1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát kiến thức, thái độ, hành vi về sử dụng oresol của các bà mẹ có con bị tiêu chảy tại khoa nội tổng hợp bệnh viện nhi tỉnh nam định năm 2019

59 257 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 552,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH ĐỖ THỊ THỦY KHẢO SÁT KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, HÀNH VI VỀ SỬ DỤNG ORESOL CỦA CÁC BÀ MẸ CÓ CON BỊ TIÊU CHẢY TẠI KHOA NỘI TỔNG HỢP BỆNH VIỆN NHI TỈNH

Trang 1

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

ĐỖ THỊ THỦY

KHẢO SÁT KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, HÀNH VI VỀ SỬ DỤNG ORESOL

CỦA CÁC BÀ MẸ CÓ CON BỊ TIÊU CHẢY

TẠI KHOA NỘI TỔNG HỢP BỆNH VIỆN NHI TỈNH NAM ĐỊNH NĂM 2019

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Ngành: Điều dưỡng

Mã số:

Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Thị Thu Hường

NAM ĐỊNH – 2019

Trang 2

LỜI CẢM ƠN Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa luận này, em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của Quý thầy cô trường Đại học Điều dưỡng Nam Định cùng các anh chị nhân viên y tế tại Bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định

Em xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Ban giám hiệu, Quý Khoa, Phòng, Trung tâm đã hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt thời gian làm khóa luận tốt nghiệp

Em chân thành cảm ơn giảng viên hướng dẫn em là cô Nguyễn Thị Thu Hường

Cô đã chỉ dẫn, định hướng cho em để em hoàn thành tốt khóa luận này

Em xin cảm ơn tất cả các anh chị nhân viên y tế tại bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định

đã giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu và học tập tại bệnh viện

Em xin cảm ơn những người bệnh đã nhiệt tình hợp tác, giúp đỡ em để hoàn thành khóa luận này

Em xin chân thành cảm ơn!

Nam Định, ngày tháng năm 2019

Sinh viên

Đỗ Thị Thủy

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 2

DANH MỤC BẢNG 4

DANH MỤC HÌNH ẢNH 5

DANH MỤC BIỂU ĐỒ 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 7

I.ĐẶT VẤN ĐỀ 8

MỤC TIÊU 10

II CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC TIỄN 11

A CƠ SỞ LÝ LUẬN 11

1 ĐỊNH NGHĨA 11

2 NGUYÊN NHÂN VÀ YẾU TỐ NGUY CƠ 11

3 TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG BỆNH TIÊU CHẢY 15

4 CẬN LÂM SÀNG 17

5 CHĂM SÓC 18

6 PHÒNG BỆNH 26

B.CƠ SỞ THỰC TIỄN 28

1 Tình hình bệnh tiêu chảy trên Thế giới: 28

2 Tình hình bệnh tiêu chảy tại khu vực: 28

3.Tình hình bệnh tiêu chảy ở Việt Nam: 28

4 Tình hình bệnh tiêu chảy tại Nam Định 29

III LIÊN HỆ THỰC TIỄN 30

1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 30

2 Kiến thức của bà mẹ về bệnh tiêu chảy của trẻ em 32

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Phân loại mức độ mất nước 18

Bảng 2.2 Hướng dẫn bù nước và điện giải bằng cách uống oresol 21

Bảng 2.3 Liều lượng và tốc độ truyền dịch ở trẻ li bì do mất nước 22

Bảng 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (n=30) 30

Biểu đồ 3.1 Phân bố trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu 31

Bảng 3.2 Nguồn thông tin bà mẹ mong muốn tiếp nhận (n =30) 31

Bảng 3.3 Kiến thức về bệnh tiêu chảy (n=30) 32

Bảng 3.4 Kiến thức của bà mẹ về cách chăm sóc trẻ tiêu chảy ( n= 30) 33

Bảng 3.5 Kiến thức sử dụng ORS của đối tượng nghiên cứu ( n=30) 33

Bảng 3.6 Kiến thức về loại nước pha, cách pha, cách uống và thời gian bảo quản ORS ( n=30) 34

Bảng 3.7 Điểm trung bình chung kiến thức (n=30) 35

Bảng 3.8 Phân loại mức độ kiến thức của ĐTNC (n=30) 35

Bảng 3.9 Thái độ của bà mẹ về việc sử dụng ORS khi trẻ bị tiêu chảy (n =30) 36

Bảng 3.10 Điểm trung bình chung thái độ (n=30) 36

Bảng 3.11 Phân loại mức độ thái độ của đối tượng nghiên cứu (n=30) 37

Bảng 3.12 Hành vi sử dụng ORS của bà mẹ có con bị tiêu chảy (n=30) 37

Bảng 3.13 Các sai sót trong cách pha và cho uống ORS (n=30) 38

Bảng 3.14 Điểm trung bình chung hành vi (n=30) 39

Bảng 3.15 Phân loại mức độ kiến thức của đối tượng nghiên cứu (n=30) 39

Trang 5

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình ảnh 1: Rotavirus 12 Hình ảnh 2: Adenovirus 12

Trang 6

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Phân bố trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu Error! Bookmark not defined

Trang 7

Chilhood Illness)

: Hoạt động lồng ghép chăm sóc trẻ bệnh

: Qũy nhi đồng liên hợp quốc

Trang 8

I.ĐẶT VẤN ĐỀ

Tiêu chảy cấp là một trong những bệnh nhiễm trùng phổ biến nhất ở trẻ nhỏ, bệnh nguy hiểm gây tình trạng mất nước, sụt cân và nếu để tình trạng này kéo dài sẽ dẫn đến suy dinh dưỡng bội nhiễm, trụy tim mạch, suy kiệt và có thể dẫn đến tử vong Bên cạnh đó, theo thống kê cho thấy trong các khoa Nhi của các bệnh viện, khoảng 30% số giường giành cho bệnh tiêu chảy Chi phí vào thuốc, trang thiết bị và cả nhân lực cho vấn đề sức khỏe này rất lớn; chưa tính đến thời gian, sức lực mà gia đình phải gánh chịu [7] Như vậy, tiêu chảy không những gây bệnh tật, tử vong mà còn là gánh nặng cho nền kinh tế quốc gia và còn đe dọa đến cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của nhiều gia đình

Theo ước tính của tổ chức y tế thế giới năm 2013, tiêu chảy là bệnh thường gặp đứng thứ 2 mà trẻ mắc phải sau nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (17%) ở cùng nhóm lứa tuổi Tiêu chảy giết chết trẻ em nhiều hơn hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS), bệnh sốt rét và sởi cộng lại Tỷ lệ tử vong đứng hàng thứ 2 sau trẻ suy dinh dưỡng ở trên thế giới đặc biệt là các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam[3] Theo thống kê của Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh dịch Hoa Kỳ (CDC), mỗi ngày có khoảng 2195 trẻ tử vong do tiêu chảy cấp, có 801000 trẻ em tử vong mỗi năm

do tiêu chảy cấp và hơn 1,7 tỷ trường hợp bị mắc các bệnh về tiêu chảy cấp trên toàn thế giới [12] Năm 2013, ước tính có khoảng 2.000 trẻ em dưới 5 tuổi tử vong mỗi ngày vì bệnh tiêu chảy và trong đó khoảng 1.800 trường hợp tử vong có liên quan đến nước sạch và vệ sinh môi trường [3]

