1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển du lịch bền vững bà rịa – vũng tàu

188 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 188
Dung lượng 6,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy, nghiên cứu sinh lựa chọn một địa phương là Bà Rịa – Vũng Tàu để nghiên cứu phát triển du lịch trên quan điểm PTDLBV, và thực tế cho đến nay chưa có một luận án tiến sĩ nào

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS.Đào Duy Huân và PGS.TS.Nguyễn Ái Đoàn Các số liệu sử dụng phân tích trong luận án có nguồn gốc rõ ràng, đã được công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận án là do tác giả tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan

TM.TẬP THỂ HƯỚNG DẪN Tác giả luận án

PGS.TS Nguyễn Ái Đoàn NCS.Vũ Văn Đông

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Sau quá trình tập trung nghiên cứu, đến nay luận án tiến sĩ với chủ đề “Phát triển du lịch

bền vững Bà Rịa – Vũng Tàu” đã hoàn thành

Điều đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS.Đào Duy Huân, PGS.TS.Nguyễn Ái Đoàn những người thầy đã hướng dẫn tận tình chu đáo và có những góp ý thật quý báu để tôi hoàn chỉnh luận án tiến sĩ của mình

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Viện Kinh tế và Quản lý, Viện đào tạo sau đại học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội và quí thầy cô giáo Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội đã truyền đạt cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm trong quá trình học tập, đóng góp cho tôi những ý kiến sâu sắc để từ đó, tôi hình thành nên những trang luận án chứa đầy tâm huyết của mình

Tôi vô cùng cảm ơn PGS.TS Phạm Trung Lương, Viện phó viện phát triển du lịch Việt Nam; PGS.TS.Đinh Phi Hổ, Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh; cùng các bạn bè, đồng nghiệp tại Sở Văn hóa thể thao và du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu; bạn bè tại các cơ quan khác thuộc các tỉnh thành trong nước đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập thông tin, tài liệu trong quá trình nghiên cứu cũng như góp ý cho tôi nhiều vấn đề liên quan trực tiếp đến nội dung được đề cập trong luận án

Tôi xin gửi lời cảm ơn và biết ơn tới gia đình tôi, những người đã luôn động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi có nhiều thời gian tập trung cho học tập và nghiên cứu Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các đồng chí lãnh đạo Nhà trường và tập thể giảng viên khoa kinh tế, Phòng KH&CGCN Trường Đại học Bà Rịa – Vũng Tàu đã tạo mọi điều kiện về thời gian và sự động viên khích lệ để tôi yên tâm học tập

Do thời gian nghiên cứu có hạn, hơn nữa vấn đề liên quan đến các hoạt động phát triển

du lịch bền vững nhìn chung vẫn còn khá mới mẻ, trong khi năng lực nghiên cứu của cá nhân còn hạn chế, “lực bất tòng tâm” cho nên luận án không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô và các bạn bè, đồng nghiệp nhằm giúp cho luận án của tôi hoàn thiện hơn

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn./

Hà Nội, ngày 26 tháng 08 năm 2014

Tác giả luận án

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ x

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu liên quan 2

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Câu hỏi nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 5

7 Những kết quả đạt được về ý nghĩa khoa học, thực tiễn và điểm mới của luận án 5

8 Kết cấu luận án 7

CHƯƠNG 1 8

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN 8

DU LỊCH BỀN VỮNG 8

1.1 Tổng quan về phát triển bền vững 8

1.2 Phát triển du lịch bền vững 10

1.2.1 Khái niệm 10

1.2.2 Vai trò của phát triển du lịch bền vững 13

1.2.3 Dấu hiệu nhận biết du lịch bền vững và du lịch không bền vững 14

1.2.4 Các lý thuyết liên quan tới phát triển du lịch bền vững 16

1.3 Các nguyên tắc phát triển du lịch bền vững 21

1.3.1 Khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên một cách hợp lý 21

1.3.2 Hạn chế việc sử dụng quá mức tài nguyên và giảm chất thải ra môi trường 21

1.3.3 Phát triển phải gắn liền với nỗ lực bảo tồn tính đa dạng 21

1.3.4 Phát triển du lịch phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội 22

1.3.5 Đảm bảo lợi ích với cộng đồng địa phương trong quá trình phát triển du lịch 22

1.3.6 Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương trong phát triển du lịch 23

1.3.7 Thường xuyên tham khảo ý kiến cộng đồng địa phương về phát triển du lịch 23

1.3.8 Chú trọng việc đào tạo nâng cao nhận thức về tài nguyên môi trường 24

1.3.9 Tăng cường tính trách nhiệm trong hoạt động xúc tiến, quảng cáo du lịch 24

Trang 4

1.3.10 Coi trọng việc thường xuyên tiến hành công tác nghiên cứu 24

1.4 Nội dung phát triển du lịch bền vững 25

1.4.1 Xây dựng chiến lược phát triển du lịch bền vững 25

1.4.2 Phát triển các cơ sở kinh doanh du lịch 25

1.4.3 Nâng cao số lượng, chất lượng các nguồn lực cho ngành du lịch 25

1.4.4 Nâng cao năng lực và tạo lập sự liên kết với các chủ thể tham gia 26

1.4.5 Nâng cao chất lượng môi trường cho phát triển du lịch 26

1.4.6 Các tiêu chí đánh giá phát triển du lịch bền vững 26

1.5 Nhận dạng các nhân tố tác động đến phát triển du lịch bền vững 32

1.5.1 Nguồn tài nguyên du lịch 32

1.5.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật và thiết bị hạ tầng 32

1.5.3 Chất lượng nguồn nhân lực ngành du lịch 33

1.5.4 Yếu tố tác động đến cầu về dịch vụ du lịch 33

1.5.5 Đường lối chính sách phát triển du lịch 33

1.5.6 Tham gia của cộng đồng 33

1.5.7 Về môi trường 33

1.5.8 Về sản phẩm du lịch 34

1.5.9 Về kinh tế 34

1.6 Đánh giá tính bền vững của du lịch 34

1.6.1 Đánh giá tính bền vững của hoạt động du lịch dựa vào sức chứa 34

1.6.2 Đánh giá tính bền vững của các hoạt động du lịch dựa vào bộ chỉ tiêu 35

1.7 Kinh nghiệm quốc tế và trong nước về phát triển du lịch bền vững 38

1.7.1 Một số kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững 38

1.7.2 Một số bài học cảnh báo phát triển du lịch không bền vững 40

TÓM TẮT CHƯƠNG 1 42

CHƯƠNG 2 43

PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 43

2.1 Cách tiếp cận 43

2.2 Khung phân tích 43

2.3 Phương pháp nghiên cứu 44

2.3.1 Phương pháp điều tra dữ liệu 44

2.3.2 Phương pháp phân tích dữ liệu 44

2.3.3 Phương pháp đánh giá tính bền vững dựa trên đánh giá của các bên tham gia 45

2.3.3.1 Đánh giá tính bền vững của các hoạt động du lịch dựa vào bộ chỉ tiêu 45

2.3.3.2 Đánh giá mức độ bền vững các nhân tố dựa vào thang đo Interval Scale 47

2.3.3.3 Đánh giá tính bền vững dựa trên đánh giá của khách du lịch 48

2.3.4 Phương pháp đánh giá tính bền vững du lịch dựa vào các nhóm chỉ tiêu 48

2.3.5 Phương pháp điều tra khảo sát thực địa 499

Trang 5

2.3.4.1 Các bước điều tra khảo sát 48

2.3.4.2 Mã hóa dữ liệu 51

2.3.4.3 Mẫu nghiên cứu định lượng 56

2.3.4.4 Cách thức thu thập dữ liệu 56

2.4 Mô hình phân tích các nhân tố khám phá EFA 56

2.4.1 Thu thập số liệu, tài liệu 56

2.4.2 Quy trình nghiên cứu 57

2.4.3 Mô hình nghiên cứu luận án 57

TÓM TẮT CHƯƠNG 2 59

CHƯƠNG 3 60

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN 60

DU LỊCH BỀN VỮNG BÀ RỊA – VŨNG TÀU 60

3.1 Tổng quan về Bà Rịa – Vũng Tàu 60

3.1.1 Giới thiệu về Bà Rịa – Vũng Tàu 60

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 60

3.2 Tài nguyên phát triển du lịch của Bà Rịa – Vũng Tàu 62

3.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 62

3.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 64

3.2.3 Kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển du lịch 65

3.3 Chủ trương, chính sách phát triển du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu 66

3.3.1 Định hướng chiến lược phát triển du lịch 67

3.3.2 Chính sách phát triển du lịch 68

3.3.3 Đầu tư kết cấu hạ tầng cho phát triển du lịch 68

3.4 Thực trạng phát triển du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu 69

3.4.1 Thực trạng phát triển các loại hình du lịch 69

3.4.2 Khách du lịch 70

3.4.3 Thực trạng phát triển dịch vụ lữ hành 76

3.4.4 Thực trạng phát triển dịch vụ du lịch 77

3.4.5 Nguồn nhân lực du lịch 79

3.4.6 Quản lý nhà nước về du lịch 81

3.4.7 Hoạt động xúc tiến và quảng bá du lịch 82

3.4.8 Phát triển du lịch trong quan hệ với cộng đồng địa phương 82

3.5 Đánh giá hoạt động của du lịch tại Bà Rịa – Vũng Tàu 83

TÓM TẮT CHƯƠNG 3 88

CHƯƠNG 4 89

PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG BÀ RỊA – VŨNG TÀU 89

Trang 6

4.1 Kết quả phân tích số liệu điều tra 89

4.1.1 Định lượng các nhân tố ảnh hưởng 88

4.12 Đánh giá độ tin cậy của thang đo 97

4.1.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA 98

4.1.4 Giả thuyết các nhân tố khám phá 101

4.2 Hồi qui 104

4.2.1 Đánh giá mức độ phù hợp của mô hình hồi qui 104

4.2.2 Kiểm định giả thuyết không có mối tương quan 106

4.2.3 Kiểm định giả thuyết phương sai số không đổi 107

4.3 Ý nghĩa thực tiễn 108

4.4 Đánh giá cụ thể những mặt làm được trên quan điểm bền vững 109

4.5 Những tồn tại và nguyên nhân 110

TÓM TẮT CHƯƠNG 4 112

CHƯƠNG 5 114

NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN 114

DU LỊCH BỀN VỮNG BÀ RỊA – VŨNG TÀU 114

5.1 Những xu thế chung phát triển du lịch 114

5.2 Những định hướng phát triển phát triển du lịch bền vững Bà Rịa - Vũng Tàu 119

5.3 Đề xuất các nhóm giải pháp phát triển du lịch bền vững Bà Rịa – Vũng Tàu 123

5.3.1 Nhóm giải pháp phát triển du lịch bền vững từ góc độ kinh tế 123

5.3.2 Nhóm giải pháp phát triển du lịch bền vững từ góc độ tài nguyên, môi trường 127

5.3.3 Nhóm giải pháp phát triển du lịch bền vững từ góc độ văn hóa xã hội 127

5.3.4 Nhóm giải pháp phát triển sản phẩm du lịch bền vững Bà Rịa – Vũng Tàu 129

5.3.5 Nhóm giải pháp khác về phát triển du lịch bền vững Bà Rịa - Vũng Tàu 131

TÓM TẮT CHƯƠNG 5 136

KẾT LUẬN 137

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 141

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 142

PHỤ LỤC 149

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

2 ASEAN : Hiệp hội các quốc gia đông nam Á (Association of Southeast Asian

16 JICA : Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (Japan International Cooperation

Agency)

C-Conferences/Conventions (hội thảo, hội họp), Exhibitions/Events (triển lãm, sự kiện)

Industrial Development Organization)

27 UNCTAD : Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (United

Nations Conference on Trade and Development)

28 WIPO : Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (World Intellectual Property

Organization)

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Phân loại theo khả năng tương thích với khái niệm du lịch bền vững 14

Bảng 1.2: Du lịch bền vững và du lịch không bền vững 15

Bảng 1.3: Các chỉ tiêu chung cho du lịch bền vững 35

Bảng 1.4: Các chỉ tiêu đặc thù của điểm du lịch 36

Bảng 1.5: Hệ thống chỉ tiêu môi trường dùng để đánh giá nhanh 37

Bảng 2.1: Các chỉ tiêu chung cho du lịch bền vững 45

Bảng 2.2: Hệ thống chỉ tiêu môi trường dùng để đánh giá nhanh 46

Bảng 3.1: Quy mô và tốc độ tăng trưởng GDP tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo giá 61

Bảng 3.2 : GDP phân theo ngành kinh tế của tỉnh 61

Bảng 3.3 : Cơ cấu GDP của Bà Rịa – Vũng Tàu 61

Bảng 3.4: Số lượt khách và ngày khách QT đến Bà Rịa-Vũng Tàu 71

Bảng 3.5: Tỉ lệ khách du lịch quốc tế đến Bà Rịa - Vũng Tàu so với toàn quốc 71

Hình 3.1: Thị trường khách du lịch quốc tế giai đoạn 2001 – 2010 71

Bảng 3.6: Tỉ lệ khách du lịch quốc tế đến Bà Rịa – Vũng Tàu so với 72

Bảng 3.7: Tỉ lệ khách QT đến Bà Rịa-Vũng Tàu so với TP HCM 72

Bảng 3.8: Thời gian lưu trú trung bình của khách du lịch ở Bà Rịa – Vũng Tàu 73

Bảng 3.9: Thị trường khách du lịch nội địa của Việt Nam giai đoạn 2007 – 2013 74

Bảng 3.10: Số lượt khách và ngày khách nội địa đến Bà Rịa - Vũng Tàu 74

Bảng 3.11: Tỉ lệ khách nội địa đến Bà Rịa - Vũng Tàu so với toàn quốc 74

Bảng 3.12: So sánh khách du lịch nội địa đến Bà Rịa – Vũng Tàu so với 74

Bảng 3.13: Doanh thu du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 75

Bảng 4.1: Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố thuộc hệ kinh tế 90

Bảng 4.2: Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố thuộc hệ xã hội 90

Bảng 4.3: Mức độ ảnh hưởng của hệ môi trường 91

Bảng 4.4: Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tài nguyên tự nhiên 91

Bảng 4.5: Kết quả đánh giá về tài nguyên nhân văn 92

Bảng 4.6: Kết quả đánh giá về các sản phẩm du lịch 93

Bảng 4.7: Kết quả đánh giá về nguồn nhân lực 93

Trang 9

Bảng 4.9: Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố cơ sở vật chất 95

Bảng 4.10: Kết quả đánh giá về các yếu tố cơ sở vật chất kỹ thuật 95

Bảng 4.11: Kết quả đánh giá về các yếu tố quản lý nhà nước 96

Bảng 4.12: Kết quả đánh giá về các tiêu chí hoạt động phát triển du lịch bền vững 97

