Tại các hội nghị này, các nhà hoạt động về kinh tế, xã hội, môi trường cùng với các nhà chính trị đã thống nhất về quan điểm PTBV, coi đó là trách nhiệm chung của các quốc gia, của toàn
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của các Thầy hướng dẫn Các số liệu sử dụng phân tích trong luận án có nguồn gốc rõ ràng, đã được công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận
án là do tác giả tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan
Tác giả luận án
Trang 2
LỜI CẢM ƠN
Sau quá trình tập trung nghiên cứu, đến nay luận án tiến sĩ với chủ đề “ Phát triển
du lịch bền vững Bà Rịa – Vũng Tàu ” đã hoàn thành
Điều đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các Thầy hướng dẫn đã hướng dẫn tận tình chu đáo và có những góp ý thật quý báu để tôi hoàn chỉnh luận án tiến sĩ của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Viện Kinh tế và Quản lý, Viện đào tạo sau đại học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã truyền đạt cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm trong quá trình học tập, đóng góp cho tôi những ý kiến sâu sắc để từ đó, tôi hình thành nên những trang luận án chứa đầy tâm huyết của mình.Tôi vô cùng cảm ơn Viện phát triển du lịch Việt Nam; Tạp chí phát triển kinh tế, Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh; cùng các bạn bè, đồng nghiệp tại Sở Văn hóa thể thao và du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu; bạn bè tại các cơ quan khác thuộc các tỉnh thành trong nước đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập thông tin, tài liệu trong quá trình nghiên cứu cũng như góp ý cho tôi nhiều vấn đề liên quan trực tiếp đến nội dung được đề cập trong luận án
Tôi xin gửi lời cảm ơn và biết ơn tới gia đình tôi, những người đã luôn động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi có nhiều thời gian tập trung cho học tập và nghiên cứu
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các đồng chí lãnh đạo và tập thể giảng viên khoa kinh
tế, Phòng KH&CGCN Trường Đại học Bà Rịa – Vũng Tàu đã tạo mọi điều kiện về thời gian và sự động viên khích lệ để tôi yên tâm học tập
Do thời gian nghiên cứu có hạn, hơn nữa vấn đề liên quan đến các hoạt động phát triển du lịch bền vững nhìn chung vẫn còn khá mới mẻ, trong khi năng lực nghiên cứu của cá nhân còn hạn chế, “ lực bất tòng tâm” cho nên luận án không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô và các bạn bè, đồng nghiệp nhằm giúp cho luận án của tôi hoàn thiện hơn
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn./
Hà Nội, ngày 18 tháng 04 năm 2014
Tác giả luận án
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ x
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu liên quan 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Câu hỏi nghiên cứu 5
6 Phương pháp nghiên cứu 6
7 Những kết quả đạt được, ý nghĩa khoa học, giá trị thực tiễn, điểm mới của luận án 7
8 Kết cấu luận án 10
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN 12
DU LỊCH BỀN VỮNG 12
1.1 Tổng quát về phát triển bền vững 12
1.2 Phát triển du lịch bền vững 14
Bảng 1.1: Phân loại theo khả năng tương thích với khái niệm du lịch bền vững 20
1.4 Nội dung phát triển du lịch bền vững 33
1.5 Các nhân tố tác động đến phát triển du lịch bền vững 43
1.6 Kinh nghiệm quốc tế và trong nước về phát triển DLBV 44
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 50
CHƯƠNG 2 51
PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 51
Giới thiệu .51
2.1 Cách tiếp cận .51
2.2 Khung phân tích 51
2.3 Phương pháp nghiên cứu 52
2.4 Đánh giá tính bền vững của du lịch 54
Bảng 2.1: Các chỉ tiêu chung cho du lịch bền vững 55
Bảng 2.2: Các chỉ tiêu đặc thù của điểm du lịch 56
Bảng 2.3: Hệ thống chỉ tiêu môi trường dùng để đánh giá nhanh 57
Trang 42.5 Phương pháp đánh giá 59
2.6 Mô hình nghiên cứu 60
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 63
CHƯƠNG 3 64
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN 64
DU LỊCH BỀN VỮNG BÀ RỊA – VŨNG TÀU 64
Giới thiệu 64
3.1 Tổng quan về Bà Rịa – Vũng Tàu 64
Bảng 3.1 : Quy mô và tốc độ tăng trưởng GDP tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo giá 65
Bảng 3.2 : GDP phân theo ngành kinh tế của tỉnh 65
giai đoạn 2005 – 2012 (theo giá hiện hành) 65
3.2 Tài nguyên phát triển du lịch bền vững của Bà Rịa – Vũng Tàu .66
3.3 Chủ trương, chính sách phát triển ngành du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu 72
3.4 Thực trạng phát triển du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu 76
Hình 3.1: Thị trường khách du lịch quốc tế giai đoạn 2006 – 2013 78
Bảng 3.9: Tỉ lệ khách du lịch đến tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giai đoạn 2007 - 2013 80
Bảng 3.11: Thị trường khách du lịch nội địa của Việt Nam giai đoạn 2007 – 2013 82
Bảng 3.17: Doanh thu du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 85
giai đoạn 2004 – 2012 85
Bảng 3.18: So sánh doanh thu du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu với 85
vùng Đông Nam Bộ và toàn quốc giai đoạn 2007 – 2012 85
Bảng 3.19: Doanh thu du lịch của các khối kinh doanh trong tỉnh 85
giai đoạn 2011 – 2012 85
Bảng 3.20: Lợi nhuận du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 86
Bảng 3.21: Tỷ suất sinh lời của doanh thu hàng năm ngành du lịch 86
tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giai đoạn 2005 – 2012 86
3.4.4 Thực trạng phát triển dịch vụ du lịch 89
3.5 Đánh giá thực trạng phát triển du lịch bền vững Bà Rịa – Vũng Tàu 96
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 105
CHƯƠNG 4 107
PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG BÀ RỊA – VŨNG TÀU 107
4.1 Nghiên cứu định tính (xác định các nhân tố ảnh hưởng) 108
4.2 Nghiên cứu định lượng 110
Trang 54.3 Kết quả 116
TÓM TẮT CHƯƠNG 4 144
NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN 146
DU LỊCH BỀN VỮNG BÀ RỊA – VŨNG TÀU 146
Giới thiệu 146
5.1 Những xu thế chung phát triển du lịch 147
5.1.1 Những xu hướng phát triễn du lịch Việt Nam 148
5.2 Đề xuất các nhóm giải pháp đảm bảo phát triển du lịch bền vững Bà Rịa – Vũng Tàu .152
5.2.2 Từ góc độ tài nguyên, môi trường 157
TÓM TẮT CHƯƠNG 5 171
KẾT LUẬN 172
Trang 67. GDP : Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)
8. EFA : Phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor
13. MICE : M-Meeting (hội nghị), I-Incentives (khuyến mãi, khen
thưởng), C-Conferences/Conventions (hội thảo, hội họp), E-Exhibitions/Events (triển lãm, sự kiện)
14. PTBVDL : Phát triển bền vững du lịch
17. USD : Đồng đô la Mỹ /United States dollar
18. SPSS : Phần mềm ứng dụng(Statistical Package for Social Sciences)
19. UNIDO : Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hiệp quốc(United
Nations Industrial Development Organization)
20. UNWTO : Tổ chức Du lịch Thế giới
21. UNCED : Ủy ban Liên hiệp quốc về môi trường và phát triển
22. UNCTAD : Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển
(United Nations Conference on Trade and Development)
23. WIPO : Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (World Intellectual
Property Organization)
24. WTTC : Hội đồng du lịch và lữ hành thế giới
Trang 7Bảng 3.1 : Quy mô và tốc độ tăng trưởng GDP tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo giá Error:Reference source not found
Bảng 3.2 : GDP phân theo ngành kinh tế của tỉnh Error: Reference source not foundBảng 3 3 : Cơ cấu GDP của Bà Rịa – Vũng Tàu (theo giá cố định 2008) Error: Referencesource not found
Bảng 3 4 : Số lượt khách và ngày khách QT đến Bà Rịa-Vũng Tàu Error: Reference source notfound
Bảng 3.5 : Tỉ lệ khách du lịch quốc tế đến Bà Rịa - Vũng Tàu so với toàn quốc Error: Referencesource not found
Bảng 3 6: Tỉ lệ khách du lịch quốc tế đến Bà Rịa – Vũng Tàu Error: Reference source notfound
Bảng 3 7: Tỉ lệ khách QT đến Bà Rịa-Vũng Tàu so với TP HCM Error: Reference source notfound
Bảng 3 8: Lượng khách quốc tế đến Việt Nam theo các phương tiện giao thông Error:Reference source not found
Bảng 3.9: Tỉ lệ khách du lịch đến tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giai đoạn 2006 - 2012 Error:Reference source not found
Bảng 3 .10: Thời gian lưu trú trung bình của khách du lịch ở Bà Rịa – Vũng Tàu Error:Reference source not found
Bảng 3.11: Thị trường khách du lịch nội địa của Việt Nam giai đoạn 2006 – 2012 Error:Reference source not found
