngay chính năng lực của bản thân con người [25]

Trong luận văn này, “kiến thức” được đo lường bằng các chỉ báo:

- Kiến thức về các BPTT, đánh giá hiệu quả của các BPTT và khả năng nhận biết được BPTT phòng tránh bệnh lây truyền qua đường tình dục

- Kiến thức về Bệnh phụ khoa: Nhận thức về bệnh phụ khoa, mức độ nguy hiểm của BPK, tác hại BPK của phụ nữ ven biển

Thái độ: là những biểu hiện bên ngoài bằng nét mặt, cử chỉ, lời nói, hành động

của ý nghĩ, tình cảm đối với ai hoặc về sự việc nào đó (thái độ đồng tình, không đồng tình, ủng hộ hay không ủng hộ, hoặc im lặng) Nó là cách nghĩ, cách nhìn và cách hành động theo một hướng nào đó trước một vấn đề, một tình hình [25]

Trong luận văn này, “thái độ” được đo lường bằng các chỉ báo: Thái độ của phụ nữ ven biển đối với những vấn đề ưu tiên trong cuộc sống, với các BPTT và BPK

Hành vi: hành vi của con người là những ứng xử trong những tình huống, hoàn

cảnh cụ thể và chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau Một cá nhân muốn có hành vi tốt cần phải có kiến thức (hiểu biết đầy đủ về hành vi đó), có niềm tin và thái độ tích cực muốn thay đổi theo chiều hướng có hành vi tốt, có kĩ năng thực hiện hành vi đó, có các nguồn lực để có thể thực hiện hành vi đó và đồng thời phải có sự ủng hộ, để duy trì hành vi đó lâu dài [25]

Trong luận văn này, “hành vi” được đo lường bằng các chỉ báo:

Trang 33

- Hành vi áp dụng các BPTT, mức độ sử dụng các BPTT

- Hành vi phòng ngừa BPK

Khái niệm về Phong tục

Phong tục là một thói quen xã hội của một địa phương, một quốc gia [28]

Phong tục bao hàm nghĩa rất rộng, bao quát tất cả những thói quen trong đời sống của một địa phương, một dân tộc Trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi chỉ đi vào tìm hiểu những phong tục (mà ở đây chúng tôi dùng từ “quan niệm”) về SKSS của phụ nữ ven biển, bao gồm những nội dung:

- Quan niệm của phụ nữ ven biển về con cái

- Quan niệm về việc sinh sản của người phụ nữ

- Quan niệm về hành vi phòng ngừa bệnh phụ khoa

- Quan niệm về các biện pháp tránh thai hiện đại

Khái niệm về Môi trường sống

Môi trường sống của con người là phần không gian mà con người tác động, sử

dụng và bị nó làm ảnh hưởng (UNESCO, 1967), bao gồm tất cả các nhân tố tự nhiên, xã hội bao quanh và có ảnh hưởng đến sức khỏe con người [20, tr.19]

Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi chỉ tìm hiểu ảnh hưởng của nguồn nước, môi trường làm việc đến SKSS của phụ nữ ven biển

Khái niệm về Tiếp cận dịch vụ y tế

Có nhiều định nghĩa về Tiếp cận dịch vụ y tế, song hầu hết các nhà nghiên cứu đều có chung quan điểm rằng tiếp cận liên quan đến việc sử dụng các dịch vụ theo nhu cầu (Campbell, 2000) Theo Viện Y học Mỹ, tiếp cận dịch vụ y tế là “việc sử dụng kịp thời các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cá nhân để có được tình trạng sức khỏe tốt nhất có thể” (Institute of Medicine, 1993) Tiếp cận có thể được nhìn theo hai cách: có khả năng tiếp cận và thực sự tiếp cận Việc có khả năng tiếp cận hay không liên quan đến năng lực và cấu trúc của hệ thống cung ứng dịch vụ cho thấy

hệ thống đó có đủ số lượng và các loại hình nhân lực y tế và chương trình y tế để đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh của người dân hay không Tuy nhiên, đó mới chỉ

là điều kiện cần chứ chưa đủ để đảm bảo sự tiếp cận thực sự Việc người dân có

Trang 34

thực sự sử dụng dịch vụ hay không mới biến khả năng tiếp cận trở thành hiện thực [13, tr.27]