Bảng 4.13: Kết quả đánh giá chung của các hoạt động phát triển du lịch bền vững 97

Bảng 4.14: Thống kê các biến quan sát sau khi kiểm định 98

Bảng 4.15: Hệ số KMO và kết quả kiểm định Bartlett 99

Bảng 4.17: Bảng ma trận tự xoay (Rotated Component Matrixa) 101

Bảng 4.18: Bảng tổng hợp các nhân tố khám phá 102

Bảng 4.19: Bảng đánh giá mức độ phù hợp của mô hình hồi quy 106

Bảng 4.20: Bảng phân tích ANOVA 106

Bảng 4.21:Hệ số tương quan giữa các biến độc lập 107

Bảng 4.23: Bảng kết quả kiểm định Prearman 108

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Hình 1.1: Mô hình phát triển bền vững 9

Lưu đồ 2.1: Các bước xác định nhân tố khám phá EFA ảnh hưởng chủ yếu 44

Hình 2.1: Các bước điều tra khảo sát thực địa 49

Hình 3.4 : Thị trường khách du lịch quốc tế của Việt Nam 77

Lưu đồ 4.1: Các bước xác định nhân tố khám phá EFA ảnh hưởng chủ yếu 106

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Con người sinh ra ai cũng muốn cuộc sống của mình và của cả cộng đồng được đầy đủ,

ấm no, hạnh phúc, chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao Để đạt được mục tiêu ấy, con người đã tìm mọi cách để phát triển kinh tế Sự phát triển kinh tế đòi hỏi phải khai thác, sử dụng ngày càng nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn Quá trình khai thác, sử dụng đó đã làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên và làm tăng lượng phế thải, tác động xấu tới môi trường, đưa đến hậu quả môi trường sinh thái ngày càng bị huỷ hoại và ô nhiễm Đứng trước vấn đề đó đòi hỏi phải tìm ra một con đường phát triển kinh tế hợp lý và hài hòa, sao cho các vấn đề về kinh tế, văn hóa, dân số, xã hội, tài nguyên, môi trường phải được xem xét một cách tổng thể để cùng phát triển, để không cản trở đến sự phát triển của nhau ở hiện tại cũng như trong tương lai Con đường đó chính là sự phát triển bền vững (PTBV)

Phát triển bền vững nói chung và phát triển bền vững các ngành kinh tế nói riêng, trong

đó có du lịch đang là yêu cầu và là mục tiêu phát triển của mọi quốc gia, mọi địa phương bởi

nó đảm bảo cho sự phát triển có hiệu quả và lâu dài Bà Rịa – Vũng Tàu là lãnh thổ hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch, đặc biệt là tiềm năng phong phú, đa dạng về tài nguyên du lịch biển trong đó có những tài nguyên du lịch đặc sắc như bãi biển Long Hải, VQG Côn Đảo với di tích lịch sử cách mạng nhà tù Côn Đảo, khu BTTN Bình Châu – Phước Bửu với nguồn khoáng nóng Bình Châu Với những tài nguyên du lịch đặc sắc như trên, đã

từ lâu hình ảnh điểm đến du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu đã khá đậm nét trong du khách trong và ngoài nước

Với vị trí địa lý liền kề với TP.HCM – thị trường phân phối khách lớn nhất ở khu vực phía Nam; là cửa ngõ đường biển của vùng Đông Nam Bộ và khu vực phía Nam, Bà Rịa – Vũng Tàu có vị trí chiến lược trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển du lịch của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và của cả nước

Với đặc điểm trên Bà Rịa – Vũng Tàu được xác định là một trong những điểm đến du lịch quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam nói chung và vùng Đông Nam Bộ nói riêng

Mặc dù có nhiều lợi thế phát triển, tuy nhiên sự tăng trưởng của ngành du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu còn thiếu bền vững thể hiện qua các chỉ số thống kê ngành về khách, về tổng thu nhập từ du lịch, về lao động trong ngành du lịch,v.v Tính thiếu bền vững sẽ ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh, góp phần tạo nhiều cơ hội việc làm và nâng cao thu nhập cho cộng đồng; bảo tồn các giá trị tự nhiên và văn hóa cũng như sẽ ảnh hưởng đến vị trí của du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam

Trang 12

Trong bối cảnh trên, việc lựa chọn và thực hiện đề tài luận án “Phát triển du lịch bền

vững Bà Rịa – Vũng Tàu” là rất kịp thời, mang tính thời sự và cấp thiết, không chỉ có ý nghĩa

về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn

2 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu liên quan

Nghiên cứu PTBV ngành du lịch đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm từ lâu Các công trình nghiên cứu về vấn đề này không chỉ ở tầm quốc gia mà còn là các công trình hợp tác của nhiều nước, nhiều cơ sở nghiên cứu quốc tế Các tài liệu cho thấy về mặt lý luận, PTBV du lịch đã được nghiên cứu khá kỹ lưỡng, việc giám sát sự phát triển đã được cụ thể hoá qua hệ thống chỉ tiêu PTBV du lịch Trong lĩnh vực học thuật, du lịch bền vững là nội dung nghiên cứu của rất nhiều nhà nghiên cứu và các tổ chức ngay từ khi nó mới xuất hiện những năm 1960, trong đó có các công trình làm nền tảng về mặt lý thuyết và thực tiễn

như: “Chỉ tiêu cho phát triển bền vững: lý thuyết, phương pháp và áp dụng” [33], “Du lịch

bền vững ở thế giới thứ 3” [41], “Tiếp cận với phát triển du lịch bền vững tại các điểm du lịch” [42], “Phát triển Macao thành điểm du lịch bền vững: công nghiệp khách sạn” [43],

“Hiểu về phát triển du lịch bền vững”[44], “Du lịch bền vững: cái nhìn toàn cảnh” [45],

“Chỉ tiêu của phát triển bền vững đối với điểm du lịch”, [46], “Các chỉ thị của phát triển du lịch bền vững đối với các điểm du lịch”, [47] Các nghiên cứu trên đây đều tập trung vào việc

hệ thống lại cơ sở lý luận về phát triển du lịch bền vững, đánh giá tác động của phát triển du lịch đối với môi trường tự nhiên, kinh tế, văn hóa xã hội và các các giải pháp nhằm phát triển du lịch bền vững

Ở Việt Nam: phát triển du lịch bền vững đã và đang trở thành nhu cầu cấp thiết đối với

phát triển kinh tế xã nội nói chung và du lịch nói riêng, điều đó đặt ra yêu cầu nghiên cứu về

du lịch và phát triển du lịch bền vững cả về học thuật, thực tiễn và chính sách Có các công trình nghiên cứu về du lịch và phát triển du lịch bền vững làm nền tảng cho các nghiên cứu ở Việt Nam như: “Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam” [27],

“Chương trình nghị sự 21 Việt Nam, Dự thảo: " C hương trình hành động của Chính phủ thực hiện chiến lược phát triển bền vững” [26], "Cơ sở khoa học và giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam" [6], “Du lịch bền vững” [4] Các công trình nghiên cứu này đã

cung cấp cơ sở lý luận nền tảng, quan trọng cho việc phát triển du lịch và du lịch bền vững nói riêng.Bên cạnh đó là các chính sách, khung pháp lý cho phát triển du lịch và phát triển du

lịch bền vững ở Việt Nam như: “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm

nhìn đến năm 2030”[31], Luật du lịch và chiến lược phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bà Rịa –

Vũng Tàu Đã tạo ra khung chính sách, căn cứ cho hoạt động nghiên cứu và phát triển du lịch

Đối với hoạt động nghiên cứu phát triển du lịch bền vững, có các công trình nghiên

cứu trong việc đánh giá thực trạng và đề xuất chính sách như: “Phát triển du lịch bền vững

Trang 13

Bình Thuận” [22], “Phát triển du lịch bền vững ở Phong Nha – Kẻ Bàng” [18], “Một số giải pháp phát triển du lịch bền vững ở thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020” [20]

Đối với hoạt hoạt động nghiên cứu phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Bà R ịa –

Vũng Tàu, đến nay có một số công trình nghiên cứu như: “Một số giải pháp nhằm góp

phần phát triển Du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu đến năm 2015” [21], “ Quy hoạch tổng thể phát triển ngành du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu đến năm năm 2020” [32]; Các đề tài này bước đầu

đã đi vào nghiên cứu hoạt động phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh B à R ị a – V ũ n g

T à u v à những đề tài mới chỉ dừng lại ở phân tích định tính, nghiên cứu chưa sâu vấn đề đặt

ra đối với phát triển du lịch bền vững trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Còn đối với việc nghiên cứu phát triển du lịch bền vững thì chưa có đề tài nào làm về vấn đề này Đây là cơ

sở cấp t hiết đối với việc thực hiện đề tài nghiên cứu của tác giả

Chính vì vậy, nghiên cứu sinh lựa chọn một địa phương là Bà Rịa – Vũng Tàu để nghiên cứu phát triển du lịch trên quan điểm PTDLBV, và thực tế cho đến nay chưa có một luận án tiến sĩ nào về phát triển du lịch bền vững Bà Rịa – Vũng Tàu được thực hiện trên cơ

sở khoa học của kinh tế học, cũng như chưa có đề tài nào về nhận diện cũng như phân tích nhân tố khám phá EFA các nhân tố tác động đến sự phát triển bền vững của du lịch cấp địa phương của các tỉnh thành trong cả nước

Mặt khác, cho đến thời điểm hiện nay, quá trình nghiên cứu tác giả chưa tiếp cận được công trình nghiên cứu nào trong và ngoài nước sử dụng phương pháp định lượng để phân tích phát triển du lịch bền vững Tuy nhiên, trong các lĩnh vực khác đã xuất hiện rất nhiều Ví dụ

Luận án tiến sĩ “Phát triển ngành cà phê Việt Nam” của nghiên cứu sinh Phạm Ngọc Dưỡng (2011) - Trường Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh Luận án tiến sỹ “Thực trạng và giải

pháp phát triển hoạt động xúc tiến CGCN ở Việt Nam” của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Vân

Anh (2012) – Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Các công trình nghiên cứu trên đã định lượng các nhân tố ảnh hưởng chủ yếu sau đó thiết lập hàm đa biến, xác định các nhân tố ảnh hưởng chủ yếu (nhân tố khám phá) làm cơ sở khoa học đưa ra các giải pháp Các nhân tố ảnh hưởng được đề cập trong các luận án dựa trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu trước

đó, hoặc được xây dựng trên nền tảng lý thuyết nhất định

Nhận thấy phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng là một thế mạnh trong việc nghiên cứu đề ra các giải pháp trong các lĩnh vực các ngành quản lý kinh tế ứng dụng và xã hội hiện nay Đồng thời, tác giả cũng thấy rằng hoàn toàn có thể phân tích mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến phát triển du lịch bền vững trên cơ sở các kiến thức về kinh tế học và lý thuyết về dịch vụ, từ đó sử dụng phương pháp định tính và định lượng làm cơ sở khoa học để

đề ra giải pháp phát triển du lịch bền vững Vì vậy, tác giả đã mạnh dạn sử dụng phương pháp định tính và định lượng Kết quả nghiên cứu của đề tài không những hoàn thành mục tiêu

Trang 14

nghiên cứu là đề xuất những định hướn và giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Bà Rịa – Vũng Tàu mà còn góp phần cung cấp bộ công cụ nghiên cứu cho các công trình nghiên cứu liên quan

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu

Đánh giá thực trạng và nhận dạng những nguyên nhân thúc đẩy và cản trở PTDLBV Bà Rịa – Vũng Tàu trên cơ sở lý luận và thực tiễn Từ đó đề xuất những định hướng và giải pháp PTDLBV Bà Rịa – Vũng Tàu từ kết quả nghiên cứu phân tích dữ liệu thứ cấp và sơ cấp

3.2 Nhiệm vụ

- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về phát triển du lịch bền vững và kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững;

- Đánh giá thực trạng về phát triển du lịch bền vững ở Bà Rịa – Vũng Tàu;

- Xây dựng 12 nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch bền vững Bà Rịa – Vũng Tàu trên

cơ sở định tính và định lượng;

- Đề xuất những định hướng và giải pháp về phát triển du lịch bền vững Bà Rịa – Vũng Tàu

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Các hoạt động PTDLBV tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Nghiên cứu những vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển du

lịch bền vững nhằm đề xuất những định hướng và giải pháp PTDLBV Bà Rịa - Vũng Tàu

- Về không gian:Trong tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

- Về thời gian: + Dữ liệu thứ cấp: Số liệu thống kê từ năm 2009 – 2013

+ Dữ liệu sơ cấp: Số liệu tiến hành điều tra khảo sát năm 2012

5 Câu hỏi nghiên cứu

Luận án sẽ nghiên cứu và trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:

(1) Như thế nào là phát triển du lịch bền vững?