Bảng 3 12: Số lượt khách và ngày khách nội địa đến Bà Rịa - Vũng Tàu Error: Referencesource not found
Bảng 3 13: Tỉ lệ khách nội địa đến Bà Rịa - Vũng Tàu so với toàn quốc Error: Referencesource not found
Bảng 3 14: So sánh khách du lịch nội địa đến Bà Rịa – Vũng Tàu Error: Reference source notfound
Trang 8Bảng 3 15: Thời gian lưu trú trung bình của khách du lịch nội địa Error: Reference source notfound
Bảng 3 16: Số lượng khách và ngày khách lưu trú ở Bà Rịa – Vũng Tàu Error: Referencesource not found
Bảng 3.17: Doanh thu du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giai đoạn 2004 - 2012 Error: Referencesource not found
Bảng 3.18: So sánh doanh thu du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Error: Reference source notfound
Bảng 3.19: Doanh thu du lịch của các khối kinh doanh trong tỉnh Error: Reference source notfound
Bảng 3.20: Lợi nhuận du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Error: Reference source not foundBảng 3.21: Tỷ suất sinh lời của doanh thu hàng năm ngành du lịch Error: Reference source notfound
Bảng 4 1: Thống kê số phiếu khảo sát theo địa bàn và loại hình tổ chức điều tra Error:Reference source not found
Bảng 4.2: Thống kê phiếu khảo sát theo địa bàn Error: Reference source not foundBảng 4 3: Thống kê phiếu khảo sát theo kinh nghiệm của đối tượng điều tra Error: Referencesource not found
Bảng 4 4: Thống kê số phiếu khảo sát theo độ tuổi của đối tượng được điều tra Error:Reference source not found
Bảng 4.5: Thống kê phiếu khảo sát theo trình độ chuyên môn Error: Reference source notfound
Bảng 4.6: Thống kê số phiếu khảo sát theo giới tính của đối tượng được điều tra Error:Reference source not found
Bảng 4 7: Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố thuộc hệ kinh tế Error: Reference source notfound
Bảng 4 8 : Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố thuộc hệ xã hội Error: Reference source not foundBảng 4.9: Mức độ ảnh hưởng của hệ môi trường Error: Reference source not foundBảng 4 1 0 : Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tài nguyên tự nhiên Error: Reference source notfound
Bảng 4 1 1 : Kết quả đánh giá về tài nguyên nhân văn Error: Reference source not foundBảng 4 1 2 : Kết quả đánh giá về các sản phẩm du lịch Error: Reference source not foundBảng 4 1 3 : Kết quả đánh giá về nguồn nhân lực Error: Reference source not foundBảng 4 1 5 : Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố cơ sở vật chất Error: Reference source not foundBảng 4 1 6 : Kết quả đánh giá về các yếu tố cơ sở vật chất kỹ thuật Error: Reference source notfound
Bảng 4 1 7 : Kết quả đánh giá về các yếu tố quản lý nhà nước Error: Reference source not found
Trang 9Bảng 4 1 8 : Kết quả đánh giá về các yếu tố hoạt động phát triển du lịch bền vững Error:Reference source not found
Bảng 4.19: Kết quả đánh giá chung của các hoạt động phát triển du lịch bền vững Error:Reference source not found
Bảng 4 20 : Thống kê các biến quan sát sau khi kiểm định Error: Reference source not foundBảng 4.21: Hệ số KMO và kết quả kiểm định Bartlett Error: Reference source not foundBảng 4.23: Bảng ma trận tự xoay (Rotated Component Matrixa ) Error: Reference source notfound
Bảng 4.24: Bảng tổng hợp các nhân tố khám phá Error: Reference source not foundBảng 4.25: Bảng hệ số tương quan của mô hình hồi quy Error: Reference source not foundBảng 4.26: Bảng đánh giá mức độ phù hợp của mô hình hồi quy Error: Reference source notfound
Bảng 4.27: Bảng phân tích ANOVA Error: Reference source not foundBảng 4.28:Hệ số tương quan giữa các biến độc lập Error: Reference source not foundBảng 4.29: Hệ số phóng đại phương sai (VIP) Error: Reference source not foundBảng 4.29: Bảng kết quả kiểm định Prearman Error: Reference source not found
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1: Mô hình phát triển bền vững Error: Reference source not foundHình 2.4 : Thị trường khách du lịch quốc tế của Việt Nam giai đoạn 2005 – 2011 Error:Reference source not found
Hình 3.1: Thị trường khách du lịch quốc tế giai đoạn 2005 – 2010 Error: Reference source notfound
Lưu đồ 4.1: Các bước xác định nhân tố khám phá EFA ảnh hưởng chủ yếu Error: Referencesource not found
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Con người sinh ra ai cũng muốn cuộc sống của mình và của cả cộng đồng được đầy đủ, ấm no, hạnh phúc; chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao Để đạt được mục tiêu ấy, con người đã tìm mọi cách để phát triển kinh tế Sự phát triển kinh tế đòi hỏi phải khai thác, sử dụng ngày càng nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn Quá trình khai thác, sử dụng đó đã làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên
và làm tăng lượng phế thải, tác động xấu tới môi trường, đưa đến hậu quả môi trường sinh thái ngày càng bị huỷ hoại và ô nhiễm Đứng trước vấn đề đó đòi hỏi phải tìm ra một con đường phát triển kinh tế hợp lý và hài hòa, sao cho các vấn đề về kinh tế, văn hóa, dân số, xã hội, tài nguyên, môi trường phải được xem xét một cách tổng thể để cùng phát triển, để không cản trở đến sự phát triển của nhau ở hiện tại cũng như trong tương lai Con đường đó chính là sự phát triển bền vững (PTBV)
Đến nay, sự tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và bảo tồn môi trường không còn là vấn đề đối lập với nhau nữa Tăng trưởng kinh tế hài hoà với phát triển xã hội và thân thiện với môi trường đã nổi lên như một nhu cầu cấp thiết Tóm lại, trong xã hội
đã hình thành nhu cầu về sự hài hoà giữa phát triển kinh tế-xã hội và môi trường là cốt
lõi của PTBV Chính vì vậy, PTBV đã trở thành xu thế tất yếu trong tiến trình phát
triển của xã hội loài người, là một lựa chọn mang tính chiến lược và hợp quy luật mà tất cả các quốc gia đều phải quan tâm Khởi đầu có thể nói đó là Hội nghị quốc tế về con người và môi trường năm 1972 tại Stockholm (Thụy Điển), tiếp đó là Hội nghị thượng đỉnh trái đất về môi trường và phát triển họp tại Rio de Janero (Braxin) năm
1992 và tiếp theo là Hội nghị thượng đỉnh thế giới về PTBV họp tại Johanesburg (Nam Phi) năm 2002 Tại các hội nghị này, các nhà hoạt động về kinh tế, xã hội, môi trường cùng với các nhà chính trị đã thống nhất về quan điểm PTBV, coi đó là trách nhiệm chung của các quốc gia, của toàn nhân loại và đồng thuận tuyên bố chung về quan điểm PTBV gồm 27 nguyên tắc cơ bản, trong đó nguyên tắc đầu tiên và cơ bản nhất là phải lấy con người làm trung tâm của sự phát triển, những mối quan tâm về sự phát triển lâu dài đều phải xuất phát từ nhu cầu của con người
Ở nước ta, PTBV đã trở thành quan điểm lãnh đạo của Đảng, đường lối chính sách của Nhà nước và được khẳng định trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần
Trang 12thứ IX, lần thứ X và được nhấn mạnh tại Đại hội Đảng lần thứ XI là: “Phải PTBV về kinh tế, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an ninh kinh tế Ðẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, coi chất lượng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh là ưu tiên hàng đầu, chú trọng phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri thức Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hòa với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; nâng cao không ngừng chất lượng cuộc sống của nhân dân Phát triển kinh tế-xã hội phải luôn đi cùng với bảo vệ và cải thiện môi trường Nước ta có điều kiện phát triển nhanh và yêu cầu phát triển nhanh cũng đang đặt ra hết sức cấp thiết PTBV
là cơ sở để phát triển nhanh, phát triển nhanh để tạo nguồn lực cho PTBV Phát triển nhanh và bền vững phải luôn gắn chặt với nhau trong quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển kinh tế-xã hội.” Để triển khai các chỉ thị, nghị quyết, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng thời vận dụng các nguyên tắc cơ bản về PTBV của thế giới, ngày 17/8/2004 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành "Định hướng Chiến lược PTBV ở Việt Nam" làm cơ sở cho các địa phương, bộ, ngành, doanh nghiệp xây dựng
và triển khai PTBV của mình