Trong những năm gần đây ở Việt Nam tình hình tiêu chảy có xu hướng tăng Theo thống kê của Qũy Nhi đồng Liên hợp quốc (2012), Viêm phổi và tiêu chảy vẫn là hai nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ e, chiếm 12% và 10% tổng số tử vong ở trẻ

em dưới 5 tuổi Trung bình mỗi đứa trẻ mắc khoảng 2,2 lần tiêu chảy trong một năm Tại bệnh viện trẻ em Hải Phòng sáu tháng đầu năm 2017 đã có hơn 2000 lượt trẻ dưới

Trang 9

5 tuổi mắc tiêu chảy cấp đến khám và điều trị, có nhiều trường hợp trẻ tái mắc hoặc cả anh chị em trong gia đình đều bị mắc bệnh[7]

Theo nghiên cứu của Lan Anh (2018) về tình hình bệnh tật trẻ em điều trị nội trú tại bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định, bệnh tiêu chảy đứng thứ 3 trong tổng 10 bệnh thường gặp tại Bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định với 918 trẻ mắc tiêu chảy chiếm 4,8% [2]

Việc chăm sóc, điều trị và phòng ngừa tiêu chảy cho trẻ cần có sự chung tay, hợp tác chặt chẽ của các ban nghành, đoàn thể , đặc biệt là các bà mẹ vì mẹ thường là người chăm sóc chính cho trẻ

Liệu pháp điều trị phục hồi nước và điện giải để điều trị và dự phòng mất nước do tiêu chảy đã được hướng dẫn và tuyên truyền rộng rãi trên thế giới cũng như ở Việt Nam Ở nước ta hiện nay có 90% trẻ em dưới 5 tuổi được bảo vệ theo chương trình này[8] Hiệu quả của liệu pháp này phụ thuộc vào sự hiểu biết và nhất là kỹ năng sử dụng dung dịch ORS của người mẹ hoặc người chăm sóc trẻ Vì vậy, việc nâng cao kiến thức của bà mẹ về sử dụng Oresol sẽ góp phần quan trọng trong việc điều trị, chăm sóc trẻ Đã có khá nhiều nghiên cứu đánh giá kiến thức, thái độ và hành vi của bà

mẹ trong dự phòng và điều trị tiêu chảy ở Nam Định, nhưng chưa có nhiều nghiên cứu

đi sâu đánh giá riêng về kiến thức, thái độ và kỹ năng sử dụng Oresol của các bà mẹ để

bù dịch và điện giải cho trẻ

Xuất phát từ thực tế đó, tôi nghiên cứu đề tài: “Khảo sát kiến thức, thái độ, hành

vi về sử dụng ORS của các bà mẹ có con bị tiêu chảy tại Khoa Nội tổng hợp Bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định năm 2019”

Trang 11

II CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC TIỄN

A CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 ĐỊNH NGHĨA

1.1 Tiêu chảy là đi ngoài phân lỏng hoặc toé nước trên 3 lần trong 24 giờ [5]

1.2 Tiêu chảy cấp là đi ngoài phân lỏng hoặc toé nước trên 3 lần trong ngày (24 giờ)

và kéo dài không quá 14 ngày.[5]

1.3 Tiêu chảy kéo dài là đi ngoài phân lỏng hoặc toé nước trên 3 lần trong ngày (24 giờ) và kéo dài ≥ 14 ngày.[5]

1.4 Tiêu chảy mãn là tiêu chảy mà nguyên nhân của nó là do rối loạn về cấu trúc hay

hệ thống men của ống tiêu hoá và thường là các bệnh bẩm sinh hoặc di truyền.[5]

2 NGUYÊN NHÂN VÀ YẾU TỐ NGUY CƠ

2.1 Nguyên nhân

2.1.1 Do nhiễm khuẩn

* Đường lây truyền

- Bệnh lây qua đường phân-miệng thông qua thức ăn hoặc nước uống bị ô nhiễm, nhiễm bẩn hoặc các vật dụng chế biến thức ăn cho trẻ bị nhiễm bẩn

- Tiếp xúc trực tiếp với thức ăn đã bị nhiễm khuẩn hoặc tiếp xúc trực tiếp với nguồn lây gây bệnh

- Một số tập quán tạo thuận lợi cho sự lan truyền các tác nhân gây bệnh như: không rửa tay sau khi đi ngoài, trước khi chế biến thức ăn, cho trẻ bú bình, để trẻ bò chơi ở vùng đất bấn có dính phân người hoặc phân súc vật

* Tác nhân gây bệnh

- Virus: Virus là nguyên nhân chủ yếu gây bệnh tiêu chảy cho trẻ em Những loại virus gây tiêu chảy là Rotavirus, Adenovirus, Norwalkvirus, trong đó Rotavirus là tác nhân chính gây bệnh tiêu chảy cho trẻ em dưới 2 tuổi Ước tính có đến 1/3 số trẻ em dưới 2 tuổi ít nhất bị một đợt tiêu chảy do Rotavirus[1] [5] [14]

Trang 12

Hình ảnh 1: Rotavirus Adenovirus - Norwalk virus gây viêm các nhung mao ruột và làm giảm các men ở ruột.[5] [15]

Hình ảnh 2: Adenovirus

- Vi khuẩn: Nhiều loại vi khuẩn có thể gây bệnh tiêu chảy cho trẻ em

+ Coli đường ruột gây 25% tiêu chảy cấp Có 5 nhóm gây bệnh là:

* Coli sinh độc tố ruột (Enterotoxigenic Esherichia Coli),

* Coli bám dính (Enteroadherent Esherichia Coli),

* Coli gây bệnh (Enterpathogenic Esherichia Coli),

* Coli xâm nhập (Enteroinvasive Esherichia Coli)

* Coli gây chảy máu (Enterohemorhagia Esherichia Coli)

Trang 13

Trong 5 loại trên, Coli sinh độc tố ruột (ETEC) là tác nhân quan trọng gây tiêu chảy cấp, phân toé nước ở người lớn và trẻ em ở các nước đang phát triển ETEC không xâm nhập vào niêm mạc ruột mà gây tiêu chảy bằng các độc tố không chịu nhiệt

là LT (heat labile toxin) và độc tố chịu nhiệt ST (heat stable toxin) với cơ chế gần giống tả