(2) Hiện trạng phát triển du lịch bền vững trên địa bàn tỉnh Bà R ịa – Vũng Tàu

Trang 15

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Dữ liệu nghiên cứu

- Dữ liệu thứ cấp: Là dữ liệu thống kê của các báo cáo ngành du lịch, các nghiên cứu khác có liên quan

- Dữ liệu sơ cấp: Là dữ liệu tiến hành cuộc điều tra khảo sát, phỏng vấn trực tiếp

6.2 Khung nghiên cứu

hệ môi trường; (4) Nhân tố thuộc hệ tài nguyên tự nhiên; (5) Nhân tố thuộc hệ tài nguyên nhân văn (6) Nhân tố thuộc hệ sản phẩm dịch vụ; (7) Nhân tố liên quan đến nguồn nhân

Trang 16

lực;(8) Nhân tố thuộc hệ chất lượng dịch vụ; (9) Nhân tố liên quan đến cơ sở hạ tầng; (10) Nhân tố liên quan đến cơ sở vật chất kỹ thuật; (11) Nhân tố liên quan đến quản lý nhà nước về

du lịch; (12) Nhân tố thuộc hệ tiêu chí phát triển du lịch bền vững

Thứ ba, trên nền tảng kết quả định lượng hóa các nhân tố ảnh hưởng, sử dụng chương trình máy tính SPSS để phân tích các nhân tố khám phá, thiết lập phương trình hồi quy cho các nhân tố khám phá, tiến hành kiểm định để đánh giá mức độ phù hợp của phương trình hồi quy

đã xác định được 4 nhân tố khám phá có ảnh hưởng chủ yếu đến phát triển du lịch bền vững là: (1) “Nhóm nhân tố về môi trường”; (2)“ Nhóm nhân tố về xã hội ”;(3) “ Nhóm nhân tố về kinh tế ”; (4) “Nhóm nhân tố về chất lượng sản phẩm du lịch”

Ba là, tiến hành điều tra khảo sát xây dựng bảng hệ thống 12 nhân tố ảnh hưởng phát

triển du lịch bền vững Bà Rịa - Vũng Tàu

Bốn là, sử dụng mô hình nghiên cứu đã xây dựng chỉ rõ các nguyên nhân thúc đẩy và cản

trở phát triển du lịch bền vững Bà Rịa - Vũng Tàu

Năm là, từ việc phân tích thực trạng, nhân tố ảnh hưởng, kinh nghiệm quốc tế, luận án đã đưa 5 nhóm giải pháp nhằm phát triển du lịch bền vững Bà Rịa – Vũng Tàu đó là: (1) “Nhóm nhân tố về kinh tế”; (2)“ Nhóm nhân tố về xã hội ”; (3)“ Nhóm nhân tố về môi trường”; (4)“ Nhóm nhân tố về chất lượng sản phẩm du lịch” và (5) Nhóm giải pháp khác PTDLBV Bà Rịa – Vũng Tàu

7.3 Điểm mới của luận án

Tư tưởng khoa học cốt lõi của luận án: để phát triển du lịch bền vững Bà Rịa – Vũng Tàu, cần phải chú trọng phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường tài nguyên thiên nhiên nhằm bảo đảm lợi ích cho khách du lịch, cho doanh nghiệp du lịch, cho cộng đồng địa phương

và cho ngành du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu Quá trình tập trung đi sâu phân tích hoạt động phát triển du lịch bền vững Bà Rịa – Vũng Tàu, luận án đã đạt được một số điểm mới sau:

Một là, tổng hợp các khái niệm phát triển bền vững và đặc biệt là phát triển du lịch bền vững được đề cập từ các công trình nghiên cứu của quốc tế và trong nước phù hợp với bản chất của thuật ngữ “phát triển du lịch bền vững” mở ra những hướng tiếp cận mới cho hoạt động phát triển du lịch bền vững Khái niệm phát triển du lịch bền vững được luận án đề xuất là: “ Phát triển du lịch bền vững là tập hợp các hoạt động khai thác tài nguyên, tôn tạo, bảo tồn

và thể chế nhằm thúc đẩy và tìm kiếm cơ hội phát triển du lịch bền vững, bao gồm thể chế và hoạt động liên quan đến phát triển du lịch bền vững và một số hình thức hoạt động khác”

Trang 17

Hai là, hệ thống hóa được 12 nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động phát triển du lịch bền vững để phân tích, đánh giá mức độ các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch bền vững

Ba là, từ việc phân tích thực trạng, nhân tố ảnh hưởng, kinh nghiệm quốc tế, luận án đã đưa 5 nhóm giải pháp phát triển du lịch bền vững Bà Rịa – Vũng Tàu đó là: (1) “Nhóm nhân

tố về kinh tế”; (2)“ Nhóm nhân tố về xã hội ”; (3)“ Nhóm nhân tố về môi trường”; (4)“ Nhóm nhân tố về chất lượng sản phẩm du lịch” và (5) Nhóm giải pháp khác PTDLBV Bà Rịa – Vũng Tàu

8 Kết cấu luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu thành 5 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững

Trên cơ sở dẫn dắt từ các khái niệm cơ bản liên quan như phát triển bền vững, phát triển

du lịch bền vững, xác định rõ các nguyên tắc và chỉ tiêu quốc tế về phát triển du lịch bền vững

và những kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững;

Chương 2: Phương pháp và mô hình nghiên cứu

Trình bày các nội dung về cách tiếp cận, khung phân tích, phương pháp nghiên cứu, qui trình nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và cách đánh giá phát triển du lịch bền vững

Chương 3: Đánh giá thực trạng phát triển du lịch bền vững Bà Rịa - Vũng Tàu

Giới thiệu tổng quan về Bà Rịa – Vũng Tàu và đánh giá thực trạng phát triển du lịch bền vững trên cơ sở các dữ liệu thống kê du lịch của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;

Chương 4: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động phát triển du lịch bền vững

Bà Rịa - Vũng Tàu

Trên cơ sở các nhân tố ảnh hưởng ban đầu, xây dựng các nhân tố khám phá qua mô hình toán hồi quy bội, cùng những kiểm định, để xác định nhân tố khám phá ảnh hưởng chủ yếu đến hoạt động phát triển DLBV làm cơ sở đề xuất những định hướng và giải pháp phát triển

du lịch bền vững Bà Rịa – Vũng Tàu

Chương 5: Những định hướng và giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Bà Rịa – Vũng Tàu

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu dữ liệu thứ cấp, dữ liệu sơ cấp và kinh nghiệm trong nước

và quốc tế về phát triển du lịch bền vững Luận án đã đề xuất những định hướng và giải pháp phát triển du lịch bền vững Bà Rịa - Vũng Tàu

Trang 18

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN

DU LỊCH BỀN VỮNG

Chương này trình bày cơ sở lý thuyết và kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững, gồm

2 phần chính: phần 1- trình bày những lý thuyết cơ bản có liên quan đến phát triển bền vững

và du lịch bền vững, bao gồm các lý thuyết về phát triển bền vững và du lịch bền vững, lý thuyết hệ thống du lịch, lý thuyết lãnh thổ du lịch, chất lượng dịch vụ và sự thoả mãn của khách du lịch; phần 2- trình bày các kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững có liên quan đến luận án

1.1 Tổng quan về phát triển bền vững

Phát triển bền vững là một sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm

sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa1 Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó Hiện nay, vẫn còn nhiều

tranh luận dưới những góc độ khác nhau về khái niệm "Phát triển bền vững" Theo quan điểm

của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) đưa ra năm 1980 thì: "Phát triển bền vững phải cân nhắc đến hiện trạng khai thác các nguồn tài nguyên tái tạo và không tái tạo, đến các điều kiện thuận lợi cũng như khó khăn trong việc tổ chức các kế hoạch hành động ngắn hạn và dài hạn đan xen nhau" Định nghĩa này chú trọng đến việc sử dụng các nguồn tài nguyên chứ chưa đưa ra một bức tranh toàn diện về phát triển bền vững Một định nghĩa khác được các nhà khoa học trên thế giới đề cập một cách tổng quát hơn, trong đó chú trọng đến trách nhiệm của mỗi một chúng ta: "Phát triển bền vững là các hoạt động phát triển của con người nhằm phát triển và duy trì trách nhiệm của cộng đồng đối với lịch sử hình thành và hoàn thiện các sựsống trên Trái đất" Tuy nhiên, khái niệm do Uỷ ban Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển (UNCED) đưa ra năm 1987 được sử dụng rộng rãi hơn cả Theo UNCED, "Phát triển bền vững thoả mãn những nhu cầu của hiện tại nhưng không làm giảm khả năng thoả mãn nhu cầu của các thế hệ mai sau" Như vậy, nếu một hoạt động có tính bền vững, xét về mặt lý thuyết nó

có thể được thực hiện mãi mãi

Tại Hội nghị về Môi trường toàn cầu RIO 92 và RIO 92+5, quan niệm về phát triển bền vững được các nhà khoa học bổ sung Theo đó, "Phát triển bền vững được hình thành

1

Theo [ 1 ]

Trang 19

trong sự hoà nhập, đan xen và thoả hiệp của 3 hệ thống tương tỏc là hệ kinh tế , hệ xó hội và

hệ mụi trường"

Hỡnh 1.1: Mụ hỡnh phỏt triển bền vững2Theo quan điểm này, phỏt triển bền vững là sự tương tỏc qua lại và phụ thuộc lẫn nhau của ba hệ thống núi trờn Như thế, phỏt triển bền vững khụng cho phộp con người vỡ sự ưu tiờn phỏt triển của hệ này mà gõy ra sự suy thoỏi, tàn phỏ đối với hệ khỏc Thụng điệp ở đõy thật đơn giản: Phỏt triển bền vững khụng chỉ nhằm mục đớch tăng trưởng kinh tế Hiện nay, phỏt triển phải dựa trờn tớnh bền vững cả về mụi trường-sinh thỏi, văn hoỏ-xó hội và kinh tế Phỏt triển bền vững mang tớnh ba chiều, giống chiếc kiềng 3 chõn Nếu một chõn bị góy, cả hệ thống sẽ bị sụp đổ dài hạn Cần phải nhận thức được rằng, ba chiều này phụ thuộc nhau về rất nhiều mặt, cú thể hỗ trợ lẫn nhau hoặc cạnh tranh với nhau Núi đến phỏt triển bền vững cú nghĩa là tạo được sự cõn bằng giữa ba chiều (ba trụ cột) Cụ thể là:

- Sự bền vững về kinh tế: Tạo nờn sự thịnh vượng cho cộng đồng dõn cư và đạt hiệu quả cho mọi hoạt động kinh tế Điều cốt lừi là sức sống và sự phỏt triển của doanh nghiệp và cỏc hoạt động của doanh nghiệp phải được duy trỡ một cỏch lõu dài

- Sự bền vững xó hội: Tụn trọng nhõn quyền và sự bỡnh đẳng cho tất cả mọi người Đũi hỏi phõn chia lợi ớch cụng bằng, chỳ trọng cụng tỏc xoỏ đúi giảm nghốo Thừa nhận và tụn trọng cỏc nền văn hoỏ khỏc nhau, trỏnh mọi hỡnh thức búc lột

- Sự bền vững về mụi trường: Bảo vệ, quản lý cỏc nguồn tài nguyờn; hạn chế đến mức tối thiểu sự ụ nhiễm mụi trường, bảo tồn sự đa dạng sinh học và cỏc tài sản thiờn nhiờn khỏc

2

Theo [ 8] trang 95

Đánh giá tác động môi trường

Tiền lệ hoá hoạt động môi trường

Phát triển bền vững

Xã hội Kinh tế

Tăng trưởng hiệu quả

ổn định

Trang 20

1.2 Phát triển du lịch bền vững

1.2.1 Khái niệm

Phát triển du lịch bền vững và phát triển bền vững có mối quan hệ rất chặt chẽ Trên thực tế, phát triển bền vững và phát triển du lịch bền vững đều liên quan đến môi trường Trong du lịch, môi trường mang một hàm ý rất rộng Đó là môi trường tự nhiên, kinh tế, văn hoá, chính trị và xã hội; là yếu tố rất quan trọng để tạo nên các sản phẩm du lịch đa dạng, độc đáo Rõ ràng, nếu không có bảo vệ môi trường thì sự phát triển sẽ suy giảm; nhưng nếu không

có phát triển thì việc bảo vệ môi trường sẽ thất bại Chính vì vậy, chúng ta cần phát triển du lịch nhưng không được làm tổn hại đến tài nguyên, không làm ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường Hay nói một cách khác, du lịch bền vững phải là xu thế phát triển của ngành du lịch

Ngoài sự phát triển thân thiện với môi trường, khái niệm bền vững còn bao hàm cách tiếp cận du lịch thừa nhận vai trò của cộng đồng địa phương, phương thức đối xử với lao động

và mong muốn tối đa hóa lợi ích kinh tế của du lịch cho cộng đồng địa phương Nói cách khác,

du lịch bền vững không chỉ có bảo vệ môi trường, mà còn quan tâm tới khả năng duy trì kinh

tế dài hạn và công bằng xã hội Du lịch bền vững không thể tách rời phát triển bền vững

Hiện nay, trên thế giới vẫn chưa thống nhất về quan niệm phát triển du lịch bền vững

Du lịch bền vững được định nghĩa theo một số cách Machado, 2003 [36] đã định nghĩa du lịch bền vững là: "Các hình thức du lịch đáp ứng nhu cầu hiện tại của khách du lịch, ngành du lịch, và cộng đồng địa phương nhưng không ảnh hưởng tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau Du lịch khả thi về kinh tế nhưng không phá huỷ tài nguyên mà tương lai của

du lịch phụ thuộc vào đó, đặc biệt là môi trường tự nhiên và kết cấu xã hội của cộng đồng địa phương" Định nghĩa này tập trung vào tính bền vững của các hình thức du lịch (sản phẩm du lịch) chứ chưa đề cập một cách tổng quát tính bền vững cho toàn ngành du lịch Theo Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới (WTTC), 1996 thì "Du lịch bền vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà vẫn bảo đảm những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch tương lai" Đây là một định nghĩa ngắn gọn dựa trên định nghĩa về phát triển bền vững của UNCED Tuy nhiên, định nghĩa này còn quá chung chung, chỉ đề cập đến sự đáp ứng nhu cầu của du khách hiện tại và tương lai chứ chưa nói đến nhu cầu của cộng đồng dân cư địa phương, đến môi trường sinh thái, đa dạng sinh học Còn theo Hens L.,1998 [34], thì "Du lịch bền vững đòi hỏi phải quản lý tất cả các dạng tài nguyên theo cách nào đó để chúng ta có thể đáp ứng các nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ trong khi vẫn duy trì được bản sắc văn hoá, các quá trình sinh thái cơ bản, đa dạng sinh học và các hệ đảm bảo sự sống" Định nghĩa này mới chỉ chú trọng đến công tác quản lý tài nguyên du lịch để cho du lịch được phát triển bền vững

Tại Hội nghị về môi trường và phát triển của Liên hợp quốc tại Rio de Janeiro năm

1992, Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đã đưa ra định nghĩa: "Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai Du lịch bền vững nhằm thoả mãn các nhu cầu về kinh

tế, xã hội, thẩm mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hoá, đa

Trang 21

dạng sinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống con người" [6] Định nghĩa này hơi dài nhưng hàm chứa đầy đủ các nội dung, các hoạt động, các yếu tố liên quan đến du lịch bền vững Định nghĩa này cũng đã chú trọng đến cộng đồng dân

cư địa phương, bảo vệ môi trường sinh thái, gìn giữ bản sắc văn hoá Trong Luận án này, khái niệm phát triển du lịch bền vững được hiểu theo nội hàm định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), năm 1992 Mục tiêu của Du lịch bền vững theo Inskeep, 1995 [35] là:

- Phát triển, gia tăng sự đóng góp của du lịch vào kinh tế và môi trường;

- Cải thiện tính công bằng xã hội trong phát triển;

- Cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng bản địa;

- Đáp ứng cao độ nhu cầu của du khách;

- Duy trì chất lượng môi trường

Như vậy, với những quan điểm trên đây thì có thể coi phát triển du lịch bền vững là một nhánh của phát triển bền vững nói chung đã được Hội nghị của Ủy ban Thế giới về Phát

triển và Môi trường xác định năm 1987 Phát triển du lịch bền vững là hoạt động phát triển du lịch ở một khu vực cụ thể sao cho nội dung, hình thức và quy mô là thích hợp và bền vững theo thời gian, không làm suy thoái môi trường, không làm ảnh hưởng đến khả năng hỗ trợ các hoạt động phát triển khác Ngược lại tính bền vững của hoạt động phát triển du lịch được xây dựng trên nền tảng sự thành công trong phát triển của các ngành khác, sự phát triển bền vững chung của toàn xã hội

