1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển du lịch bền vững khu bảo tồn thiên nhiên vùng bắc tây nguyên nghiên cứu trường hợp vườn quốc gia kon ka kinh

265 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 265
Dung lượng 43,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN ---***--- Giang Văn Trọng ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN VÙNG BẮC TÂY NGUYÊN

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-*** -

Giang Văn Trọng

ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN

DU LỊCH BỀN VỮNG KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN VÙNG BẮC TÂY NGUYÊN - NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP

VƯỜN QUỐC GIA KON KA KINH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

Hà Nội - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-*** -

Giang Văn Trọng

ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN

DU LỊCH BỀN VỮNG KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN VÙNG BẮC TÂY NGUYÊN - NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP

VƯỜN QUỐC GIA KON KA KINH

Chuyên ngành: Quản lý Tài nguyên và Môi trường

Mã số: 9850101.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

1 GS.TS Trương Quang Hải

2 PGS.TS Nguyễn Đăng Hội

Hà Nội – 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác

Tác giả luận án

Giang Văn Trọng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận án được hoàn thành tại khoa Địa lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học nghiêm túc, tâm huyết và tận tình của GS.TS Trương Quang Hải, PGS.TS Nguyễn Đăng Hội Nghiên cứu sinh xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất đến hai Thầy

Nghiên cứu sinh trân trọng cảm ơn sự hỗ trợ nhiệt tình và tạo mọi điều kiện thuận lợi của quý thầy cô và các cán bộ của Khoa Địa lý, Phòng Sau Đại học, Bộ môn Địa mạo và Địa lý - Môi trường biển, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG Hà Nội Đồng thời, NCS xin bày tỏ lòng biết ơn tới tất cả các nhà khoa học đã chỉ bảo và đóng góp quý báu để tác giả hoàn thành luận án

Nghiên cứu sinh chân thành cảm ơn đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu đánh giá tổng hợp tài nguyên du lịch, hoạch định không gian và đề xuất các giải pháp phát triển

du lịch ở Tây Nguyên” (mã số TN3/T18), đề tài Ủy ban hỗn hợp Liên Chính phủ Việt Nam - Liên Bang Nga “Nghiên cứu tổ chức cấu trúc - chức năng các hệ sinh thái rừng nhiệt đới phục vụ quản lý bảo tồn và sử dụng bền vững” (mã số E.1.2), Ban Giám đốc

và các cán bộ của Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh, tỉnh Gia Lai đã hỗ trợ tư liệu, khảo sát thực địa và giúp đỡ chân tình trong suốt quá trình NCS thực hiện luận án

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ban Lãnh đạo, các đồng nghiệp tại Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, ĐHQG Hà Nội đã dành những điều kiện thuận lợi nhất, những lời động viên chân thành, những trao đổi học thuật sâu sắc để NCS

có cơ hội phấn đấu, hoàn thiện bản thân hơn trong nghiên cứu và học tập

Tác giả luận án xin gửi lời cảm ơn đặc biệt đến gia đình, người thân và bạn bè đã luôn bên cạnh để động viên, khích lệ, giúp đỡ tác giả trong hành trình thực hiện luận án,

là nguồn động lực lớn lao để tác giả hoàn thành luận án này

Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2020

Tác giả luận án

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

(Kỹ thuật phân tích thứ bậc)

ASEAN Association of Southeast Asian Nations

(Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á)

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu 2

3 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Những điểm mới của luận án 3

5 Các luận điểm bảo vệ 4

6 Ý nghĩa Khoa học và thực tiễn 4

7 Cơ sở dữ liệu 4

8 Cấu trúc luận án 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 6

1.1.1 Hướng nghiên cứu cảnh quan tại các khu bảo tồn thiên nhiên 6

1.1.2 Hướng nghiên cứu du lịch bền vững tại khu bảo tồn thiên nhiên 8

1.1.3 Hướng đánh giá cảnh quan các khu bảo tồn thiên nhiên cho phát triển du lịch bền vững 12

1.1.4 Các nghiên cứu về Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh liên quan đến luận án 19

1.2 Cơ sở lý luận 23

1.2.1 Cảnh quan khu bảo tồn thiên nhiên 23

1.2.2 Du lịch bền vững trong khu bảo tồn thiên nhiên 32

1.2.3 Đánh giá cảnh quan khu bảo tồn thiên nhiên cho phát triển du lịch 37

1.3 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 40

1.3.1 Quan điểm nghiên cứu 40

1.3.2 Phương pháp nghiên cứu 42

1.3.3 Thiết kế quá trình nghiên cứu 49

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CẢNH QUAN KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN VÙNG BẮC TÂY NGUYÊN (Nghiên cứu Trường hợp VQG Kon Ka Kinh) 53

2.1 Khái quát các khu bảo tồn thiên nhiên ở Bắc Tây Nguyên 53

2.2 Đặc điểm các hợp phần và yếu tố thành tạo cảnh quan VQG Kon Ka Kinh 57

2.1.1 Vị trí địa lý và vị thế 57

Trang 7

2.1.2 Địa chất 58

2.1.3 Địa mạo 60

2.1.4 Khí hậu, sinh khí hậu và thủy văn 62

2.1.5 Thổ nhưỡng 65

2.1.6 Thảm thực vật 66

2.1.7 Dân cư và hoạt động kinh tế-xã hội 69

2.3 Đặc điểm cảnh quan Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh 70

2.3.1 Hệ thống phân vị cảnh quan 70

2.3.2 Đặc điểm các đơn vị phân loại cảnh quan 71

2.3.3 Lát cắt cảnh quan 80

2.3.4 Chức năng cảnh quan 81

2.3.5 Tính nhịp điệu mùa của cảnh quan 83

2.4 Phân vùng cảnh quan 87

2.4.1 Nguyên tắc và chỉ tiêu phân vùng 87

2.4.2 Các tiểu vùng cảnh quan 88

CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN VÀ ĐỊNH HƯỚNG KHÔNG GIAN PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG VƯỜN QUỐC GIA KON KA KINH 92

3.1 Giá trị cảnh quan 92

3.1.1 Giá trị sinh học 92

3.1.2 Giá trị địa học 100

3.1.3 Giá trị văn hóa 103

3.1.4 Giá trị thẩm mỹ 105

3.2 Đánh giá cảnh quan 108

3.2.1 Đánh giá cảnh quan cho mục tiêu bảo tồn 108

3.2.2 Đánh giá cảnh quan cho mục tiêu phát triển sinh kế cộng đồng 110

3.2.3 Đánh giá cảnh quan cho mục tiêu phát triển du lịch 112

3.2.4 Đánh giá tổng hợp tiềm năng cho phát triển du lịch bền vững và phân nhóm quản lý đa mục tiêu 117

Trang 8

3.3 Phân tích thực trạng khai thác cảnh quan cho phát triển du lịch 121

3.4 Định hướng sử dụng hợp lý cảnh quan cho phát triển du lịch bền vững 123

3.4.1 Định hướng phát triển sản phẩm du lịch 123

3.4.2 Định hướng tổ chức không gian phát triển du lịch 126

3.5 Giải pháp phát triển du lịch bền vững gắn với bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển sinh kế cộng đồng 131

3.5.1 Giải pháp phát triển sản phẩm du lịch 131

3.5.2 Giải pháp thực hiện tổ chức không gian phát triển du lịch bền vững 133

KẾT LUẬN 136 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Thiết kế quá trình nghiên cứu 49

Bảng 2.1 Tài nguyên đa dạng sinh học và giá trị bảo tồn thực vật bậc cao của các Vườn Quốc gia vùng Tây Nguyên 53

Bảng 2.2 Tài nguyên đa dạng sinh học và giá trị bảo tồn các loài thú tại một số KBTTN tiêu biểu vùng Tây Nguyên 54

Bảng 2.3 Hệ thống phân loại cảnh quan VQG Kon Ka Kinh 71

Bảng 2.4 Chú giải bản đồ cảnh quan 73

Bảng 2.5 Thời kỳ ra hoa, kết quả của một số thực vật ưu thế trong cảnh quan 84

Bảng 2.6 Một số loài chim có âm thanh cao và xuất hiện phổ biến tại Vườn 85

Bảng 3.1 Cấu trúc phân bố thảm thực vật tại VQG Kon Ka Kinh 93

Bảng 3.2 Phân bố các loài động vật theo cảnh quan, VQG Kon Ka Kinh 98

Bảng 3.3 Tiêu chuẩn và thang điểm đánh giá cho mục tiêu bảo tồn 108

Bảng 3.4 Tiêu chí và thang điểm đánh giá cho phát triển sinh kế cộng đồng 110

Bảng 3.5 Tiêu chí và thang điểm đánh giá cho du lịch sinh thái 112

Bảng 3.6 Tiêu chí và thang điểm đánh giá cho du lịch nghỉ dưỡng 115

Bảng 3.7 Tiêu chí và thang điểm đánh giá cho du lịch mạo hiểm 117

Bảng 3.8 Phân nhóm cảnh quan theo 3 biến du lịch, bảo tồn và cộng đồng 119

Bảng 3.9 Định hướng phát triển và quản lý cho các tiểu vùng 120

Bảng 3.10 Tổng hợp đặc điểm không gian phát triển du lịch 127

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Mô hình của Swanwick (2000) về cảnh quan 24

Hình 1.2 Sơ đồ quy trình các bước nghiên cứu 51

Hình 2.1 Lược đồ vị trí khu vực nghiên cứu 57

Hình 2.2 Biểu đồ nhiệt độ, lượng mưa trung bình tháng tại các trạm khí tượng 62

Hình 2.3 Bản đồ cảnh quan 72

Hình 3.1 Sơ đồ cấu trúc thảm thực vật tại cảnh quan thung lũng sông Ayun ở độ cao 950-1.000m VQG Kon Ka Kinh 96

Hình 3.2 Sơ đồ cấu trúc thảm thực vật hỗn giao lá rộng - lá kim độ cao >1.500m VQG Kon Ka Kinh 97

Hình 3.3 Biểu đồ thống kê bức ảnh được chọn theo phương pháp cho điểm 105

Hình 3.4 Biểu đồ thống kê bức ảnh được chọn theo phương pháp so sánh 106

Hình 3.5 Biểu đồ thống kê lý do người đánh giá lựa chọn bức ảnh được cho là hấp dẫn 107

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Khu bảo tồn thiên nhiên được đặc trưng bởi hệ sinh thái đa dạng, môi trường sống đặc thù của nhiều loài động thực vật đặc hữu, quý hiếm, các cảnh quan có giá trị văn hoá, lịch sử đặc biệt Chính vì vậy, nơi đây ngày càng trở thành điểm đến hấp dẫn với nhiều du khách Trên toàn cầu, ước tính có gần 8 tỉ chuyến đi đến các khu bảo tồn mỗi năm [125] Ở Việt Nam, theo số liệu của Tổng cục Lâm nghiệp, con số này vào khoảng 2 triệu lượt người [98]

Bên cạnh chức năng du lịch, khu bảo tồn được thành lập nhằm đáp ứng đồng thời nhiều chức năng khác nhau như bảo vệ sự đa dạng các loài động thực vật, duy trì và bảo

vệ lợi ích từ môi trường, cảnh quan cũng như các giá trị đặc biệt về tự nhiên và văn hóa, cung cấp dịch vụ môi trường,… Hoạt động du lịch một mặt tác động tích cực, nâng cao hiệu quả kinh tế, sinh thái, xã hội cho khu bảo tồn, mặt khác khi không được quản lý hiệu quả, du lịch sẽ gây ra tác động tiêu cực ảnh hưởng tới toàn bộ địa hệ thống Vì thế,

để đảm bảo thực hiện đầy đủ, hiệu quả các chức năng quan trọng của khu bảo tồn, cần thiết tiến hành nghiên cứu phát triển du lịch theo định hướng bền vững

Cảnh quan được coi như không gian - đảm nhận các chức năng quan trọng đối với con người và sinh giới Đánh giá cảnh quan là một trong những nội dung nghiên cứu căn bản của địa lý học ứng dụng Nhiệm vụ đánh giá nhằm tìm ra quy luật địa sinh thái lãnh thổ, xác định mức độ phù hợp của các hoạt động kinh tế - xã hội phân hóa theo không gian, đóng góp vào việc sử dụng hợp lý và hiệu quả các nguồn tài nguyên

Tuy nhiên, cơ sở phương pháp luận và cách thức vận dụng tiếp cận cảnh quan cho nghiên cứu khu bảo tồn thiên nhiên phục vụ phát triển du lịch bền vững còn nhiều điểm chưa rõ Việt Nam có nguồn tài nguyên sinh vật phong phú với 166 khu bảo tồn thiên nhiên [12], đây thực sự là tài sản, nguồn lực quý giá, nhằm phát triển nền kinh tế xanh, hướng tới mục tiêu phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn theo tinh thần Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị Chính vì vậy, cần thiết xác định căn cứ lý luận và thực tiễn, nhằm làm rõ cách thức vận dụng tiếp cận cảnh quan vào nghiên cứu du lịch bền vững tại KBTTN, hướng tới tạo được sản phẩm khoa học có thể cung cấp cho các

cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp ở Việt Nam

Vùng Bắc Tây Nguyên có tính đa dạng sinh học, đa dạng địa học, đa dạng văn hóa độc đáo của Việt Nam Lãnh thổ bao gồm hai tỉnh Kon Tum và Gia Lai, hình thành nên hệ thống 5 khu bảo tồn thiên nhiên (2 Vườn Quốc gia, 2 khu dự trữ thiên nhiên, 1 khu bảo tồn loài và sinh cảnh), trong đó 3 khu được vinh danh là Vườn Di sản ASEAN của Việt Nam (VQG Chư Mom Ray, KBTTN Ngọc Linh và VQG Kon Ka Kinh) chứa

Trang 12

đựng nhiều tiềm năng du lịch độc đáo Cho đến nay, Việt Nam mới chỉ có 10 Vườn Di sản ASEAN