Ngành du lịch trở thành một trong những ngành quan trọng của nước ta Đây là ngành du lịch đóng góp một phần quan trọng cho ngân sách nhà nước Trong nhiều năm qua, các câu hỏi liên quan đến sự phát triển của ngành theo hướng bền vững luôn được các nhà khoa học, các nhà kinh tế, các nhà hoạch định chính sách đặt ra, bao gồm: vấn đề cân bằng giữa khai thác và phát triển tài nguyên hôm nay phục vụ mục tiêu tăng trưởng và dự trữ dành cho thế hệ mai sau; khai thác và thăm dò; khai thác, chế biến và sử dụng; vấn đề ô nhiễm môi trường do khai thác và chế biến; vấn đề giải quyết việc làm và các vấn đề xã hội thông qua đầu tư phát triển du lịch Để làm tốt điều này, nhu cầu PTDLBV của ngành du lịch cho một tầm nhìn dài hơn đang trở nên cấp thiết
Chính vì vậy tác giả chọn đề tài: “Phát triển du lịch bền vững Bà Rịa – Vũng Tàu”
làm luận án nghiên cứu của mình
2 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu liên quan
Nghiên cứu PTBV ngành du lịch đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm từ lâu Các công trình nghiên cứu về vấn đề này không chỉ ở tầm quốc gia mà còn là các công trình hợp tác của nhiều nước, nhiều cơ sở nghiên cứu quốc tế Các tài liệu cho thấy về mặt lý luận, PTBV du lịch đã được nghiên cứu khá kỹ lưỡng, việc giám sát sự phát triển đã được cụ thể hoá qua hệ thống chỉ tiêu PTBV du lịch Trong lĩnh vực học thuật, du lịch bền vững là nội dung nghiên cứu của rất nhiều nhà nghiên cứu và
Trang 13các tổ chức ngay từ khi nó mới xuất hiện những năm 1960, trong đó có các công
trình làm nền tảng về mặt lý thuyết và thực tiễn như: “Chỉ tiêu cho phát triển bền
vững: lý thuyết, phương pháp và áp dụng” [33], “Du lịch bền vững ở thế giới thứ 3”
[41], “Tiếp cận với phát triển du lịch bền vững tại các điểm du lịch” [42], “Phát triển
Macao thành điểm du lịch bền vững: công nghiệp khách sạn” [43], “Hiểu về phát triển du lịch bền vững”[44], “Du lịch bền vững: cái nhìn toàn cảnh” [45], “Chỉ tiêu của phát triển bền vững đối với điểm du lịch”, [46], “Các chỉ thị của phát triển du lịch bền vững đối với các điểm du lịch”, [47] Các nghiên cứu trên đây đều tập trung vào
việc hệ thống lại cơ sở lý luận về phát triển du lịch bền vững, đánh giá tác động của phát triển du lịch đối với môi trường tự nhiên, kinh tế, văn hóa xã hội và các các giải pháp nhằm phát triển du lịch bền vững
Ở Việt Nam: phát triển du lịch bền vững đã và đang trở thành nhu cầu cấp thiết
đối với phát triển kinh tế xã nội nói chung và du lịch nói riêng, điều đó đặt ra yêu cầu nghiên cứu về du lịch và phát triển du lịch bền vững cả về học thuật, thực tiễn và chính sách Có các công trình nghiên cứu về du lịch và phát triển du lịch bền vững làm nền tảng cho các nghiên cứu ở Việt Nam như: “Định hướng chiến lược phát triển
bền vững ở Việt Nam” [27], “Chương trình nghị sự 21 Việt Nam, Dự thảo:
" C hương trình hành động của Chính phủ thực hiện chiến lược phát triển bền vững”
[26], "Cơ sở khoa học và giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam" [6],
“Du lịch bền vững” [4] Các công trình nghiên cứu này đã cung cấp cơ sở lý luận nền
tảng, quan trọng cho việc phát triển du lịch và du lịch bền vững nói riêng.Bên cạnh đó
là các chính sách, khung pháp lý cho phát triển du lịch và phát triển du lịch bền vững
ở Việt Nam như: “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn
đến năm 2030”[31], Luật du lịch và chiến lược phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bà Rịa –
Vũng Tàu Đã tạo ra khung chính sách, căn cứ cho hoạt động nghiên cứu và phát triển
du lịch
Đối với hoạt động nghiên cứu phát triển du lịch bền vững, có các công trình
nghiên cứu trong việc đánh giá thực trạng và đề xuất chính sách như: “Phát triển du
lịch bền vững Bình Thuận” [22], “Phát triển du lịch bền vững ở Phong Nha – Kẻ Bàng” [18], “Một số giải pháp phát triển du lịch bền vững ở thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020” [20].
Đối với hoạt hoạt động nghiên cứu phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Bà
Rịa – Vũng Tàu, đến nay có một số công trình nghiên cứu như: “Một số giải pháp
Trang 14nhằm góp phần phát triển Du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu đến năm 2015” [21], “ Quy hoạch tổng thể phát triển ngành du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu đến năm năm 2020”
[32]; Các đề tài này bước đầu đã đi vào nghiên cứu hoạt động phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh B à R ị a – V ũ n g T à u v à những đề tài mới chỉ dừng lại ở phân tích định tính, nghiên cứu chưa sâu vấn đề đặt ra đối với phát triển du lịch bền vững trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Còn đối với việc nghiên cứu phát triển du lịch bền vững thì chưa có đề tài nào làm về vấn đề này Đây là cơ sở cấp thiết đối với việc thực hiện đề tài nghiên cứu của tác giả
Chính vì vậy, nghiên cứu sinh lựa chọn một địa phương là Bà Rịa – Vũng Tàu
để nghiên cứu phát triển du lịch trên quan điểm PTDLBV, và thực tế cho đến nay chưa
có một luận án tiến sĩ nào về phát triển du lịch bền vững Bà Rịa – Vũng Tàu được thực hiện trên cơ sở khoa học của kinh tế học, cũng như chưa có đề tài nào về nhận diện cũng như phân tích nhân tố khám phá EFA các nhân tố tác động đến sự phát triển bền vững của du lịch cấp địa phương của các tỉnh thành trong cả nước
Mặt khác, cho đến thời điểm hiện nay, quá trình nghiên cứu tác giả chưa tiếp cận được công trình nghiên cứu nào trong và ngoài nước sử dụng phương pháp định lượng để phân tích phát triển du lịch bền vững Tuy nhiên, trong các lĩnh vực khác đã xuất hiện rất nhiều Ví dụ Luận án tiến sĩ “Phát triển ngành cà phê Việt Nam” của nghiên cứu sinh (NCS) Phạm Ngọc Dưỡng (2011) - Trường Đại học kinh tế thành phố
Hồ Chí Minh Luận án tiến sỹ “Thực trạng và giải pháp phát triển hoạt động xúc tiến CGCN ở Việt Nam” của nghiên cứu sinh (NCS) Nguyễn Thị Vân Anh (2012) – Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Các công trình nghiên cứu trên đã định lượng các nhân tố ảnh hưởng chủ yếu sau đó thiết lập hàm đa biến, xác định các nhân tố ảnh hưởng chủ yếu (nhân tố khám phá) làm cơ sở khoa học đưa ra các giải pháp Các nhân
tố ảnh hưởng được đề cập trong các luận án dựa trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu trước đó, hoặc được xây dựng trên nền tảng lý thuyết nhất định
Nhận thấy phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng là một thế mạnh trong việc nghiên cứu đề ra các giải pháp trong các lĩnh vực các ngành quản lý kinh tế ứng dụng và xã hội hiện nay Đồng thời, tác giả cũng thấy rằng hoàn toàn có thể phân tích mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến phát triển du lịch bền vững trên cơ sở các kiến thức về kinh tế học và lý thuyết về dịch vụ, từ đó sử dụng phương pháp định tính
và định lượng làm cơ sở khoa học để đề ra giải pháp phát triển du lịch bền vững Vì vậy, tác giả đã mạnh dạn sử dụng phương pháp định tính và định lượng, trong đó
Trang 15phương pháp định lượng là chủ yếu để nghiên cứu luận án này Kết quả nghiên cứu của
đề tài không những hoàn thành mục tiêu nghiên cứu là đề xuất giải pháp nhằm phát triển du lịch bền vững ở Bà Rịa – Vũng Tàu mà còn góp phần cung cấp bộ công cụ nghiên cứu cho các công trình nghiên cứu liên quan
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung:
Nghiên cứu cơ sở lý luận phát triển du lịch bền vững, đánh giá thực trạng, khảo sát phân tích mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến phát triển du lịch bền vững Bà Rịa – Vũng Tàu Từ đó tìm ra mô hình phát triển du lịch bền vững Bà Rịa – Vũng Tàu, làm
cơ sở để đề xuất những định hướng và các giải pháp phát triển du lịch bền vững Bà Rịa – Vũng Tàu
Mục tiêu cụ thể:
Một là, hệ thống hoá cơ sở lý luận về phát triển du lịch bền vững và kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững;
Hai là, đánh giá thực trạng về phát triển du lịch bền vững Bà Rịa – Vũng Tàu;
Ba là, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch bền vững Bà Rịa – Vũng Tàu;
Bốn là, đề xuất những định hướng và các giải pháp về phát triển du lịch bền vững Bà Rịa – Vũng Tàu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các hoạt động PTDLBV tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu những vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển
du lịch bền vững nhằm đề xuất một số giải pháp phát triển du lịch bền vững BR - VT
- Về không gian: Trong tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
- Về thời gian: + Dữ liệu thứ cấp: Số liệu thống kê từ năm 2002 – 2012
+ Dữ liệu sơ cấp: Số liệu tiến hành điều tra khảo sát năm 2012
5 Câu hỏi nghiên cứu
Luận án sẽ nghiên cứu và trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
(1) Như thế nào là phát triển du lịch bền vững?