Trong giai đoạn hiện nay, phát triển du lịch bền vững đòi hỏi phải phát triển các sản

phẩm du lịch có chất lượng cao, có khả năng thu hút và đáp ứng các nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch, song không gây tổn hại đến môi trường tự nhiên và văn hóa bản địa, đồng thời phải có trách nhiệm bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên và môi trường Về vấn đề này, trong Chương trình Nghị sự 21 về công nghiệp du lịch và lữ hành hướng tới sự phát triển môi

trường bền vững của Tổ chức Du lịch Thế giới và Hội đồng Thế giới đã xác định “Các sản

phẩm du lịch bền vững là các sản phẩm được xây dựng phù hợp với môi trường, cộng đồng và các nền văn hóa, nhờ đó sẽ mang lại lợi ích chắc chắn chứ không phải là hiểm họa cho phát triển du lịch” [6]

Một trong những trọng tâm quan trọng hàng đầu của phát triển du lịch bền vững hiện nay là hướng tới sự cân bằng giữa các mục tiêu về kinh tế - xã hội và mục tiêu bảo tồn tài nguyên, môi trường và văn hóa cộng đồng trong khi phải tăng cường sự thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của khách du lịch Sự cân bằng này có thể thay đổi theo thời gian khi có sự thay đổi về các quy tắc xã hội, các điều kiện đảm bảo môi trường sinh thái và sự phát triển của khoa học công nghệ Tuy nhiên phương pháp tiếp cận đảm bảo cho phát triển du lịch

bền vững phải dựa vào sự cân bằng tài nguyên môi trường với một quy hoạch thống nhất

Ở Việt Nam, khái niệm phát triển du lịch bền vững còn tương đối mới Nhưng thông qua các bài học kinh nghiệm và thực tiễn về phát triển du lịch bền vững ở các nước trên thế giới, thì phát triển du lịch ở nước ta đang hướng tới có trách nhiệm đối với tài nguyên và môi trường Vì thế đã xuất hiện nhiều loại hình du lịch mới ở Việt Nam: du lịch sinh thái, du lịch thiên nhiên, du lịch xanh…

Trang 22

Trong các loại hình du lịch mới được phát triển ở Việt Nam vừa kể trên, du lịch sinh thái được coi như một hướng tiếp cận quan trọng với phát triển du lịch bền vững Do vậy, tháng 9/1999 Tổng cục Du lịch Việt Nam đã phối hợp với Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế

giới và Ủy ban Kinh tế Xã hội Châu Á - Thái Bình Dương tổ chức Hội thảo về Xây dựng

chiến lược phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam Tại Hội thảo này, lần đầu tiên ở Việt Nam

đã đưa ra định nghĩa về du lịch sinh thái Theo đó “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch được

dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa gắn với việc giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương” [6]

Kết quả này được coi là sự mở đầu thuận lợi cho các bước tiếp theo trong quá trình thúc đẩy

sự phát triển của du lịch sinh thái nói riêng và du lịch bền vững nói chung ở Việt Nam

Mặc dù, các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực du lịch và các lĩnh vực khác liên quan

ở Việt Nam còn có những quan điểm chưa thật sự thống nhất về khái niệm phát triển du lịch

bền vững, tuy nhiên cho đến nay đa số các ý kiến đều cho rằng: “Phát triển du lịch bền vững

là hoạt động khai thác có quản lý các giá trị tài nguyên tự nhiên và nhân văn nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch; có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn và đảm bảo sự đóng góp cho công tác bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa, cho công tác bảo vệ môi trường để phát triển hoạt động du lịch trong tương lai, và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương” [6]

Trên quan điểm thống nhất với các diễn giải khái niệm “Phát triển du lịch bền vững” của Luật du lịch Việt Nam (2005) Đồng thời, với tư duy theo hướng tiếp cận theo mục tiêu

của thuật ngữ “PTBV” khái niệm “ PTDLBV”, được tác giả đề xuất như sau: “ Phát triển du

lịch bền vững là phát triển những hoạt động du lịch với mục tiêu mang lại lợi ích kinh tế, tạo công ăn việc làm cho xã hội và cộng đồng; thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của các thành phần tham gia du lịch trên cơ sở khai thác các nguồn tài nguyên; đồng thời có ý thức đến việc đầu

tư tôn tạo, bảo tồn và duy trì tính nguyên vẹn của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo môi trường trong sạch; phải gắn trách nhiệm và quyền lợi của cộng đồng trong việc khai thác

sử dụng và bảo vệ tài nguyên, môi trường

Theo quan điểm phát triển bền vững thì các hoạt động du lịch được coi là có tính bền vững sẽ được phát triển sao cho các bản chất, quy mô, và phương thức phù hợp và bền vững theo thời gian; phù hợp với khả năng chịu tải của môi trường; có hỗ trợ cho công tác bảo tồn các giá trị tự nhiên và văn hóa, cho cuộc sống của cộng đồng Như vậy phát triển du lịch bền vững cần chú trọng giải quyết một số vấn đề sau:

Một Hiệu quả kinh tế: Đảm bảo tính hiệu quả kinh tế và tính cạnh tranh để các doanh nghiệp và các điểm du lịch có khả năng tiếp tục phát triển phồn thịnh và đạt lợi nhuận lâu dài

Hai Sự phồn thịnh cho địa phương: Tăng tối đa đóng góp của du lịch đối với sự phát triển thịnh vượng của nền kinh tế địa phương tại các điểm du lịch, khu du lịch; bao gồm phần tiêu dùng của khách du lịch được giữ lại tại địa phương

Ba Chất lượng việc làm: Tăng cường số lượng và chất lượng việc làm tại địa phương

do ngành du lịch tạo ra và được ngành du lịch hỗ trợ, không có sự phân biệt đối xử về giới và các mặt khác

Bốn Công bằng xã hội: Cần có sự phân phối lại lợi ích kinh tế và xã hội thu được từ

Trang 23

hoạt động du lịch một cách công bằng và rộng rãi cho tất cả những người trong cộng đồng đáng được hưởng

Năm Sự thỏa mãn của khách du lịch: Cung cấp những dịch vụ an toàn, chất lượng cao thỏa mãn đầy đủ yêu cầu của du khách, không phân biệt đối xử về giới, chủng tộc, thu nhập cũng như các mặt khác

Sáu Khả năng kiểm soát của địa phương: Thu hút và trao quyền cho cộng đồng địa phương xây dựng kế hoạch và đề ra các quyết định về quản lý và phát triển du lịch, có sự tham khảo tư vấn của các bên liên quan

Bảy An sinh cộng đồng: Duy trì và tăng cường chất lượng cuộc sống của người dân địa phương, bao gồm cơ cấu tổ chức xã hội và cách tiếp cận các nguồn tài nguyên, hệ thống hỗ trợ đời sống, tránh làm suy thoái và khai thác quá mức môi trường cũng như xã hội dưới mọi hình thức

Tám Đa dạng văn hoá: Tôn trọng và tăng cường giá trị các di sản lịch sử, bản sắc văn hoá dân tộc, truyền thống và những bản sắc đặc biệt của cộng đồng dân cư địa phương tại các điểm du lịch

Chín Thống nhất về tự nhiên: Duy trì và nâng cao chất lượng của cảnh vật, kể cả ở nông thôn cũng như thành thị, tránh để môi trường xuống cấp

Mười Đa dạng sinh học: Hỗ trợ cho việc bảo tồn khu vực tự nhiên, môi trường sống, sinh vật hoang dã và giảm thiểu thiệt hại đối với các yếu tố này

Mười một Hiệu quả của các nguồn lực: Giảm thiểu mức sử dụng những nguồn tài nguyên quý hiếm và không thể tái tạo được trong việc phát triển và triển khai các cơ sở, phương tiện và dịch vụ du lịch

Mười hai Môi trường trong lành: Giảm thiểu ô nhiễm không khí, nước, đất và rác thải

từ du khách và các hãng du lịch

Quá trình phát triển du lịch mà đảm bảo giải quyết được các vấn đề nêu trên sẽ được đánh giá là bền vững Tuy nhiên sự phát triển đó chỉ mang tính tương đối bởi vì trong xã hội luôn luôn có sự thay đổi và phát triển thì sự bền vững của yếu tố này có thể sẽ là nguyên nhân ảnh hưởng đến sự bền vững của những yếu tố khác Không một xã hội nào, một nền kinh tế nào có thể đạt được sự bền vững tuyệt đối Mọi hoạt động, mọi biện pháp của con người chỉ nhằm mục đích đảm bảo khả năng khai thác lâu dài các nguồn tài nguyên tự nhiên

1.2.2 Vai trò của phát triển du lịch bền vững

Du lịch của một nước phát triển làm tăng ngân sách nhà nước, giải quyết đời sống xã hội, thúc đẩy nhiều ngành kinh tế có liên quan phát triển theo Trên thế giới, nhiều nước do du lịch phát triển đã đem lại cho ngân sách nguồn thu ngoại tệ lớn Năm 1995 các nước thu nhập du lịch quốc tế cao: Mỹ 58 tỷ USD, Italia 27 tỷ USD Du lịch là một trong những nguồn thu ngoại tệ hàng đầu ở nhiều nước như: Thailand, Philippin, Hongkong Việc phát triển du lịch còn là nhân tố thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển như : giao thông, xây dựng, bưu điện, hàng không, nông nghiệp, ngân hàng Vai trò của du lịch còn thể hiện ở chỗ, giúp cho du khách biết được tiềm năng kinh tế của các nước Từ đó xây dựng kế hoạch phát triển các quan

hệ hợp tác kinh tế giữa các nước

Trang 24

Ngoài ý nghĩa về mặt kinh tế, thì phát triển du lịch bền vững còn góp phần giới thiệu truyền bá nét văn hoá dân tộc cho bạn bè trên thế giới Phát triển du lịch bền vững ngày càng trở nên quan trọng hơn trong xã hội hiện nay:

Phát triển du lịch bền vững sẽ mang tính chất giáo dục cao về ý thức bảo vệ môi trường

và nguồn tài nguồn tự nhiên cho khách du lịch và cả cộng địa phương

Phát triển du lịch bền vững là phương tiện cải thiện và nâng cao sức khỏe, giáo dục, và phúc lợi cho xã hội Nếu không có phát triển bền vững thì tương lai của các nguồn tài nguyên

1.2.3 Dấu hiệu nhận biết du lịch bền vững và du lịch không bền vững

Có những loại hình du lịch được coi là bền vững hơn các loại hình khác Trong khi đó, du lịch tình dục hoặc du lịch 3-S (Sun, Sea and Sand: Nắng, Biển và Cát) ở hầu hết các nước cho thấy không bền vững Tuy nhiên, phần lớn các loại hình du lịch đều có thể phát triển với quy

mô rất lớn, do đó trở nên không bền vững (ví dụ, số lượng người đi du lịch săn bắn, câu cá quá đông ở một khu du lịch) Phần lớn, các mô hình du lịch có thể làm cho bền vững hơn thông qua những thay đổi định lượng hoặc định tính

Bảng 1.1: Phân loại theo khả năng tương thích với khái niệm du lịch bền vững

* Kỳ nghỉ có tác động tiêu cực với môi

* Du lịch săn bắn và câu cá ở nơi quản lý yếu * Du lịch nông thôn quy mô nhỏ

* Du lịch ở những nơi có môi trường nhạy

cảm như rừng nhiệt đới, nam cực, bắc cực

* Kỳ nghỉ bảo tồn, trong đó du khách thực hiện công tác bảo tồn trong kỳ nghỉ của mình

Trang 25

du lịch và so sánh các yếu tố được coi là bền vững với các yếu tố được coi là không bền vững Các tác giả như Krippendorf, 1982; Lane 1990; Hunter và Green, 1994; Godfrey, 1996; Swarbrooke, 1999 sau khi nghiên cứu tác động của du lịch trên cả ba lĩnh vực kinh tế, môi trường và xã hội đã đưa ra so sánh các yếu tố được coi là bền vững và các yếu tố được coi là không bền vững trong phát triển du lịch

Bảng 1.2: Du lịch bền vững và du lịch không bền vững

Chiến lược phát triển:

Không lập kế hoạch, triển khai tùy tiện Quy hoạch trước, triển khai sau

Kiến trúc theo thị hiếu của khách du lịch Kiến trúc bản địa

Trang 26

Tiền bất hợp pháp, không khai báo rõ rang Tiền hợp pháp

Nguồn: A Machado, 20034Trong hoạt động thực tiễn, cần xem xét các vấn đề làm giảm tính bền vững của phát triển du lịch, đồng thời so sánh các hoạt động bền vững với các hoạt động không bền vững Những yếu tố bền vững và không bền vững liệt kê ở trên không mang tính bắt buộc Chúng phụ thuộc nhiều vào liều lượng, vào khả năng quản lý và kiểm soát của Nhà nước, vào khả năng tự kiểm soát của ngành du lịch

1.2.4 Các lý thuyết liên quan tới phát triển du lịch bền vững

1.2.4.1 Lý thuyết hệ thống du lịch

Du lịch là một hệ thống khá phức tạp như các hệ thống thị trường điển hình trong nền kinh tế Hệ thống du lịch bao gồm một số yếu tố chủ yếu gồm khách du lịch, điểm đến du lịch, nhà kinh doanh và cung ứng dịch vụ du lịch, cộng đồng dân cư địa phương, các tổ chức truyền thông, chuyên gia và thành phần Nhà nước

* Khách du lịch: Hiện nay có nhiều khái niệm về khách du lịch Khái niệm thông dụng thường được dùng khách du lịch là người đi ra khỏi nơi cư trú (nơi ở, nơi làm việc, học tập) để nghỉ ngơi, giải trí, tìm hiểu, tham quan, thưởng ngoạn, nghỉ dưỡng chữa bệnh trong một thời gian nhất định, có thể một hoặc nhiều ngày có chi tiêu chứ không vì lý do nghề nghiệp và kiếm sống ở nơi đến

* Điểm hấp dẫn: Điểm hấp dẫn là đặc điểm vật thể hoặc văn hoá (phi vật thể) của một nơi mà khách du lịch cảm thấy đáp ứng một khía cạnh nhu cầu tò mò, thưởng ngoạn, hiểu biết, trải nghiệm hoặc giải trí của mình Điểm hấp dẫn là động lực chủ yếu (nhưng không phải là duy nhất) thu hút khách du lịch Trong hệ thống du lịch "Tài nguyên tự nhiên và văn hoá" là tiểu hệ thống của điểm đến du lịch Một khu vực phải có một hoặc nhiều điểm hấp dẫn là điểm đến du lịch Nếu không có điểm hấp dẫn sẽ không có nhu cầu về các dịch vụ du lịch khác