Trong luận văn này, tiếp cận dịch vụ y tế được xem xét cả từ góc độ khả năng tiếp cận và thực tế tiếp cận, tức là người dân có sử dụng dịch vụ như họ muốn hay không

Khái niệm về Vùng ven biển

Ngân hàng Phát triển Tây Phi (BOAD - Banque Ouest Africaine Developpement (1973) cho rằng không có định nghĩa chính xác về vùng ven biển

Họ cho rằng vùng ven biển bao gồm vùng nước, vùng biển, cửa sông và một số phần đất dọc bờ biển nơi có hoạt động của con người và các quá trình tự nhiên Giới hạn của những vùng đất khác nhau được xác định không chỉ bằng sinh thái và địa chất, đặc điểm mà còn được xác định dưới góc độ chính trị và quản lý hành chính [33]

Theo Scialabba and Nadia (1998), vùng ven biển được định nghĩa là giao diện hoặc các khu vực chuyển tiếp giữa đất liền và biển, bao gồm cả các hồ nội địa lớn Vùng ven biển không giống như các lưu vực sông, không có ranh giới tự nhiên chính xác, rõ ràng để khoanh định khu vực ven biển [34]

Từ những định nghĩa trên, theo tác giả thì “Vùng ven biển là các mảng không

gian nằm chuyển tiếp giữa lục địa và biển, luôn chịu tác động tương hỗ giữa: lục địa và biển, hệ tự nhiên và hệ nhân văn, các ngành và người sử dụng tài nguyên vùng bờ theo cả cấu trúc dọc và cấu trúc ngang, giữa cộng đồng dân địa phương và các thành phần kinh tế khác”

Như vậy, vùng ven biển là dải tương đối hẹp của nước, đất đai và các yếu tố tự nhiên có tính năng là bãi biển, vùng đất ngập nước, cửa sông, đầm phá và cồn

1.1.2 Lý thuyết áp dụng vào đề tài

1 1.2.1 Lý thuyết về hành động hợp lý

Có nhiều lý thuyết giải thích tại sao con người chuyển đổi hành vi của mình

Lý thuyết hành động hợp lý của M Fishbein và I Ajzen (1980) cho rằng việc chấp nhận một hành vi là chức năng của ý thức, được xác định bởi thái độ của con người,

Trang 35

lòng tin và các giá trị mong muốn đạt được đối với việc thực hiện hành vi và bằng các chuẩn mực xã hội có liên quan Hai thành tố quan trọng của lý thuyết này là:

- Lòng tin vào hậu quả của hành vi Mỗi cá nhân thường tự hỏi: Điều gì sẽ xảy

ra, nếu mình hành động như vậy?

- Các chuẩn mực xã hội có liên quan đến hành vi Mỗi cá nhân thường tự hỏi: Những người khác sẽ làm gì trong trường hợp này? Và người khác muốn mình làm gì? Người dân có thực hiện hành vi về sức khỏe sinh sản hay không là phụ thuộc vào nhận thức và thái độ đối với vấn đề sức khỏe sinh sản Khi họ thấy được giá trị, tầm quan trọng của sức khỏe nói chung và sức khỏe sinh sản nói riêng, họ sẽ có suy nghĩ, có thái độ đúng đắn và từ đó thực hiện hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản cho mình

Tuy nhiên, các yếu tố kinh tế - xã hội, phong tục tập quán, môi trường sống, tiếp cận dịch vụ y tế cũng tác động đến hành vi về SKSS Người dân luôn có sự cân nhắc để lựa chọn các dịch vụ phù hợp với điều kiện kinh tế của mình, họ cũng lựa chọn những giá trị mà họ cho là phù hợp với văn hóa, phong tục tập quán của nơi mình sinh sống

Như vậy, từ những hiểu biết về SKSS, cộng thêm các yếu tố khác tác động làm cho người dân lựa chọn hành vi ứng xử phù hợp theo cách nhìn nhận của họ về SKSS nếu họ thấy phù hợp với cuộc sống của họ