(2) Hiện trạng phát triển du lịch bền vững trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã bền vững chưa?
Trang 16(3) Đâu là các nhân tố tác động đến phát triển du lịch bền vững trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu?
(4) Đâu là các giải pháp để phát triển du lịch bền vững trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu?
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Cách tiếp cận nghiên cứu
- Điều tra khảo sát, tài liệu, xem xét sự vận động của đối tượng nghiên cứu trong mối quan hệ biện chứng với các đối tượng khác trong môi trường xung quanh
- Kết hợp phương pháp thu thập thông tin tư liệu (thông qua hệ thống thư viện và Internet) và điều tra khảo sát phát triển du lịch bền vững
- Phương pháp tư duy khoa học, bao gồm: qui nạp, diễn dịch, phân tích, tổng hợp,
mô tả, hệ thống các môn khoa học có liên quan như: kinh tế học, khoa học quản lý, marketing, kinh tế du lịch để nghiên cứu, xem xét, giải quyết vấn đề đặt ra
- Kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng (sử dụng mô hình toán hồi quy bội và sử dụng chương trình SPSS) để phân tích, đánh giá
6.2 Dữ liệu nghiên cứu
- Dữ liệu thứ cấp: Là dữ liệu thống kê của các báo cáo ngành du lịch, các nghiên
cứu khác có liên quan
- Dữ liệu sơ cấp: Là dữ liệu tiến hành cuộc điều tra khảo sát, phỏng vấn trực tiếp 6.3 Thiết kế nghiên cứu
Kết hợp phương pháp thu thập thông tin tư liệu (thông qua hệ thống thư viện và Internet) và điều tra khảo sát phát triển du lịch bền vững Phương pháp tư duy khoa học, bao gồm: phân tích, tổng hợp, mô tả, quy nạp, hệ thống các môn khoa học có liên quan như: kinh tế du lịch, kinh tế học, khoa học quản lý, marketing, quản trị du lịch để nghiên cứu, xem xét, giải quyết vấn đề đặt ra
Kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng (sử dụng mô hình toán hồi quy bội và sử dụng chương trình SPSS) để phân tích, đánh giá mức độ PTDLBV và
đề ra các giải pháp PTDLBV Bà Rịa - Vũng Tàu
Trang 177 Những kết quả đạt được, ý nghĩa khoa học, giá trị thực tiễn, điểm mới của luận án.
Việc nghiên cứu đã hoàn thành một số kết quả, có ý nghĩa khoa học, giá trị thực tiễn và đạt được những điểm mới như sau:
Những kết quả đạt được của luận án:
Một là, hệ thống hoá cơ sở lý luận về phát triển du lịch bền vững và những kinh nghiệm trong và ngoài nước về phát triển du lịch bền vững;
Hai là, xây dựng được 12 nhân tố ảnh hưởng đến PTDLBV Bà Rịa – Vũng Tàu
Ba là, đánh giá thực trạng về phát triển du lịch bền vững Bà Rịa –Vũng Tàu;Bốn là, phân tích mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến phát triển du lịch bền vững Bà Rịa – Vũng Tàu;
Năm là, Xây dựng được mô hình phát triển DLBV Bà Rịa – Vũng Tàu
Sáu là, đề xuất những định hướng và các giải pháp về phát triển du lịch bền vững Bà Rịa – Vũng Tàu
Ý nghĩa về khoa học:
Thứ nhất, trên cơ sở phân tích định tính và định lượng, kết hợp vận dụng các kiến thức cơ bản về kinh tế học, cùng với các thủ pháp đối chiếu, so sánh đã đề xuất bổ sung hoàn thiện khái niệm “phát triển du lịch bền vững” được đề cập trong luật du lịch Từ đó, đưa ra các đối tượng hoạt động phát triển du lịch bền vững
Thứ hai, xây dựng các tiêu chí đánh giá hoạt động phát triển du lịch bền vững để phân tích đánh giá thực trạng hoạt động phát triển du lịch bền vững Các hoạt động phát triển du lịch bền vững được đánh giá thông qua 7 chỉ tiêu cơ bản: (1)
Số lượng đơn vị tham gia hoạt động phát triển du lịch bền vững ; (2) Số lượng khách du lịch tham gia du lịch; (3)Chất lượng DVDL; (4) Đóng góp đối với cơ quan quản lý trong việc xây dựng và thực hiện cơ chế chính sách phát triển du lịch bền vững; (5) Đóng góp đối với phát triển kinh tế; (6) Đóng góp về mặt xã hội; (7) Đóng góp về môi trường
Thứ ba, thiết lập các nhân tố (12 nhân tố) ảnh hưởng đến hoạt động phát triển du lịch bền vững làm cơ sở phân tích, đánh giá về mặt định tính, định lượng Các
Trang 18nhân tố ảnh hưởng bao gồm: (1) Nhân tố thuộc hệ kinh tế; (2) Nhân tố thuộc hệ
xã hội; (3) Nhân tố thuộc hệ môi trường; (4) Nhân tố thuộc hệ tài nguyên tự nhiên; (5) Nhân tố thuộc hệ tài nguyên nhân văn (6) Nhân tố thuộc hệ sản phẩm dịch vụ; (7) Nhân tố liên quan đến nguồn nhân lực;(8) Nhân tố thuộc hệ chất lượng dịch vụ; (9) Nhân tố liên quan đến cơ sở hạ tầng; (10) Nhân tố liên quan đến cơ sở vật chất kỹ thuật; (11) Nhân tố liên quan đến quản lý nhà nước về du lịch; (12) Nhân tố thuộc hệ tiêu chí phát triển du lịch bền vững
Thứ tư, trên nền tảng kết quả định lượng hóa các nhân tố ảnh hưởng, sử dụng chương trình máy tính SPSS để phân tích các nhân tố khám phá, thiết lập phương trình hồi quy cho các nhân tố khám phá, tiến hành kiểm định để đánh giá mức độ phù hợp của phương trình hồi quy đã xác định được 4 nhân tố khám phá có ảnh hưởng chủ yếu đến phát triển du lịch bền vững là: (1) “Các yếu tố về môi trường”; (2)“ Các yếu tố về xã hội ”;(3) “ Các yếu tố về kinh tế ”; (4)“ Các yếu tố về sản phẩm du lịch”
Thứ năm, từ kết quả nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, phân tích thực trạng, phân tích nhân tố ảnh hưởng (định tính, định lượng), kết quả phân tích các nhân tố khám phá, xu thế và định hướng phát triển du lịch bền vững, nguyên tắc phát triển du lịch bền vững đã đề xuất những định hướng và các giải pháp để phát triển du lịch bền vững Bà Rịa – Vũng Tàu
Ý nghĩa về thực tiễn:
Một là, từ việc nghiên cứu kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững ở một số quốc gia trên thế giới đã ra được các bài học là: Các hoạt động phát triển du lịch bền vững là xu thế phát triển chung của các quốc gia trên thế giới nhằm phục vụ và nâng cao đời sống sinh hoạt phát triển của con người trong xã hội phát triển Hoạt động phát triển du lịch bền vững được thúc đẩy phát triển dựa trên cả về cơ chế, chính sách, các chương trình hỗ trợ của nhà nước Các hoạt động phát triển du lịch bền vững đa dạng phong phú, liên kết trong hệ thống mạng lưới của các địa phương trong và ngoài nước
Hai là, làm rõ bức tranh thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Bà Rịa – Vũng Tàu Các kết quả phân tích cho thấy: tại Bà Rịa – Vũng Tàu hình thức hoạt động phát triển du lịch bền vững từng bước xuất hiện khá đa dạng phong phú, đang tiếp cận dần với các mô hình phát triển bền vững của quốc tế Các hoạt động phát triển du lịch bền vững bước đầu có những đóng góp đáng khích lệ đối với
sự phát triển du lịch nói riêng cũng như kinh tế, xã hội nói chung Bên cạnh
Trang 19những đóng góp tích cực nêu trên, hoạt động phát triển du lịch ở Bà Rịa – Vũng Tàu hiện nay còn bộc lộ nhiều hạn chế cả về số lượng, hình thức và chất lượng hoạt động phát triển du lịch bền vững.