VQG Kon Ka Kinh được lựa chọn làm khu vực nghiên cứu trường hợp của luận

án này Kon Ka Kinh mang những nét đặc trưng điển hình về tài nguyên du lịch tự nhiên

và văn hóa của vùng Bắc Tây Nguyên Vườn thể hiện yếu tố nổi trội về vị trí địa lý, quyết định đến những lợi thế đặc biệt trong liên kết du lịch Bên cạnh đó, vườn quốc gia nằm trong trục liên kết liên vùng kinh tế, giao lưu văn hóa giữa Tây Nguyên và duyên hải Nam Trung Bộ Và liên kết nội vùng với khu vực địa văn hóa An Khê phân bố liền

kề, gắn với địa danh “Tây Sơn thượng đạo” và di tích khảo cổ học có giá trị ngoại hạng, minh chứng cho lịch sử tụ cư xa xưa con người trên lãnh thổ Việt Nam

Tuy nhiên, Kon Ka Kinh cũng như phần lớn các khu bảo tồn thiên nhiên còn nhiều hạn chế trong phát huy lợi thế tương xứng với tiềm năng Bên cạnh đó, công tác phân tích, đánh giá tổng thể tài nguyên du lịch, cảnh quan còn chưa được quan tâm cũng như chưa thực hiện một cách đầy đủ Việc phát triển du lịch thiếu định hướng tổ chức không gian, thiếu sản phẩm du lịch đặc thù và giải pháp cụ thể phát triển du lịch gắn với bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển sinh kế cộng đồng theo hướng bền vững Tình trạng này nếu chậm sẽ gây ra những hệ quả tiêu cực đến sự phát triển bền vững các khu bảo tồn thiên nhiên

Với những lý do trên, việc thực hiện đề tài “Đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển du lịch bền vững khu bảo tồn thiên nhiên vùng Bắc Tây Nguyên - nghiên cứu trường hợp Vườn quốc gia Kon Ka Kinh” được đặt ra mang tính cấp thiết, cho phép làm sáng tỏ việc vận dụng tiếp cận cảnh quan trong nghiên cứu phát triển du lịch bền vững qua đó góp phần phát đưa du lịch phát triển tại VQG Kon Ka Kinh nói riêng và ở các KBTTN vùng Bắc Tây Nguyên nói chung

2 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu

a Mục tiêu: Làm rõ được đặc điểm, sự phân hóa và các giá trị của cảnh quan tạo

cơ sở phân tích, đánh giá cảnh quan phục vụ định hướng không gian và đề xuất giải pháp phát triển du lịch bền vững VQG Kon Ka Kinh

b Nội dung:

1) Tổng quan và xác lập cơ sở lý luận nghiên cứu, đánh giá cảnh quan cho phát triển du lịch bền vững khu bảo tồn thiên nhiên vùng Bắc Tây Nguyên, áp dụng cho VQG Kon Ka Kinh;

2) Phân tích cấu trúc, chức năng, tính nhịp điệu mùa của cảnh quan và phân vùng cảnh quan VQG Kon Ka Kinh;

Trang 13

3) Phân tích giá trị sinh học, địa học, văn hóa và thẩm mỹ cảnh quan của VQG Kon Ka Kinh;

4) Đánh giá tổng hợp cảnh quan VQG Kon Ka Kinh cho bảo tồn đa dạng sinh học, nâng cao sinh kế cộng đồng và phát triển du lịch;

5) Định hướng không gian và giải pháp phát triển du lịch bền vững VQG Kon Ka Kinh gắn với bảo tồn đa dạng sinh học và nâng cao sinh kế cộng đồng

3 Phạm vi nghiên cứu

a Phạm vi không gian

1) Nghiên cứu tổng quan cho các khu bảo tồn thiên nhiên vùng Bắc Tây Nguyên 2) Nghiên cứu trường hợp VQG Kon Ka Kinh bao gồm tổng thể vùng lõi và vùng đệm, bao gồm 8 xã, thuộc 3 huyện Đắk Đoa, Mang Yang, Kbang với tổng diện tích 1549,24 km2

3) Phát triển du lịch bền vững được vận dụng trong luận án là việc sử dụng hợp

lý tài nguyên du lịch phù hợp quy luật lãnh thổ, vừa kết hợp phát triển du lịch với bảo tồn đa dạng sinh học và nâng cao sinh kế cộng đồng địa phương

4 Những điểm mới của luận án

- Đã vận dụng và phát triển tiếp cận cảnh quan trong nghiên cứu phát triển du lịch bền vững gắn với bảo tồn đa dạng sinh học và nâng cao sinh kế cộng đồng tại khu bảo tồn thiên nhiên;

- Đã xác định, làm rõ sự phân hóa và đặc điểm của cảnh quan với các giá trị nổi bật, độc đáo về đa dạng sinh học, địa học, văn hóa và thẩm mỹ, có ý nghĩa phát triển du lịch ở VQG Kon Ka Kinh;

- Đã đánh giá và đề xuất các không gian ưu tiên phát triển một số loại hình du lịch chủ yếu, cùng các giải pháp cho phát triển du lịch bền vững tại VQG Kon Ka Kinh

Trang 14

5 Các luận điểm bảo vệ

Luận điểm 1: Đặc điểm và sự phân hóa các hợp phần tự nhiên và nhân sinh quyết định tính đa dạng, động lực và giá trị cảnh quan VQG Kon Ka Kinh VQG Kon Ka Kinh thuộc phụ hệ cảnh quan nhiệt đới ẩm gió mùa, không có mùa đông lạnh, phân hóa có quy luật thành 1 lớp CQ, 5 phụ lớp CQ, 12 kiểu CQ, 14 hạng CQ, 42 loại CQ và 102 dạng CQ thuộc 6 tiểu vùng cảnh quan

Luận điểm 2: Kết hợp phân tích các giá trị sinh học, địa học, văn hóa và thẩm mỹ của cảnh quan với đánh giá cảnh quan cho bảo tồn đa dạng sinh học, cải thiện sinh kế cộng đồng, phát triển du lịch là cơ sở đưa ra định hướng tổ chức không gian và giải pháp phát triển du lịch bền vững tại VQG Kon Ka Kinh

6 Ý nghĩa Khoa học và thực tiễn

Ý nghĩa khoa học

Bổ sung và làm phong phú thêm cơ sở lý luận và phương pháp phân tích, đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển du lịch gắn với bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển sinh kế cộng đồng ở quy mô KBTTN

Ý nghĩa thực tiễn

Là cơ sở cho công tác quản lý và phát triển du lịch bền vững gắn với bảo tồn đa dạng sinh học và nâng cao sinh kế cộng đồng tại VQG Kon Ka Kinh hiện nay và những năm tiếp theo

7 Cơ sở dữ liệu

Trong quá trình thực hiện các nội dung, luận án đã sử dụng các nguồn tư liệu sau:

- Kết quả đề tài do NCS tham gia và chủ trì: đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu đánh giá tổng hợp tài nguyên du lịch, hoạch định không gian và đề xuất các giải pháp phát triển du lịch ở Tây Nguyên” do GS.TS Trương Quang Hải chủ nhiệm; Đề tài Ủy ban hỗn hợp Liên Chính Phủ Việt Nam - Liên Bang Nga “Nghiên cứu tổ chức cấu trúc – chức năng các hệ sinh thái rừng nhiệt đới phục vụ quản lý bảo tồn và sử dụng bền vững” (mã số E.1.2) do PGS.TS Nguyễn Đăng Hội và Viện sĩ Roznov v.v đồng chủ nhiệm; Đề tài cấp cơ sở “Đánh giá tổng hợp tài nguyên tự nhiên phục vụ phát triển du lịch bền vững Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh, tỉnh Gia Lai” do NCS thực hiện

- Kết quả khảo sát thực địa của NCS: trong thời gian thực hiện luận án, NCS tiến hành 3 đợt khảo sát theo tuyến và điểm chìa khóa về đặc điểm phân hóa và giá trị cảnh quan, hiện trạng phát triển du lịch, đề xuất bước đầu định hướng và giải pháp phát triển

du lịch tại khu vực nghiên cứu

Trang 15

- Tư liệu khoa học: dữ liệu không gian bao gồm bản đồ nền được lấy từ bản đồ địa hình 1/50.000 của Bộ Tài nguyên và Môi trường; bản đồ địa chất, địa mạo tham khảo

từ Tổng Cục Địa chất và Khoáng sản; bản đồ thổ nhưỡng và thảm thực vật từ cơ quan chuyên ngành của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Bên cạnh đó, luận án tham khảo các dữ liệu xuất bản như sách chuyên khảo, bài báo, văn bản pháp quy, đề tài, dự

án liên quan khu vực nghiên cứu

8 Cấu trúc luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận án bao gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Chương 2: Đặc điểm cảnh quan khu bảo tồn thiên nhiên vùng Bắc Tây Nguyên (Nghiên cứu trường hợp VQG Kon Ka Kinh)

Chương 3: Đánh giá cảnh quan và định hướng không gian phát triển du lịch bền vững VQG Kon Ka Kinh

Trang 16

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để hiện thực hóa cách tiếp cận đánh giá cảnh quan trong nghiên cứu du lịch bền vững tại khu bảo tồn thiên nhiên, vai trò của lý luận và phương pháp cần phải đặt lên hàng đầu Trong chương 1, luận án tiến hành tổng quan tài liệu về cảnh quan, đánh giá cảnh quan, về du lịch bền vững tại các khu bảo tồn thiên nhiên và tại VQG Kon Ka Kinh Trên cơ sở đó xác định khoảng trống nghiên cứu và đúc rút cơ sở lý luận áp dụng trong luận án Để thực hiện nội dung luận án đề ra, trong chương về lý thuyết này còn làm rõ được quan điểm, phương pháp và quy trình nghiên cứu một cách hệ thống và chi tiết

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Hướng nghiên cứu cảnh quan tại các khu bảo tồn thiên nhiên

1.1.1.1 Nghiên cứu cảnh quan cho phát triển du lịch

Nhu cầu tiếp cận CQ cho bảo tồn được đặt nền móng từ những lý thuyết ban đầu như nguyên lý địa sinh học đảo của MacArthur và Wilson (1967) với những tranh luận

về kích cỡ, số lượng mức độ kết nối phù hợp giữa các KBTTN Các nước Châu Âu áp dụng chính sách bảo tồn theo kiểu mạng lưới, điển hình như “The Natura 2000 reserve network” (mạng lưới 2000 khu bảo vệ tự nhiên của Châu Âu) Tuy nhiên, những lý thuyết này chưa đề cập đến thành tố quan trọng trong bảo tồn là tính nhân văn và tính

xã hội Sau này, tiếp cận CQ đã bổ sung khoảng trống trên và còn là nền tảng cho tiếp cận sinh thái - xã hội (social-ecological system), hướng đến bảo tồn và cải tạo, trong đó

CQ được xem như đơn vị phù hợp [123, 171]

Tiếp cận CQ phổ biến vào những năm 1980, CQ ban đầu tập trung vào các thuộc tính tự nhiên, và phải đến những năm 1990 sau hội nghị ở Rio, tiếp cận CQ mới chính thức liên kết với phát triển bền vững, tăng cường tiếp cận đa ngành, tham gia nhiều bên liên quan, tích hợp với chính sách tại các tỷ lệ phù hợp Tiếp cận này ngày càng được

sử dụng do có tính hợp lý hơn tiếp cận ngành, có thể gắn kết với chính sách, mức độ quản lý ở nhiều quy mô, tỷ lệ, nâng cao hiểu biết giữa con người với môi trường xung quanh, và cuối cùng, vượt qua được những cái truyền thống, thường thiếu tính nhân văn

và ở trạng thái tĩnh

Trong phân loại dịch vụ hệ sinh thái, nội dung du lịch, giải trí được xếp vào nhóm dịch vụ văn hóa Du lịch liên quan đến phong cảnh, địa hình, nguồn nước, thực vật, động vật… Do vậy, CQ du lịch có thể được xếp vào nhóm CQ văn hóa [162] Cảnh quan học được sử dụng như tiếp cận phân tích sự thay đổi du lịch trên các không gian địa lý Mối quan hệ giữa CQ và du lịch được nghiên cứu trên nhiều khía cạnh [101, 173, 187] Cảnh quan như một giá trị (tài nguyên) của phát triển du lịch, đồng thời được sử dụng để phát

Trang 17

triển sản phẩm du lịch Cảnh quan như liên kết quan trọng trong những thảo luận mang tính lý thuyết về chức năng và sự phát triển của khu vực giải trí

Đóng vai trò như không gian, lãnh thổ tồn tại trong thế giới thực, CQ có tầm quan trọng trong sử dụng khu bảo tồn thiên nhiên cho mục đích du lịch Cảnh quan là cơ sở

để nghiên cứu theo các hướng: tác động của du lịch đến CQ, sức chứa CQ; giá trị CQ

và sự bảo vệ CQ; nhận thức mối quan hệ phức tạp giữa thiết lập, sử dụng và cải tạo CQ [173]; Tối ưu hóa CQ trong quy hoạch và phát triển du lịch [134]; Ảnh hưởng du lịch đến CQ [143]; Cảnh quan được đánh giá, sử dụng làm đơn vị để phân tích tác động và phân tích hành vi du khách [187] CQ được sử dụng trong nhiều nghiên cứu tổ chức lãnh thổ du lịch [54, 81]

Khía cạnh nhận thức, thẩm mỹ của cảnh quan được vận dụng nghiên cứu Một số tác giả nghiên cứu nhận thức CQ của du khách [135, 155] Cảnh quan như một yếu tố hấp dẫn du khách đến một khu vực [186] Cảnh quan có vai trò trong đánh giá tính thẩm

mỹ của môi trường tự nhiên [187] Trong các hướng trên, khía cạnh trực quan của CQ ngày càng được nghiên cứu rộng rãi và có tính ứng dụng thực tiễn cao

GIS được sử dụng như công cụ hỗ trợ nghiên cứu CQ cho du lịch do khả năng tích hợp các loại dữ liệu liên quan khác nhau như các yếu tố CQ, địa điểm du lịch và hành vi theo không gian-thời gian [149] Bên cạnh đó, hướng nghiên cứu định lượng sử dụng các chỉ số CQ (landscape metrics), chỉ ra mối quan hệ nhân quả trong mô hình tương tác CQ, du lịch [149]

1.1.1.2 Hướng nghiên cứu cảnh quan cho bảo tồn

Tại hội thảo về tiếp cận CQ cho bảo tồn và biến đổi khí hậu tại tiểu vùng sông

Mê Kông mở rộng (2015), các chuyên gia của WWF nhận thấy rằng cách thức tiếp cận bảo tồn dựa vào hệ sinh thái hiện nay dường như đang “nhìn vào trong” hơn là nhìn “ra ngoài” để có giải pháp phát triển rộng hơn nhằm xác định và giải quyết các vấn đề KT-