1.1.2.2 Mô hình KAP (Knowledge Attitude Practice)

Kiến thức → Thái độ → Hành vi

Mô hình lý thuyết này cho rằng, để cá nhân có một hành vi đúng thì cá nhân

đó phải được cung cấp đầy đủ kiến thức, để từ đó cá nhân có thái độ nhìn nhận sự việc đúng và đi đến thực hiện hành vi của mình

Kiến thức, thái độ là những thành tố quan trọng có ảnh hưởng đến sự thay đổi hành vi Trên một khía cạnh nào đó, việc có thông tin chưa nhất thiết trở thành kiến thức do ảnh hưởng của một số yếu tố, trong đó thái độ văn hóa (ví dụ thái độ về số con mong muốn, quy mô gia đình nhỏ, thái độ đối với các biện pháp tránh thai) là yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đối với việc thông tin được người dân tiếp thu như

Trang 36

thế nào để trở thành kiến thức, và thái độ này cũng có ảnh hưởng đến việc chuyển đổi hành vi Nếu như thông tin mới thu nhận được lại trái ngược hoặc không tương đồng với kiến thức có sẵn thì thông tin mới có thể bị chối bỏ (ví dụ thông tin mới về biện pháp triệt sản có thể xung đột với quan niệm tiêu cực xưa vẫn còn tồn tại trong cộng đồng gắn với vấn đề hoạn) Mặt khác, thông tin có thể được tiếp thu và trở thành một cơ sở rất hiệu quả để thay đổi hành vi Trong trường hợp này, thái độ đóng một vai trò quan trọng trong việc chuyển đổi hành vi

1.2 Khái quát về đặc điểm địa lý, kinh tế - xã hội tại địa bàn nghiên cứu

Nghĩa Hưng là một huyện ở phía nam của tỉnh Nam Định Phía Đông giáp

các huyện Hải Hậu, Trực Ninh, phía Tây giáp Kim Sơn (tỉnh Ninh Bình), phía Nam giáp biển Đông, phía Bắc giáp huyện Nam Trực và Ý Yên Có địa hình thấp so với các nơi khác trong tỉnh, nghiêng dần từ Bắc xuống Nam Khí hậu mang đặc điểm

của khí hậu nhiệt đới, gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều

Nghĩa Hưng nằm trong vùng bờ biển thuộc vùng Nam đồng bằng sông Hồng Huyện có chiều dài bờ biển 12 km, phía Tây giới hạn bởi sông Đáy, ranh giới phía Đông là sông Ninh Cơ Vùng tiếp giáp với cửa sông Ninh Cơ là các bãi cát, các đụn cát và đầm nước mặn Phía Đông khu vực là các đầm nuôi trồng thuỷ sản Dọc sông Ninh Cơ có các ruộng muối Phía ngoài con đê chính có các bãi ngập triều với diện tích khoảng 3.500 ha Cách bờ biển 5 km có 2 đảo cát nhỏ có diện tích 25 ha với các đụn cát và một số đầm nước mặn phía nam Rừng phòng hộ ven biển Nghĩa Hưng

đã được UNESCO đưa vào danh sách địa danh thuộc khu dự trữ sinh quyển đồng bằng sông Hồng

Diện tích tự nhiên là 254,44 km2, tổ chức hành chính có 22 xã và 3 thị trấn Dân số toàn huyện là 209.223 người (2015), mật độ dân số là 822 người/km2 Đồng bào theo đạo Thiên chúa chiếm 48,9% dân số Là một huyện thuần nhất đồng bằng ven biển, Nghĩa Hưng thuận lợi phát triển kinh tế nông nghiệp đa dạng: Trồng lúa, khoai, lạc, đay, cói, nuôi vịt, lợn Đánh bắt và chế biến hải sản, sản xuất muối, đóng tàu cũng là một tiềm năng mới Trong những năm gần đây, nhiều nghề thủ công