+ Trực trùng lị Shigella: Trực trùng lị Shigella là tác nhân trong 60% các đợt lị Trong các đợt lị nặng có thể ỉa phân toé nước trong những ngày đầu bị bệnh Trong 4 nhóm huyết thanh S Plexneri, S Dysenteriae, S Boydi và S Sonei, nhóm phổ biến nhất tại các nước đang phát triển là S Plexneri

+ Campylobacter Jejuni: C Jejuni gây bệnh chủ yếu ở trẻ nhỏ, lây qua tiếp xúc với phân, uống nước bẩn, ăn sữa và thực phẩm bị ô nhiễm C Jejuni gây tiêu chảy toé nước

ở 2/3 trường hợp và gây nên hội chứng lị có sốt ở 1/3 số trường hợp còn lại Bệnh thường diễn biến nhẹ, thường khỏi sau 2 - 5 ngày

+ Salmonella không gây thương hàn: Lây bệnh do tiếp xúc với súc vật nhiễm trùng hoặc thức ăn động vật bị ô nhiễm Đây là nguyên nhân phổ biến ở các nước sử dụng rộng rãi các loại thực phẩm chế biến kinh doanh Salmonella thường gây tiêu chảy phân toé nước, đôi khi cũng biểu hiện như hội chứng lị Kháng sinh không những không có hiệu quả mà có thể còn gây chậm đào thải vi khuẩn qua đường ruột

+ Phảy khuẩn tả Vibrio Cholerae 01: Có 2 typ sinh vật (typ Cổ điển và Eltor) và 2 typ huyết thanh (Ogawa và Inaba) Phảy khuẩn tả 01, sau khi qua dạ dày đến cư trú ở phần dưới hồi tràng và sản sinh ra độc tố CT (cholera toxin) Đơn vị B của CT gắn vào bộ phận tiếp nhận đặc hiệu của liên bào ruột non rồi giải phóng ra đơn vị A Đơn vị A đi vào tế bào ruột, hoạt hoá men Adenylcyclase để chuyển ATP thành AMP-vòng Sự gia tăng AMP-vòng đã ức chế hấp thu Natri theo cơ chế gắn với Clo, gây nên tình trạng xuất tiết ồ ạt nước và điện giải ở ruột non, dẫn đến mất nước nặng trong vài giờ và có thể gây thành dịch tả cho trẻ em.[5]

- Kí sinh trùng:

+ Entamoeba hystolytica (Lỵ amip): Entamoeba hystolytica xâm nhập vào liên bào đại tràng hay hồi tràng, gây nên các ổ áp xe nhỏ, rồi loét, làm tăng tiết chất nhày lẫn máu

Trang 14

+ Giardia lamblia (Trùng roi): Là đơn bào bám dính lên liên bào ruột non, làm teo các nhung mao ruột, dẫn đến giảm hấp thu, gây ra ỉa chảy

+ Cryptosporidium: Cryptosporidium thường gây tiêu chảy ở trẻ nhỏ, ở những bệnh nhi suy giảm miễn dịch và cũng gây bệnh ở nhiều loại gia súc Chúng bám dính lên liên bào ruột non, làm teo nhung mao ruột, gây tiêu chảy nặng và kéo dài Hiện chưa có thuốc điệu trị đặc hiệu

- Nấm Candida Albican: Sau khi bệnh nhi dùng kháng sinh kéo dài hoặc suy giảm miễn dịch(HIV/AIDS) [5]

2.2 Yếu tố nguy cơ

2.2.1 Các yếu tố vật chủ làm tăng tính cảm thụ với bệnh tiêu chảy

- Tuổi: Trẻ dưới 2 tuổi hay bị tiêu chảy, đặc biệt là trẻ ở độ tuổi 6 - 11 tháng (trẻ trong giai đoạn ăn sam)

- Tình trạng suy dinh dưỡng: Trẻ SDD dễ mắc bệnh tiêu chảy và bệnh lại thường nặng,

dễ gây tử vong

- Tình trạng suy giảm miễn dịch: Trẻ bị bệnh sởi, bị AIDS thường tăng tính cảm thụ đối với bệnh tiêu chảy

- Cơ địa: Trẻ đẻ non, đẻ yếu

- Tập quán làm tăng nguy cơ tiêu chảy:

+ Trẻ không bú mẹ, ăn nhân tạo không đúng phương pháp

+ Cho trẻ bú chai, vì chai và vú cao su rất khó rửa sạch

+ Trẻ cai sữa mẹ trướ 1 tuổi

+ Ăn sam sớm, thức ăn để lâu

+ Sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm

+ Chế độ vệ sinh cá nhân, vệ sinh ăn uống kém

+ Quản lý và xử lý phân chưa hợp lý

2.2.2 Tính chất mùa

- Tiêu chảy do virus thường xảy ra vào mùa đông

- Tiêu chảy do vi khuẩn thường xảy ra vào mùa hè

2.2.3 Các nhiễm khuẩn ngoài ruột cũng có thể gây ỉa chảy

Trang 15

- Viêm phổi

- Viêm tai giữa, viêm tai xương chũm

- Nhiễm trùng đường tiết niệu

2.2.4 Dùng kháng sinh bừa bãi

Trẻ được dùng kháng sinh bừa bãi, nhất là các loại kháng sinh dùng bằng đường uống sẽ tiêu diệt hết các vi khuẩn có lợi cho cơ thể, gây nên ỉa chảy do loạn khuẩn.[5]

3 TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG BỆNH TIÊU CHẢY

3.1 Triệu chứng tiêu hoá

3.1.1 Tiêu chảy

Tiêu chảy (đi ngoài phân lỏng) là triệu chứng không thể thiếu được trong bệnh tiêu chảy Tiêu chảy thường xảy ra đột ngột bởi dấu hiệu ỉa nhiều lần phân nhiều nước, có thể có lẫn nhày, máu và có mùi chua, tanh, nồng hoặc thối khẳn Có trường hợp phân

tự chảy ra do bị liệt cơ co thắt hậu môn

và thành phần chất nôn (toàn nước, thức ăn, chất khác), vì số lượng dung dịch oresol

cần bồi phụ cho trẻ phụ thuộc vào số lượng dịch mất đi do ỉa và nôn

3.1.3 Biếng ăn

Biếng ăn thường xuất hiện sớm ngay sau khi trẻ bị tiêu chảy: Trẻ thường từ chối các thức ăn thông thường, chỉ thích uống nước Cần khai thác xem chế độ ăn của trẻ ra sao, trẻ có được bú không? Gia đình đã cho trẻ uống thuốc gì, có cho trẻ uống oresol hoặc nước gì chưa?