* Nhà kinh doanh và cung ứng dịch vụ du lịch: Nằm trong khái niệm này, trước hết là các doanh nghiệp và thương nhân hoạt động kinh doanh trực tiếp từ khách du lịch

4

Theo [ 36 ]

Trang 27

- Doanh nghiệp lữ hành (bao gồm chủ yếu các doanh nghiệp lữ hành quốc tế, lữ hành nội địa, kể cả các doanh nghiệp lữ hành bán lẻ)

- Doanh nghiệp vận tải (các đơn vị kinh doanh vận tải hàng không, đường sắt, đường bộ, đường thuỷ )

- Doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh dịch vụ khác (các bảo tàng, các cơ sở cho thuê xe, khu vui chơi, nhà hàng, khu giải trí )

Những chủ thể gián tiếp tham gia vào du lịch có thể ở vị trí rất xa nơi các hoạt động du lịch diễn ra nhưng có ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ hệ thống như các doanh nghiệp xây dựng khách sạn, nhà hàng, khu vui chơi giải trí Các cơ sở phục vụ khách du lịch này thường được xây dựng xong, bán và sau đó được quản lý bởi các doanh nghiệp du lịch Mức độ phụ thuộc kinh tế vào du lịch của một ngành dịch vụ nào đó có thể rất khác nhau Trong nhiều trường hợp, khách du lịch không phải là khách hàng chính, mà chính là người dân địa phương và các doanh nghiệp Chính vì vậy, có nhiều khu giải trí, nhà hàng trong chiến lược kinh doanh của mình không coi họ thuộc ngành du lịch (bởi vì khách hàng của họ chủ yếu là người dân địa phương)

* Cộng đồng địa phương: cộng đồng địa phương tham gia vào hệ thống du lịch dưới nhiều hình thức: cung cấp nhân lực hoặc vốn, hỗ trợ hoặc trực tiếp tham gia vào các họat động

du lịch và bản thân họ có thể là điểm hấp dẫn du lịch Cộng đồng địa phương là những người trực tiếp tiếp nhận những tác động kinh tế-xã hội-môi trường cả tiêu cực và tích cực Sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương trong quy hoạch và quản lý du lịch nói chung là thấp hoặc chỉ trong phạm vi nhỏ do trình độ nhận thức và hiểu biết chưa thật cao Tuy nhiên, mục tiêu tăng cường sự tham gia của cộng đồng địa phương trong quá trình ra chính sách phát triển

du lịch bền vững được thừa nhận rộng rãi và có ý nghĩa quan trọng

* Tổ chức truyền thông: các tổ chức truyền thông đóng vai trò quan trọng trong tác động tới hành vi tiêu dùng và là cấu thành thiết yếu trong tính năng động của hệ thống du lịch Không chỉ quá trình tiếp thị du lịch phụ thuộc nhiều vào truyền thông, mà cả chiến lược cạnh tranh, chương trình giáo dục và thậm chí quyết định các chính sách phát triển du lịch cũng bị ảnh hưởng bởi truyền thông Dù tốt hay xấu, truyền thông được biết đến là phương tiện có thể tác động làm thay đổi quy luật cung cầu của thị trường tự do

* Chuyên gia: các nhà tư vấn, các cộng tác viên, giới học thuật và các chuyên gia khác là những yếu tố thường xuyên hoặc không thường xuyên có ảnh hưởng định tính đến hệ thống du lịch Hiện nay, hầu hết chuyên gia tư vấn đều đến từ các nước phát triển, mặc dù phần nhiều công việc của họ thực hiện ở các nước đang phát triển Người dân địa phương có thể cho rằng

tư vấn nước ngoài quan tâm đến du lịch các nước đang phát triển chỉ nhằm nâng cao chất lượng trải nghiệm ngày nghỉ cho khách du lịch của các nước phát triển Có những trường hợp cách tiếp cận hoài nghi này là đúng Tuy nhiên, hỗ trợ quốc tế đang ngày càng gia tăng trong hợp tác quốc tế bình đẳng về du lịch Tư vấn nước ngoài (thông thường là từ các nước phát triển) thường hữu ích trong nhận thức vấn đề, định hướng phát triển, nhưng giải pháp thường phải do các chuyên gia trong nước đưa ra mới có tính khả thi cao

* Nguồn nhân lực du lịch: có vai trò quyết định đến chất lượng phục vụ du lịch; bao gồm đội ngũ lao động trực tiếp trong ngành du lịch và cả những lao động gián tiếp cung cấp dịch vụ

Trang 28

liên quan đến du lịch

* Thành phần nhà nước: thành phần nhà nước có vai trò quy hoạch, quản lý và xúc tiến

du lịch Vai trò này có thay đổi rất lớn trong cách tiếp cận và kết quả ở các nước phát triển, các cơ quan nhà nước không sở hữu hoặc kiểm soát nhiều quan hệ trọng yếu trong hệ thống du lịch Những tập đoàn xuyên quốc gia có sức mạnh ngày càng lớn và có phạm vi ảnh hưởng mở rộng vượt ra ngoài biên giới địa lý của các nước Tốc độ hành động và phản ứng của thành phần nhà nước và tốc độ phát triển du lịch hiếm khi gặp nhau dẫn đến những hoạt động bất thường Chính vì vậy, cách tiếp cận đối tác (nhà nước - tư nhân) ngày càng trở nên phổ biến trong những năm gần đây

Các bộ phận trong hệ thống du lịch đều có những lợi ích cục bộ khác nhau Mỗi bộ phận đều cố gắng đạt được lợi ích riêng của mình trong đấu tranh quyền lực Do vậy, hệ thống du lịch được tổ chức với những chủ thể có vai trò chính so với các chủ thể khác Tuy nhiên, ít người, ít doanh nghiệp có thể bao quát hết tất cả các nhân tố và không có ai là "trọng tài" toàn cầu hoặc "hoàng đế" để có thể chi phối toàn bộ hệ thống Cần phải nhận thấy rằng, ngành du lịch tồn tại dựa trên những tiểu hệ thống (cung và cầu) và trong nhiều trường hợp có sự liên kết mạnh mẽ giữa các thành phần kinh tế trong nước với nhau và giữa các doanh nghiệp trong nước và ngoài nước Chính vì vậy, xu hướng trong lợi ích kinh tế là tập trung quyền lực và nhìn chung, thành phần nhà nước chỉ còn là những người chơi thứ yếu giữ quyền kiểm soát thực sự ít ỏi đối với phần lớn sản phẩm du lịch Những trường hợp ngoại lệ, thường là du lịch

có quy mô nhỏ hoặc khi đang ở trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển, các hoạt động du lịch được Nhà nước tiến hành triển khai (thông qua các doanh nghiệp, tổ chức của Nhà nước) với sự hỗ trợ tích cực về mặt tài chính và cam kết chính trị mạnh mẽ

1.2.4.2 Lý thuyết tổ chức lãnh thổ du lịch

1.2.4.2.1 Quan niệm về tổ chức lãnh thổ du lịch: tổ chức lãnh thổ du lịch là sự phân bố về mặt

không gian của hoạt động du lịch căn cứ trên sự phân bố của các nguồn tài nguyên du lịch (kể

cả tài nguyên đang khai thác và tài nguyên tiềm năng), của các điều kiện về cơ sở hạ tầng, cơ

sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch cùng các mối liên hệ với điều kiện phát sinh của ngành du lịch với các ngành khác, với các địa phương trong khu vực Tổ chức lãnh thổ du lịch phải được dựa trên sự phân bố không gian kinh tế - xã hội của lãnh thổ nghiên cứu và mối quan hệ về du lịch với các lãnh thổ lân cận để có các kế hoạch phát triển du lịch phù hợp

Tổ chức lãnh thổ du lịch là một bộ phận không thể tách rời các định hướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội quốc gia và các địa phương trên lãnh thổ, với các định hướng khoa học công nghệ và các yêu cầu của an ninh quốc phòng

1.2.4.2.2 Các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch: có nhiều hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch

như: thể tổng hợp lãnh thổ du lịch, hệ thống lãnh thổ du lịch, vùng du lịch…

Thể tổng hợp lãnh thổ du lịch, theo tác giả E.A.Kotliarov - 1978 là sự kết hợp giữa các

cơ sở du lịch với các cơ sở hạ tầng kỹ thuật được liên kết với nhau thông qua các mối liên hệ kinh tế, sản xuất, phân phối… và cùng sử dụng chung các nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như kinh tế - xã hội của lãnh thổ [22]

Hệ thống lãnh thổ du lịch là hệ thống xã hội được tạo thành bởi các yếu tố có quan hệ

đa chiều và mật thiết với nhau như nhóm khách du lịch; nhóm các nguồn lực du lịch (các tổng

Trang 29

thể tự nhiên, văn hóa - lịch sử, cơ sở hạ tầng kỹ thuật…); nhóm quản lý, điều hành và phục vụ

du lịch (đội ngũ cán bộ nhân viên phục vụ, cán bộ điều hành các hoạt động kinh doanh du lịch, cán bộ quản lý nhà nước…)

Vùng du lịch, theo tác giả E.A.Kotliarov - 1978 được hiểu là một lãnh thổ hoàn chỉnh với sự kết hợp các điều kiện, đối tượng và chuyên môn hóa du lịch; đó không chỉ là lãnh thổ

để chữa bệnh, nghỉ ngơi, du lịch mà còn là một bộ máy về kinh tế hành chính phức tạp; vùng

du lịch còn bao gồm các xí nghiệp nông nghiệp, công nghiệp, vận tải, các cơ sở văn hóa; vùng

du lịch được hình thành do phân công lao động theo lãnh thổ trong lĩnh vựcdịch vụ [22] Theo I.I.Pirochnik - 1985 thì vùng du lịch là một hệ thống lãnh thổ kinh tế - xã hội, một tập hợp các

hệ thống lãnh thổ du lịch thuộc mọi cấp có liên quan với nhau và các xí nghiệp thuộc cơ sở hạ tầng xã hội nhằm đảm bảo cho hoạt động của hệ thống lãnh thổ du lịch với việc có chung chuyên môn hóa và các điều kiện kinh tế - xã hội để phát triển du lịch [48]

1.2.4.2.3 Hệ thống phân vị trong tổ chức lãnh thổ du lịch: hệ thống phân vị trong tổ chức lãnh

thổ du lịch được sử dụng rất khác nhau giữa các nước Đối với nước ta, Viện nghiên cứu phát triển du lịch đã nghiên cứu và đưa ra một hệ thống phân vị (đối với lãnh thổ quốc gia) gồm 5 cấp là: vùng du lịch, á vùng du lịch, tiểu vùng du lịch, trung tâm du lịch và điểm du lịch [23]

- Điểm du lịch: điểm du lịch là cấp thấp nhất trong hệ thống phân vị và có quy mô nhỏ

về mặt lãnh thổ Tuy nhiên sự chênh lệch về quy mô diện tích giữa các điểm du lịch có thể là tương đối lớn (ví dụ: điểm du lịch Ao Vua, điểm du lịch hồ Ba Bể, Việt Nam có thể được coi

là một điểm du lịch của thế giới ) Điểm du lịch là nơi tập trung một loại tài nguyên du lịch (tự nhiên, nhân văn) hay một loại công trình riêng biệt phục vụ du lịch hoặc kết hợp cả hai ở quy mô nhỏ Vì vậy điểm du lịch có thể được phân thành điểm tài nguyên hoặc điểm chức năng

Theo điểm 8, điều 4 Luật Du lịch thì “Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp

dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch”

- Trung tâm du lịch: trung tâm du lịch là một cấp rất quan trọng trong hệ thống phân vị,

là sự kết hợp của các điểm du lịch Trung tâm du lịch thường tập trung nhiều điểm du lịch, gồm các điểm chức năng được đặc trưng bởi sự gắn kết lãnh thổ về mặt kinh tế - kỹ thuật và tổ chức, có khả năng thu hút khách du lịch Trung tâm du lịch thường có nguồn tài nguyên tương đối phong phú, có cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch tương đối tốt để phục vụ khách Trung tâm du lịch có khả năng tạo vùng rất cao, về cơ bản nó là một hệ thống lãnh thổ

du lịch đặc biệt, đây là các cực để thu hút các lãnh thổ lân cận vào phạm vi tác động của nó Trung tâm du lịch có quy mô nhất định về diện tích, bao gồm các điểm du lịch kết hợp với các điểm dân cư và môi trường xung quanh Như vậy, trung tâm du lịch là một lãnh thổ có tài nguyên du lịch phong phú, có hệ thống cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch tương đối tốt, có khả năng tạo vùng và khả năng thu hút khách cao [23]

- Tiểu vùng du lịch: tiểu vùng du lịch là một tập hợp bao gồm các điểm du lịch và trung tâm du lịch (nếu có) Về quy mô, tiểu vùng du lịch có thể bao gồm lãnh thổ của một vài tỉnh Tiểu vùng du lịch có nguồn tài nguyên đa dạng và phong phú Trên thực tế có thể phân biệt hai loại tiểu vùng du lịch: Tiểu vùng du lịch thực tế (đang hoạt động) và tiểu vùng du lịch tiềm năng (đang hình thành)

Trang 30

- Á vùng du lịch: á vùng du lịch là tập hợp các tiểu vùng du lịch, các trung tâm du lịch

và các điểm du lịch thành một thể thống nhất với mức độ tổng hợp cao hơn Vai trò của cơ sở

hạ tầng tăng lên, các thông số hoạt động và lãnh thổ du lịch lớn hơn Xét về các mối quan hệ dân cư và việc cung cấp những nhu cầu vật chất cho khách du lịch thì á vùng du lịch bao gồm

cả những địa phương không có các điểm tài nguyên du lịch Các mối quan hệ bên trong lãnh thổ đa dạng hơn Á vùng du lịch có nhiều loại tài nguyên du lịch Quá trình chuyên môn hóa các hoạt động du lịch trên phạm vi lãnh thổ đã bắt đầu

Á vùng du lịch được coi như một cấp trung gian giữa vùng du lịch và tiểu vùng du lịch

Sự hình thành và phát triển của á vùng du lịch phụ thuộc vào nhiều yếu tố Có thể trong một số vùng du lịch sự phân hóa lãnh thổ chưa dẫn đến hình thành các á vùng; ngược lại khi hội tụ đủ các yếu tố (có trung tâm tạo vùng đủ mạnh để thu hút khách từ các lãnh thổ khác) thì á vùng

du lịch sẽ trở thành vùng du lịch Trong trường hợp ấy hệ thống phân vị chỉ còn 4 cấp là điểm

du lịch, trung tâm du lịch, tiểu vùng du lịch và vùng du lịch

- Vùng du lịch: vùng du lịch là cấp cao nhất trong hệ thống phân vị Đó là một kết hợp lãnh thổ của các á vùng, tiểu vùng, trung tâm và điểm du lịch có những đặc trưng riêng về số lượng và chất lượng Nói cách khác vùng du lịch như một thể thống nhất của các đối tượng và hiện tượng tự nhiên, nhân văn, xã hội bao gồm hệ thống lãnh thổ du lịch và môi trường KT -