XH, lôi kéo các đối tác Do vậy, tiếp cận CQ với tính chất rộng mở, tổng hợp giúp hướng

ra ngoài “hộp bảo tồn” và có thể đạt được đa kết quả

Theo WWF tiếp cận CQ cho bảo tồn bao gồm các khía cạnh: xác định cơ hội và khó khăn cho hoạt động bảo tồn bên trong CQ; giúp các nhà bảo tồn xác lập mạng lưới sinh thái hữu hiệu, đảm bảo tính toàn vẹn của hệ sinh thái và số lượng quần thể loài; phát triển hệ thống đánh giá nhanh chất lượng rừng (cả khía cạnh sinh thái và xã hội) ở cấp độ CQ gồm việc xác định khu vực rừng có giá trị bảo tồn cao; thiết lập khung đàm phán các bên liên quan cho quyết định sử dụng tài nguyên và đất đai; nhận biết và sử dụng CQ chồng chéo về văn hóa, xã hội, quản trị bên trong khu vực đa dạng sinh học

Các khu bảo tồn thiên nhiên tại Việt Nam đã sớm có nghiên cứu đặt nền móng cho nghiên cứu cảnh quan Các nghiên cứu ban đầu về khu bảo tồn tập trung vào điều

Trang 18

tra cơ bản điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, về thống kê, kiểm kê đa dạng sinh học, làm

cơ sở cho xây dựng luận chứng phát triển của KBTTN Phần lớn kết quả được nghiên cứu bởi các cơ quan chuyên môn như Viện Điều tra Quy hoạch rừng, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam,…

Sau giai đoạn điều tra cơ bản, công tác bảo tồn đa dạng sinh học còn chú ý đến khía cạnh xã hội nhân văn trong bảo tồn như phối hợp bảo tồn, bảo tồn dựa vào cộng đồng, chia sẻ lợi ích từ bảo tồn, mô hình du lịch, bảo tồn Một số cách tiếp cận đang được sử dụng trong bảo tồn như: Quản lý hệ sinh thái, quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng, đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn và phát triển tổng hợp, phát triển bền vững… Trong đó, tiếp cận đánh giá CQ cho bảo tồn được áp dụng tại nhiều khu vực Các tác giả dựa trên đặc điểm sinh thái, cũng như đặc điểm các hợp phần thành tạo cảnh quan để xác định đặc điểm, hiện trạng theo không gian và kiến nghị không gian ưu tiên bảo tồn động thực vật, qua các nghiên cứu dưới góc độ địa lý Nguyễn Đăng Hội (2004, 2011, 2014, 2018) [41-43], Hà Quý Quỳnh (2009, 2014) [78, 79], dưới góc độ sinh thái với các nghiên cứu tiêu biểu của Võ Quý [77], Nguyễn Nghĩa Thìn (2003, 2007), Đặng Huy Huỳnh (2005) [48], Hoàng Văn Thắng (2005) [84], Lê Diên Dực và Hoàng Văn Thắng (2012) [26] và còn nhiều tác giả khác Song song với mục đích bảo tồn, các mục đích phát triển khác cũng được đánh giá như du lịch, nông nghiệp… dựa trên tính chất đa chức năng của CQ Từ đó, các nghiên cứu bảo tồn dựa trên tiếp cận CQ không chỉ giới hạn ở phạm vi bảo tồn mà còn hài hòa với các hoạt động phát triển

Cũng cần lưu ý, đối với KBTTN, nội dung bảo tồn không chỉ chú ý đến tài nguyên sinh vật mà cần quan tâm đến phong cảnh Ở nhiều nước, quản lý CQ rừng đã có những tiếp cận mang tính hệ thống Mỹ đã ban hành sách hướng dẫn quản lý phong cảnh rừng vào những năm 1973, 1974, 1993 Tại Anh, các hướng dẫn quản lý dựa trên mức độ nhạy cảm và tầm quan trọng của CQ đối với bảo tồn phong cảnh Những nhà chức trách

ở Úc đã ban hành phương pháp luận thực tiễn cho xác định mức độ ưu thế của CQ bằng việc chỉ ra giá trị và mức độ nhạy cảm Ở Việt Nam chỉ có hướng dẫn quản lý rừng nói chung, chứ chưa có hướng dẫn quản lý phong cảnh rừng riêng biệt

1.1.2 Hướng nghiên cứu du lịch bền vững tại khu bảo tồn thiên nhiên

1.1.2.1 Tình hình nghiên cứu du lịch bền vững

Theo nghiên cứu của Andrei P Kirilenko và nnk (2018) [157], các chủ đề nghiên cứu trong lĩnh vực du lịch được tổng hợp thành 14 nhóm, trong đó du lịch bền vững là một trong những chủ đề có sự duy trì tương đối ổn định qua các năm

Mối quan hệ giữa du lịch và bền vững đã tồn tại từ lâu, tuy nhiên không được biết đến nhiều cho tới khi thuật ngữ phát triển bền vững được thừa nhận và định nghĩa

Trang 19

Vào giữa những năm 1970, nghiên cứu đầu tiên được tiến hành bởi Liên hiệp Quốc tế

Tổ chức các cơ quan lữ hành - tiền thân của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) - xác định sự phát triển du lịch phụ thuộc vào công tác bảo tồn tài nguyên thiên nhiên Du lịch nếu không được quản lý tốt sẽ tác động tiêu cực đến tài nguyên thiên nhiên và ngược lại [176] Bên cạnh đó, tổ chức Hợp tác Kinh tế và phát triển (OECD) năm 1980 thừa nhận việc duy trì chất lượng môi trường tốt có tác động qua lại đối với tăng trưởng du lịch, giảm thiểu suy thoái môi trường Có thể thấy, nhu cầu phát triển du lịch bền vững thời

kỳ đầu chủ yếu tập trung ở khía cạnh môi trường, nó phản ánh chủ nghĩa môi trường luận (Envitronmentalism) ở cuối thế kỷ 20 Sau này, sự tích hợp đồng bộ giữa các nguyên lý về kinh tế, xã hội và môi trường đưa du lịch bền vững tạo nên tính đột phá mới trong khoa học

Du lịch bền vững được xem như một cách tiếp cận mang tính tích cực để làm giảm những tác động tiêu cực tạo ra từ mối tương tác phức tạp giữa ngành du lịch, du khách, môi trường tự nhiên và cộng đồng địa phương Du lịch bền vững tập trung vào tối thiểu hóa tác động của du lịch đến môi trường và văn hóa, phong tục, truyền thống địa phương, tối đa hóa lợi ích kinh tế, giáo dục, thỏa mãn nhu cầu của du khách [127] Tuy nhiên, một số tác giả không đồng tình với thuật ngữ này Thứ nhất, sự cân bằng tất

cả các mục tiêu trong du lịch bền vững là không khả thi, trong đó phải có ít nhất một hoặc một số mục tiêu có mức ưu tiên cao hơn Thứ hai, khái niệm đáp ứng nhu cầu ở đây còn mập mờ vì rất khó để xác định các nhu cầu của con người được đáp ứng, thậm chí các nhu cầu có thể xung đột với nhau Ngoài ra, tính bền vững được cho là không thực tế, khái niệm này gây nhiều cách hiểu và thực hiện bởi các nhóm tổ chức, cá nhân khác nhau, hơn nữa trong thực tế không tồn tài một trạng thái “bền vững” hoàn toàn vì tính biến đổi phức tạp của các thành phần theo quy mô và thời gian Thay vào đó luận

đề bền vững nên được chuyển thành luận đề thích ứng (adaptive paradigm) [145] Một

số thảo luận gần đây còn chỉ ra du lịch bền vững có thể đã quá tập trung quá vào các nguồn tài nguyên, trong khi còn hạn chế trong việc xác định nhu cầu thị trường, các thách thức bền vững [130] Hall (2010) cho rằng du lịch đang có nguy cơ kém bền vững hơn trước do những vấn đề cố hữu chưa giải quyết triệt để từ xác định sức chứa đến sự kết hợp các chỉ tiêu kinh tế, xã hội, môi trường [153]

Du lịch bền vững được nghiên cứu trên khía cạnh tác động của du lịch, đánh giá bền vững, tìm hiểu thái độ và hành vi của du khách, và quy hoạch du lịch Một số tiếp cận đánh giá tính bền vững trong du lịch như cách tiếp cận kinh tế - sinh thái, xã hội, văn hóa, quản trị, quản lý rủi ro Những cách tiếp cận này có cách phân tích khác nhau nhưng tựu chung lại đều là cách tiếp cận tích hợp cho đánh giá bền vững du lịch [154] Bên cạnh đó, một số phương pháp phổ biến đánh giá tính bền vững thông qua sử dụng chỉ thị (indicators), qua đánh giá tác động môi trường, dấu chân sinh thái…

Trang 20

1.1.2.2 Du lịch bền vững tại khu bảo tồn thiên nhiên

Khu bảo tồn có đặc trưng về tài nguyên đa dạng sinh học phong phú, là khu vực chịu sự tác động trực tiếp và gián tiếp của con người qua nhiều thời kỳ khác nhau Những

nỗ lực trong quản lý nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến KBTTN được ghi nhận, đáng chú ý như mô hình khu dự trữ sinh quyển (Biosphere Reserve) năm 1976, mô hình xác định khu vực ưu tiên bảo tồn, vùng đệm, khung ra quyết định đa chỉ tiêu (1991)… nhiều nỗ lực khác liên quan đến tiếp cận phát triển bền vững, các bên liên quan (1995), quản lý dựa vào cộng đồng (1994), đồng quản lý (1991)… Trong đó, du lịch được xác định như một trong những cách thức bảo tồn dựa trên phát triển bền vững Mặt khác, lĩnh vực du lịch phụ thuộc vào môi trường tự nhiên, các dịch vụ của hệ sinh thái như đất, nước, không khí, khoáng chất, năng lượng… Do đó, các nội dung nghiên cứu du lịch tại KBTTN rất đa dạng và liên quan đến nhiều lĩnh vực Trong đó, hướng nghiên cứu tác động qua lại giữa du lịch với kinh tế, xã hội, môi trường được nhiều tác giả quan tâm [180]

Du lịch theo hướng này hay hướng khác đã làm biến đổi tiêu cực môi trường tự nhiên, văn hóa, kinh tế, xã hội của các điểm đến du lịch Gössling (2002) thừa nhận du lịch làm thay đổi lớp phủ thực vật và sử dụng đất, suy giảm số lượng động vật hoang dã, phát tán nguồn bệnh và những thay đổi trong nhận thức và hiểu biết về môi trường [150] Hall (2010) ước tính du lịch phải có trách nhiệm cho sự mất mát khoảng 3,5-5,5% loài, con số sẽ ngày càng tăng lên trong tương lai dưới sự tác động của biến đổi khí hậu [153] Nhấn mạnh mối quan hệ giữa đa dạng sinh học và du lịch, gần đây Hội nghị Đa dạng

sinh học (2015) đã xuất bản cuốn sách Du lịch hỗ trợ đa dạng: một hướng dẫn Bảo tồn

đa dạng sinh học và phát triển du lịch nhằm đưa “du lịch và đa dạng sinh học hỗ trợ

nhau nhiều hơn, gắn kết khu vực tư nhân với cộng đồng địa phương, nâng cao quy hoạch

sử dụng đất và cơ sở hạ tầng dựa trên nguyên lý bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học” [141]

Bên cạnh một số tác động tiêu cực, du lịch có nhiều tác động tích cực vào công tác bảo tồn Hoạt động du lịch gắn với quan sát động vật hoang dã có thể nâng cao cơ hội giáo dục du khách về đa dạng sinh học, tăng cường nhận thức cộng đồng và đóng

góp vào bảo tồn [136] Cuốn sách Du lịch bền vững tại KBTTN của IUCN (2008) đã

phân tích đầy đủ nhất 26 tác động tích cực của du lịch đến KBTTN và được chia thành

3 nội dung chính: Nâng cao cơ hội về kinh tế (tăng việc làm, thu nhập, khuyến khích sản xuất địa phương…), bảo vệ di sản tự nhiên và văn hóa (bảo vệ quá trình sinh thái,

đa dạng sinh học, hỗ trợ nghiên cứu…), nâng cao chất lượng cuộc sống (đáp ứng nhu cầu về thẩm mỹ, giá trị tinh thần, nâng cao hiểu biết về văn hóa…) [143]

Trang 21

Ngoài nghiên cứu về tác động, ngày càng nhiều công trình tập trung vào phát hiện và giải quyết thách thức du lịch bền vững thông qua các công cụ, mô hình quản lý như phân vùng phát triển du lịch, quản lý nguồn cung, nguồn cầu, sức chứa và loại hình

sử dụng, quản lý du khách theo không gian, thời gian và loại hình dịch vụ, quản lý mâu thuẫn giữa các bên liên quan Khía cạnh giám sát được sử dụng như công cụ quản lý Các chỉ thị (indicators) kinh tế, xã hội, môi trường giúp kiểm tra tác động của phát triển

du lịch theo thời gian [179]

Du lịch tại KBTTN được cấu thành từ nhiều phân hệ, trong đó để phát triển du lịch bền vững, cần thiết tiến hành quản lý du khách Một số hướng tiếp cận để quản lý khách du lịch như: tiếp cận bằng phân vùng quản lý [143] thông qua đó sẽ giảm thiểu diện tích sử dụng của KBTTN, đồng thời sẽ giảm thiểu những khu vực nhạy cảm được đưa vào sử dụng; tiếp cận thông qua sức chứa du lịch [81] sẽ giới hạn thời gian cũng như lượng khách có thể tiếp cận đến điểm tham quan; tiếp cận bằng giá dịch vụ góp phần điều tiết lượng khách của điểm đến, đồng thời xác định đối tượng khách ưu tiên tại điểm đến [160]

Hướng nghiên cứu quy hoạch trong KBTTN góp phần vào sự phát triển du lịch bền vững do tính đến yếu tố dài hạn trong phát triển Hướng quy hoạch không gian du lịch đề cập đến chính sách, chiến lược phát triển, thiết lập mục tiêu, các bên liên quan, quản lý xung đột [143] Bên cạnh đó, hướng quy hoạch nguồn nhân lực du lịch quan tâm đến phân tích đánh giá nguồn nhân lực, nhu cầu phát triển nguồn nhân lực hiện tại, định hướng đào tạo, tổ chức, phát triển nghề nghiệp