3.2 Triệu chứng mất nước

Khi trẻ bị tiêu chảy cần phải tiến hành ngay việc đánh giá tình trạng mất nước bằng cách nhận định trên bệnh nhi:

Trang 16

3.2.1 Quan sát toàn trạng và hành vi của đứa trẻ để đánh giá 3 mức độ mất nước

- Trẻ tỉnh táo bình thường, khi chưa có biểu hiện mất nước trên lâm sàng

- Trẻ kích thích, vật vã, quấy khóc là có biểu hiện mất nước

- Trẻ li bì, lờ đờ, mệt lả, hôn mê là mất nước nặng

3.2.2 Xác định dấu hiệu khát nước

- Trước hết phải hỏi xem trẻ có đòi uống nước không?

- Hãy cho trẻ uống nước bằng cốc, chén, thìa và quan sát để đánh giá mức độ mất nước: + Uống bình thường: Trẻ có uống nhưng không thích lắm hoặc từ chối uống, khi chưa

có biểu hiện mất nước trên lâm sàng

+ Uống một cách háo hức: khi uống trẻ thường nắm giữ lấy thìa, ghì cốc vào miệng hoặc khóc ngay khi ngừng cho uống và nhìn theo cốc nước đang bị lấy đi Đây là một trong các dấu hiệu quan trọng nói lên tình trạng mất nước

+ Không uống được hoặc uống kém: khi đưa thìa nước vào miệng, trẻ không uống hoặc uống yếu ớt, hồi lâu mới uống được một ít nước Lúc này quan sát thường thấy trẻ

li bì hoặc hôn mê Đây là một trong những biểu hiện của mất nước nặng

3.2.3 Quan sát mắt của trẻ và nhận định

- Trong tiêu chảy, mắt của trẻ có thể: Bình thường; Trũng hoặc Rất trũng Trên thực tế

có những đứa trẻ đẻ ra mắt đã sâu (trũng) Do vậy, để tránh nhầm lẫn, nên hỏi người nhà xem mắt của trẻ hiện giờ có gì khác lúc bình thường không? Với mục đích này, không nên đặt câu hỏi đóng: mắt cháu có trũng không?

- Quan sát xem mắt trẻ khô hay ướt Khi trẻ khóc to, có thấy nước mắt chảy ra không? Nếu mắt khô, khóc không có nước mắt là trẻ có mất nước

3.2.4 Quan sát và thăm khám môi, miệng, lưỡi

- Nhìn xem môi có khô không

- Dùng ngón tay sạch, khô sờ vào miệng, vào lưỡi của trẻ, rồi rút ra Nếu thấy khô, không có nước bọt là có biểu hiện mất nước

3.2.5 Xác định độ chun giãn của da

Tại bụng hoặc đùi, ta véo da thành nếp rồi bỏ ra, nếu thấy:

- Nếp da véo mất nhanh: Chưa có biểu hiện mất nước trên lâm sàng

Trang 17

- Nếp da véo mất chậm: Có mất nước

- Nếp da véo mất rất chậm (trên 2 giây): Mất nước nặng

3.2.6 Một số dấu hiệu khác

- Mạch: Có thể rất nhanh yếu hoặc khó bắt, nếu mất nước nặng

- Thở: Trẻ thở nhanh, khi bị mất nước nặng và toan chuyển hoá Khi trẻ có khó thở, cần phải hỏi xem trẻ có ho không để phân biệt với viêm phổi (vì viêm phổi cũng có thể kèm theo ỉa phân lỏng)

- Đái ít, nước tiểu xẫm mầu là mất nước Nếu không đái trong 6 giờ là mất nước nặng

- Thóp: Cần quan sát đối với trẻ còn thóp: Thóp sẽ lõm xuống (trũng), nếu trẻ có mất nước, rất trũng là mất nước nặng Cũng nên hỏi người nhà về tình trạng thóp của trẻ lúc bình thường

- Cân để xác định trọng lượng của trẻ:

+ Cân trước và sau khi bồi phụ nước và điện giải để đánh giá số lượng dịch đã uống hoặc đã truyền

+ Nếu có điều kiện cân ngay trước khi trẻ ỉa chảy và lúc chúng ta thăm khám cho trẻ, thì có thể xác định được lượng nước đã mất Song, trên thực tế thì công việc này không

có tính khả thi.[5]

4 CẬN LÂM SÀNG

- Công thức máu

+ Hồng cầu trong trường hợp mất nước

+ Bạch cầu: Bạch cầu đa nhân trung tính tăng cao trong bệnh nhiễm khuẩn

+ Huyết sắc tố trong mất nước

+ Có thể làm Hematocrit để đánh giá tình trạng cô đặc máu (mất nước nặng)

- Sinh hóa máu

- Điện giải đồ: Xét nghiệm điện giải đồ để xác định tình trạng rối loạn điện giải khi trẻ

bị tiêu chảy có mất nước, mất nước nặng hoặc diễn biến bệnh và lâm sàng không tương ứng với mức độ của tiêu chảy

- Xét nghiệm phân:

Trang 18

+ Soi phân tươi: Nếu thấy hồng cầu và bạch cầu đa nhân trung tính chứng tỏ nhiễm vi khuẩn xâm nhập như Shingela Nếu thấy kén hoặc đơn bào Giardia chứng tỏ chúng là nguyên nhân gây bệnh

+ Cấy phân: Khi điều trị không có kết quả cần cấy phân để tìm vi khuẩn gây bệnh Tiêu chảy phân máu, tiêu chảy phân nước nặng nghi tả, tiêu chả nặng và kéo dài, tiêu chảy trên trẻ suy giảm miễn dịch.[5]

Bảng 2.1 Phân loại mức độ mất nước

Không khát, uống bình thường

Vật vã, kích thích*

Trũng

Ít nước mắt Khô

Khát, uống háo hức*

Li bì, mệt lả, hôn mê* Rất trũng

Không có nước mắt Rất khô

Uống kém, không uống được*

có 2 dấu hiệu trong đó

ít nhất có 1 dấu hiệu *

là mất nước nặng Phác đồ

Trang 19

5.2 Can thiệp điều dưỡng

5.2.1 Đối với “Nguy cơ mất nước do tiêu chảy” (tiêu chảy chưa có dấu hiệu mất nước hay): Chăm sóc theo phác đồ A

5.2.1.1 Chăm sóc tại nhà: Theo khuyến cáo của WHO và đồng thuận về chẩn đoán và

điều trị tiêu chảy cấp ở trẻ em của hội nghị Nhi khoa toàn quốc lần thứ XXI: trẻ mắc tiêu chảy cấp chưa mất nước có thể được chăm sóc tại nhà theo 4 nguyên tắc sau đây:

- Nguyên tắc 1: Đề phòng mất nước và điện giải bằng cách uống ORS

+ Pha ORS và hướng dẫn cách pha ORS cho bà mẹ

Ví dụ: Pha ORS: Hoà cả gói oresol 1 lần với 1 lít nước nguội Dung dịch đã pha chỉ dùng trong 24 giờ