XH xung quanh với chuyên môn hóa nhất định trong lĩnh vực du lịch Nói đến vùng du lịch phải nói đến chuyên môn hóa các hoạt động du lịch Đó chính là bản sắc của vùng du lịch, làm cho vùng này khác hẳn với vùng kia

Các mối liên hệ nội, ngoại vùng rất đa dạng dựa trên nguồn tài nguyên, cơ sở hạ tầng,

cơ sở vật chất kỹ thuật sẵn có của vùng Về mặt lãnh thổ, vùng du lịch có diện tích lớn bao gồm nhiều tỉnh, thành phố Ngoài ra với hoạt động du lịch mạnh mẽ nó còn bao chiếm cả các khu vực không có tài nguyên du lịch

Ngoài 5 cấp của hệ thống phân vị trong tổ chức lãnh thổ du lịch cấp quốc gia như trên, trong thực tế ở quy mô nhỏ hơn như cấp tỉnh (thành phố), một số khái niệm khác thường được

sử dụng bao gồm: cụm du lịch, khu du lịch, tuyến du lịch…

- Cụm du lịch: cụm du lịch thường được sử dụng khi nói đến nơi tập trung nhiều loại tài nguyên với một tập hợp các điểm du lịch trên một lãnh thổ (thường là cấp tỉnh, thành phố), trong đó hạt nhân là một hoặc vài điểm du lịch có giá trị thu hút khách cao (dưới dạng đang khai thác hoặc dưới dạng tiềm năng)

- Khu du lịch: “khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu về tài nguyên

du lịch tự nhiên, được quy hoạch đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách

du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế, xã hội và môi trường” (điểm 7, điều 4 Luật Du lịch, 2005)

- Tuyến du lịch: các điểm du lịch, các khu du lịch được nối với nhau tạo thành tuyến du lịch Trong từng trường hợp cụ thể, các tuyến du lịch có thể là tuyến nội tỉnh (trong lãnh thổ của một tỉnh, thành phố); tuyến nội vùng (trong phạm vi lãnh thổ của một vùng du lịch); tuyến liên vùng (giữa các vùng du lịch); hoặc tuyến quốc tế (giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ) Phụ thuộc vào phương tiện vận chuyển, tuyến du lịch có thể là tuyến du lịch đường bộ, đường không, đường sắt, đường thủy

Trang 31

Theo điểm 9, điều 4 Luật Du lịch (2005) thì “Tuyến du lịch là lộ trình liên kết các khu

du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch, gắn với các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không”

1.3 Các nguyên tắc phát triển du lịch bền vững

Để đạt được mục tiêu phát triển du lịch bền vững, chúng ta cần phải triển khai thực hiện tốt 10 nguyên tắc phát triển du lịch bền vững sau đây:

1.3.1 Khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên một cách hợp lý

Mọi hoạt động phát triển kinh tế đều liên quan đến việc sử dụng các nguồn tài nguyên

tự nhiên và nhân văn Nhiều nguồn tài nguyên trong số đó không thể tái tạo hay thay thế được hoặc khả năng tái tạo phải trải qua một thời gian rất dài đến hàng triệu năm Chính vì vậy đối với các ngành kinh tế nói chung và du lịch nói riêng, việc khai thác sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên là nguyên tắc quan trọng hàng đầu mặc dù phần lớn các tài nguyên du lịch được xem

là tài nguyên có khả năng tái tạo hoặc ít biến đổi Nếu các tài nguyên du lịch được khai thác một cách hợp lý, bảo tồn và sử dụng bền vững đảm bảo quá trình tự duy trì hoặc tự bổ sung được diễn ra theo những quy luật tự nhiên hoặc thuận lợi hơn do có sự tác động của con người thông qua việc đầu tư, tôn tạo thì sự tôn tạo đó sẽ đáp ứng lâu dài nhu cầu phát triển của du lịch qua nhiều thế hệ Việc sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên cần dựa trên cơ sở nghiên cứu kiểm kê, đánh giá, quy hoạch sử dụng cho mục tiêu tiêu phát triển cụ thể Sự phát triển bền vững nói chung và phát triển du lịch bền vững nói riêng cần đảm bảo việc lưu lại cho thế hệ tương lai nguồn tài nguyên không kém hơn so với những gì mà các thế hệ trước được hưởng Điều này có nghĩa là trong qua trình khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên cần phải tính đến giải pháp nhằm ngăn chặn sự mất đi của các loài sinh vật, sự suy giảm những chức năng thiết yếu của các hệ sinh thái có giá trị du lịch như các khu rừng nguyên sinh, các vùng đất ngập nước,…và khả năng bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống dân tộc Điều này có nghĩa là tài nguyên và môi trường du lịch cần được hiểu đó không phải là “hàng hoá cho không” mà phải được tính vào chi phí đầu vào của sản phẩm du lịch để có nguồn đầu tư cần thiết cho việc bảo tồn và tái tạo tài nguyên, kiểm soát và ngăn chặn sự xuống cấp của môi trường [6]

1.3.2 Hạn chế việc sử dụng quá mức tài nguyên và giảm thiểu chất thải ra môi trường

Việc khai thác sử dụng quá mức tài nguyên và không kiểm soát được lượng chất thải từ hoạt động du lịch sẽ góp phần dẫn đến sự suy thoái môi trường mà hậu quả của nó là sự phát triển không bền vững của du lịch nói riêng và kinh tế- xã hội nói chung Đối với một số loại tài nguyên như nước, rừng…hoạt động du lịch yêu cầu sử dụng cao hơn Ví dụ nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt cho một người dân trung bình 50 lít/ngày, song nhu cầu này đối với khách du lịch trung bình gấp 4 lần, thậm chí là 10 lần Mỗi sân golf trung bình tiêu thụ 1 lượng nước ngầm để tưới cỏ là 3.000m3 /ngày Chính vì vậy ở nhiều khu du lịch ở Gam bia, Thái Lan…tình trạng thiếu nước sinh hoạt rất nghiêm trọng, trong khi nguồn nước thải từ các khu du lịch đó lại rất lớn, gây ô nhiễm đất và nguồn nước [6]

1.3.3 Phát triển phải gắn liền với nỗ lực bảo tồn tính đa dạng

Tính đa dạng về thiên nhiên, về văn hoá và xã hội là nhân tố đặc biệt quan trọng tạo nên sự hấp dẫn của du lịch, làm thoả mãn nhu cầu đa dạng cao về tự nhiên, văn hoá và xã hội, nơi

Trang 32

đó sẽ có khả năng cạnh tranh du lịch cao và có sức hấp dẫn du lịch lớn, đảm bảo cho sự phát triển Chính vì vậy việc duy trì và tăng cường tính đa dạng thiên nhiên, văn hoá, xã hội là hết sức quan trọng cho sự phát triển bền vững của du lịch và cũng là chỗ dựa sinh tồn của ngành du lịch Trong thực tế, nếu phát triển du lịch đúng nguyên tắc, sẽ đảm bảo cho hoạt động du lịch trở thành một động lực góp phần tích cực duy trì sự đa dạng của thiên nhiên Ví dụ điển hình là hoạt động

du lịch sinh thái ở các vườn quốc gia, các khu bảo tồn tự nhiên ở nhiều nơi trên thế giới đều nhận được sự hỗ trợ to lớn từ du lịch thông qua đóng góp cụ thể về tài chính, tạo ra cơ hội tăng thu nhập cho cộng đồng và qua đó đóng góp cho bảo tồn đa dạng sinh học Du lịch cũng góp phần bảo tồn các giá trị văn hoá bằng việc khích lệ các hoạt động văn hoá dân gian, thúc đẩy việc sản xuất các hàng truyền thống, chia sẻ lợi ích từ nguồn thu cho việc tôn tạo, bảo vệ các di tích lịch sử văn hoá… Du lịch còn tạo công ăn việc làm, góp phần làm đa dạng hoá xã hội [6] 1.3.4 Phát triển du lịch phải phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội

Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp có tính liên ngành, liên vùng Vì vậy mọi phương án khai thác tài nguyên để phát triển phải phù hợp với các quy hoạch chuyên ngành nói riêng và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội nói chung ở phạm vi quốc gia, ở mỗi vùng và từng địa phương Ngoài ra, đối với mỗi phương án phát triển cần tiến hành đánh giá tác động môi trường nhằm hạn chế các tác động tiêu cực đến tài nguyên và môi trường Điều này sẽ góp phần đảm bảo cho sự phát triển bền vững của du lịch trong mối quan hệ với các ngành kinh tế khác cũng như việc sử dụng có hiệu quả tài nguyên, đảm bảo môi trường Thực tế cho thấy ở những nơi có vị trí của du lịch chưa được xác định đúng mức trong một chiến lược phát triển tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, nơi phát triển du lịch không được xem xét và cân đối với các ngành khác trong khuôn khổ một quy hoạch tổng thể, thì sự phát triển quá mức của các ngành khác sẽ làm tổn hại tới tài nguyên và làm suy thoái môi trường, ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển bền vững của du lịch Có thể coi sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng Hạ Long là

ví dụ điển hình về vấn đề này Song ngược lại tình trạng trên cũng sẽ là nguyên nhân của việc

“bung ra” một cách nhanh chóng không thể kiểm soát của hoạt động du lịch Điều nầy cũng sẽ gây những tác động tiêu cực đến tài nguyên và môi trường Sự suy thoái của tài nguyên rừng, cảnh quan sinh thái và môi trường ở một số điểm du lịch như Cát Bà, Sầm Sơn… do thiếu quy hoạch, có thể coi là những ví dụ cụ thể minh chứng cho tình trạng trên Trong quy hoạch phát triển du lịch cần đánh giá được các lợi ích cũng như sự bất lợi về kinh tế trong mối quan hệ với tài nguyên và môi trường Bên cạnh đó, các đánh giá tác động còn tính tới những mâu thuẫn quyền lợi có thể xảy ra giữa các thành phần kinh tế khác nhau: các cộng đồng địa phương, du khách, chính quyền Trung ương và địa phương, các doanh nghiệp… Điều này là rất cần thiết làm căn cứ cho việc điều hoà quyền lợi, tránh những xung đột tiêu cực, đảm bảo cho sự phát triển lâu dài bền vững của mọi ngành kinh tế, trong đó có du lịch [6]

1.3.5 Đảm bảo lợi ích với cộng đồng địa phương trong quá trình phát triển du lịch

Thực tế cho thấy trên một địa bàn lãnh thổ nếu mỗi ngành chỉ biết đến lợi ích của mình, không có sự hỗ trợ đối với sự phát triển kinh tế và chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương thì sẽ làm cho kinh tế và cuộc sống người dân địa phương gặp nhiều khó khăn, kém phát triển Điều này buộc cộng đồng địa phương phải khai thác tối đa các tiềm năng tài nguyên của mình làm đẩy nhanh quá trình cạn kiệt tài nguyên và tổn hại đến môi trường sinh thái Kết quả các quá

Trang 33

trình đó sẽ gây những tác động tiêu cực đến phát triển bền vững của ngành du lịch nói riêng, và kinh tế- xã hội nói chung Chính vì vậy việc chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương là một nguyên tắc quan trọng trong phát triển bền vững

1.3.6 Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương trong phát triển du lịch

Việc tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch không chỉ giúp họ tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống mà còn làm cho họ có trách nhiệm hơn với tài nguyên, môi trường du lịch và cùng ngành du lịch chăm lo đến việc nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch Điều này rất có ý nghĩa, góp phần quan trọng đối với sự phát triển bền vững của du lịch Kinh nghiệm thực tế về phát triển du lịch ở nhiều nước cho thấy sự tham gia của địa phương là cần thiết bởi bản thân người dân địa phương, nền văn hoá, môi trường, lối sống và truyền thống của

họ là những nhân tố quan trọng thu hút khách du lịch Bên cạnh đó, có thể thấy việc phát triển du lịch đã mang lại lợi ích kinh tế, môi trường và văn hóa cho cộng đồng, song ngược lại sự tham gia thực sự của cộng đồng sẽ làm phong phú thêm tài nguyên và sản phẩm du lịch, sẽ tạo ra được những điều kiện đặc biệt thuận lợi cho du lịch bởi cộng đồng là chủ nhân của tài nguyên và môi trường khu vực Điều này sẽ tạo ra khả năng phát triển lâu dài của du lịch cùng với sự tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch như chuyên chở, cho thuê nhà, phòng nghỉ, nấu ăn cho khách, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ làm đồ lưu niệm…[6]

1.3.7 Thường xuyên trao đổi tham khảo ý kiến cộng đồng địa phương và các đối tượng có liên quan trong quá trình hoạt động phát triển du lịch

Trao đổi tham khảo ý kiến quần chúng là một quá trình nhằm dung hoà giữa phát triển kinh tế với những mối quan tâm khác của cộng đồng địa phương, với những tác động tiềm

ẩn của sự phát triển lên môi trường tự nhiên, văn hoá- xã hội Sự tham khảo ý kiến cộng đồng địa phương là cần thiết để có thể đánh giá được tính khả thi của một dự án phát triển, các biện pháp để giảm thiểu các tác động tiêu cực và tối đa hoá sự đóng góp tích cực của quần chúng địa phương Trong một số trường hợp, dự án phát triển du lịch có thể được áp đặt từ bên ngoài hoặc từ trên xuống và thường không tính được một cách toàn diện đến nguồn tài nguyên

tự nhiên và nhân văn cũng như mối quan tâm của cộng đồng địa phương Trong những trường hợp như vậy thường nảy sinh mâu thuẫn, thậm chí đối kháng về quyền lợi của cộng đồng địa phương đối với tổ chức đầu tư Kết quả là sự phát triển của dự án sẽ không thuận lợi, thậm chí không thể thực hiện được Bản thân của sự phát triển bền vững là sự cân đối trong khai thác tài nguyên đảm bảo các nhu cầu hiện tại, tương lai và phúc lợi của con người cần dựa trên sự lựa chọn và hiểu biết về những chi phí phát triển môi trường, xã hội và văn hoá Quá trình tham khảo ý kiến trong trường hợp này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi nó bao hàm việc trao đổi thông tin, ý kiến, đánh giá và hành động dựa vào kỹ năng, kiến thức các nguồn lực địa phương Thực tế cho thấy, luôn tồn tại những mâu thuẫn xung đột về quyền lợi ở những mức độ khác nhau trong khai thác tài nguyên phục vụ phát triển giữa du lịch với cộng đồng địa phương, giữa du lịch với các ngành kinh tế Kết quả là sự thiếu trách nhiệm với tài nguyên và môi trường và sự phát triển thiếu tính bền vững đối với kinh tế- xã hội của địa phương cũng như đối với mỗi ngành kinh tế trong đó có du lịch Chính ví vậy, thường xuyên trao đổi ý kiến với cộng đồng địa phương

và các đối tượng có liên quan để cùng nhau giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình phát triển là hết sức cần thiết Điều này sẽ đảm bảo sự gắn kết và có trách nhiệm hơn giữa các