Trang 37

truyền thống được phục hồi như dê ̣t chiếu cói ở Liêu Hải (Nghĩa Trung), Tân Liêu (Nghĩa Sơn); khâu nón lá ở Nghĩa Châu; làm miến ở Nghĩa Lâm…

Thị trấn Liễu Đề là huyện lỵ của huyện Nghĩa Hưng Tiền thân của thị trấn là

xã Nghĩa Hiệp Ngày 13-2-1987, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 26-HĐBT thành lập thị trấn Liễu Đề trên cơ sở diện tích tự nhiên và dân số của xã Nghĩa Hiệp

và 26,8 ha diện tích tự nhiên của xã Nghĩa Trung Xã Nghĩa Hiệp bị giải thể

Thị trấn Liễu Đề giáp với xã Nghĩa Trung về phía tây, xã Nghĩa Sơn và sông Ninh Cơ về phía nam, xã Trực Mỹ về phía đông và xã Trực Thuận về phía bắc Liễu

Đề có tỉnh lộ 55 chạy qua, và chạy song song với sông Thống Nhất

Thị trấn có diện tích 4,2 km2, dân số 7.106 người (2015) Mật độ dân số là 1.692 người/km2 Vị trí địa lý tạo điều kiện cho thị trấn phát triển kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng dịch vụ thương mại, công nghiệp, giảm tỷ trọng nông nghiệp Đến đầu năm 2016, tỷ trọng thương mại, dịch vụ của thị trấn chiếm 51%, công nghiệp của thị trấn chiếm 30%, tỷ trọng nông nghiệp giảm còn 19%

Nam Điền là một xã ven biển thuộc huyện Nghĩa Hưng, được thành lập năm

1978 trên nền đất quai đê lấn biển Xã Nam Điền có diện tích 7,13 km², dân số là

7985 người (2015), mật độ dân số đạt 1119 người/km² Đồng bào theo đạo Thiên chúa chiếm gần 50% Cùng với 5 xã, thị trấn nằm ở cực nam của huyện Nghĩa Hưng đã được UNESCO đưa vào danh sách các địa danh thuộc khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng Với lợi thế giáp biển và được bao quanh bởi 2 cửa sông Ninh Cơ và sông Đáy, xã Nam Điền có tiềm năng, thế mạnh để phát triển kinh tế biển và nuôi trồng thủy, hải sản

1.3 Thực trạng SKSS [23]

Bảng 1.1 Thực trạng Dân số - SKSS của địa bàn nghiên cứu

Nội dung Toàn huyện Thị trấn

Liễu Đề

Xã Nam Điền

- Số trẻ là con thứ ba trở lên 532 19 39

Trang 38

- Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên 21,7% 22.3% 32,5%

Nguồn: Báo cáo Dân số-KHHGĐ năm 2015 của TTDS huyện Nghĩa Hưng

1.4 Một số đặc điểm về mẫu tại địa bàn nghiên cứu

Mục này mô tả các thông tin chung có tính nhân khẩu học về mẫu nghiên cứu, bao gồm: Cơ cấu tuổi, học vấn, nghề nghiệp, tôn giáo, thu nhập

Bảng 1.2 Đặc điểm nhân khẩu học của mẫu nghiên cứu

100,0 Học vấn

100,0 Nghê nghiệp

Trang 39

14 2,5

0 7,0 11,0 1,0

100,0 Tôn giáo

100,0 Thu nhập TB tháng

100,0

Nguồn: Cuộc khảo sát tại thị trấn Liễu Đề và xã Nam Điền - tháng 11/2016

Tuổi

Trang 40

Tuổi trung bình của phụ nữ trong mẫu nghiên cứu là 33,6 tuổi Nhóm phụ nữ

từ 25-34 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất (48%) - độ tuổi sinh sản mạnh nhất, tiếp đến là nhóm phụ nữ từ 35-49 tuổi (38,5%), nhóm phụ nữ từ 18-24 tuổi chiếm tỉ lệ thấp nhất (13,5%)