Pha ORS cam: Hòa cả gói với 200ml nước đung sôi để nguội Dung dịch đã pha chỉ được dùng trong 24 giờ

+ Cho trẻ uống dung dịch Oresol ngay sau lần ỉa phân lỏng đầu tiên với liều lượng như sau:

* 50 - 100 ml sau mỗi lần đi ỉa đối với trẻ dưới 2 tuổi

* 100 - 200 ml sau mỗi lần đi ỉa đối với trẻ từ 2 - 5 tuổi

* Uống theo nhu cầu đối với trẻ trên 5 tuổi

+ Nếu không có ORS thì cho uống nước cháo muối hoặc nước muối đường hoặc nước dừa non với liều lượng như trên Phải hướng dẫn cho bà mẹ cách pha các loại dung dịch trên Sau khi hướng dẫn phải đảm bảo là bà mẹ đã hiểu và chắc chắn sẽ pha đúng loại dung dịch cần thiết cho trẻ uống Ví dụ như:

* Nước cháo muối: 1 nắm gạo + 6 bát (200mk/bát) nước + 1 nhúm muối, đun sôi cho đến khi hạt gạo nở tung ra, chắt lấy 1000ml.Uống trong thời gian 6 giờ, không hết

đổ đi, nấu nồi khác

* Nước muối đường: Hoà tan: 1 thìa cafe gạt bằng muối (3,5g) + 8 thìa cafe gạt bằng đường (20g glucose và 20 fructose) + 1000ml nước sôi để nguội Uống trong vòng 24 giờ

* Nước dừa non:1000ml + 1 thìa cafe gạt bằng muối Uống trong 6 giờ

Trang 20

+ Hướng dẫn bà mẹ cách cho trẻ uống có hiệu quả: Hướng dẫn người mẹ cho trẻ uống liên tục, uống ít một bằng thìa, cứ 1 - 2 phút uống 1 thìa Trẻ lớn cho uống từng ngụm bằng cốc

+ Nếu trẻ nôn thì dừng 5 - 10 phút, sau đó lại cho uống tiếp với tốc độ chậm hơn

- Nguyên tắc 2: Cho trẻ ăn đầy đủ các chất, nhất là chất đạm để thúc đẩy quá trình đổi

mới tế bào ruột và phòng bệnh suy dinh dưỡng bằng cách:

+ Tiếp tục cho trẻ bú mẹ đối với trẻ đang bú mẹ

+ Tiếp tục cho trẻ ăn những thức ăn thay thế sữa mẹ phù hợp với tháng tuổi đối với trẻ đang được nuôi dưỡng bằng chế độ ăn nhân tạo

+ Tiếp tục cho trẻ ăn sam đối với trẻ đang trong thời kỳ ăn sam

+ Tiếp tục cho trẻ ăn bình thường đối với trẻ lớn

+ Thức ăn của trẻ tiêu chảy phải nấu nhừ, dễ tiêu hoá, giàu chất dinh dưỡng, nhất

là chất đạm, giàu Vitamin và muối khoáng

+ Khuyến khích cho trẻ ăn nhiều bữa trong ngày

+ Sau khi khỏi bệnh, cho trẻ ăn thêm mỗi ngày 1 bữa trong thời gian 2 - 4 tuần

- Nguyên tắc 3: Bổ xung kẽm (viên 20mg kẽm nguyên tố hoặc dạng hỗn dịch, sirup 5ml

chứa 10mg kẽm)

Theo khuyến cáo của WHO các trường hợp tiêu chảy nên bổ sung kẽm Kẽm cũng có vai trò rất quan trọng cho hệ thống miễn dịch của trẻ Trẻ tiêu chảy cấp bị mất một lượng lớn kẽm trong quá trình bị bệnh Bù lại lượng kẽm bị mất do tiêu chảy rất quan trọng để giúp trẻ sớm phục hồi bệnh, đồng thời giúp cho trẻ tăng cường sức khỏe

và giảm nguy cơ mắc đợt tiêu chảy mới trong những tháng tiếp theo Kẽm còn có tác dụng phục hồi niêm mạc, rút ngắn thời gian bị bệnh

* Liều lượng:

Trẻ < 6 tháng: 10mg/ngày, trong 10 - 14 ngày

Trẻ ≥ 6 tháng: 20mg/ngày, trong 10 - 14 ngày

* Hướng dẫn bà mẹ cách cho trẻ uống kẽm:

Trẻ nhỏ: Hòa tan viên thuốc với một lượng nhỏ (5ml) sữa mẹ, ORS hoặc nước sạch vào thia nhỏ, uống lúc đói

Trang 21

Trẻ lớn: Những viên thuốc có thể nhai hoặc hòa tan viên thuốc trong nước sạch vào một thìa nhỏ

- Nguyên tắc 4: Hướng dẫn bà mẹ biết khi nào phải đưa trẻ đến cơ sở y tế

+ Phải đưa trẻ đến cơ sở y tế ngay, khi thấy có một trong các dấu hiệu sau:

* Trẻ quấy khóc, kích thích vật vã

* Trẻ khát nhiều

* Trẻ nôn nhiều

* Trẻ ỉa phân có nhày máu

* Trẻ không đái được

+ Phải đưa trẻ đến cơ sở y tế khám lại nếu sau 5 ngày không tiến triển tốt

5.2.2 Trẻ kích thích quấy khóc nhiều do mất nước (Tiêu chảy có dấu hiệu mất nước): Phác đồ B

5.2.2.1 Chăm sóc tại cơ sở y tế

5.2.2.2 Cần bù nước và điện giải bằng cách uống dung dịch oresol trong 4 giờ, với số lượng sau:

Bảng 2.2 Hướng dẫn bù nước và điện giải bằng cách uống oresol

Liều lượng Oresol trong 4 giờ

bình

75 ml / kg cho mọi lứa tuổi trong 4 giờ

- Hướng dẫn người mẹ cách cho trẻ uống ORS

- Uống trong 4 giờ hết lượng ORS đã qui định

5.2.2.3 Sau hoặc trong giai đoạn bù dịch (4giờ) trẻ cần được hồi phục dinh dưỡng ngay:

Trang 22

- Tiếp tục cho trẻ bú mẹ

- Ăn sam bình thường phù hợp với lứa tuổi

5.2.2.4 Sau 4 giờ đánh giá lại mức độ mất nước để chọn phác đồ chăm sóc thích hợp:

- Nếu tình trạng mất nước không được cải thiện thì cho trẻ uống ORS với khối lượng

và tốc độ như trên

- Nếu không còn dấu hiệu mất nước thì chăm sóc như phác đồ A

- Nếu trẻ li bì, không uống được thì chuyển sang chăm sóc theo phác đồ C: truyền dịch