Mối quan hệ giữa hoạt động du lịch với khu bảo tồn đã xuất hiện từ khá sớm tại Việt Nam do điều kiện lịch sử, kinh tế Người Pháp đã thiết lập những khu bảo vệ đặc biệt đầu tiên ở Việt Nam Năm 1941, L Cadiere đã đề nghị xây dựng 5 khu dữ trữ thiên nhiên và bảo vệ toàn phần, gồm 2 khu ở Sa Pa, 2 khu ở Bà Nà và 1 khu ở Bạch Mã [99] Sau này xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu phát triển du lịch tại KBTTN dưới góc

độ địa lý, cảnh quan [44, 58, 78, 81, 119] minh chứng cho tính hiện đại và khoa học của cảnh quan khi nghiên cứu KBTTN Công trình [58, 81] nghiên cứu du lịch tập trung tại một vườn quốc gia trong khi công trình [78] nghiên cứu cho nhiều Vườn Tại mỗi khu vực nghiên cứu, không gian được phân hóa theo các điểm du lịch [58, 81] hoặc theo CQ [78] Công trình [78] nghiên cứu trên diện tích lớn nên đã sử dụng cấp lớp CQ làm đơn

vị cơ sở phân tích, trong khi nếu nghiên cứu chỉ trong khu vực một vườn quốc gia có thể xây dựng bản đồ CQ chi tiết hơn đến cấp loại và dạng Ngoài ra, các công trình trên

đã đưa ra nhiều tiêu chí đánh giá du lịch, tuy nhiên chưa có nhiều tiêu chí mang tính định lượng, chưa làm rõ được mối quan hệ giữa CQ với du lịch, đặc biệt liên quan đến khía cạnh thẩm mỹ

Trang 22

1.1.3 Hướng đánh giá cảnh quan khu bảo tồn thiên nhiên cho phát triển

du lịch bền vững

Cảnh quan được hiểu theo chiều cạnh không gian và nhận thức [156] Vì vậy, đánh giá cảnh quan được tổng quan theo hai chiều cạnh trên Tuy nhiên, để có cái nhìn rộng hơn về đánh giá cảnh quan, trước tiên luận án tổng quan về các hướng nghiên cứu đánh giá

1.1.3.1 Các xu hướng chung nghiên cứu đánh giá cho phát triển du lịch

Đánh giá cho phát triển du lịch được thực hiện theo các kiểu như đánh giá kỹ thuật [38, 119], tâm lý thẩm mỹ [66], sinh khí hậu [111] và kinh tế Phụ thuộc loại hình

du lịch đánh giá, các nghiên cứu có thể sử dụng một trong bốn kiểu hoặc kết hợp các kiểu đánh giá với nhau Nhiệm vụ của nhà nghiên cứu thường phải xác định mức độ thuận lợi của lãnh thổ cho các mục đích phát triển và bảo tồn nên kiểu đánh giá kỹ thuật hay “đánh giá mức độ thuận lợi” thường được sử dụng phổ biến hơn Đánh giá kỹ thuật cho biết được mức độ thích nghi theo không gian lãnh thổ Tuy vậy, để đưa ra các định hướng cụ thể hơn cho lãnh thổ, chỉ sử dụng một kiểu đánh giá kỹ thuật là chưa đủ Vì vậy, trong nhiều nghiên cứu, đánh giá kỹ thuật thường được tiến hành ở giai đoạn đầu của phân vùng, tổ chức, quy hoạch lãnh thổ, xây dựng mô hình du lịch Trên cơ sở phân vùng, các nghiên cứu tiến hành đánh giá bổ sung về kinh tế du lịch theo từng vùng để xác định hiệu quả kinh tế của các loại hình du lịch [54] Kết quả đánh giá cho phép hoạch định các khoanh vi, tuyến, điểm du lịch của lãnh thổ nghiên cứu và đề xuất các giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý [19, 37, 69, 119] Hướng nghiên cứu này đang được các cơ sở địa lý học của cả nước như Viện Địa lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội… tiếp tục nghiên cứu và phát triển

Các yếu tố khí hậu ảnh hưởng trực tiếp tới các hoạt động du lịch của con người như tham quan, nghỉ dưỡng Chính vì vậy, từ lâu đánh giá sinh khí hậu đã được các nhà nghiên cứu du lịch sử dụng để xây dựng bản đồ thích nghi, phân vùng sinh khí hậu cho các thoạt động du lịch [95, 111] Các tác giả đánh giá thông qua các chỉ số bất tiện nghi DI, nhiệt độ hiệu dụng T [83], khí hậu du lịch TCI [36] Đánh giá sinh khí hậu cho phép áp dụng các phân tích định lượng, từ đó đưa ra kết quả rõ ràng Tuy nhiên, kiểu đánh giá này phụ thuộc vào nguồn số liệu đầu vào chi tiết và bản thân các yếu tố khí hậu như nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm phụ thuộc phức tạp vào địa hình và điều kiện địa phương trong khi số liệu quan trắc khí tượng nước ta chỉ có ở một số đô thị, nên quá trình đánh giá thường phải sử dụng nhiều các thông số nội suy và ở một số khu vực nông thôn, vùng núi sẽ khó đánh giá chính xác

So với các kiểu đánh giá khác, đánh giá tâm lý - thẩm mỹ được đề cập đến chưa nhiều, trong khi đặc thù ngành du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu thưởng ngoạn vẻ đẹp và

Trang 23

tạo ra trải nghiệm cảm xúc cho du khách Các nghiên cứu trước đây tập trung tìm hiểu

về nhu cầu, sở thích của du khách làm cơ sở cho xây dựng chỉ tiêu đánh giá [31, 58] Tuy nhiên, các công trình này chủ yếu định tính, dựa trên cảm nhận và ý kiến chủ quan nên chưa có tính hệ thống và chỉ đưa ra được các mô tả chứ chưa phân tích các nguyên nhân, những yếu tố ảnh hưởng đến cảm nhận thẩm mỹ Bên cạnh đó, nghiên cứu thẩm

mỹ chưa được áp dụng trên quy mô cấp cảnh quan, vì thế chưa đưa ra mức độ hấp dẫn của các cảnh quan và giải thích được lý do một phong cảnh được yêu thích hơn các phong cảnh khác Những khoảng trống về lý luận và thực tiễn đánh giá tâm lý - thẩm

mỹ cần thiết được nghiên cứu thêm

Ở Việt Nam, ngay từ những năm 1980 đã xuất hiện những nghiên cứu đánh giá mặc dù phần lớn ở tỷ lệ nhỏ và mang tính định tính cao như Sơ đồ phát triển và phân bố ngành Du lịch Việt Nam (1986), Kế hoạch chỉ đạo phát triển du lịch Việt Nam (1991),

Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam (1995) [87]… Hiện nay, xu hướng này đang dần chuyển dịch sang quy mô lãnh thổ ở cấp nhỏ hơn như cấp tỉnh, huyện hoặc thậm chí một khu du lịch, nhờ đó các nghiên cứu đánh giá mang tính định lượng cao hơn nhờ nguồn

số liệu đầu vào chi tiết và kết hợp với phân tích thống kê xã hội học, viễn thám, hệ thông tin địa lý và các mô hình toán

Bên cạnh xu hướng định lượng hóa, đánh giá trong du lịch mang tính cập nhật và hiện đại nhờ xu hướng tổng hợp hóa đang dần chiếm ưu thế Tính chất tổng hợp ở đây không chỉ biểu hiện ở sự đa dạng của các hợp phần đánh giá mà còn ở sự kết hợp giữa nhiều phương pháp đánh giá Đánh giá tổng hợp nhìn nhận điều kiện địa lý dưới góc độ

đa chiều, cả tích cực và tiêu cực, bởi vậy sẽ phù hợp hơn so với đánh giá thành phần để đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao sản phẩm du lịch có chất lượng của du khách và việc duy trì môi trường bền vững trước nhiều thách thức như hiện nay Hơn nữa, chỉ có đánh giá tổng hợp mới cho biết được khả năng khai thác cũng như giá trị đích thực của các nguồn tài nguyên ([31], tr29) Nhắc tới xu hướng này, không thể không đề cập tới các nghiên cứu về cảnh quan Tính độc đáo, hấp dẫn của các cảnh quan lãnh thổ, kết hợp với tính

đa dạng các hợp phần cả về tự nhiên và xã hội đã tạo nên tiềm năng du lịch riêng biệt của một vùng, lãnh thổ [5]

Đánh giá được đề cập đến trên cả khía cạnh về tự nhiên và văn hóa Nghiên cứu khoa học gần đây có xu hướng liên ngành, kéo theo số lượng nghiên cứu tài nguyên du lịch văn hóa kết hợp với tài nguyên du lịch tự nhiên ngày càng tăng Các tài nguyên tự nhiên liên quan đến du lịch thường được quan tâm nhiều như tài nguyên địa mạo [10] [71, 73], khí hậu, thủy văn và sinh vật [78] Trong đó, đặc điểm địa hình và lớp phủ thảm thực vật có tác động mạnh nhất đến cảm giác hài lòng của du khánh, nên thường được sử dụng trong phân tích, giải thích kết quả đánh giá

Trang 24

Quy trình đánh giá tổng hợp được thực hiện qua nhiều bước Mặc dù có sự khác nhau về cách thức đánh giá giữa các nghiên cứu, nhưng tựu chung một công trình đánh giá cho phát triển du lịch thường trải qua các bước sau: xác định mục tiêu, đối tượng đánh giá, lựa chọn phương pháp đánh giá, chỉ tiêu đánh giá, trọng số đánh giá và tiến hành đánh giá [45]

Sự khác nhau giữa các nghiên cứu đánh giá xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu, từ

đó sẽ ảnh hưởng đến đối tượng đánh giá, các kiểu đánh giá và đặc biệt các tiêu chí và chỉ tiêu đánh giá Có rất nhiều tác giả đã tổng quan và hệ thống hóa các tiêu chí và chỉ tiêu đánh giá, làm nền tảng cho nhiều công trình nghiên cứu sau này Các tiêu chí đánh giá rất đa dạng, tuy nhiên có thể được phân ra thành 2 loại là tiêu chí nội lực và tiêu chí ngoại lực [37, 170] Hoặc tiêu chí tự nhiên, nhân văn và “hỗn hợp” Sau khi phân nhóm, các tiêu chí đánh giá được lựa chọn thông qua phương pháp Delphi, phỏng vấn chuyên gia Cách thức vận dụng các tiêu chí và chỉ tiêu trong đánh giá phụ thuộc vào từng loại điều kiện, tài nguyên và phụ thuộc vào cách đánh giá là thành phần hay tổng hợp Vì thế, nhu cầu của du khách về các sản phẩm du lịch mới lạ, khác biệt đang góp phần làm phong phú thêm hệ thống tiêu chí, chỉ tiêu đánh giá hiện nay, đồng thời thách thức các nhà nghiên cứu đa dạng hóa bộ tiêu chí và chỉ tiêu Trong khi phần lớn các tiêu chí, chỉ tiêu xây dựng cho các đánh giá kỹ thuật, và chủ yếu dựa trên nguồn cung (từ dịch vụ hệ sinh thái của tự nhiên), chưa có nhiều nghiên cứu dựa trên nhu cầu của du khách, thì việc làm giàu thêm bộ tiêu chí đánh giá về giá trị thẩm mỹ có ý nghĩa quan trọng

Các tiêu chí được so sánh về tầm quan trọng và mức độ ảnh hưởng với nhau thông qua trọng số trong đánh giá cảnh quan Vấn đề trọng số đánh giá đã đạt được nhiều bước tiến đáng kể từ trước tới nay Trước đây nhiều công trình coi các nhân tố đều có trọng số giống nhau và bằng 1 Sau này xuất hiện nhiều phương pháp tính trọng

số khác nhau như trung bình cộng, hồi quy bội, AHP… [36] Trong đó AHP ngày càng được sử dụng trong nhiều công trình Các yếu tố được gán trọng số khác nhau kết hợp với hệ thống tin địa lý là ý tưởng nòng cốt của phương pháp đánh giá thích nghi sinh thái [45], phương pháp phân tích đa chỉ tiêu/tiêu chí (Multi Criterial Analysis) [46, 124,

137, 188]

1.1.3.2 Đánh giá cảnh quan cho phát triển du lịch bền vững

Đánh giá cảnh quan dựa trên khu vực được tiến hành trên quy mô các cấp hành chính, lưu vực hay một khu vực cụ thể Công tác đánh giá nhằm tìm ra cảnh quan phù hợp với mục tiêu quản lý, phát triển Quá trình đánh giá bao gồm 3 bước chính: phân tích hợp phần thành tạo cảnh quan (Landscape description), phân loại cảnh quan (Landscape characterization) và đánh giá (Landscape evaluation) Khung đánh giá cảnh quan được xây dựng qua các công trình của Mukhina L.I (1973), Hội đồng Châu Âu

Trang 25

(2002) [156], tại Việt Nam các tác giả Phạm Hoàng Hải và nnk (1997), Nguyễn Cao Huần (2005) và nhiều công trình khác

Tiếp cận đánh giá cảnh quan được vận dụng nhiều trong các nghiên cứu du lịch Trương Quang Hải (2006) đã xây dựng bản đồ và đánh giá cảnh quan phục vụ xác định điểm, tuyến và tổ chức không gian du lịch sinh thái tỉnh Quảng Trị [35] Hà Quý Quỳnh (2009) đánh giá cảnh quan một số vườn quốc gia theo các phụ kiểu cảnh quan [78] Trong những năm gần đây, một số luận án phát triển hướng nghiên cứu đánh giá cảnh quan, phân vùng cảnh quan cho phát triển du lịch, trở thành điểm nhấn cho tiếp cận cảnh quan: Lương Chi Lan (2015), Nguyễn Thu Nhung (2017), Nguyễn Văn Hồng (2017), Phạm Thị Cẩm Vân (2018),… Còn nhiều công trình khác vừa đánh giá cảnh quan cho nông lâm nghiệp vừa kết hợp với mục đích du lịch [39, 89] Những công trình trên dựa vào quan điểm kiểu loại để phân chia cảnh quan Cách phân chia này giúp cho các nhà nghiên cứu nắm rõ được quy luật phân hóa cấu trúc lãnh thổ nhưng lại hạn chế ở cách thực hiện phức tạp, kết quả đánh giá bị phân mảnh dẫn đến phân mảnh trong kiến nghị quản lý Do vậy, một số nghiên cứu đã sử dụng quan điểm cá thể để phân vùng và đánh giá [54] Tuy quy trình được rút gọn lại nhưng cách thức này chỉ áp dụng phù hợp cho lãnh thổ lớn và yêu cầu thấp hơn về mức độ chi tiết của kết quả Từ những ưu điểm và hạn chế nên khi đánh giá cần thiết áp dụng đồng thời cả hai quan điểm trên tùy thuộc vào các giai đoạn nghiên cứu khác nhau