Về hình thức: còn nhiều hình thức phát triển manh múi, thiếu cơ bản và chuyên nghiệp,
Về số lượng: ngoại trừ các trung tâm du lịch, và tổ chức kinh doanh du lịch đã
cơ bản hình thành trong hệ thống các cơ quan quản lý và phát triển du lịch, các địa phương tại các huyện, thành phố trong tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Về chất lượng: chất lượng dịch vụ trong ngành du lịch còn nghèo nàn, quy mô cung cấp DV nhỏ bé, khả năng đáp ứng tức thời, tính dễ tiếp cận các DV thấp, năng lực tiếp thị, sự hiểu biết khách hàng và uy tín trong cung cấp DV chưa cao Kết quả định lượng thu được từ 12 nhân tố ảnh hưởng cho thấy, mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng này chưa đều, điều này phản ánh đúng thực trạng nguyên nhân làm hoạt động phát triển du lịch bền vững yếu kém trong giai đoạn hiện nay
Ba là, từ việc phân tích thực trạng, nhân tố ảnh hưởng, kinh nghiệm quốc
tế, luận án đã đưa 5 nhóm giải pháp nhằm phát triển du lịch bền vững Bà Rịa – Vũng Tàu cả số lượng, chất lượng, hình thức hoạt động, đó là: : (1) “Các yếu tố
về kinh tế”; (2)“ Các yếu tố về xã hội ”;(3) “ Các yếu tố về môi trường ”; (4)“ Các yếu tố về chất lượng sản phẩm du lịch” và (5) Nhóm giải pháp khác PTDLBV Bà Rịa – Vũng Tàu
Điểm mới của luận án:
Tư tưởng khoa học cốt lõi của luận án: để phát triển du lịch bền vững Bà Rịa –
Vũng Tàu, cần phải chú trọng phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường tài nguyên thiên nhiên nhằm bảo đảm lợi ích cho khách du lịch, cho doanh nghiệp du lịch, cho cộng đồng địa phương và cho du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu
Quá trình tập trung đi sâu phân tích hoạt động phát triển du lịch bền vững Bà Rịa – Vũng Tàu, luận án đã đạt được một số điểm mới sau:
Một là, tổng hợp các khái niệm phát triển du lịch bền vững được đề cập trong Luật
du lịch cho phù hợp với bản chất của thuật ngữ “ phát triển du lịch bền vững ” mở ra những hướng tiếp cận mới cho hoạt động phát triển du lịch bền vững Khái niệm phát triển du lịch bền vững được luận án đề xuất là: “ Phát triển du lịch bền vững là tập hợp
Trang 20kiếm cơ hội phát triển du lịch bền vững, bao gồm thể chế và hoạt động liên quan đến phát triển du lịch bền vững và một số hình thức hoạt động khác”.
Hai là, đánh giá thực trạng hoạt động phát triển du lịch bền vững trên cơ sở các dữ liệu thống kê của Bà Rịa – Vũng Tàu
Ba là, xác lập được 12 nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động phát triển du lịch bền vững Đây là cơ sở để phân tích, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch bền vững
Bốn là, vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm trong và ngoài nước, cũng như mô hình phát triển du lịch bền vững đã khảo sát nghiên cứu tại Bà Rịa – Vũng Tàu, để đưa
ra những định hướng và các giái pháp phát triển bền vững du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu
8 Kết cấu luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu thành 5 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững
Trên cơ sở dẫn dắt từ các khái niệm cơ bản liên quan như phát triển bền vững, phát triển du lịch bền vững, xác định rõ các nguyên tắc và chỉ tiêu quốc tế về phát triển du lịch bền vững và những kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững;
Chương 2: Phương pháp và mô hình nghiên cứu
Trình bày các nội dung về cách tiếp cận, khung phân tích, phương pháp nghiên
cứu, qui trình nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và cách đánh giá phát triển du lịch bền vững
Chương 3: Đánh giá thực trạng phát triển du lịch bền vững Bà Rịa - Vũng Tàu
Giới thiệu tổng quan về Bà Rịa – Vũng Tàu và đánh giá thực trạng phát triển du lịch bền vững trên cơ sở các dữ liệu thống kê du lịch của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
Chương 4: Phân tích các nhân tố tác động đến các hoạt động phát triển du lịch bền vững Bà Rịa - Vũng Tàu
Trên cơ sở các nhân tố ảnh hưởng ban đầu, xây dựng các nhân tố khám phá qua
mô hình toán hồi quy bội, cùng những kiểm định, để xác định nhân tố khám phá ảnh hưởng chủ yếu đến hoạt động phát triển DLBV làm cơ sở đề xuất những định hướng và các giải pháp phát triển du lịch bền vững Bà Rịa – Vũng Tàu
Chương 5: Những định hướng và giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Bà Rịa – Vũng Tàu.
Trang 21Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, những định hướng phát triển du lịch của Bà Rịa - Vũng Tàu, tác giả đã đề xuất các giải pháp cụ thể về các hoạt động phát triển du lịch bền vững Bà Rịa – Vũng Tàu.
Trang 22và du lịch bền vững, lý thuyết hệ thống du lịch, lý thuyết lãnh thổ du lịch, chất lượng dịch vụ và sự thoả mãn của khách du lịch; phần 2- trình bày các kinh nghiệm phát triển
du lịch bền vững có liên quan đến luận án
1.1 Tổng quát về phát triển bền vững
Phát triển bền vững là một sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa1 Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia
đó Hiện nay, vẫn còn nhiều tranh luận dưới những góc độ khác nhau về khái niệm
"Phát triển bền vững" Theo quan điểm của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế
(IUCN) đưa ra năm 1980 thì: "Phát triển bền vững phải cân nhắc đến hiện trạng khai thác các nguồn tài nguyên tái tạo và không tái tạo, đến các điều kiện thuận lợi cũng như khó khăn trong việc tổ chức các kế hoạch hành động ngắn hạn và dài hạn đan xen nhau" Định nghĩa này chú trọng đến việc sử dụng các nguồn tài nguyên chứ chưa đưa
ra một bức tranh toàn diện về phát triển bền vững Một định nghĩa khác được các nhà khoa học trên thế giới đề cập một cách tổng quát hơn, trong đó chú trọng đến trách nhiệm của mỗi một chúng ta: "Phát triển bền vững là các hoạt động phát triển của con người nhằm phát triển và duy trì trách nhiệm của cộng đồng đối với lịch sử hình thành
và hoàn thiện các sự sống trên Trái đất" Tuy nhiên, khái niệm do Uỷ ban Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển (UNCED) đưa ra năm 1987 được sử dụng rộng rãi hơn cả Theo UNCED, "Phát triển bền vững thoả mãn những nhu cầu của hiện tại nhưng không làm giảm khả năng thoả mãn nhu cầu của các thế hệ mai sau" Như vậy,
1 Theo [ 1 ]
Trang 23nếu một hoạt động cú tớnh bền vững, xột về mặt lý thuyết nú cú thể được thực hiện mói mói.
Tại Hội nghị về Mụi trường toàn cầu RIO 92 và RIO 92+5, quan niệm về phỏt triển bền vững được cỏc nhà khoa học bổ sung Theo đú, "Phỏt triển bền vững được hỡnh thành trong sự hoà nhập, đan xen và thoả hiệp của 3 hệ thống tương tỏc là hệ kinh
tế , hệ xó hội và hệ mụi trường"
- Sự bền vững về kinh tế: Tạo nờn sự thịnh vượng cho cộng đồng dõn cư và đạt
hiệu quả cho mọi hoạt động kinh tế Điều cốt lừi là sức sống và sự phỏt triển của doanh
Đánh giá tác động môi trường
Tiền lệ hoá hoạt động môi trường
Phát triển bền vững
Xã hội Kinh tế
Tăng trưởng hiệu quả
ổn định
Trang 24nghiệp và các hoạt động của doanh nghiệp phải được duy trì một cách lâu dài.