Trang 34

thành phần kinh tế với địa phương và các ngành với nhau góp phần tích cực cho sự phát triển bền vững của mỗi ngành, trong đó có du lịch [6]

1.3.8 Chú trọng việc đào tạo nâng cao nhận thức về tài nguyên môi trường

Đối với bất kỳ sự phát triển nào, con người luôn đóng vai trò quyết định Một lực lượng lao động du lịch được đào tạo có trình độ nghiệp vụ không những đem lại lợi ích về kinh tế cho ngành mà còn nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch Sự phát triển bền vững đòi hỏi ở đội ngũ những người thực hiện không chỉ có trình độ nghiệp vụ mà còn nhận thức đúng đắn về tính cần thiết của việc bảo vệ tài nguyên và môi trường Đưa nhận thức về quản lý môi trường vào chương trình đào tạo của ngành du lịch sẽ đảm bảo cho việc thực hiện những chính sách và luật pháp về môi trường tại các cơ sở du lịch Một nhân viên được trang bị tốt những kiến thức về môi trường, văn hoá sẽ có thể làm cho du khách có ý thức trách nhiệm và nhận thức đúng về môi trường, về những giá trị văn hoá truyền thống Điều này sẽ góp phần tích cực vào việc đảm bảo cho sự phát triển bền vững về du lịch Trong bối cảnh Việt Nam đang từng bước hội nhập với sự phát triển của du lịch khu vực và thế giới việc nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch để đảm bảo tính cạnh tranh là hết sức quan trọng Một đội ngũ cán bộ nhân viên có trình độ nghiệp vụ, có hiểu biết cao về văn hoá, môi trường là yếu tố quan trọng nếu không nói là quyết định để đảm bảo cho chất lượng của sản phẩm du lịch Chính vì vậy việc chú trọng đào tạo phát triển nguồn nhân lực có trình độ là một trong những nguyên tắc then chốt đối với sự phát triển bền vững của du lịch [6]

1.3.9 Tăng cường tính trách nhiệm trong hoạt động xúc tiến, quảng cáo du lịch

Xúc tiến, quảng cáo luôn là một hoạt động quan trọng đối với phát triển du lịch, đảm bảo sự thu hút khách, tăng cường khả năng cạnh tranh của các sản phẩm du lịch Chiến lược quảng cáo, tiếp thị đối với du lịch bền vững bao gồm việc xác định đánh giá và luôn rà soát để xác định đúng khả năng đáp ứng của các nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn, cũng như việc cân đối các sản phẩm du lịch cụ thể Hoạt động quảng cáo, tiếp thị thiếu trách nhiệm sẽ tạo cho khách những hy vọng không thực tế do thông tin không đầy đủ và thiếu chính xác dẫn đến sự thất vọng của du khách về các sản phẩm du lịch được quảng cáo Kết quả của hoạt động này sẽ là thái độ tẩy chay của du khách đối với những sản phẩm du lịch được quảng cáo ảnh hưởng đến sự phát triển lâu dài của du lịch Việc quảng cáo, tiếp thị cung cấp cho khách du lịch những thông tin đầy đủ và có trách nhiệm sẽ nâng cao sự tôn trọng của du khách đối với môi trường tự nhiên, văn hoá và xã hội và các giá trị nhân văn nơi tham quan, đồng thời sẽ làm tăng đáng kể sự thoả mãn của khách đối với các sản phẩm du lịch Điều này sẽ góp phần làm giảm những tác động tiêu cực từ hoạt động thu hút khách đảm bảo cho tính bền vững trong phát triển

du lịch [6]

1.3.10 Coi trọng việc thường xuyên tiến hành công tác nghiên cứu

Công tác nghiên cứu là yếu tố đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của bất cứ ngành kinh tế nào, đặc biệt là những ngành có nhiều mối quan hệ trong phát triển và phụ thuộc vào nhiều điều kiện tự nhiên, môi trường, văn hoá- xã hội như ngành Du lịch Để đảm bảo cho sự phát triển bền vững cần có những căn cứ khoa học vững chắc dựa trên việc nghiên cứu các vấn

đề có liên quan Hơn thế nữa, trong quá trình phát triển nhiều yếu tố chủ quan và khách quan nảy sinh có những tác động cần phải nghiên cứu để có những giải pháp phù hợp điều chỉnh sự

Trang 35

phát triển Như vậy việc thường xuyên cập nhật các thông tin, nghiên cứu và phân tích chúng là rất cần thiết không chỉ đảm bảo cho hiệu quả của hoạt động kinh doanh mà còn đảm bảo cho sự phát triển bền vững trong mối quan hệ với cơ chế chính sách, với việc bảo vệ tài nguyên và môi trường… Những nguyên tắc cơ bản trên đây nếu được thực hiện một cách đầy đủ sẽ bảo đảm chắc chắn cho sự phát triển bền vững của hoạt động du lịch.Phát triển bền vững chính là chìa khoá cho sự thành công lâu dài của ngành du lịch [6]

1.4 Nội dung phát triển du lịch bền vững

1.4.1 Xây dựng chiến lược phát triển du lịch bền vững

Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, qui hoạch và chính sách phát triển du lịch Nâng cao nhận thức xã hội về du lịch và phát triển du lịch bền vững, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ

1.4.2 Phát triển các cơ sở kinh doanh du lịch

Sự phát triển cơ sở kinh doanh du lịch thể hiện ở tốc độ tăng trưởng số lượng, quy mô cơ

sở kinh doanh du lịch, phân theo các nhóm ngành dịch vụ Để phân tích sự phát triển du lịch của mỗi địa phương, cần phân tích sự biến động số lượng cơ sở kinh doanh du lịch (doanh nghiệp), sự tăng trưởng số lượng doanh nghiệp phân theo các nhóm ngành dịch vụ như vận chuyển, lưu trú, nhà hàng theo các loại hình sở hữu như doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

1.4.3 Nâng cao số lượng, chất lượng các nguồn lực cho ngành du lịch

a Tài nguyên: việc bảo tồn và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhân văn là rất cần thiết, nó bảo đảm cho hoạt động kinh doanh du lịch phát triển lâu dài Sử dụng tổng hợp các nguồn lực cho phát triển bền vững trong đó cần quan tâm đến cộng đồng địa phương gắn với địa bàn sinh sống của họ Trongchiến lược phát triển du lịch cần quan tâm đến ảnh hưởng của du lịch đối với các di sản văn hóa và các yếu tố truyền thống, các hoạt động và động lực của từng cộng đồng địa phương

b Nâng cao chất lượng lao động: lao động là một nhân tố không thể thiếu trong quá trình phát triển du lịch Sự phát triển lao động du lịch thể hiện ở số lượng, cơ cấu, trình độ, kỹ năng ứng xử của đội ngũ lao động trong các doanh nghiệp thuộc ngành

c Mở rộng nguồn vốn đầu tư phát triển du lịch: nguồn vốn kinh doanh du lịch được huy động từ nhiều nguồn Khi phân tích sự phát triển du lịch, cần phải phân tích mức độ tăng trưởng của quy mô, mức độ đa dạng của nguồn vốn đầu tư và sự tăng trưởng của vốn đầu tư

d Tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch: cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được biểu hiện là toàn bộ các phương tiện vật chất do các tổ chức du lịch tạo ra để khai thác các tiềm năng

du lịch, tạo ra các sản phẩm và hàng hóa cung cấp và làm thỏa mãn nhu cầu du khách Ngành du lịch muốn phát triển gia tăng và bền vững đòi hỏi phải có một hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật tốt

e Tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ du lịch: góp phần hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, tạo ra những sản phẩm du lịch ngày càng mới lạ, hấp dẫn, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của du khách

Trang 36

1.4.4 Nâng cao năng lực và tạo lập sự liên kết chặt chẽ giữa các chủ thể tham gia hoạt động

du lịch

Khi hoạt động du lịch đã phát triển mạnh mẽ hơn, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch đã chủ động hợp tác bằng những hợp đồng liên kết Phát triển du lịch cần có sự liên kết hợp tác của cộng đồng địa phương và các đối tượng liên quan Để phát triển du lịch bền vững cần phải kết hợp hai mục tiêu bảo tồn các tài nguyên thiên nhiên với phát triển cộng đồng

1.4.5 Nâng cao chất lượng môi trường cho phát triển du lịch

Khi hoạt động du lịch đã phát triển mạnh mẽ hơn, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch đã chủ động hợp tác bằng những hợp đồng liên kết Phát triển du lịch cần có sự liên kết hợp tác của cộng đồng địa phương và các đối tượng liên quan Để phát triển du lịch bền vững cần phải kết hợp hai mục tiêu bảo tồn các tài nguyên thiên nhiên với phát triển cộng đồng

Bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch là rất cần thiết Hoạt động du lịch luôn gắn với việc khai thác các tiềm năng tài nguyên tự nhiên cũng như tài nguyên nhân văn nên chịu tác động

và gây ảnh hưởng rất lớn đến môi trường

1.4.6 Các tiêu chí đánh giá phát triển du lịch bền vững

Phát triển du lịch bền vững là một phạm trù còn mới trong chiến lược phát triển du lịch

ở nước ta, vì vậy việc nghiên cứu và xác định các dấu hiệu để nhận biết trạng thái của quá trình phát triển này là rất quan trọng Dựa vào các dấu hiệu này các nhà quản lý có thể có những giải pháp phù hợp và kịp thời nhằm điều chỉnh các hoạt động nhằm đạt được tới trạng thái bền vững hơn cho quá trình phát triển Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao với sự tham gia của nhiều thành phần xã hội Sự phát triển của du lịch phụ thuộc nhiều vào các điều kiện kinh tế, chính trị của đất nước cũng như của khu vực Sản phẩm của du lịch được hình thành chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố Vì vậy việc xác định các dấu hiệu nhận biết về phát triển du lịch bền vững là công việc phức tạp Tuy nhiên, căn cứ vào những nguyên tắc cơ bản của phát triển du lịch bền vững, những đặc điểm của hoạt động du lịch, các tiêu chí cơ bản về phát triển du lịch bền vững cần được nghiên cứu và xem xét bao gồm:

1.4.6.1 Các tiêu chí về kinh tế

Phát triển du lịch bền vững phải đảm bảo sự tăng trưởng liên tục và ổn định lâu dài của các chỉ tiêu kinh tế du lịch (chỉ tiêu về khách du lịch, thu nhập, GDP, cơ sở vật chất kỹ thuật, lao động…) Theo xu thế phát triển hiện nay ở trong nước và trên thế giới, các chỉ tiêu kinh tế được phát triển liên tục trong nhiều năm (thường là trên dưới 10 năm) ở mức trung bình khoảng 7 – 10% năm thì được coi là phát triển bền vững Tuy nhiên tuỳ thuộc vào trình độ phát triển và mức khởi điểm của các chỉ tiêu kinh tế ở mỗi nước, mỗi địa phương mà mức độ tăng trưởng sẽ cao hay thấp khác nhau được lựa chọn để đánh giá tính bền vững Với tiêu chí này, cần đề cập đến nhũng chỉ tiêu cụ thể sau:

- Chỉ tiêu khách du lịch: Đây là chỉ tiêu quan trọng hàng đầu đối với quá trình phát triển du

lịch Chỉ tiêu khách du lịch quyết định sự thành công hay thất bại; quyết định sự phát triển bền vững hay không bền vững của ngành du lịch Để đánh giá được tính phát triển bền vững hay không thì chỉ tiêu khách du lịch phải tăng trưởng liên tục năm này qua năm khác trong thời gian tối thiểu hàng chục năm hoặc lâu hơn Trong chỉ tiêu khách du lịch, ngoài số lượng

Trang 37

tuyệt đối về khách, các chỉ tiêu khác cần phải tính đến trong quá trình phát triển bền vững đó là

số ngày lưu trú trung bình, số khách quay trở lại, khả năng thanh toán, mức độ hài lòng của khách… Các hoạt động phát triển du lịch tự phát thường chỉ quan tâm đến việc thu hút tối đa số lượng khách đến và thường không chú trọng đến chất lượng nguồng khách (khả năng chi trả, trình độ văn hoá…); đến thời gian lưu trú dài hay ngắn; đến mức độ hài lòng và mong muốn được trở lại của họ Sẽ là tốt hơn, có hiệu quả kinh tế hơn và đảm bảo sự phát triển bền vững hơn trường hợp lượng khách du lịch ít (không gây áp lực đến tài nguyên- môi trường), nhưng thời gian lưu trú dài hơn và có khả năng chi trả cao hơn Thực tế cho thấy, ở những nơi được xem là ngành kinh tế mũi nhọn thì trong chiến lược phát triển thường có xu hướng quan tâm đến các chỉ tiêu về mức chi tiêu và thời gian lưu trú trung bình của khách hơn là chỉ tiêu về số lượng Điều này vẫn đảm bảo cho sự tăng trưởng về thu nhập du lịch (một chỉ tiêu quan trọng khác), trong khi đó hạn chế được chi phí cho việc khắc phục được các sự cố về tài nguyên- môi trường do áp lực quá tải về số lượng khách Sự quay trở lại của khách du lịch cũng là một trong những chỉ tiêu đánh giá mức độ phát triển bền vững của du lịch Chất lượng các sản phẩm du lịch, chất lượng các dịch vụ bổ sung, chất lượng của đội ngũ trong lao động du lịch…sẽ đảm bảo đáp ứng cho mức độ hài lòng của du khách, làm tăng thêm mong muốn được quay trở lại của họ, và chính họ sẽ là người quảng cáo tốt nhất cho hoạt động du lịch Tỷ lệ khách du lịch quay trở lại càng cao chứng tỏ rằng hoạt động du lịch đang phát triển đúng hướng và có hiệu quả Điều này càng quan trọng đối với những đối tượng khách du lịch từ những thị trường khách có khả năng chi trả cao, có thời gian lưu trú dài ngày Như vậy để đảm bảo cho du lịch phát triển bền vững thì ngoài sự phát triển liên tục của chỉ tiêu về số lượng khách, các chỉ tiêu khác có liên quan đến khách du lịch (thời gian lưu trú, mức chi tiêu, mức độ hài lòng…) cũng cần được phát triển liên tục và bền vững