Dưới góc độ không gian, lãnh thổ, bên cạnh chủ thể là cảnh quan [5, 35, 69, 78], tiềm năng du lịch lãnh thổ còn được đánh giá thông qua điểm/khu du lịch [47, 58, 94, 119] Mặc dù hai chủ thể này đều cho phép phân tích được tính phân bố không gian của các tài nguyên, nhưng quy mô áp dụng khác nhau Có tác giả cho rằng tính đồng nhất cảnh quan sẽ không phù hợp cho đánh giá trong du lịch vốn có đặc tính đa dạng [96]

Có thể thấy, quan điểm trên chưa xét đến tính tương đối đồng nhất và tính phân hóa kiểu loại của cảnh quan Bản thân một khu/điểm du lịch cũng có thể được phân hóa thành nhiều kiểu, loại cảnh quan khác nhau, khi đó cảnh quan lại được sử dụng để nghiên cứu

sự phân hóa không gian của khu/điểm du lịch Như vậy, hai cách tiếp cận trên không mâu thuẫn với nhau, mà còn bổ sung cho nhau trong cùng một nghiên cứu

Kỹ thuật đánh giá cảnh quan một mặt được tiến hành theo khoanh vi dạng vùng, mặt khác được đánh giá theo pixcel (điểm ảnh), đặc biệt tại các nước phương Tây [124,

144, 188] Quy trình đánh giá tương tự như đánh giá dạng vùng, chỉ khác ở chỗ các thuộc tính được gán theo pixcel thay cho theo khoanh vi Thay vì tiến hành xây dựng bản đồ cảnh quan với các khoanh vi dạng vùng, các nghiên cứu thường chồng lớp pixcel giữa các bản đồ chuyên đề, sau đó tổng hợp lại theo trọng số Hai kỹ thuật đánh giá này

có thể bổ sung cho nhau vì một khoanh vi cảnh quan có thể bao gồm nhiều pixcel trong

Trang 26

đó Do vậy, sau khi đánh giá theo pixcel được hoàn thành, nghiên cứu có thể chuyển kết quả về dưới dạng khoanh vi cảnh quan

Trong đánh giá CQ, tiêu chí đánh giá đóng vai trò rất quan trọng Tiêu chí đánh giá CQ phục vụ phát triển du lịch bền vững phụ thuộc vào quan điểm phát triển bền vững Theo đó, các tiêu chí được tổng quan theo hướng nhằm xác định mức độ phù hợp của cảnh quan, lãnh thổ đối với các loại hình bảo tồn và phát triển tại KBTTN Đặng Duy Lợi (1992) xác định thời gian khai thác hoạt động du lịch, sức chứa khách du lịch,

độ bền vững của môi trường tự nhiên trong nghiên cứu về VQG Ba Vì [58] Hà Quý Quỳnh (2009) nghiên cứu các khu bảo tồn tại vùng Đông Bắc đã dựa trên tiêu chí về tài nguyên du lịch của cảnh quan như khí hậu, địa hình, thủy văn, thực vật, động vật và văn hóa [78]

Bên cạnh đó, Tổ chức Du lịch Thế giới (2004) sử dụng tiêu chí về tính nguyên vẹn của hệ thống bảo tồn chính (tỷ lệ điểm bị đe dọa sinh thái, trạng thái của động thực vật…) [185] Bunruamkeawa, K (2011) đã sử dụng các yếu tố độ cao, độ dốc, tầm nhìn,

sự đa dạng loài, mức độ bảo tồn, khả năng tiếp cận tới cơ sở văn hóa, khoảng cách từ đường giao thông… [132] Cuirong, W (2016) đưa ra các tiêu chí: khoảng cách từ điểm ngắm cảnh, tầm nhìn (viewshed), tai biến thiên nhiên, sự đe dọa của các loài động vật nguy hiểm, giao thông, liên lạc, độ cao, độ dốc, mật độ sông suối…Slehat, M.M (2018) cho rằng các yếu tố như sự đa dạng của các yếu tố hấp dẫn, độc đáo, khả năng tiếp cận, cộng đồng địa phương, hạ tầng và mức độ suy thoái môi trường, rủi ro tai biến thiên nhiên…tác động đến CQ du lịch [174] Đặc biệt, nghiên cứu của Zhang, Z và nnk (2013)

đã đưa ra các tiêu chí xác định các nhân tố tác động tới du lịch tại khu bảo tồn thiên nhiên như khoảng cách từ buôn làng, độ cao, khoảng cách tới dòng nước, khoảng cách tới loài nguy hiểm, độ dốc… [188] Đồng thời, nghiên cứu này đã phân nhóm các nhân

tố theo du lịch, bảo tồn và phát triển cộng đồng Các nghiên cứu đã tổng quan ở trên cho phép luận án xác định các tiêu chí trong đánh giá cảnh quan

1.1.3.3 Đánh giá thẩm mỹ cảnh quan cho phát triển du lịch

Tính thẩm mỹ được coi như một chức năng của CQ rừng, là yếu tố quan trọng hàng đầu để hấp dẫn du khách Vì vậy, nghiên cứu phát triển du lịch tại các KBTTN cần thiết đề cập tới tính thẩm mỹ của CQ rừng

Nghiên cứu sở thích CQ (landscape visual preference), thẩm mỹ CQ (landscape aesthetics) được quan tâm từ những năm 1960 [167] Những nhà nghiên cứu đã nhìn

nhận chủ đề này từ nhiều chuyên ngành khác nhau như kiến trúc CQ, sinh thái học, địa

lý học, lâm học, du lịch và tâm lý học [156] Có nhiều nghiên cứu về sở thích phong cảnh, và nhiều thuật ngữ liên quan mật thiết được sử dụng như chất lượng phong cảnh

(scenic quality) [139, 189], chất lượng thẩm mỹ (aesthetic quality), sở thích thẩm mỹ

Trang 27

(aesthetic preference) [138], nhận thức thẩm mỹ (aesthetic perception) [189], sự hấp dẫn bên ngoài “visual attractiveness”, Chất lượng quan sát được “visual quality” [138], nhận thức phong cảnh (scenic perception), sở thích phong cảnh (visual preference) [135]

và vẻ đẹp phong cảnh (scenic beauty)[139]

Các nghiên cứu về sở thích CQ cũng như tính thẩm mỹ trong phong cảnh không chỉ là đề tài quan tâm trong khoa học mà còn đối với cộng đồng và thể chế (Ủy ban Châu

Âu, 2002) [156] Giá trị của thẩm mỹ CQ đáp ứng nhu cầu của con người được chú ý trong nghiên cứu về sinh thái học xã hội Sự bảo tồn và đa dạng, đặc điểm độc đáo, vẻ đẹp cũng như tiềm năng giải trí của CQ được đưa vào luật tại Châu Âu như một trong những mục đích của bảo tồn thiên nhiên Mặt khác, thẩm mỹ CQ được coi như một dịch

vụ văn hóa có tầm quan trọng lâu dài trong Đánh giá hệ sinh thái thiên niên kỷ năm

2005 Nó ngày càng có vai trò quan trọng trong cuộc sống cộng đồng khi quy hoạch có

xu hướng cân bằng đa mục tiêu như cung cấp năng lượng, phát triển kinh tế, bảo tồn đa dạng sinh học và vẻ đẹp phong cảnh Du lịch phụ thuộc đáng kể vào tính thẩm mỹ CQ [135] Sử dụng tiếp cận CQ cho phép nghiên cứu du lịch có cơ sở vững chắc thực hiện nghiên cứu thẩm mỹ

Nhiều cách tiếp cận được nghiên cứu để đánh giá thẩm mỹ CQ Zube và nnk (1982) đã chia các tiếp cận thành 4 nhóm bao gồm chuyên gia (expert), tâm lý tự nhiên (psychophysical), nhận thức (cognitive) và kinh nghiệm (experiemental) [189] Daniel

và Vining (1983) đã đưa ra cách phân loại khác, bao gồm 5 mô hình khái niệm: thẩm

mỹ hình thức (formal aesthetic), sinh thái (ecological), tâm lý tự nhiên (psychophysical), tâm lý (psychological) và hiện tượng luận (phenomenological) Nhận thấy, ngược với khía cạnh kinh tế và sinh thái, khía cạnh đánh giá tính thẩm mỹ không đơn thuần dựa trên những thông tin định lượng Do vậy, Lothian (1999) đã phân biệt 2 luận đề đánh giá tính thẩm mỹ CQ bao gồm khách quan và chủ quan [161] Susanne Frank và nnk (2013) đã sử dụng đồng thời cả hai luận đề trên để kiểm chứng và so sánh, mang đến kết quả đánh giá có tính ứng dụng trong thực tiễn quy hoạch cao hơn [147]

Một trong những mục tiêu nghiên cứu là để hiểu về những thành phần chi phối đến sở thích phong cảnh Có nhiều nghiên cứu xác định nhân tố khác nhau ảnh hưởng đến sở thích này Lee (2005) đã phân chia các nhân tố tác động thành nhân tố bên trong

và bên ngoài [159] Nhân tố bên trong liên quan đến trạng thái cảm xúc cá nhân Nhân

tố bên ngoài liên quan đến thành phần của CQ Zube và nnk (1982) đề xuất 3 thành phần cho nhận thức CQ: con người, CQ và tương tác [189] Bourassa (1990) tổng kết rằng có

3 thành phần có tính phân bậc giải thích sở thích phong cảnh: tiến hóa sinh học (biological evolution), lịch sử văn hóa (cultural history) và sự phát triển cá nhân (individual development)

Trang 28

Mặc dù các nghiên cứu thẩm mỹ CQ có nhiều ứng dụng trong đời sống, tuy nhiên, các tiếp cận chuẩn hóa cho đánh giá và giám sát thẩm mỹ CQ vẫn còn thiếu [147] Chỉ

có một số ít lý thuyết giải thích sở thích CQ một cách cụ thể Các nguyên nhân được cho đến từ thách thức chứng minh kết quả đạt được có độ tin cậy, thể hiện CQ thực tế

đa chiều thông qua các bức ảnh gặp khó khăn, tính chủ quan trong các phân tích còn lớn [178] Những đánh giá gần đây ghi nhận nỗ lực của nhiều nhà nghiên cứu, trong đó điển hình các nghiên cứu của Tviet và Ode [164, 178] Bằng những tổng quan từ các nghiên cứu trước đó, lý thuyết của Tveit và Ode cho rằng có 9 yếu tố liên quan đến hấp dẫn CQ

Lý thuyết này ngày càng được ứng dụng rộng rãi bởi nó kết hợp giữa phương pháp luận đánh giá CQ với lý thuyết thẩm mỹ CQ (landscape aesthetics), không những thế nó cho phép sử dụng nhiều loại dữ liệu đầu vào khác nhau như ảnh máy bay, ảnh vệ tinh, thông tin thu thập từ khảo sát thực địa và cả ảnh chụp từ máy ảnh, đồng thời nó cho phép sử dụng các chỉ số định lượng CQ nhưng không bỏ qua kiến thức chuyên gia vào quá trình đánh giá

Các phương pháp đánh giá thẩm mỹ CQ có xu hướng định lượng và khách quan hơn Lee (2005) đã phân phương pháp đánh giá thẩm mỹ CQ thành 2 loại: tâm lý (psychological) và tâm lý tự nhiên (psychophysical) [159] Phương pháp tâm lý tự nhiên tập trung vào thiết lập mối quan hệ định lượng giữa đặc trưng vật lý của CQ với phản ứng tâm lý của người quan sát Nhiều nghiên cứu khác đã phân thành 3 loại: phương

pháp đánh giá mô tả (descriptive inventories), phương pháp sở thích cộng đồng (public preference) và kỹ thuật tích hợp định lượng (quantitative holistic techniques) [148]

Phương pháp đánh giá mô tả nhấn mạnh vai trò của chuyên gia hoặc những người được huấn luyện để đánh giá thẩm mỹ Phương pháp sở thích cộng đồng thường sử dụng bảng hỏi, chất lượng CQ được cho điểm trên cơ sở sở thích cá nhân Phương pháp cuối cùng kết hợp cả 2 phương pháp trên, thường được xem như cách đánh giá khắt khe và bao quát nhất

Tveit và nnk (2006) cho rằng có 3 khung thực tiễn được sử dụng phổ biến nhất

cho phân tích chất lượng thẩm mỹ là (1) khung đánh giá đặc điểm CQ (LCA, Landscape Character Assessment) của Anh, sau này được sử dụng phổ biến ở Châu Âu; (2) Khung quản lý tài nguyên (VRM, Visual Resource Management) được phát triển bởi Cục Quản

lý đất đai của Mỹ; (3) Khung dự đoán vẻ đẹp phong cảnh (SBE, Scenic Beauty Estimation) được đề xuất bởi Daniel và Boster (1976), sau này được sử dụng rộng rãi ở

Mỹ Khung SBE có thể được xếp vào phương pháp tâm lý tự nhiên hoặc kỹ thuật tích hợp định lượng ở trên