- Sự bền vững xã hội: Tôn trọng nhân quyền và sự bình đẳng cho tất cả mọi
người Đòi hỏi phân chia lợi ích công bằng, chú trọng công tác xoá đói giảm nghèo Thừa nhận và tôn trọng các nền văn hoá khác nhau, tránh mọi hình thức bóc lột
- Sự bền vững về môi trường: Bảo vệ, quản lý các nguồn tài nguyên; hạn chế
đến mức tối thiểu sự ô nhiễm môi trường, bảo tồn sự đa dạng sinh học và các tài sản thiên nhiên khác
1.2 Phát triển du lịch bền vững
1.2.1 Khái niệm
Phát triển du lịch bền vững và phát triển bền vững có mối quan hệ rất chặt chẽ Trên thực tế, phát triển bền vững và phát triển du lịch bền vững đều liên quan đến môi trường Trong du lịch, môi trường mang một hàm ý rất rộng Đó là môi trường tự nhiên, kinh tế, văn hoá, chính trị và xã hội; là yếu tố rất quan trọng để tạo nên các sản phẩm du lịch đa dạng, độc đáo Rõ ràng, nếu không có bảo vệ môi trường thì sự phát triển sẽ suy giảm; nhưng nếu không có phát triển thì việc bảo vệ môi trường sẽ thất bại Chính vì vậy, chúng ta cần phát triển du lịch nhưng không được làm tổn hại đến tài nguyên, không làm ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường Hay nói một cách khác, du lịch bền vững phải là xu thế phát triển của ngành du lịch
Ngoài sự phát triển thân thiện với môi trường, khái niệm bền vững còn bao hàm cách tiếp cận du lịch thừa nhận vai trò của cộng đồng địa phương, phương thức đối xử với lao động và mong muốn tối đa hóa lợi ích kinh tế của du lịch cho cộng đồng địa phương Nói cách khác, du lịch bền vững không chỉ có bảo vệ môi trường, mà còn quan tâm tới khả năng duy trì kinh tế dài hạn và công bằng xã hội Du lịch bền vững không thể tách rời phát triển bền vững
Hiện nay, trên thế giới vẫn chưa thống nhất về quan niệm phát triển du lịch bền vững Du lịch bền vững được định nghĩa theo một số cách Machado, 2003 [36] đã định nghĩa du lịch bền vững là: "Các hình thức du lịch đáp ứng nhu cầu hiện tại của khách du lịch, ngành du lịch, và cộng đồng địa phương nhưng không ảnh hưởng tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau Du lịch khả thi về kinh tế nhưng không phá huỷ tài nguyên mà tương lai của du lịch phụ thuộc vào đó, đặc biệt là môi trường
tự nhiên và kết cấu xã hội của cộng đồng địa phương" Định nghĩa này tập trung vào tính bền vững của các hình thức du lịch (sản phẩm du lịch) chứ chưa đề cập một cách tổng quát tính bền vững cho toàn ngành du lịch Theo Hội đồng Du lịch và Lữ hành
Trang 25Thế giới (WTTC), 1996 thì "Du lịch bền vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của
du khách và vùng du lịch mà vẫn bảo đảm những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch tương lai" Đây là một định nghĩa ngắn gọn dựa trên định nghĩa về phát triển bền vững của UNCED Tuy nhiên, định nghĩa này còn quá chung chung, chỉ đề cập đến sự đáp ứng nhu cầu của du khách hiện tại và tương lai chứ chưa nói đến nhu cầu của cộng đồng dân cư địa phương, đến môi trường sinh thái, đa dạng sinh học Còn theo Hens L.,1998 [34], thì "Du lịch bền vững đòi hỏi phải quản lý tất cả các dạng tài nguyên theo cách nào đó để chúng ta có thể đáp ứng các nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ trong khi vẫn duy trì được bản sắc văn hoá, các quá trình sinh thái cơ bản, đa dạng sinh học và các hệ đảm bảo sự sống" Định nghĩa này mới chỉ chú trọng đến công tác quản lý tài nguyên du lịch để cho du lịch được phát triển bền vững
Tại Hội nghị về môi trường và phát triển của Liên hợp quốc tại Rio de Janeiro năm 1992, Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đã đưa ra định nghĩa: "Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại của khách
du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai Du lịch bền vững nhằm thoả mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ của con người trong khi
đó vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hoá, đa dạng sinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống con người" [6] Định nghĩa này hơi dài nhưng hàm chứa đầy đủ các nội dung, các hoạt động, các yếu tố liên quan đến du lịch bền vững Định nghĩa này cũng đã chú trọng đến cộng đồng dân cư địa phương, bảo vệ môi trường sinh thái, gìn giữ bản sắc văn hoá Trong Luận án này, khái niệm phát triển
du lịch bền vững được hiểu theo nội hàm định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), năm 1992 Mục tiêu của Du lịch bền vững theo Inskeep, 1995 [35] là:
- Phát triển, gia tăng sự đóng góp của du lịch vào kinh tế và môi trường;
- Cải thiện tính công bằng xã hội trong phát triển;
- Cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng bản địa;
- Đáp ứng cao độ nhu cầu của du khách;
- Duy trì chất lượng môi trường
Như vậy, với những quan điểm trên đây thì có thể coi phát triển du lịch bền
vững là một nhánh của phát triển bền vững nói chung đã được Hội nghị của Ủy ban
Thế giới về Phát triển và Môi trường xác định năm 1987 Phát triển du lịch bền vững là hoạt động phát triển du lịch ở một khu vực cụ thể sao cho nội dung, hình thức và quy
Trang 26mô là thích hợp và bền vững theo thời gian, không làm suy thoái môi trường, không làm ảnh hưởng đến khả năng hỗ trợ các hoạt động phát triển khác Ngược lại tính bền vững của hoạt động phát triển du lịch được xây dựng trên nền tảng sự thành công trong phát triển của các ngành khác, sự phát triển bền vững chung của toàn xã hội
Trong giai đoạn hiện nay, phát triển du lịch bền vững đòi hỏi phải phát triển các
sản phẩm du lịch có chất lượng cao, có khả năng thu hút và đáp ứng các nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch, song không gây tổn hại đến môi trường tự nhiên và văn hóa bản địa, đồng thời phải có trách nhiệm bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên và môi trường Về vấn đề này, trong Chương trình Nghị sự 21 về công nghiệp du lịch và
lữ hành hướng tới sự phát triển môi trường bền vững của Tổ chức Du lịch Thế giới và
Hội đồng Thế giới đã xác định “Các sản phẩm du lịch bền vững là các sản phẩm được
xây dựng phù hợp với môi trường, cộng đồng và các nền văn hóa, nhờ đó sẽ mang lại lợi ích chắc chắn chứ không phải là hiểm họa cho phát triển du lịch” [6].
Một trong những trọng tâm quan trọng hàng đầu của phát triển du lịch bền vững hiện nay là hướng tới sự cân bằng giữa các mục tiêu về kinh tế - xã hội và mục tiêu bảo tồn tài nguyên, môi trường và văn hóa cộng đồng trong khi phải tăng cường sự thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của khách du lịch Sự cân bằng này có thể thay đổi theo thời gian khi có sự thay đổi về các quy tắc xã hội, các điều kiện đảm bảo môi trường sinh thái và sự phát triển của khoa học công nghệ Tuy nhiên phương pháp tiếp cận đảm bảo cho phát triển du lịch bền vững phải dựa vào sự cân bằng tài nguyên môi
trường với một quy hoạch thống nhất
Ở Việt Nam, khái niệm phát triển du lịch bền vững còn tương đối mới Nhưng thông qua các bài học kinh nghiệm và thực tiễn về phát triển du lịch bền vững ở các nước trên thế giới, thì phát triển du lịch ở nước ta đang hướng tới có trách nhiệm đối với tài nguyên và môi trường Vì thế đã xuất hiện nhiều loại hình du lịch mới ở Việt Nam: du lịch sinh thái, du lịch thiên nhiên, du lịch xanh…
Trong các loại hình du lịch mới được phát triển ở Việt Nam vừa kể trên, du lịch sinh thái được coi như một hướng tiếp cận quan trọng với phát triển du lịch bền vững
Do vậy, tháng 9/1999 Tổng cục Du lịch Việt Nam đã phối hợp với Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới và Ủy ban Kinh tế Xã hội Châu Á - Thái Bình Dương tổ chức
Hội thảo về Xây dựng chiến lược phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam Tại Hội thảo này, lần đầu tiên ở Việt Nam đã đưa ra định nghĩa về du lịch sinh thái Theo đó “Du
lịch sinh thái là loại hình du lịch được dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa gắn với
Trang 27việc giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với
sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương” [6] Kết quả này được coi là sự mở
đầu thuận lợi cho các bước tiếp theo trong quá trình thúc đẩy sự phát triển của du lịch sinh thái nói riêng và du lịch bền vững nói chung ở Việt Nam
Mặc dù, các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực du lịch và các lĩnh vực khác liên quan ở Việt Nam còn có những quan điểm chưa thật sự thống nhất về khái niệm phát triển du lịch bền vững, tuy nhiên cho đến nay đa số các ý kiến đều cho rằng:
“Phát triển du lịch bền vững là hoạt động khai thác có quản lý các giá trị tài nguyên tự
nhiên và nhân văn nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch; có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn và đảm bảo sự đóng góp cho công tác bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa, cho công tác bảo vệ môi trường để phát triển hoạt động du lịch trong tương lai, và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương” [6]
Trên quan điểm thống nhất với các diễn giải khái niệm “Phát triển du lịch bền vững” của Luật du lịch Việt Nam (2005) Đồng thời, với tư duy theo hướng tiếp cận theo mục tiêu của thuật ngữ “PTBV” khái niệm “ PTBVDL”, được tác giả đề xuất như
sau: “ Phát triển bền vững du lịch là phát triển những hoạt động du lịch với mục tiêu
mang lại lợi ích kinh tế, tạo công ăn việc làm cho xã hội và cộng đồng; thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của các thành phần tham gia du lịch trên cơ sở khai thác các nguồn tài nguyên; đồng thời có ý thức đến việc đầu tư tôn tạo, bảo tồn và duy trì tính nguyên vẹn của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo môi trường trong sạch; phải gắn trách nhiệm và quyền lợi của cộng đồng trong việc khai thác sử dụng và bảo vệ tài nguyên, môi trường.