5.2.3 Trẻ li bì do mất nước nặng (Tiêu chảy mất nước nặng): Phác đồ C

5.2.3.1 Chăm sóc tại cơ sở y tế

5.2.3.2 Cần bù nước và điện giải bằng đường tĩnh mạch:

- Dung dịch truyền:

+ Ringerlactat: là thích hợp nhất Nếu không có Ringerlactat thì có thể thay thế bằng dung dịch muối sinh lý NaCl 0,9%

+ Liều lượng và tốc độ truyền:

Bảng 2.3 Liều lượng và tốc độ truyền dịch ở trẻ li bì do mất nước

Cần phải tính toán truyền bao nhiêu giọt/phút để đảm bảo đúng khối lượng và tốc

độ nêu trên Cứ 20 giọt dung dịch nêu trên thì bằng 1ml

Ví dụ: Trẻ 10 tháng, nặng 8 kg:

* Số lượng dịch cần truyền trong 1 giờ đầu là: 8 x 30 = 240 ml;

* Qui đổi 240 ml ra giọt: 240 x 20 = 4800 giọt

* Tốc độ cần truyền trong giờ đầu là: 4800 : 60 = 80 giọt/phút

* Nếu không truyền được tĩnh mạch thì nhỏ giọt dạ dày dung dịch ORS với liều

20 ml/ kg/giờ và chuyển đến nơi có điều kiện truyền tĩnh mạch

5.2.3.3 Thường xuyên đánh giá tình trạng bệnh nhi Khi tình trạng bệnh nhi đã ổn định thì ít nhất 1 giờ phải đánh giá 1 lần:

Trang 23

- Trong thời gian truyền dịch, nếu trẻ uống được thì cho uống ORS với tốc độ chậm (5 ml/ kg/ 1giờ)

- Sau khi truyền đủ lượng dịch theo y lệnh, cần đánh giá lại để chọn phương án chăm sóc tiếp:

+ Truyền lại lần nữa, nếu tình trạng bệnh nhi không được cải thiện (vẫn trong tình trạng mất nước)

+ Nếu trẻ tỉnh táo, uống nước háo hức thì chuyển sang chăm sóc theo phác đồ B + Nếu trẻ tỉnh táo bình thường, uống nước bình thường thì chuyển sang chăm sóc theo phác đồ A

5.2.3.4 Sau giai đoạn bù dịch, cần phải nuôi dưỡng tốt cho bệnh nhi:

Cho trẻ ăn đúng với chế độ ăn theo lứa tuổi, cần chú trọng đến chất lượng bữa ăn: Đầy đủ các chất dinh dưỡng, nhất là chất đạm, tăng cường mỗi ngày ăn thêm 1 - 2 bữa, thức ăn dễ tiêu

do Shigella thì dùng Ciprofloxaxin

5.2.5 Bụng chướng do thiếu hụt Kali máu

Chướng bụng thường xảy ra khi bệnh nhi tiêu chảy nhiều, không được bồi phụ dung dịch oresol kịp thời, dẫn đến liệt ruột do thiếu Kali máu Do vậy, cần phải bồi phụ ngay Kali để ngăn chặn tình trạng rối loạn nhịp tim, ngừng tim do thiếu hụt trầm trọng ion này, bằng cách:

- Cho trẻ uống Oresol theo tình trạng mất nước

Trang 24

- Uống Kali clorid 1 - 2g/ngày: hoà với nước để có dung dịch không quá 10%, cho uống 1g/ lần

5.2.6 Trẻ nôn nhiều do tăng co bóp dạ dày

Nôn là dấu hiệu xảy ra sớm, do dạ dày bị kích thích bởi các quá trình bệnh lý tại ruột Trong trường hợp này, vẫn phải cho bệnh nhi uống dung dịch Oresol để đề phòng mất nước, nhưng cứ sau mỗi lần nôn phải ngừng 10 phút để dạ dày không bị kích thích, rồi sau đó lại cho uống ít một từ từ Chỉ chuyển sang truyền tĩnh mạch, khi trẻ nôn nhiều, dù uống ít một vẫn nôn và làm cho tình trạng bệnh nhi mỗi lúc một xấu đi 5.3 Thực hiện kế hoạch chăm sóc

- Nhanh chóng tiến hành bù nước và điện giải cho bệnh nhi:

+ Hướng dẫn người nhà bệnh nhi cách cho uống dung dịch Oresol: uống đúng (uống Oresol trong 4 giờ đầu hay sau mỗi lần đi ngoài), uống đủ theo tình trạng bệnh nhi

+ Truyền dich Ringer lactat hay Natriclorua 0,9% Phải luôn ở bên cạnh bệnh nhi

để theo dõi:

* Tốc độ truyền

* Sự tiếp nhận dịch của bệnh nhi

* Theo dõi tai biến

* Nếu bệnh nhi uống được thì cho uống thêm dung dịch Oresol với liều 5ml/kg/giờ để cung cấp thêm nước, Kali và kiềm

* Nếu không truyền tĩnh mạch được thì nhỏ giọt dạ dày bằng dung dịch Oresol với liều 20ml/kg/giờ, đồng thời tìm phương tiện chuyển bệnh nhi đến tuyến điều trị có thể truyền tĩnh mạch được

* Đếm mạch, nhịp thở, đo huyết áp 1giờ x 1 lần

* Sau 6 giờ hoặc 3 giờ đánh giá lại tình trạng mất nước của bệnh nhi để chọn phác đồ thích hợp

* Cần cho bệnh nhi ăn sau khi truyền dịch xong

* Sau mỗi khi đánh giá bệnh nhi, cần thông báo với thầy thuốc về tình trạng mất nước của bệnh nhi (không cải thiện, có cải thiện hay nặng thêm) để chọn phác đồ thích hợp

Trang 25

- Cho bệnh nhi ăn chế độ ăn thích hợp nhằm cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cho bệnh nhi:

+ Tiếp tục cho bú mẹ

+ Ăn thức ăn lỏng, dễ tiêu hoá, giàu chất dinh dưỡng, vitamin, nhất là phải cung cấp đầy đủ chất đạm như thịt, cá, sữa nhằm xúc tiến quá trình đổi mới tế bào ruột + Ăn nhiều bữa trong ngày

+ Thường xuyên theo dõi cân nặng cho bệnh nhi

- Nếu thầy thuốc cho kháng sinh, thực hiện đúng y lệnh:

+ Tetraxyclin (trong bệnh tả, trẻ trên 8 tuổi): uống vào lúc no

+ Ampicilin: uống vào lúc đói

+ Metronidazol: uống vào lúc no

- Nếu bệnh nhi sốt thì hạ nhiệt bằng cách:

+ Nới rộng quần áo tã lót

+ Nếu chân, tay lạnh thì phải đi tất

+ Chườm mát các vùng trán, bẹn, nách; không được chườm đá

+ Thuốc hạ nhiệt: Paracetamol 10 - 15mg/kg/lần

- Giáo dục sức khoẻ: hướng dẫn các bà mẹ biện pháp vệ sinh phòng bệnh:

+ Tập để tạo thành thói thói quen: Rửa tay trước khi ăn, trước khi chuẩn bị bữa

ăn, và sau khi đi vệ sinh, đổ bô, quét nhà

+ Gia đình phải có hố xí hợp vệ sinh và xử lý phân tốt

+ Xoá bỏ tập quán chưa tốt: ăn gỏi cá, tiết canh hoặc kiêng khem quá mức, cai sữa khi trẻ bị tiêu chảy

+ Không sử dụng kháng sinh bừa bãi

+ Cho trẻ tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch

5.4 Đánh giá

Trong và sau khi thực hiện kế hoạch chăm sóc, người điều dưỡng thường xuyên theo dõi bệnh nhi để biết được kết quả điều trị, chăm sóc, đồng thời để đánh giá kịp thời tình trạng mất nước của bệnh nhi Những vấn đề cần đánh giá trong quá trình chăm sóc bệnh nhi tiêu chảy là:

Trang 26

- Người nhà đã cho trẻ uống được bao nhiêu cốc (bát ) dung dịch ORS? Uống đã

đủ và đúng theo chỉ dẫn chưa? Nếu thiếu thì phải tiếp tục cho uống Trên thực tế, có những gia đình đã bí mật đổ dung dịch oresol đi, không cho trẻ uống, nhưng họ vẫn trả lời là có cho trẻ uống và uống hết lượng oresol mà chúng ta cấp Khi đánh giá, chúng ta phải xem xét kỹ lưỡng lượng nước mà trẻ uống vào, lượng nước mà trẻ ỉa và nôn ra để

so sánh với tình trạng hiện tại của bệnh nhi Vấn đề ở đây là: Trẻ thực sự đã uống được bao nhiêu dịch, Lượng dịch uống vào đã đủ chưa, chứ không phải là người nhà bệnh nhi nói trẻ đã uống được bằng này, bằng kia Để người nhà hiểu về tầm quan trọng của việc cho trẻ uống oresol, nhiều khi người điều dưỡng phải ngồi hàng giờ để tự tay mình cho trẻ uống từng thìa một

- Tình trạng mất nước của trẻ có được cải thiện không?

+ Khi tình trạng mất nước đã được cải thiện thì xử trí theo mức độ mất nước hiện tại

+ Khi tình trạng mất nước không cải thiện thì tiếp tục xử trí theo phác đồ cũ + Khi tình trạng mất nước nặng lên thì phải xử trí theo mức độ mất nước hiện tại

- Trong suốt quá trình chăm sóc, bệnh nhi phải được theo dõi sát:

+ Số lượng dung dịch Oresol uống được sau mỗi lần đi ngoài hoặc sau 4 giờ + Số lần đi ỉa, số lượng, tính chất, màu sắc phân; số lần đái và số lượng nước tiểu; đếm mạch, nhịp thở, nhiệt độ, đo huyết áp kịp thời để báo cáo thày thuốc

+ Sự tiếp nhận dịch truyền (nếu có truyền dịch)

- Lên kế hoạch thực hiện giáo dục tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh cho người nuôi trẻ: Tiếp tục cho trẻ bú mẹ; Ăn sam đúng; Vệ sinh cá nhân; Vệ sinh môi trường;

Vệ sinh ăn uống; Tiêm chủng đúng lịch.[5]

6 PHÒNG BỆNH

Song song với công tác điều trị và chăm sóc tốt cho trẻ em bị tiêu chảy là công tác giáo dục sức khoẻ, tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh

6.1 Nâng cao sức đề kháng cho trẻ

- Nuôi con bằng sữa mẹ

Trang 27

- Ăn sam đúng theo ô vuông thức ăn (tô màu bát bột)

- Thực hiện tiêm phòng đầy đủ 7 bệnh thường gặp, tiêm đúng lịch

- Giữ ấm cho trẻ

6.2 Vệ sinh cá nhân và vệ sinh an toàn thực phẩm

- Vệ sinh dụng cụ ăn uống, vệ sinh bầu vú mẹ trước khi cho trẻ bú

- Sử dụng nguồn nước sạch (nước máy, nước giếng khoan, nước mưa )

- Ăn chín, uống sôi

- Thức ăn của trẻ phải tươi, đảm bảo vệ sinh, bảo quản chu đáo

- Vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường:

+ Rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh, sau khi đổ bô, quét nhà, dọn dẹp bằng xà phòng diệt khuẩn

+ Tất cả mọi người trong gia đình đều sử dụng hố xí hợp vệ sinh, xử lý phân tốt + Quản lý tốt phân, nước thải, rác

+ Khuyến khích bà mẹ sửa dụng tã một lần cho trẻ

+ Thay tã thường xuyên cho trẻ

+ Rửa sạch hậu môn bằng xà phòng trung tính, lau khô

+ Khi có các biểu hiện tổn thương da như hăm đỏ, có thể sử dụng xanhmethylen 1% hoặc mỡ oxid kẽm bôi vào vùng bị hăm làm tránh da bị tổn thương và bội nhiễm.[5]

Trang 28

B.CƠ SỞ THỰC TIỄN

1 Tình hình bệnh tiêu chảy trên Thế giới:

Trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển, người ta ước tính hàng năm có

1300 triệu lượt trẻ em <5 tuổi mắc bệnh tiêu chảy và 4-5 triệu trẻ em chết vì bệnh trên toàn thế giới, trung bình 1 trẻ mắc 3,3 đợt tiêu chảy trong 1 năm [9]

2 Tình hình bệnh tiêu chảy tại khu vực:

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và nhiều công trình nghiên cứu điều tra ở Châu Á, Châu Phi và châu Mỹ La Tinh cho thấy ở các nước đang phát triển hàng năm

có trên 750 triệu trường hợp tiêu chảy, trong đó 500 triệu là trẻ em dưới 5 tuổi Tử vong do tiêu chảy hàng năm từ 4-5 triệu trẻ em, có 80% trong số này là trẻ em dưới 2 tuổi Riêng các nước Đông- Nam Á: mỗi đứa trẻ hàng năm mắc 6-16 lần tiêu chảy, tỷ

lệ tử vong 1,61/1000000 trẻ.[9]

3.Tình hình bệnh tiêu chảy ở Việt Nam:

Ở nước ta có khí hậu nóng ẩm nên bệnh tiêu chảy cũng chiếm vị trí quan trọng trong các tác nhân ảnh hưởng đến sức khỏe trẻ em Theo thống kê của Viện Nhi Việt Nam - Thụy Điển: các bệnh nhi bị bệnh về tiêu hóa chiếm 18,08% tổng số bệnh nhi vào viện, trong số đó tiêu chảy chiếm 72,39%.[10]