Trang 29

1.1.4 Các nghiên cứu về Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh liên quan đến luận án

Khu vực VQG Kon Ka Kinh thuộc một phần dãy núi Ngọc Linh ở phía tây bắc

và một phần thuộc cao nguyên Kon Hà Nừng ở phía đông bắc Chính vì vây, khi nghiên cứu về Kon Ka Kinh trước hết cần đặt khu vực trong tổng thể không gian toàn vùng, liên vùng Đến nay, vùng Tây Nguyên đã được điều tra cơ bản, nghiên cứu qua nhiều chương trình lớn của nhà nước Chương trình Tây Nguyên 1 (1978 - 1983) đã có những đóng góp quý báu giúp hình thành một cái nhìn toàn diện và tổng hợp về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên Các nghiên cứu trước đó của các học giả nước ngoài như Saurin, Yves Henry, M.Schmid về địa chất, địa chất thủy văn, địa mạo, thổ nhưỡng, sinh vật… đã được đưa ra thảo luận Chương trình Tây Nguyên 2 (1984 - 1988) giúp bổ sung thêm góc nhìn về kinh tế - xã hội và phương hướng phát triển các thế mạnh của vùng có hiệu quả Chương trình Tây Nguyên 3 (2011 - 2016) là chương trình khoa học tổng hợp, liên ngành phục vụ phát triển bền vững vùng Tây Nguyên trong giai đoạn Đổi mới của Việt Nam Các chương trình nghiên cứu Tây Nguyên vẫn còn đang tiếp diễn

VQG Kon Ka Kinh được biết đến là nơi có mức độ đa dạng sinh học cao Các nghiên cứu trước đây chủ yếu được thực hiện trên góc độ tài nguyên sinh vật, đa dạng sinh học Gần đây, khu vực đã được nghiên cứu một cách tổng hợp hơn Lê Xuân Cảnh (2012) [13], Hà Quý Quỳnh (2014) [79] đã xây dựng bản đồ sinh thái CQ làm cơ sở đánh giá mức độ đa dạng sinh học thực vật, động vật theo không gian Nguyễn Thị Thu

Hà (2012, 2013, 2015) [28-30] nghiên cứu mối quan hệ giữa người dân sống ở vùng đệm với tài nguyên rừng trong vùng lõi thông qua phân tích mối tương tác giữa hệ tự nhiên và hệ xã hội Ngoài ra, VQG Kon Ka Kinh còn là một phần lãnh thổ trong các nghiên cứu của Dương Thị Hồng Yến (2016) [120] đã xây dựng bản đồ CQ phục vụ nông lâm nghiệp bền vững tỉnh Gia Lai; các đề tài do Trương Quang Hải (2016), Phạm Hoàng Hải (2014), Lưu Thế Anh (2014) chủ nhiệm thuộc chương trình Tây Nguyên 3

đã phân tích, đánh giá đưa ra các bản đồ hợp phần tự nhiên và nhân văn Đặc biệt, công trình của Trương Quang Hải (2019), vận dụng đánh giá tài nguyên cho tổ chức lãnh thổ, xác lập mô hình và đề xuất giải pháp phát triển du lịch, là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị về lý luận và thực tiễn cho luận án để cụ thể hóa xuống không gian nghiên cứu quy mô nhỏ hơn Các công trình [13, 79, 120] đã xây dựng bản đồ CQ liên quan đến khu vực nghiên cứu, tuy nhiên các nghiên cứu chỉ dừng lại đến cấp kiểu CQ [13, 79] hoặc cấp loại [120], chưa có công trình nào nghiên cứu đến cấp dạng CQ Ngoài ra, các nghiên cứu [13, 79] chỉ giới hạn trong không gian vùng lõi, nghiên cứu [30] có xét đến một số làng tại vùng đệm, do vậy chưa có công trình nào nghiên cứu tổng hợp vùng lõi

và toàn bộ không gian vùng đệm xung quanh

Các nghiên cứu hợp phần tự nhiên liên quan đến khu vực khá đa dạng Các nhà địa chất, địa mạo nghiên cứu về phun trào bazan, thành phần và tuổi các đá magma [18],

Trang 30

Bản đồ địa chất và khoáng sản 1/200.000 được xây dựng bởi Cục Địa chất và Khoáng sản thành lập năm 1997 cho biết các thông tin về địa tầng học, cấu trúc địa chất, thành phần thạch học [22, 64] Gần đây Liên Đoàn bản đồ Địa chất Miền Nam được giao lập bản đồ Địa Chất tỷ lệ 1:50.000 vùng An Khê nhưng công việc chưa hoàn thành Địa hình cao nguyên, đặc điểm hình thái bề mặt, độ chia cắt ngang, sâu, các bề mặt san bằng, pedimen, pediplen của các khối núi đã được nghiên cứu bước đầu [1] Bản đồ địa mạo

do Liên đoàn Địa chất 6 thành lập năm 1994 đã thể hiện các thông tin kiến trúc hình thái

và chạm trổ hình thái các loại hình địa mạo [115] Tỉnh Gia Lai năm 2009 đã quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản đến năm 2020 Trong nghiên cứu [36], một số điểm di sản địa chất, địa mạo đã được đánh giá, cho điểm và xếp hạng theo tiêu chí của Viện Địa chất và Khoáng sản Việt Nam

Phạm vi khu vực nghiên cứu chưa có trạm khí tượng lớn, các số liệu quan trắc khí tượng được tham khảo từ trạm Pleiku và An Khê Các nghiên cứu về khí hậu, do vậy cũng chỉ được thực hiện trên khu vực có phạm vi lớn hơn Liên quan đến khí hậu

đã có nghiên cứu phân vùng khí hậu Tây Nguyên của Nguyễn Đức Ngữ (1985), Nguyễn Khanh Vân (2000, 2015) [67]; thành lập bản đồ lượng mưa trung bình năm, bản đồ khô hạn tỉnh Gia Lai [3]; thành lập bản đồ sinh khí hậu tỉnh Gia Lai [120]; nghiên cứu điều kiện, xu thế diễn biến khí hậu của Tây Nguyên [23], nghiên cứu khí hậu nông nghiệp thuộc chương trình Tây Nguyên 3 [23] Ngoài ra, các cuốn sách của Vũ Tự Lập (1978, 2004) [56], Lê Bá Thảo (1990, 2003) [88], Phạm Ngọc Toàn và Phan Tất Đắc (1993) [97] đã nêu khái quát những quy luật chi phối đến điều kiện khí hậu, hoàn lưu khí quyển

và hình thế thời tiết khu vực Các số liệu khí tượng thu thập được giúp luận án xây dựng

mô hình nội suy nhiệt độ, lượng mưa tại khu vực nghiên cứu

Sử dụng tài nguyên nước là một trong những vấn đề mang tính cấp thiết trong phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên Một số tác giả nghiên cứu về hạn hán và hoang mạc hóa ở Tây Nguyên, hoặc ảnh hưởng của thủy điện đến phát triển tài nguyên nước, một số công trình khác đề cập đến tai biến thiên nhiên như lũ lụt, xói lở bờ sông

ở các lưu vực [25], các mâu thuẫn nói chung trong quản lý tài nguyên nước[24] Bên cạnh đó, các nghiên cứu nước dưới đất cũng được chú trọng để tìm nguồn nước cho sinh hoạt và sản xuất Liên quan trực tiếp đến tài nguyên nước cho du lịch, hiện nay mới chỉ

có một số nghiên cứu dòng chảy mặt của Viện Khí tượng thủy văn (1986), Nguyễn Lập Dân (2015)… Các nghiên cứu tập trung đến các lưu vực sông lớn là chính như lưu vực sông Ba, Sê San - Sêrêpôk, Đồng Nai, trong đó các tư liệu về lưu vực sông Ba có ý nghĩa quan trọng đối với luận án Ngoài các dòng sông, hồ nước và thác nước cũng được đề cập đến, tuy chỉ dừng lại ở mức liệt kê và chưa mang tính hệ thống cho toàn vùng Khu vực VQG Kon Ka Kinh có nhiều sông suối là thượng nguồn của các con sông lớn, nên luận án đã tiếp cận một phần tài liệu liên quan đến quản lý tổng hợp lưu vực sông

Trang 31

Các công trình nghiên cứu về thổ nhưỡng đã xây dựng hệ thống phân loại đất Cao Liêm và Nguyễn Bá Nhuận (1985), Viện Nông hóa Thổ nhưỡng đã thành lập bản

đồ thổ nhưỡng tỉnh Gia Lai 1/100.000 với 7 nhóm và 16 loại đất [57, 120] Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, năm 2000 đã phân loại đất vùng Tây Nguyên tỷ lệ 1/250.000 theo hệ thống phân loại của FAO-UNESCO thành 13 nhóm đất và 55 loại đất [3, 114] Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Gia Lai năm 2002 đã thành lập bản đồ thổ nhưỡng tỷ lệ 1/50.000 cho toàn tỉnh và 1/25.000 cho các huyện [80] Các công trình trên

có ý nghĩa thiết thực với luận án, tuy nhiên bản đồ thổ nhưỡng cần được biên tập lại do

sự phân bố các loại đất chủ yếu dựa trên các khoanh vi của bản đồ địa chất 1/200.000

Trong các hợp phần tự nhiên, tài nguyên sinh vật là nội dung được quan tâm nghiên cứu nhiều nhất, đúng với đặc điểm tự nhiên của khu vực Từ những năm 1980 đến nay đã có nhiều đợt khảo sát được thực hiện Tại Buôn Lưới (An Khê) đã thiết lập một trạm nghiên cứu Những cuộc khảo sát đầu tiên được thực hiện trong khuôn khổ của chương trình Tây Nguyên 1 và 2, kết hợp cùng với Trung tâm Nhiệt đới Việt Xô (nay là Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga) đã thực hiện nhiều chuyến điều tra động, thực vật tại Kon Hà Nừng (bao gồm cả Kon Ka Kinh, Kon Chư Răng, Trạm Lập, Đắk Rông) Nghiên cứu bước đầu đưa ra một số thông tin về khu hệ thú lớn và khu hệ chim, bò sát

(dẫn lại từ [63]) Năm 1986, KBTTN Kon Ka Kinh được thành lập Đến năm 1994, các

cuộc khảo sát tiếp tục được tiến hành nhằm xây dựng luận chứng kinh tế kỹ thuật cho KBTTN Cuộc khảo sát năm 1994, kết hợp với cuộc khảo sát của Trung tâm Nhiệt đới Việt Xô trước đó đã đưa ra danh lục các loài thực vật bậc cao có mạch, loài thú, chim,

bò sát, lưỡng cư và côn trùng Năm 1999, Chương trình Birdlife Quốc tế tại Việt Nam kết hợp với Viện Điều tra Quy hoạch rừng thực hiện các cuộc điều tra và đã bổ sung thêm vào danh mục nhiều loài mới, đặc biệt đã phát hiện ra khướu Kon Ka Kinh [158] Các đợt điều tra này nhằm xây dựng kế hoạch đầu tư cho KBTTN Hiện nay, các chuyến khảo sát vẫn đang tiếp tục Hội động Vật học Frankfurt (CHLB Đức) đã hỗ trợ Vườn trong nghiên cứu, giám sát và bảo tồn loài Vọoc chà vá chân xám từ năm 2005 Từ năm

2016, các chuyên gia Nga và các nhà khoa học của Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga đã thực hiện nhiều đợt điều tra quy mô lớn khác tại khu vực Kon Hà Nừng nói chung

Liên quan đến tài nguyên sinh vật, còn có các nghiên cứu khá đầy đủ về hiện trạng đa dạng sinh học, sự phân bố loài động vật theo không gian địa lý của Lê Xuân Cảnh (chủ nhiệm) năm 2012 [13] Bên cạnh đó, luận án về phân tích cấu trúc và sự phục hồi của rừng, Bùi Mạnh Hưng (2016) [131] và luận án nghiên cứu sinh thái nhân văn của Nguyễn Thị Thu Hà (2015) [30] mang đến những nhận thức khác về đặc điểm tài nguyên thực vật của Vườn Một số vấn đề nghiên cứu quan trọng khác có thể kể đến như bảo tồn loài [151, 152], nghiên cứu nhận thức cộng đồng về rừng [20], tái sinh rừng sau khai thác, phân loại thảm thực vật rừng (Thái Văn Trừng, 1978, 2000; Phan Kế Lộc,

Trang 32

1985) [18, 63, 104, 105], phân bố thực vật theo độ cao [79], quy hoạch rừng bền vững, xây dựng hành lang xanh kết nối bảo vệ rừng [63]

Rừng có vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa cộng đồng các tộc người ở Tây Nguyên Các nghi lễ, tập tục, sinh hoạt văn hóa truyền thống đều gắn với rừng, với không gian rừng hoặc ít nhất với cây cối, sông suối… có nguồn gốc từ rừng Thậm chí văn hóa truyền thống của Tây Nguyên còn được gọi là “văn hóa rừng”1 Như vậy, khu vực vùng đệm của vườn quốc gia, nơi có cộng đồng dân tộc Ba Na sinh sống có nhiều tiềm năng còn giữ được những giá trị văn hóa truyền thống Người Ba Na được biết trong các nghiên cứu của người Pháp Công trình nghiên cứu bằng tiếng Việt đầu tiên

về người Ba Na, cũng là cuốn sách Dân tộc học đầu tiên được viết bằng tiếng Việt là tác phẩm “Mọi Kon Tum” (hay Người Ba Na ở Kon Tum), 1937 của hai anh em Nguyễn Kinh Chi và Nguyển Đổng Chi [17] Tiếp đến công trình “Các dân tộc tỉnh Gia Lai - Công Tum” do Đặng Nghiêm Vạn (chủ biên) năm 1981 và “Fônclo Bâhnar”, 1988 của

Tô Ngọc Thanh giúp người đọc nhận thức sinh động những nét đẹp đời sống văn hóa truyền thống của cộng đồng người Ba Na [85, 110]