Theo quan điểm phát triển bền vững thì các hoạt động du lịch được coi là có tính bền vững sẽ được phát triển sao cho các bản chất, quy mô, và phương thức phù hợp và bền vững theo thời gian; phù hợp với khả năng chịu tải của môi trường; có hỗ trợ cho công tác bảo tồn các giá trị tự nhiên và văn hóa, cho cuộc sống của cộng đồng Như vậy phát triển du lịch bền vững cần chú trọng giải quyết một số vấn đề sau:
Một Hiệu quả kinh tế: Đảm bảo tính hiệu quả kinh tế và tính cạnh tranh để các
doanh nghiệp và các điểm du lịch có khả năng tiếp tục phát triển phồn thịnh và đạt lợi nhuận lâu dài
Hai Sự phồn thịnh cho địa phương: Tăng tối đa đóng góp của du lịch đối với sự
phát triển thịnh vượng của nền kinh tế địa phương tại các điểm du lịch, khu du lịch;
Trang 28bao gồm phần tiêu dùng của khách du lịch được giữ lại tại địa phương.
Ba Chất lượng việc làm: Tăng cường số lượng và chất lượng việc làm tại địa
phương do ngành du lịch tạo ra và được ngành du lịch hỗ trợ, không có sự phân biệt đối xử về giới và các mặt khác
Bốn Công bằng xã hội: Cần có sự phân phối lại lợi ích kinh tế và xã hội thu
được từ hoạt động du lịch một cách công bằng và rộng rãi cho tất cả những người trong cộng đồng đáng được hưởng
Năm Sự thỏa mãn của khách du lịch: Cung cấp những dịch vụ an toàn, chất
lượng cao thỏa mãn đầy đủ yêu cầu của du khách, không phân biệt đối xử về giới, chủng tộc, thu nhập cũng như các mặt khác
Sáu Khả năng kiểm soát của địa phương: Thu hút và trao quyền cho cộng đồng
địa phương xây dựng kế hoạch và đề ra các quyết định về quản lý và phát triển du lịch,
có sự tham khảo tư vấn của các bên liên quan
Bảy An sinh cộng đồng: Duy trì và tăng cường chất lượng cuộc sống của người
dân địa phương, bao gồm cơ cấu tổ chức xã hội và cách tiếp cận các nguồn tài nguyên,
hệ thống hỗ trợ đời sống, tránh làm suy thoái và khai thác quá mức môi trường cũng như xã hội dưới mọi hình thức
Tám Đa dạng văn hoá: Tôn trọng và tăng cường giá trị các di sản lịch sử, bản
sắc văn hoá dân tộc, truyền thống và những bản sắc đặc biệt của cộng đồng dân cư địa phương tại các điểm du lịch
Chín Thống nhất về tự nhiên: Duy trì và nâng cao chất lượng của cảnh vật, kể
cả ở nông thôn cũng như thành thị, tránh để môi trường xuống cấp
Mười Đa dạng sinh học: Hỗ trợ cho việc bảo tồn khu vực tự nhiên, môi trường
sống, sinh vật hoang dã và giảm thiểu thiệt hại đối với các yếu tố này
Mười một Hiệu quả của các nguồn lực: Giảm thiểu mức sử dụng những nguồn
tài nguyên quý hiếm và không thể tái tạo được trong việc phát triển và triển khai các cơ
Trang 29xã hội nào, một nền kinh tế nào có thể đạt được sự bền vững tuyệt đối Mọi hoạt động, mọi biện pháp của con người chỉ nhằm mục đích đảm bảo khả năng khai thác lâu dài các nguồn tài nguyên tự nhiên.
1.2.2 Vai trò của phát triển du lịch bền vững
Du lịch của một nước phát triển làm tăng ngân sách nhà nước, giải quyết đời sống xã hội, thúc đẩy nhiều ngành kinh tế có liên quan phát triển theo Trên thế giới, nhiều nước do du lịch phát triển đã đem lại cho ngân sách nguồn thu ngoại tệ lớn Năm
1995 các nước thu nhập du lịch quốc tế cao: Mỹ 58 tỷ USD, Italia 27 tỷ USD Du lịch
là một trong những nguồn thu ngoại tệ hàng đầu ở nhiều nước như: Thailand, Philippin, Hongkong Việc phát triển du lịch còn là nhân tố thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển như : giao thông, xây dựng, bưu điện, hàng không, nông nghiệp, ngân hàng Vai trò của du lịch còn thể hiện ở chỗ, giúp cho du khách biết được tiềm năng kinh tế của các nước Từ đó xây dựng kế hoạch phát triển các quan hệ hợp tác kinh tế giữa các nước
Ngoài ý nghĩa về mặt kinh tế, thì phát triển du lịch bền vững còn góp phần giới thiệu truyền bá nét văn hoá dân tộc cho bạn bè trên thế giới Phát triển du lịch bền vững ngày càng trở nên quan trọng hơn trong xã hội hiện nay:
Du lịch phát triển bền vững sẽ mang tính chất giáo dục cao về ý thức bảo vệ môi trường và nguồn tài nguồn tự nhiên cho khách du lịch và cả cộng địa phương
Du lịch bền vững là phương tiện cải thiện và nâng cao sức khỏe, giáo dục, và phúc lợi cho xã hội Nếu không có phát triển bền vững thì tương lai của các nguồn tài nguyên sẽ bị cạn kiệt
Du lịch phát triển bền vững là giúp giảm thiểu đói nghèo và ngăn ngừa vấn đề suy thoái môi trường trong hiện tại và tương lai
Phát triển du lịch bền vững là biện pháp thiết thực nhất để cứu lấy môi trường thiên nhiên và là biện pháp gián tiếp cứu lấy con người
Phát triển du lịch bền vững là nhân tố quan trọng trong quan hệ hữu nghị giữa các nước trên thế giới và tạo điều kiện trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Có thể nói rằng, phát triển du lịch bền vững là việc cần làm và có vị trí quan trọng trong nền kinh tế góp phần quan trọng trong việc tăng tốc của nền kinh tế đất nước