Ở Việt Nam, nhiều năm trở lại đây tình hình bệnh tiêu chảy đã có nhiều cải thiện, tuy nhiên tiêu chảy vẫn là vấn đề sức khỏe cộng đồng cần được quan tâm Theo thông báo dịch năm 2008, tiêu chảy vẫn là một trong 5 bệnh truyền nhiễm có số người mắc cao nhất Ngoài vấn đề tỉ lệ mắc và tử vong cao, bệnh tiêu chảy còn là nguyên nhân hàng đầu gây suy dinh dưỡng, chậm phát triển về cả thể chất và tinh thần, tạo điều kiện thuận lợi cho sự xâm nhập của các bệnh nhiễm trùng khác ở cơ thể trẻ Các chi phí thuốc, trang thiết bị và nhân lực cho vấn đề sức khỏe này là rất lớn, chưa tính đến thời gian và sức lực mà mỗi gia đình phải mất Như vậy tiêu chảy vẫn còn là gánh nặng cho nền kinh tế quốc gia, gia đình và xã hội phải chi một khoản kinh phí không nhỏ để chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ khi bị tiêu chảy Hiện nay với các phương pháp điều trị tiêu

Trang 29

chảy đơn giản và hiệu quả có thể làm giảm rõ rệt số lượng tử vong do tiêu chảy đồng thời làm giảm sự nhập viện không cần thiết của hầu hết các trường hợp Các phương pháp này ngày càng được phổ biến rộng hơn tại cộng đồng, đã đóng góp thành công đáng kể vào việc khống chế các bệnh tiêu chảy, làm giảm tỉ lệ mắc, tỉ lệ tử vong do tiêu chảy gây ra Mọi hành vi về sức khỏe đều có giá trị rất lớn đến việc giảm tỉ lệ mắc và chết của một bệnh Việc điều trị một bệnh chỉ được giải quyết một cách triệt để khi cá nhân đó nhận ra những gì cần phải làm để thay đổi hành vi sức khỏe có hại do chính mình gây ra Muốn thực hiện có hiệu quả công tác phòng bệnh tiêu chảy cho trẻ em tại một cộng đồng thì phải tìm hiểu các hành vi hiện có của các bà mẹ đang nuôi con dưới

5 tuổi liên quan đến tỉ lệ mắc tiêu chảy của cộng đồng đó

4 Tình hình bệnh tiêu chảy tại Nam Định

Bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định được thành lập từ năm 2009, là bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh, hạng 3 với quy mô 150 giường bệnh và có 6 khoa lâm sàng: khoa khám bệnh, khoa xét nghiệm, khoa dược, khoa cấp cứu sơ sinh, khoa hô hấp và khoa nội tổng hợp Bệnh viện có 150 cán bộ y tế với trình dộ chuyên môn cao và có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, hết lòng phục vụ nhân dân Lưu lượng bệnh nhi đến khám bệnh tại khoa khám bệnh của bệnh viện: trung bình 200 trẻ/ ngày, bệnh nhi điều trị nội trú là 1000 bệnh nhi/ tháng trong đó 55% là bệnh nhi bị bệnh đường hô hấp, 30% bệnh nhi đường tiêu hóa ( bệnh tiêu chảy chủ yếu) và 15% bệnh nhi mắc bệnh khác

Bệnh nhi bị tiêu chảy tập trung chủ yếu ở khoa cấp cứu sơ sinh và khoa nội tổng hợp Khoa cấp cứu sơ sinh nằm ở tầng 2 với 9 phòng và 40 giường bệnh , trong đó có một phòng dành cho bệnh nhi bị tiêu chảy Khoa nội tổng hợp nằm ở tầng 5 với 8 phòng và 40 giường bệnh, trong đó có 2 buồng bệnh dành cho bệnh nhi tiêu chảy và 8 giường/ phòng Tại bệnh viện, bệnh nhi bị tiêu chảy chiếm tỷ lệ khá cao sau các bệnh

về đường hô hấp Bệnh nhi sau khi nhập viện được sắp xếp phòng riêng để tránh lây nhiễm và được điều trị, chăm sóc theo phác đồ.[6]

Ngày đăng: 19/02/2021, 15:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Nguyễn Thị Việt Hà (2010), Bệnh tiêu chảy cấp và chương trình CDD, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh tiêu chảy cấp và chương trình CDD
Tác giả: Nguyễn Thị Việt Hà
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2010
6. Nguyễn Thị Thanh Huyền (2016), Thay đổi kiến thức về bệnh tiêu chảy cho các bà mẹ có con dưới 5 tuổi điều trị tại bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định năm 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thay đổi kiến thức về bệnh tiêu chảy cho các bà mẹ có con dưới 5 tuổi điều trị tại bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định năm 2016
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Huyền
Năm: 2016
7. Phan Hoàng Thùy Linh (2017), Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về bệnh tiêu chảy cấp của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi đang điều trị tại bệnh viện trẻ em Hải Phòng năm 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về bệnh tiêu chảy cấp của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi đang điều trị tại bệnh viện trẻ em Hải Phòng năm 2017
Tác giả: Phan Hoàng Thùy Linh
Năm: 2017
11. Qũy Nhi đồng Liên hợp quốc (2013), Báo cáo tình hình trẻ em tử vong mỗi ngày do thiếu nước sạch và vệ sinh kém.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình trẻ em tử vong mỗi ngày do thiếu nước sạch và vệ sinh kém
Tác giả: Qũy Nhi đồng Liên hợp quốc
Năm: 2013
12. CDC (2015) Diarrhea: Common illness, global killer Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diarrhea: Common illness, global killer
Tác giả: CDC
Năm: 2015
13. WHO (2017), Media centre, Diarrhoeal disease, &lt; https://www.who.int/mediacentre/factsheets/fs330/en/%3E,accessed%2018/5/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diarrhoeal disease
Tác giả: WHO
Nhà XB: Media centre
Năm: 2017
1. Bộ y tế ( 2009 ), Quyết định 4121/QĐ – BYT Hướng dẫn xử trí tiêu chảy ở trẻ em Khác
2. Nguyễn Lan Anh ( 2018 ), Tình hình bệnh tật trẻ em điều trị nội trú tại bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định Khác
4. Phan Thị Cẩm Hằng, Nguyễn Văn Bàng ( 2007), Kiến thức, thái độ, kỹ năng sử dụng ORS của các bà mẹ có con tiêu chảy cấp tại khoa nhi bệnh viện Bạch Mai, Nghiên cứu y học, Hồ Chí Minh Khác
5. Phan Thị Minh Hạnh (2018), Chăm sóc sức khỏe trẻ em, Nhà xuất bản Y học, Nam Định Khác
9. Tài liệu thống kê của Tổ chức Y tế thế giới 10. Trang web Y khoa.net Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w