Những công trình sau này mang đến những góc nhìn khác nhau về người Ba Na hiện đại Phần lớn các nghiên cứu tiếp cận theo khu vực Các sách địa chí, lịch sử Đảng

bộ địa phương tiếp cận khu vực tỉnh Gia Lai, các huyện Mang Yang, Kbang, Đắk Đoa như một không gian lịch sử - văn hóa tổng hợp [9, 8, 7] Các công trình đã đề cập khái quát đặc điểm hành chính, tự nhiên, xã hội và truyền thống lịch sử theo các đơn vị hành chính cấp huyện, xã, từ đó giúp luận án định hình sự phân hóa các điều kiện, tài nguyên theo lãnh thổ Các đặc trưng văn hóa, các mối liên hệ giữa con người với con người, con người với xã hội được nghiên cứu thông qua các chuyên đề về lễ hội cùng với nghi lễ, tín ngưỡng, tô tem; trang phục của người phụ nữ và đàn ông, ngày thường và ngày lễ [82]; địa danh và mối liên hệ với sự phân bố của các nhóm người; cấu trúc nhà và kiến trúc điêu khắc, cách thức tạo dựng ngôi nhà; văn hóa ăn và uống [112]; sự tham gia người Ba Na trong các cuộc kháng chiến [8]; di tích lịch sử [100]; sự xâm nhập của đạo tin lành và các vấn đề xã hội phát sinh [11] Bên cạnh đó, mối liên hệ giữa con người với tự nhiên được nghiên cứu thông qua tri thức địa phương sử dụng tài nguyên đất, nước, rừng trong trồng trọt, canh tác nương rẫy, khai thác các sản phẩm từ rừng [30]; cách thức quản lý của cộng đồng trong sử dụng và bảo vệ rừng [20]

Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh được định hướng phát triển du lịch trong các bản

kế hoạch và quy hoạch của Vườn [118] Thực tế các tài liệu nghiên cứu đa dạng sinh học và bảo tồn được dẫn ra ở trên khá phong phú, nhưng các tài liệu về phát triển du lịch còn rất sơ sài Đến nay, Kon Ka Kinh đưa vào quy hoạch của tỉnh Gia Lai như một điểm

Trang 33

đến trong quy hoạch phát triển du lịch của tỉnh Thực tế, tài liệu du lịch liên quan đến

Vườn đáng kể nhất là Đề án phát triển du lịch VQG Kon Ka Kinh năm 2017 [117] Vườn

đã thành lập Trung tâm du lịch và dịch vụ Tuy nhiên đến nay du lịch tại Vườn chưa đi vào hoạt động chính thức

Nhận xét:

- Tiếp cận CQ trong đánh giá tại KBTTN là tiếp cận mang tính tổng hợp, hiện đại có ý nghĩa quan trọng và được nhiều tác giả sử dụng, mang lại hiệu quả về khoa học

và thực tiễn trong nghiên cứu phát triển bền vững

- Khi nghiên cứu CQ cho phát triển du lịch bền vững tại KBTTN cần thiết nghiên cứu ở mức độ chi tiết đến dạng CQ Một số công trình đã nghiên cứu đến cấp dạng CQ, tuy nhiên chưa có nhiều nghiên cứu tiến hành tại KBTTN

- Khi đánh giá cảnh quan tại KBTTN cần thiết đề cập đến giá trị thẩm mỹ Hướng nghiên cứu thẩm mỹ trên thế giới khá phổ biến, tuy nhiên khía cạnh thẩm mỹ được nghiên cứu tại Việt Nam còn hạn chế

- Các nghiên cứu phát triển du lịch tại VQG Kon Ka Kinh trên quan điểm tổng hợp còn nhiều khoảng trống Không gian nghiên cứu chủ yếu tập trung tại vùng lõi, chưa

có nhiều nghiên cứu tại vùng đệm Điều này dẫn đến, bên cạnh nguồn tài nguyên sinh vật, việc xác định giá trị các nguồn tài nguyên quan trọng khác của VQG như địa chất, địa mạo, văn hóa còn chưa đầy đủ Đồng thời, sự phát triển du lịch gắn với phát triển sinh kế cộng đồng và bảo tồn đa dạng sinh học chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức

1.2 Cơ sở lý luận

1.2.1 Cảnh quan khu bảo tồn thiên nhiên

1.2.1.1 Quan niệm cảnh quan trong luận án

Ý nghĩa thuật ngữ cảnh quan thay đổi qua các giai đoạn khác nhau, phụ thuộc vào lĩnh vực áp dụng, từng ngôn ngữ, bối cảnh và nền tảng văn hóa của người sử dụng Đến nay, CQ không chỉ đề cập đến như một lãnh thổ địa lý, có thể được mô tả, phân tích qua các phương pháp nghiên cứu khoa học khách quan, nó còn liên quan đến trải nghiệm mang tính chủ quan của người quan sát, có ý nghĩa về nhận thức, thẩm mỹ và nghệ thuật [122]

Cảnh quan được phân loại theo nhiều cách: theo 2 chiều, hữu hình và vô hình; tự nhiên và văn hóa; nông thôn và thành thị, CQ thông thường và độc đáo Hoặc có tác giả

sử dụng cách phân loại khá thực dụng dựa trên tiêu chí đặc trưng điển hình nhất, ví dụ dựa theo đặc trưng địa hình có thể phân thành CQ núi, đồi, đồng bằng, cao nguyên; theo

Trang 34

hoạt động của con người có thể xác định sự phát triển của CQ nông nghiệp, công nghiệp,

đô thị, nông thôn, du lịch… [166]

Hình 1.1 Mô hình của Swanwick (2000) về cảnh quan [156]

Sự suy thoái của môi trường đã trở thành một vấn đề quan trọng trong phát triển bền vững, do vậy cũng như di sản tự nhiên và văn hóa, CQ cần được bảo vệ và quản lý trong bối cảnh bền vững IUCN đã phát triển một hệ thống nhóm quản lý được thừa nhận trên thế giới, trong đó có nhóm V (Category V) về CQ được bảo vệ (protected landscape/ seascape)

Hội đồng Châu Âu (2000) đưa ra định nghĩa CQ, đến nay còn được sử dụng rộng

rãi: “một khu vực được nhận thức bởi con người, có những đặc trưng là kết quả của sự tương tác giữa các nhân tố tự nhiên và/hoặc con người” Định nghĩa đã nhấn mạnh khía

cạnh nhận thức của con người Quan điểm CQ được mở rộng hơn bao gồm các yếu tố

tự nhiên (địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn, sinh vật), văn hóa (sử dụng đất, định cư,…) và bổ sung các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức và thẩm mỹ (màu sắc, hình dạng

và hồi tưởng, ký ức…)

Các nhà khoa học Nga và Việt Nam quan niệm cảnh quan trên 3 khía cạnh: 1) tổng hợp thể địa lý; 2) quan điểm cá thể; và 3) quan điểm kiểu loại Trong đó quan điểm kiểu loại được sử dụng nhiều hơn Các nghiên cứu về CQ đã mang lại sự hiểu biết sâu sắc khu vực [50] Kết quả nghiên cứu được ứng dụng đa dạng trong lĩnh vực phân vùng, quy hoạch, tổ chức lãnh thổ, trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp và

Trang 35

du lịch Điều đó cho thấy tầm quan trọng, vai trò to lớn và sự đóng góp của nghiên cứu

CQ trong địa lý học và đối với sự phát triển đất nước nói chung Tuy nhiên, các nghiên cứu CQ trong thời gian qua vẫn còn bộc lộ khoảng trống Thứ nhất, các quan điểm CQ trên chủ yếu vẫn mang tính phân loại (phân hóa và loại hình) trong khi nội dung phân loại chỉ là một phần trong nghiên cứu về CQ Sự tập trung quá mức vào phân loại dẫn đến hệ thống cấu trúc CQ trở nên phức tạp, khó tiếp cận và tích hợp kết quả nghiên cứu với các chuyên ngành khác, khiến cho CQ có nguy cơ trở nên thiếu linh hoạt Thứ hai, chiều cạnh nhận thức CQ chưa được nghiên cứu nhiều Bên cạnh giá trị khoa học, giá trị thẩm mỹ CQ cũng đóng vai trò quan trọng Hiểu về sự hấp dẫn CQ giúp các nhà điều hành nâng cao trải nghiệm của du khách

Vì phát triển du lịch bền vững trong khu bảo tồn thiên nhiên mang tính tổng hợp, nên luận án sử dụng đồng thời nhiều quan điểm cảnh quan ở trên: sử dụng quan điểm kiểu loại trong phân loại và xây dựng bản đồ CQ, quan điểm cá thể trong phân vùng CQ, quan điểm nhận thức trong nghiên cứu thẩm mỹ CQ

1.2.1.2 Phân tích cấu trúc, chức năng, động lực và giá trị cảnh quan

1) Phân kiểu cảnh quan

Hệ thống phân loại CQ đã được các nhà khoa học xây dựng ở Liên Xô, trong đó điển hình là hệ thống phân loại CQ của Nhicolaiev gồm 12 bậc [91], hệ thống phân loại

8 bậc của A.G Ixatsenko, 5 bậc của N.A Gvozdexki (1961)… Các hệ thống phân loại này áp dụng đặc thù cho lãnh thổ Liên Xô trước đây nên khó có thể đem vận dụng hoàn toàn cho lãnh thổ khác

Các nhà địa lý Việt Nam đã xây dựng hệ thống phân loại và phân vùng CQ như

hệ thống phân vùng CQ của Vũ Tự Lập (1976) xây dựng trên quan điểm cá thể, đã phân

CQ miền Bắc Việt Nam theo 4 cấp (á đới - miền - khu - cảnh) [55] Hệ thống phân loại của Trương Quang Hải (1991) [34], Nguyễn Thành Long và cộng sự (1992) [59]; Phạm Hoàng Hải và nnk (1997) [33], các nghiên cứu của Nguyễn Cao Huần, nghiên cứu của Nguyễn Đăng Hội (2004, 2019) [41, 163] Nguyễn Ngọc Khánh (2010) [51], Nguyễn An Thịnh (2007, 2011, 2013) [89-91] và một số tác giả khác, theo quan điểm kiểu loại Nhìn chung, hệ thống phân loại CQ gồm nhiều cấp phân vị như Hệ, Phụ hệ, Lớp, Phụ lớp, Kiểu, Phụ kiểu, Hạng, Loại, Dạng cảnh quan

Khi nghiên cứu phát triển du lịch trong phạm vi khu bảo tồn thiên nhiên, bên cạnh việc chú trọng đến đặc điểm tự nhiên và hình thái, cần quan tâm đến yếu tố mức

độ tác động của con người Theo đó, đối với cấp kiểu, ngoài yếu tố khí hậu tác động đến thảm thực vật phát sinh cần phải chú ý đến thảm thực vật nhân tác, trong đó có thực vật trồng Loại CQ được xây dựng trên cơ sở gắn kết giữa kiểu thảm thực vật với loại đất, trong đó thảm thực vật mang dấu ấn tác động của con người

Trang 36

Đặc biệt, đối với cấp phân vị thấp hơn cần thiết phải thể hiện mức độ chi tiết hơn

về yếu tố thực vật và hình thái CQ Cấp dạng CQ được lựa chọn phù hợp cho nghiên cứu Thứ nhất, cấp dạng CQ vẫn đảm bảo tính hệ thống trong CQ do thể hiện các quy luật địa đới và phi địa đới ảnh hưởng đồng thời đến CQ Quy luật địa đới tác động qua điều kiện nhiệt ẩm và quy luật phi địa đới qua điều kiện địa chất - địa mạo Ở cấp dạng cho thấy sự phân hóa cả về điều kiện địa mạo thể hiện qua độ dốc (phân hóa trong loại đất) và điều kiện nhiệt ẩm cùng dinh dưỡng (chịu tác động của độ dầy tầng đất) thể hiện qua kiểu phụ thực vật (phân hóa trong kiểu thực vật) Thứ hai, độ dốc địa hình và kiểu phụ thực vật là dấu hiệu thể hiện rõ hơn hình thái CQ, dễ nhận biết, đánh giá và sử dụng trong thức tế Vì vậy, các tiêu chí phân kiểu này phù hợp ở miền núi và cũng có ý nghĩa trong nghiên cứu phát triển du lịch

2) Phân vùng cảnh quan

Phân vùng là công cụ phổ biến để đạt được mục tiêu trong quản lý nguồn tài nguyên tự nhiên, văn hóa, phong cảnh tại các KBTTN Phân vùng được coi như một bước chuyển tiếp quá trình quy hoạch, đồng thời là tiếp cận để thực hiện công tác bảo tồn trong thực tế Công cụ giảm thiểu tác động của con người đến khu vực nhạy cảm sinh thái hoặc đang phục hồi, đồng thời giảm thiểu xung đột lợi ích, nhằm nâng cao lợi ích xã hội, cân bằng giữa hoạt động du lịch và bảo tồn Ngoài các yếu tố tài nguyên, công tác phân vùng phụ thuộc vào yếu tố thời gian, thời điểm và hoạt động diễn ra

Tại Việt Nam và nhiều nước trên thế giới, vùng và phân vùng của KBTTN còn được đưa vào trong nhiều văn bản luật Kế hoạch phân vùng thường nằm trong kế hoạch quản lý mỗi KBTTN Tức là mỗi KBTTN thường đã có ít nhất 1 sơ đồ phân vùng chức năng bao gồm vùng lõi (phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phục hồi sinh thái, dịch vụ - hành chính), có thể có thêm vùng đệm và vùng chuyển tiếp Tuy nhiên, các phân vùng này chủ yếu phục vụ cho công tác bảo tồn, quản lý hành chính, được thực hiện trong giai đoạn xây dựng dự án thành lập KBTTN Do đó, khi có sự tham gia hoạt động du lịch sẽ làm thay đổi hệ tác động đến khu vực, dẫn đến cần thiết phải có 1 sơ đồ phân vùng tổng hợp hơn

Trong phân vùng địa lý tổng hợp, giữa phân vùng cảnh quan và phân vùng địa lý

tự nhiên có nhiều điểm khác biệt… Tác giả Nguyễn Đức Chính, Vũ Tự Lập (1963) tiến hành phân vùng địa lý tự nhiên với 6 cấp phân vị (đới - xứ - miền - khu - vùng - cảnh)

trong công trình Địa lý tự nhiên Việt Nam Các tác giả trong cuốn Phân vùng địa lý tự nhiên lãnh thổ Việt Nam sử dụng các cấp Đới - Miền - Khu - Vùng địa lý tự nhiên [68]

Vũ Tự Lập (1976) sử dụng cấp Á đới - miền - khu - cảnh Có thể thấy, phân vùng địa lý

tự nhiên xuất hiện từ sớm, những nghiên cứu đặt nền móng cho phân vùng địa lý tự nhiên của Việt Nam coi cấp cảnh địa lý (cảnh quan) là cấp phân vị cơ sở (Ixatsenko,

Trang 37

1969, tr169) [49] Cảnh quan ở đây được hiểu theo quan điểm cá thể Bậc trên CQ là các đới, á đới, xứ… bậc dưới là cảnh khu và cảnh tướng…