Trình độ học vấn

Trình độ học vấn của phụ nữ trong mẫu nghiên cứu chủ yếu là cấp II/THCS (48%) Phụ nữ trong mẫu nghiên cứu ở Liễu Đề có trình độ học vấn cao hơn, chủ yếu là trình độ cấp 3/THPT (40%), kế đến là trình độ Cao đẳng, ĐH trở lên (24%); trong khi đó phụ nữ trong mẫu nghiên cứu ở Nam Điền có trình độ học vấn cấp II/THCS là chủ yếu (64%), những người có trình độ cấp 3/THPT chỉ chiếm 17% và trình độ cao đẳng, ĐH trở lên chỉ có 1%

Nghề nghiệp

Nghề nghiệp chủ yếu của Phụ nữ trong mẫu nghiên cứu là nghề đi bãi, làm ao đầm, nghề làm ruộng và buôn bán, dịch vụ Có sự khác biệt về nghề nghiệp giữa hai địa bàn nghiên cứu: Phụ nữ trong mẫu nghiên cứu ở Nam Điền chủ yếu sống bằng nghề đi bãi, làm ao đầm (63%), số người làm ruộng chỉ chiếm 16% Phụ nữ trong mẫu nghiên cứu ở Liễu Đề chủ yếu sống bằng nghề làm ruộng (34%) và nghề buôn bán, dịch vụ (26%)

Qua khảo sát thực tế, xã Nam Điền là một xã giáp biển của huyện Nghĩa Hưng, với lợi thế về nuôi trồng thuỷ hải sản nên phần lớn diện tích đất nông nghiệp

đã chuyển đổi mục đích sử dụng từ trồng lúa là chính sang đào ao, nuôi trồng thuỷ hải sản có giá trị kinh tế cao như: Tôm, cua, cá bống bớp, cá mú… Vì thế mà phụ

nữ trong mẫu nghiên cứu nói riêng và người dân trong xã nói chung chủ yếu sống bằng nghề làm ao đầm

Về tôn giáo, phụ nữ trong mẫu nghiên cứu theo đạo Phật và đạo Thiên chúa gần như bằng nhau (49% theo đạo Phật và 46,5% theo đạo Thiên chúa giáo); số phụ

nữ không theo tôn giáo nào chiếm tỷ lệ rất ít (4,5%)

Về thu nhập, phụ nữ trong mẫu nghiên cứu có thu nhập trung bình từ 3 triệu đồng/ tháng trở lên chiếm tỷ lệ nhiều nhất (39%), kế đến là thu nhập từ 2 - dưới 3