- Chỉ tiêu thu nhập và tổng sản phẩm quốc nội ngành du lịch (GDP du lịch): các hoạt động du

lịch đều mang ý nghĩa kinh tế và đều hướng tới mục tiêu quan trọng là thu nhập, lợi nhuận và đóng góp cho ngân sách nhà nước Thu nhập du lịch là một chỉ tiêu quan ttrọng hàng đầu đối với

sự phát triển du lịch cả nước nói chung và của từng địa phương nói riêng; là thước đo cho sự phát triển và cho sự thành công của ngành du lịch Chỉ tiêu thu nhập du lịch liên quan chặt chẽ đến chỉ tiêu khách du lịch, sự tăng trưởng liên tục của khách du lịch sẽ kéo theo sự tăng trưởng về thu nhập và sẽ đóng góp quan trọng cho sự phát triên bền vững của du lịch Thu nhập du lịch (của một vùng lãnh thổ nào đó) bao gồm tất cả các khoản thu được do khách du lịch chi trả (khi đến lãnh thổ đó) cho dịch vụ lưu trú và ăn uống; vận chuyển khách du lịch (không kể vận chuyển quốc tế); các dịch vụ vui chơi giải trí, mua sắm hàng lưu niệm và các dịch vụ bổ sung khác Trên thực tế, tất cả các khoản thu này không phải chỉ do ngành du lịch trực tiếp thu mà còn do nhiều ngành khác, nhiều thành phần khác tham gia các hoạt động du lịch thu Ngoài ra còn một số ngành dịch vụ khác không những chỉ phục vụ người dân địa phương, mà còn phục vụ cho cả khách du lịch (dịch vụ y tế, ngân hàng, bưu điện, phim ảnh, giao thông công cộng, bảo hiểm) Trong trường hợp này, một phần chi tiêu của khách du lịch do các ngành khác thu Do vậy tất cả các khoản thu từ khách du lịch (cho dù các khoản thu này không phải do ngành du lịch trực tiếp thu) đều được tính vào tổng thu nhập du lịch Giá trị tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là chỉ tiêu quan trọng hàng đầu, là thước đo sự phát triển kinh tế nói chung và của

Trang 38

từng ngành nói riêng Sự phát triển và gia tăng liên tục của chỉ tiêu GDP sẽ phản ánh trình độ phát triển của nền kinh tế có bền vững hay không Đối với ngành du lịch, việc tăng trưởng thường xuyên, liên tục của chỉ tiêu GDP không những chỉ đảm bảo cho sự phát triển bền vững

về mặt kinh tế, mà còn cho thấy vị trí của ngành trong tổng thể nền kinh tế quốc dân Tỷ trọng GDP du lịch phản ánh tình trạng phát triển thực tế của ngành du lịch trong nền kinh tế quốc dân Tỷ trọng càng cao, ổn định và tăng trưởng theo thời gian thì ngành du lịch càng phát triển gần với mục tiêu phát triển bền vững Như vậy, chỉ tiêu thu nhập du lịch và tổng sản phẩm quốc nội là những tiêu chí quan trọng, đảm bảo cho sự phát triển du lịch bền vững về mặt kinh

tế

- Chỉ tiêu hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch: hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật trong du lịch

(bao gồm các cơ sở lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, các phương tiện vận chuyển, các khu du lịch, các văn phòng lữ hành, các cơ sở dịch vụ bổ sung khác…) là thước đo phản ánh trình độ phát triển của ngành du lịch Sự phát triển cả về số lượng, chủng loại và chất lượng của hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, một mặt đáp ứng được mọi nhu cầu của mọi đối tượng khách, mặt khác góp phần quan trọng vào việc hấp dẫn, thu hút khách, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của ngành Để có được một hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật có chất lượng cao thì vấn đề đầu tư rất quan trọng Nếu không dược đầu tư, hoặc đầu tư không đồng bộ thì hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch sẽ nghèo nàn, lạc hậu, kém chất lượng và không có khả năng hấp dẫn khách du lịch, không có khả năng lưư giữ khách dài ngày, làm giảm khả năng chi tiêu của họ, dẫn đến giảm nguồn thu và như vậy sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển bền vững của du lịch

- Chỉ tiêu nguồn nhân lực du lịch: du lịch là một ngành có nhu cầu cao đối với đội ngũ nguồn

lao động sống Do vậy, trong hoạt động du lịch, chât lượng đội ngũ lao động luôn là yếu tố quan trong có ý nghĩa quyết định Điều này cang trở nên cấp thiết trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt của hoạt động du lịch Chất lượng đội ngũ lao động sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của sản phẩm du lịch, chất lượng dịch vụ và kết quả cuối cùng là ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh, đến sự tăng trưởng của các chỉ tiêu du lịch khác Như vậy, chất lượng đội ngũ lao động được đào tạo không chỉ là yếu tố thu hút khách, nâng cao uy tín của ngành, của đất nước mà còn là một yếu tố quan trọng trong cạnh tranh thu hút khách, đảm bảo sự phát triển du lịch bền vững Công tác đào tạo đội ngũ cán bộ du lịch theo hướng bền vững về mặt chuyên môn bên cạnh những kỹ năng nghề nghiệp giỏi, khả năng giao tiếp tốt, thông thạo ngoại ngữ, cần được trang bị kiến thức về tài nguyên, quản lý môi trường, kinh tế môi trường, luật môi trường, và hệ thống kiến thức sâu rộng về xã hội Về mặt kỹ thuật, đào tạo đội ngũ cán bộ trở thành các chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau hiểu được những mối quan hệ sinh thái và có thể giúp đỡ mọi người dân và du khách trong việc sử dụng các nguồn tài nguyên tốt hơn Sự phát triển cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu của đội ngũ lao động du lịch sẽ đảm bảo cho sự phát triển về chất lượng các sản phẩm, chất lượng các dịch vụ du lịch; và như vậy sẽ góp phần đáng kể váo quá trình phát triển du lịch bền vững

- Tính trách nhiệm trong hoạt động tuyên truyền quảng bá du lịch: hoạt động tuyên truyền quảng

bá du lịch có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thu hút khách du lịch Tính trách nhiệm trong hoạt động tuyên truyền quảng bá thông qua việc cung cấp đầy đủ và trung thực thông tin về

Trang 39

tuyến điểm, về sản phẩm du lịch sẽ tạo được lòng tin cho du khách và ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thu hút khách du lịch Sự gia tăng lượng khách du lịch đồng nghĩa với việc tăng trưởng

về kinh tế thông qua hoạt động du lịch

1.4.6.2 Các tiêu chí về tài nguyên - môi trường

Phát triển du lịch bền vững phải khai thác và sử dụng một cách hợp lý, có hiệu quả các tiềm năng tài nguyên và điều kiện môi trường Việc khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên cho phát triển

du lịch cần được quản lý và giám sát để một mặt đáp ứng được nhu cầu hiện tại, mặt khác phải đảm bảo cho nhu cầu phát triển du lịch trong tương lai Với mục tiêu này, trong quá trình phát triển, ngành du lịch cần phải có những đóng góp tích cực cho công tác tôn tạo nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường… để giảm thiểu các tác động của hoạt động du lịch đến nguồn tài nguyên môi trường

- Số lượng (tỷ lệ) các khu, điểm du lịch được đầu tư tôn tạo và bảo tồn: các khu, điểm du lịch là

hạt nhân trong phát triển du lịch, trong đó tài nguyên du lịch đóng vai trò trung tâm Thực tế cho thấy tài nguyên du lịch càng phong phú, càng đặc sắc thì sức hấp dẫn và hiệu quả của hoạt động

du lịch càng cao Mục tiêu của phát triển bền vững là nhằm hạn chế tối đa việc khai thác quá mức

và lãng phí các nguồn tài nguyên, nhất là các tài nguyên tự nhiên không có khả năng tái tạo Chính vì vậy, chỉ tiêu về số lượng các khu, điểm du lịch được đầu tư bảo tồn và tôn tạo được coi

là một trong số các tiêu chí cơ bản của sự phát triển bền vững của hoạt động du lịch về mặt tài nguyên - môi trường Nơi nào càng có nhiều khu, điểm du lịch được đầu tư, bảo tồn, tôn tạo thì chứng tỏ hoạt động phát triển du lịch ở nơi đó càng cao với mục tiêu phát triển bền vững Theo tổ chức Du lịch Thế giới, nếu tỷ lệ này vượt quá 50% thì hoạt động du lịch được xem là trong trạng thái phát triển bền vững

- Số lượng (tỷ lệ) các khu, điểm du lịch được quy hoạch: việc xây dựng quy hoạch du lịch làm

căn cứ cho việc triển khai thực hiện các kế hoạch, các dự án phát triển du lịch làm căn cứ cho việc triển khai thực hiện các kế hoạch, các dự án phát triển cụ thể đóng vai trò quan trọng trong hoạt động phát triển du lịch Quy hoạch du lịch là quá trình kiểm kê, phân tích, đánh giá các nguồn lực và các điều kiện có liên quan để phát triển du lịch, từ đó xác định các phương án phát triển phù hợp, đảm bảo việc khai thác có hiệu quả tiềm năng tài nguyên du lịch và đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế tác động của hoạt động du lịch đến tài nguyên - môi trường, mang lại hiệu quả cao về kinh tế và xã hội Chính vì vậy, số lượng các khu, điểm du lịch được quy hoạch là tiêu chí quan trọng của quá trình phát triển du lịch bền vững về mặt tài nguyên - xã hội chung của khu vực

- Áp lực lên môi trường - tài nguyên tại các khu, điểm du lịch: vấn đề môi trường tại các khu,

điểm du lịch cần được coi trọng trong quá trình phát triển du lịch nhằm đạt tới mục tiêu phát triển

du lịch bền vững Việc phát triển quá nhanh các hoạt động du lịch mà không chú trọng đến công tác đánh giá và quản lý tác động đến môi trường tại các khu vực phát triển du lịch sẽ là nguyên nhân chính gây ra những hậu quả nghiêm trọng về môi trường tại đây và kết quả sẽ là sự phát triển thiếu bền vững của du lịch Việc quản lý và hạn chế những áp lực lên các nguồn tài nguyên và môi trường được thông qua các biện pháp quản lý nhằm giảm thiểu các chất thải; mức

độ kiểm soát các hoạt động phát triển du lịch; mức độ đầu tư bảo tồn và duy trì tính đa dạng sinh

Trang 40

học (trong đó việc duy trì các hệ sinh thái đặc hữu đang bị đe doạ là nền tảng cơ bản cho phát triển du lịch bền vững)… Việc đánh giá tác động môi trường tại các khu, điểm du lịch (hoặc một hình thức tương đương như các hoạt động kiểm soát chính thức về môi trường tại các khu, điểm du lịch) cũng là một tiêu chí quan trọng đảm bảo cho việc phát triển du lịch bền vững Nếu thiếu, hoặc thực hiện không đầy đủ các thủ tục đánh giá tác động môi trường thì quá trình phát triển du lịch sẽ thiếu tính bền vững Vấn đề quản lý áp lực lên tài nguyên môi trường tại các khu, điểm du lịch cũng liên quan đến khả năng sức chứa Đó là việc quản lý số lượng khách đến không vượt quá khả năng đáp ứng về tài nguyên và không làm ảnh hưởng đến khả năng phát triển của các hệ sinh thái trong khu vực

- Cường độ hoạt động tại các khu, điểm du lịch: khách du lịch là đối tượng được quan tâm hàng

đầu, là nhân tố quyết định cho sự tồn tại và phát triển của ngành du lịch Sự gia tăng của số lượng khách là tiêu chí quan trọng cho sự phát triển bền vững về mặt kinh tế, số lượng khách đến một điểm du lịch càng tăng sẽ chứng tỏ sự phát triển lớn mạnh của điểm du lịch đó Tuy nhiên việc gia tăng mạnh mẽ về số lượng khách du lịch sẽ đồng nghĩa với việc các nguồn tài nguyên du lịch bị khai thác quá mức để đáp ứng cho các nhu cầu của du khách Điều đó dẫn đến tình trạng suy thoái và cạn kiệt các nguồn tài nguyên (một số loài sinh vật đặc hữu được dùng cho các nhu cầu sản xuất hàng lưu niệm, các món ăn đặc sản, các vị thuốc quý…) Sự gia tăng nhanh của

du khách còn gây ra hiện tượng quá tải về chất thải tại các điểm du lịch, làm cho môi trường tại nơi

đó không đảm bảo và dẫn đến hiện tượng bị suy thoái môi trường Một trong những vấn đề liên quan đến phát triển du lịch bền vững là việc tiêu thụ và sử dụng các nguồn tài nguyên, năng lượng cơ bản như nước, điện, than, củi… phục vụ cho sinh hoạt của cộng đồng địa phương và khách du lịch Các hoạt động du lịch phát triển tất yếu sẽ dẫn đến sự gia tăng trong nhu cầu sử dụng các nguồn năng lượng, điều này dẫn đến sự thiếu hụt các nguồn năng lượng, cạn kiệt nguồn tài nguyên… từ những mâu thuẫn trên đây, việc phát triển du lịch bền vững một mặt phải đảm bảo được sự gia tăng về du khách, nhưng đồng thời phải xác định được cường độ hoạt động của khách tại các điểm du lịch sao cho không vượt quá ngưỡng tiêu chuẩn cho phép về môi trường, tiêu chuẩn về tiêu thụ năng lượng và sức chứa Do vậy, việc giới hạn số lượng khách đến trong một chu kỳ phát triển là một vấn đề quan trọng và cần thiết, điều này sẽ giúp cho việc duy trì và bảo vệ sự đa dạng sinh học, đảm bảo cung cấp đủ nguồn năng lượng để phục vụ nhu cầu cho khách du lịch

- Mức độ đóng góp từ thu nhập du lịch cho công tác bảo tồn, phát triển tài nguyên và bảo vệ

môi trường: khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên phục vụ phát triển sẽ đem lại nguồn

thu nhất định đối với ngành du lịch nói chung và cộng đồng địa phương nói riêng Nguồn thu này có thể có được từ việc bán vé tham quan di tích, thắng cảnh; bán vé cho các sản phẩm thủ công truyền thống hay các đặc sản của địa phương; và được tính vào tổng thu nhập du lịch Từ nguồn thu này, ngành du lịch sẽ đóng góp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan chủ quản các nguồn tài nguyên du lịch với mục đích tôn tạo, bảo tồn và nâng cấp chính nguồn tài nguyên đó Mức độ đóng góp của ngành du lịch cho công tác bảo tồn và nâng cấp nguồn tài nguyên được thể hiện qua tỷ lệ giữa phần đóng góp và tổng nguồn thu Tỷ lệ này càng lớn thì mức đóng góp càng cao và đảm bảo cho việc khai thác các nguồn tài nguyên phục vụ phát triển du lịch theo hướng bền vững Việc đóng góp từ nguồn thu du lịch cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan chủ

Ngày đăng: 27/02/2021, 10:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w