Thuật ngữ phân vùng CQ xuất hiện trong các công trình của Đ.L Armand (1983) (tr.130), A.G Ixatsenko (1991) (dẫn theo [33]), Phạm Hoàng Hải và cộng sự (1997) [33], … và trong nhiều công trình sau này Cảnh quan ở đây được quan niệm theo kiểu loại và là danh từ chung để chỉ tất cả các cấp bậc phân loại Chính vì vậy, thuật ngữ phân vùng CQ có những điểm giống và khác biệt căn bản với thuật ngữ phân vùng địa lý tự nhiên 2 cách phân vùng này đều dựa trên một đơn vị căn bản làm cơ sở phân vùng, đơn

vị đó đều có tên gọi chung là CQ Tuy nhiên, hai cách phân vùng có quan niệm CQ khác nhau như đã phân tích dẫn đến phương pháp thành lập bản đồ CQ và cách thức tiến hành phân vùng khác nhau Ngoài ra, phân vùng địa lý tự nhiên áp dụng cho phạm vi lãnh thổ lớn, tiến hành từ trên xuống là chính Trong khi đó, phân vùng CQ có thể tiến hành trên nhiều cấp tỷ lệ, nhưng thường thấy ở cấp tỷ lệ lớn hơn, phạm vi nhỏ và kết hợp đồng thời cách thức phân vùng từ dưới lên và từ trên xuống

Công tác phân vùng cảnh quan dựa trên đặc điểm phân hóa cảnh quan của khu vực nghiên cứu, vì vậy nội dung lý luận về tiêu chí, chỉ tiêu phân vùng được đưa vào mục 2.4 (phân vùng cảnh quan) để đảm bảo tính logic

3) Chức năng cảnh quan

Bên cạnh hướng nghiên cứu đơn chức năng CQ, hướng nghiên cứu đa chức năng

CQ được sử dụng ngày càng phổ biến, đặc biệt ở châu Âu dựa trên Công ước Cảnh quan châu Âu (European Landscape Convention) của Hội đồng châu Âu (2000, 2007) Khu vực nghiên cứu tập trung vào 3 nhóm chức năng chính: 1) Nhóm chức năng sinh thái (bảo tồn, phục hồi, phòng hộ, bảo vệ môi trường,…); 2) Nhóm chức năng xã hội (thẩm

mỹ, giáo dục, thông tin, giải trí…); 3) Nhóm chức năng sản xuất (cung cấp sinh khối, cung cấp tài nguyên không tái tạo…)

Một dạng CQ có thể được xếp vào một hay nhiều nhóm chức năng CQ khác nhau, trong đó sẽ có nhóm ưu tiên dựa trên đặc thù cấu trúc đứng, vị thế Đây là cơ sở quan trọng cho mục đích đánh giá CQ với nhiều loại hình khác nhau

4) Nhịp điệu mùa cảnh quan

Nhịp điệu mùa thể hiện sự thay đổi tuần hoàn theo mùa của tất cả các CQ tự nhiên

và CQ văn hóa trên trái đất Một số khu vực có tính nhịp điệu theo 4 mùa Ở khu vực có

sự thay đổi chế độ mưa sâu sắc, phần lớn CQ thay đổi theo nhịp điệu mùa với hai mùa

là mùa mưa và mùa khô

Nhịp điệu mùa được coi là bộ phận không thể tách rời của cấu trúc CQ, phản ánh cấu trúc thời gian của CQ Nhịp điệu mùa của CQ cũng quy định sự thay đổi của các

Trang 38

quần xã động vật, các hoạt động sinh hoạt, sản xuất, văn hóa… của cư dân địa phương sống trong CQ đó [91] Đây được xác định là một tiêu chí quan trọng trong định hướng

sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường lãnh thổ

Cảnh quan KVNC được hợp lại bởi các yếu tố tự nhiên và nhân sinh, vì vậy nhịp điệu mùa CQ trong luận án có những đặc trưng cơ bản sau: thay đổi nhiệt độ, lượng mưa theo mùa; thay đổi trạng thái thảm thực vật, chế độ canh tác, hoạt động sinh kế trong thời gian của năm; sự thay đổi lớp thảm phủ đi cùng với sự thay đổi tập tính động vật,

rõ nhất là tập tính hót của loài chim

5) Giá trị cảnh quan

Cảnh quan có những chiều hữu hình và tưởng tượng, không những cung cấp hàng hóa và dịch vụ mà còn đóng góp vào nhiệm vụ xác định di sản Cảnh quan cung cấp lợi ích đến con người Do đó, xuất phát từ nhu cầu khác nhau của các bên tham gia như cộng đồng địa phương, khách du lịch… CQ có những giá trị khác nhau

Brown và Reed (2000) [128] là những người đầu tiên chỉ ra giá trị của rừng trong vấn đề quản lý Để đo lường giá trị được gắn kết theo không gian địa lý, thuật ngữ giá trị CQ được đề cập đến Công trình trên đã đưa ra 10 giá trị CQ rừng như thẩm mỹ, kinh

tế, giải trí, nơi sống (life sustaning), học hỏi (learning), đa dạng sinh học (biological diveristy), tinh thần (spiritual), nội tại (instrinsic), lịch sử (history), tương lai (future), sinh tồn (subsistance), chữa bệnh (therapeutic), văn hóa (cultural) Dựa trên tính đặc thù, độc đáo của khu vực, luận án đề cập đến 4 loại giá trị là đa dạng sinh học, văn hóa, địa học và thẩm mỹ Các giá trị được phân tích gắn kết với CQ

1.2.1.3 Mối liên hệ giữa cảnh quan với bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển du lịch bền vững

a Mối quan hệ giữa cảnh quan với phát triển du lịch

Cảnh quan có vai trò quan trọng trong hoạt động du lịch Theo Tổ chức Du lịch Thế giới, du lịch là hoạt động liên quan đến sự đi lại tạm thời ra ngoài nơi cứ trú với mục đích giải trí Hoạt động của du lịch liên quan đến nhân tố đẩy (push factor) và nhân

tố kéo (pull factor) [86] Nhân tố đẩy là nhu cầu đi lại tham quan của du khách và nhân

tố kéo là sự hấp dẫn và sự mong đợi của điểm đến Những điểm đến có phong cảnh và hấp dẫn được xác định như là những nhân tố kéo (dẫn theo [124])

Cảnh quan tác động đến phát triển du lịch theo một cách thức đặc thù Cảnh quan

là một trong những thành phần chính của trải nghiệm du lịch Một CQ đẹp đóng góp vào quảng bá môi trường du lịch cũng như nâng cao khả năng đáp ứng đối với du khách Cảnh quan cung cấp cho du khách và cộng đồng địa phương cơ hội để khám phá và yêu thích những đặc tính tự nhiên và nhân tạo ở nơi tham quan Cảnh quan đẹp có thể truyền

Trang 39

cảm hứng thích thú, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường đối với du khách [165] Sự đa dạng của CQ (một tập hợp các yếu tố tự nhiên, con người, yếu tố văn hóa và giá trị thẩm mỹ) và khả năng của CQ tạo nên cảm xúc, đưa CQ từ dạng tài nguyên trở thành sản phẩm du lịch đặc trưng của vùng, khu vực Một khi đặc điểm CQ suy giảm giá trị sẽ không chỉ làm cho mức độ hấp dẫn đối với du khách giảm đi mà còn có nguy cơ làm cho cả du lịch sẽ biến mất [162]

Ngược lại, du lịch cũng có vai trò trong bảo vệ và cải tạo CQ Du lịch cải thiện

cơ sở hạ tầng như hệ thống đường, dẫn nước, thu gom và xử lý rác thải, góp phần ngăn ngừa cạn kiệt tài nguyên, bảo tồn di chỉ khảo cổ hay những điểm di tích lịch sử nói chung Những trải nghiệm và ý kiến của du khách có thể giúp xác định những điều gì nên làm để nâng cao chất lượng CQ như hàng hóa (trong bối cảnh sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, du lịch…) hoặc để giảm thiếu những tác động tiêu cực (môi trường, kinh tế

- xã hội, thẩm mỹ…) Bên cạnh đó, phân tích trải nghiệm du lịch có thể hữu dụng để tái định dạng đặc trưng của lãnh thổ và liên quan đến các bên ở địa phương như nhà quy hoạch và quản lý, du khách, cơ sở du lịch, trong việc bảo vệ CQ, phát triển và quảng bá các địa điểm du lịch theo hướng phù hợp hơn

b Mối liên hệ giữa cảnh quan với bảo tồn đa dạng sinh học

Bảo tồn đa dạng sinh học chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố bao gồm sự bất đồng nhất khí hậu, thổ nhưỡng, địa hình, nhân tố lịch sử, tương tác hệ sinh thái… Có thể thấy, các nhân tố tác động lên thay đổi đa dạng sinh học đến từ CQ, nên CQ có mối quan hệ mật thiết với bảo tồn đa dạng sinh học [168]

Cảnh quan và hệ sinh thái có những điểm chung trong nghiên cứu bảo tồn đa dạng sinh học Ulrich Walz (2011) cho rằng sinh vật sống có không gian xác định trên

bề mặt trái đất, vì vậy sự tồn tại của sinh vật phụ thuộc vào CQ Những khu vực có sự bất đồng nhất về nền tảng rắn sẽ tạo ra sự bất đồng nhất CQ, từ đó tạo nên sự đa dạng loài thực vật [177] [21] Sự thay đổi đặc điểm tự nhiên của CQ như độ dốc, cấu trúc đất… được cho là nhân tố thích hợp để dự đoán độ đa dạng, giàu có của các loài thực vật [182] Burnett và nnk (1998) đã phát hiện ra rằng những nơi có độ đa dạng cao nhất

về địa học sẽ có độ đa dạng sinh học cao nhất do có mối tương quan mạnh mẽ giữa các biến vô sinh trong CQ với đa dạng sinh học [133]

Tuy nhiên, theo quan niệm “hệ sinh thái là quần xã sinh vật và các yếu tố phi sinh vật của một khu vực địa lý nhất định, có tác động qua lại và trao đổi vật chất với nhau” (Luật Đa dạng sinh học 2018), có thể thấy giữa CQ và hệ sinh thái có sự khác nhau Môi trường sống (sinh cảnh) trong hệ sinh thái được xác định bởi một hay một số thành phần

tự nhiên, cho nên không có ranh giới và tính thứ bậc không gian rõ rệt Trong khi CQ được coi như tổng hợp thể các hợp phần, có tính đồng nhất tương đối và có tiêu chí, chỉ

Trang 40

tiêu phân bậc rõ ràng Trong hệ sinh thái nhấn mạnh đến các yếu tố sinh vật như mối quan hệ giữa sinh vật với nhau và với các thành phần của môi trường, còn trong CQ bên cạnh mối quan hệ giữa sinh vật với các hợp phần, còn xét đến tính không gian trong mối quan hệ giữa các hợp phần theo cấu trúc đứng và ngang Vì vậy, điểm mạnh của tiếp cận hệ sinh thái là biết được các nhân tố thành phần ảnh hưởng đến sinh vật nhưng lại gặp khó khăn trong đánh giá tổng hợp các hợp phần tác động bên trong và bên ngoài sinh cảnh, đây lại là điểm mạnh của tiếp cận CQ

Như vậy, sử dụng tiếp cận CQ trong nghiên cứu bảo tồn mang đến nhiều lợi ích Tiếp cận đáp ứng nhu cầu để giải quyết các tương tác phức tạp giữa các quy mô không gian khác nhau bổ sung cho tiếp cận hệ sinh thái Hay nói cách khác tiếp cận CQ, mang tính liên vùng, tích hợp giữa con người và tự nhiên trong đó nhấn mạnh đến vai trò cộng đồng dân cư sống xung quanh KBTTN

1.2.1.4 Cảnh quan với tổ chức không gian du lịch

Tổ chức không gian du lịch là “sự sắp xếp và phối hợp các đối tượng trong mối liên hệ đa ngành, đa lĩnh vực trong một khu vực cụ thể nhằm sử dụng một cách hợp lí các tiềm năng tự nhiên, lao động, vị trí địa lí kinh tế - xã hội và cơ sở vật chất kĩ thuật

đã và sẽ tạo dựng để đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao và nâng cao mức sống dân cư của vùng đó” [37] Cảnh quan và tổ chức không gian đều liên quan đến một lãnh thổ cụ thể Trong lãnh thổ đó, giữa CQ và tổ chức không gian đều sử dụng cách tiếp cận liên ngành, liên lĩnh vực và đều hướng tới sử dụng hợp lý tiềm năng lãnh thổ Do vậy, nghiên cứu CQ có vai trò đóng góp cơ sở khoa học và thực tiễn cho tổ chức lãnh thổ trên các khía cạnh về điểm, tuyến, không gian ưu tiên và phân vùng

Thứ nhất, CQ là không gian chứa đựng các tài nguyên Nghiên cứu giá trị CQ nhằm phát hiện CQ hấp dẫn cho phát triển du lịch Cảnh quan hấp dẫn làm cơ sở xác định những tài nguyên du lịch ưu thế cho tổ chức không gian du lịch

Thứ hai, nghiên cứu đánh giá CQ chỉ ra mức độ phù hợp lãnh thổ cho một hoặc một số loại hình du lịch Những khu vực có mức độ phù hợp cao với nhiều loại hình du lịch có sức hấp dẫn hơn các khu vực khác Do đó, kết quả đánh giá CQ là cơ sở để bố trí, sắp xếp các không gian ưu tiên phát triển du lịch trong bản đồ tổ chức không gian du lịch Việc xác định không gian ưu tiên đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển du lịch bền vững Không gian ưu tiên giúp định hướng khu vực trọng tâm, trọng điểm để đầu tư và phát triển du lịch, đem lại hiệu quả sử dụng lãnh thổ cao nhất

Thứ ba, trên cơ sở không gian ưu tiên, các quy luật cấu trúc, chức năng và nhịp điệu của CQ cho phép hình thành liên kết giữa các CQ, làm cơ sở đề xuất các tuyến liên kết nội vùng giữa các không gian ưu tiên và liên kết ngoại vùng giữa không gian ưu tiên với trung tâm, cực hút bên ngoài lãnh thổ

Ngày đăng: 10/03/2021, 17:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w