Ngày đăng: 17/05/2017, 15:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chỉ đạo Dân số-KHHGĐ huyện Nghĩa Hưng, Báo cáo tổng kết công tác Dân số-KHHGĐ năm 2015, phương hướng nhiệm vụ năm 2016, ngày 12/11/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác Dân số-KHHGĐ năm 2015, phương hướng nhiệm vụ năm 2016
2. Trịnh Hòa Bình (1998), Gia đình nông thôn và vấn đề chăm sóc sức khỏe cộng đồng, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình nông thôn và vấn đề chăm sóc sức khỏe cộng đồng
Tác giả: Trịnh Hòa Bình
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1998
3. Bộ Y tế, Chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, Nxb Y học, Hà Nội, 1996 4. Bộ Y tế, Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2015, Nxb Y học, HàNội, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân", Nxb Y học, Hà Nội, 1996 4. Bộ Y tế, "Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2015
Nhà XB: Nxb Y học
5. Bộ Y tế - Tổng cục Dân số-KHHGĐ, Một số kết quả khảo sát về những yếu tố phong tục tập quán và nghề nghiệp tác động đến thái độ, hành vi về chăm sóc SKSS của người dân vùng biển, đảo và ven biển, Công ty In và thương mại Việt Anh, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả khảo sát về những yếu tố phong tục tập quán và nghề nghiệp tác động đến thái độ, hành vi về chăm sóc SKSS của người dân vùng biển, đảo và ven biển
6. Bùi Quang Dũng - Lê Ngọc Hùng (2005), Lịch sử Xã hội học, NXB Lý luận chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Xã hội học
Tác giả: Bùi Quang Dũng - Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị
Năm: 2005
7. Nguyễn Thị Hải, Nguyễn Thị Vân và cộng sự (1997), An sinh xã hội và các vấn đề xã hội, Đại học Mở Bán công Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: An sinh xã hội và các vấn đề xã hội
Tác giả: Nguyễn Thị Hải, Nguyễn Thị Vân và cộng sự
Năm: 1997
8. Vương Tiến Hòa (2001), Sức khỏe sinh sản, NXB Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức khỏe sinh sản
Tác giả: Vương Tiến Hòa
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2001
9. Hội Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam, Bình đẳng giới trong chăm sóc Sức khỏe sinh sản và chống bạo lực gia đình, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình đẳng giới trong chăm sóc Sức khỏe sinh sản và chống bạo lực gia đình
12. Trần Văn Huấn (2005), Xã hội học Dân số, Tài liệu học tập dành cho sinh viên, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học Dân số
Tác giả: Trần Văn Huấn
Năm: 2005
14. Nguyễn Thanh Liêm, Hà Anh Đức và Peter C. Miller, 2013, Thực trạng sức khỏe và sử dụng dịch vụ y tế của người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số và phụ nữ tại Thái Nguyên, NXB Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng sức khỏe và sử dụng dịch vụ y tế của người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số và phụ nữ tại Thái Nguyên
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
15. Nguyễn Hữu Minh, Đặng Nguyên Anh, Vũ Mạnh Lợi, Dân số Việt Nam qua các nghiên cứu xã hội học, NXB Khoa học xã hội Hà Nội – 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân số Việt Nam qua các nghiên cứu xã hội học
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội Hà Nội – 2009
16. Phó Đức Nhuận, Những điều nên biết về bệnh phụ khoa, NXB Phụ nữ, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điều nên biết về bệnh phụ khoa
Nhà XB: NXB Phụ nữ
17. Nguyễn Thị Oanh (2002), Sức khỏe phụ nữ, Trung tâm Nghiên cứu tư vấn công tác xã hội và phát triển cộng đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức khỏe phụ nữ
Tác giả: Nguyễn Thị Oanh
Năm: 2002
18. Hoàng Bá Thịnh (chủ biên), (1999), Một số nghiên cứu về SKSS ở Việt Nam sau Cairo, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nghiên cứu về SKSS ở Việt Nam sau Cairo
Tác giả: Hoàng Bá Thịnh (chủ biên)
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1999
19. Hoàng Bá Thịnh (2010), Xã hội học Sức khỏe, NXB Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học Sức khỏe
Tác giả: Hoàng Bá Thịnh
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2010
21. Tổng cục Dân số-KHHGĐ (2009), Sổ tay tuyên truyền viên Dân số - y tế cơ sở, NXB Khoa học kĩ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay tuyên truyền viên Dân số - y tế cơ sở
Tác giả: Tổng cục Dân số-KHHGĐ
Nhà XB: NXB Khoa học kĩ thuật
Năm: 2009
22. Trung tâm Nghiên cứu Giới, Gia đình và Môi trường trong phát triển (2001), Phụ nữ, sức khỏe và môi trường, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ, sức khỏe và môi trường
Tác giả: Trung tâm Nghiên cứu Giới, Gia đình và Môi trường trong phát triển
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
23. Trung tâm Dân số-KHHGĐ huyện Nghĩa Hưng, Báo cáo công tác Dân số- KHHGĐ quý IV năm 2015, ngày 04/01/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác Dân số-KHHGĐ quý IV năm 2015
24. Phạm Song (1999), Dân số-KHHGĐ-SKSS, làm gì cho trước mắt và cho thế kỉ , Tạp chí Cộng sản, số 13, tháng 7/1999, Tr30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân số-KHHGĐ-SKSS, làm gì cho trước mắt và cho thế kỉ
Tác giả: Phạm Song
Năm: 1999
26. Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em (2003), Các thông điệp chủ yếu về Dân số và chăm sóc SKSS, chương trình đào tạo truyền thông dân số - SKSS, cuốn 3, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thông điệp chủ yếu về Dân số và chăm sóc SKSS
Tác giả: Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w