1.2.3 Dấu hiệu nhận biết du lịch bền vững và du lịch không bền vững.
Có những loại hình du lịch được coi là bền vững hơn các loại hình khác Trong khi đó, du lịch tình dục hoặc du lịch 3-S (Sun, Sea and Sand: Nắng, Biển và Cát) ở hầu
Trang 30hết các nước cho thấy không bền vững Tuy nhiên, phần lớn các loại hình du lịch đều
có thể phát triển với quy mô rất lớn, do đó trở nên không bền vững (ví dụ, số lượng người đi du lịch săn bắn, câu cá quá đông ở một khu du lịch) Phần lớn, các mô hình du lịch có thể làm cho bền vững hơn thông qua những thay đổi định lượng hoặc định tính
Bảng 1.1: Phân loại theo khả năng tương thích với khái niệm du lịch bền vững
* Du lịch bờ biển có thị trường lớn * Du lịch sinh thái
* Kỳ nghỉ có tác động tiêu cực với môi
* Du lịch săn bắn và câu cá ở nơi quản lý yếu * Du lịch nông thôn quy mô nhỏ
* Du lịch ở những nơi có môi trường nhạy
cảm như rừng nhiệt đới, nam cực, bắc cực
* Kỳ nghỉ bảo tồn, trong đó du khách thực hiện công tác bảo tồn trong kỳ nghỉ của mìnhNguồn: A Machado, 20033
Để củng cố khái niệm Du lịch bền vững, nhiều nghiên cứu đã xem xét các tác động của du lịch và so sánh các yếu tố được coi là bền vững với các yếu tố được coi là không bền vững Các tác giả như Krippendorf, 1982; Lane 1990; Hunter và Green, 1994; Godfrey, 1996; Swarbrooke, 1999 sau khi nghiên cứu tác động của du lịch trên
cả ba lĩnh vực kinh tế, môi trường và xã hội đã đưa ra so sánh các yếu tố được coi là bền vững và các yếu tố được coi là không bền vững trong phát triển du lịch
Bảng 1.2: Du lịch bền vững và du lịch không bền vững
Phát triển không kiểm soát Phát triển có kiểm soát
Phương pháp tiếp cận theo số lượng Phương pháp tiếp cận theo chất lượng
Chiến lược phát triển:
Không lập kế hoạch, triển khai tùy tiện Quy hoạch trước, triển khai sau
Kế hoạch theo dự án Kế hoạch theo quan điểm
Phương pháp tiếp cận theo lĩnh vực Phương pháp tiếp cận chính luận
Tập trung vào các trọng điểm Quan tâm tới cả vùng
Áp lực và lới ích tập trung Phân tán áp lực và lợi ích
Thời vụ và mùa cao điểm Quanh năm và cần bằng
3 Theo [36]
Trang 31Các nhà thầu bên ngoài Các nhà thầu địa phương
Kiến trúc theo thị hiếu của khách du lịch Kiến trúc bản địa
Xúc tiến Marketing tràn lan Xúc tiến Marketing có tập trung theo đối
Không chú ý tới lãng phí sản xuất Giảm thiểu lãng phí
Thực phẩm nhập khẩu Thực phẩm sản xuất tại địa phương
Tiền bất hợp pháp, không khai báo rõ rang Tiền hợp pháp
Nguồn nhân lực chất lượng kém Nguồn nhân lực có chất lượng
Khách du lịch: Số lượng nhiều Số lượng ít
Không có nhận thức cụ thể Có thông tin cần thiết bất kỳ lúc nào
Không học tiếng địa phương Học tiếng địa phương
Bị động và bị thuyết phục, bảo thủ Chủ động và có nhu cầu
Không ý tứ và kỹ lưỡng Thông cảm và lịch thiệp
Tìm kiếm du lịch tình dục Không tham gia vào du lịch tình dục
Không trở lại tham quan Trở lại tham quan
Nguồn: A Machado, 20034
Trong hoạt động thực tiễn, cần xem xét các vấn đề làm giảm tính bền vững của phát triển du lịch, đồng thời so sánh các hoạt động bền vững với các hoạt động không bền vững Những yếu tố bền vững và không bền vững liệt kê ở trên không mang tính bắt buộc Chúng phụ thuộc nhiều vào liều lượng, vào khả năng quản lý và kiểm soát của Nhà nước, vào khả năng tự kiểm soát của ngành du lịch
1.2.4 Các lý thuyết liên quan tới phát triển du lịch bền vững
1.2.4.1 Lý thuyết hệ thống du lịch
Du lịch là một hệ thống khá phức tạp như các hệ thống thị trường điển hình trong nền kinh tế Hệ thống du lịch bao gồm một số yếu tố chủ yếu gồm khách du lịch, điểm đến du lịch, nhà kinh doanh và cung ứng dịch vụ du lịch, cộng đồng dân cư địa phương, các tổ chức truyền thông, chuyên gia và thành phần Nhà nước
* Khách du lịch: Hiện nay có nhiều khái niệm về khách du lịch Khái niệm thông dụng thường được dùng khách du lịch là người đi ra khỏi nơi cư trú (nơi ở, nơi làm việc, học tập) để nghỉ ngơi, giải trí, tìm hiểu, tham quan, thưởng ngoạn, nghỉ dưỡng chữa bệnh trong một thời gian nhất định, có thể một hoặc nhiều ngày có chi tiêu chứ không vì lý do nghề nghiệp và kiếm sống ở nơi đến
Trang 32* Điểm hấp dẫn: Điểm hấp dẫn là đặc điểm vật thể hoặc văn hoá (phi vật thể) của một nơi mà khách du lịch cảm thấy đáp ứng một khía cạnh nhu cầu tò mò, thưởng ngoạn, hiểu biết, trải nghiệm hoặc giải trí của mình Điểm hấp dẫn là động lực chủ yếu (nhưng không phải là duy nhất) thu hút khách du lịch Trong hệ thống du lịch "Tài nguyên tự nhiên và văn hoá" là tiểu hệ thống của điểm đến du lịch Một khu vực phải
có một hoặc nhiều điểm hấp dẫn là điểm đến du lịch Nếu không có điểm hấp dẫn sẽ không có nhu cầu về các dịch vụ du lịch khác
* Nhà kinh doanh và cung ứng dịch vụ du lịch: Nằm trong khái niệm này, trước hết là các doanh nghiệp và thương nhân hoạt động kinh doanh trực tiếp từ khách du lịch
- Doanh nghiệp lữ hành (bao gồm chủ yếu các doanh nghiệp lữ hành quốc tế, lữ hành nội địa, kể cả các doanh nghiệp lữ hành bán lẻ)
- Doanh nghiệp vận tải (các đơn vị kinh doanh vận tải hàng không, đường sắt, đường bộ, đường thuỷ )
- Doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh dịch vụ khác (các bảo tàng, các cơ sở cho thuê
xe, khu vui chơi, nhà hàng, khu giải trí )
Những chủ thể gián tiếp tham gia vào du lịch có thể ở vị trí rất xa nơi các hoạt động du lịch diễn ra nhưng có ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ hệ thống như các doanh nghiệp xây dựng khách sạn, nhà hàng, khu vui chơi giải trí Các cơ sở phục vụ khách
du lịch này thường được xây dựng xong, bán và sau đó được quản lý bởi các doanh nghiệp du lịch Mức độ phụ thuộc kinh tế vào du lịch của một ngành dịch vụ nào đó có thể rất khác nhau Trong nhiều trường hợp, khách du lịch không phải là khách hàng chính, mà chính là người dân địa phương và các doanh nghiệp Chính vì vậy, có nhiều khu giải trí, nhà hàng trong chiến lược kinh doanh của mình không coi họ thuộc ngành
du lịch (bởi vì khách hàng của họ chủ yếu là người dân địa phương)
* Cộng đồng địa phương: cộng đồng địa phương tham gia vào hệ thống du lịch dưới nhiều hình thức: cung cấp nhân lực hoặc vốn, hỗ trợ hoặc trực tiếp tham gia vào các họat động du lịch và bản thân họ có thể là điểm hấp dẫn du lịch Cộng đồng địa phương là những người trực tiếp tiếp nhận những tác động kinh tế-xã hội-môi trường
cả tiêu cực và tích cực Sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương trong quy hoạch
và quản lý du lịch nói chung là thấp hoặc chỉ trong phạm vi nhỏ do trình độ nhận thức
và hiểu biết chưa thật cao Tuy nhiên, mục tiêu tăng cường sự tham gia của cộng đồng địa phương trong quá trình ra chính sách phát triển du lịch bền vững được thừa nhận
Trang 33rộng rãi và có ý nghĩa quan trọng.
* Tổ chức truyền thông: các tổ chức truyền thông đóng vai trò quan trọng trong tác động tới hành vi tiêu dùng và là cấu thành thiết yếu trong tính năng động của hệ thống du lịch Không chỉ quá trình tiếp thị du lịch phụ thuộc nhiều vào truyền thông,
mà cả chiến lược cạnh tranh, chương trình giáo dục và thậm chí quyết định các chính sách phát triển du lịch cũng bị ảnh hưởng bởi truyền thông Dù tốt hay xấu, truyền thông được biết đến là phương tiện có thể tác động làm thay đổi quy luật cung cầu của thị trường tự do
* Chuyên gia: các nhà tư vấn, các cộng tác viên, giới học thuật và các chuyên gia khác là những yếu tố thường xuyên hoặc không thường xuyên có ảnh hưởng định tính đến hệ thống du lịch Hiện nay, hầu hết chuyên gia tư vấn đều đến từ các nước phát triển, mặc dù phần nhiều công việc của họ thực hiện ở các nước đang phát triển Người dân địa phương có thể cho rằng tư vấn nước ngoài quan tâm đến du lịch các nước đang phát triển chỉ nhằm nâng cao chất lượng trải nghiệm ngày nghỉ cho khách du lịch của các nước phát triển Có những trường hợp cách tiếp cận hoài nghi này là đúng Tuy nhiên, hỗ trợ quốc tế đang ngày càng gia tăng trong hợp tác quốc tế bình đẳng về du lịch Tư vấn nước ngoài (thông thường là từ các nước phát triển) thường hữu ích trong nhận thức vấn đề, định hướng phát triển, nhưng giải pháp thường phải do các chuyên gia trong nước đưa ra mới có tính khả thi cao
* Nguồn nhân lực du lịch: có vai trò quyết định đến chất lượng phục vụ du lịch; bao gồm đội ngũ lao động trực tiếp trong ngành du lịch và cả những lao động gián tiếp cung cấp dịch vụ liên quan đến du lịch
* Thành phần nhà nước: thành phần nhà nước có vai trò quy hoạch, quản lý và xúc tiến du lịch Vai trò này có thay đổi rất lớn trong cách tiếp cận và kết quả ở các nước phát triển, các cơ quan nhà nước không sở hữu hoặc kiểm soát nhiều quan hệ trọng yếu trong hệ thống du lịch Những tập đoàn xuyên quốc gia có sức mạnh ngày càng lớn và có phạm vi ảnh hưởng mở rộng vượt ra ngoài biên giới địa lý của các nước Tốc độ hành động và phản ứng của thành phần nhà nước và tốc độ phát triển du lịch hiếm khi gặp nhau dẫn đến những hoạt động bất thường Chính vì vậy, cách tiếp cận đối tác (nhà nước - tư nhân) ngày càng trở nên phổ biến trong những năm gần đây.Các bộ phận trong hệ thống du lịch đều có những lợi ích cục bộ khác nhau Mỗi
bộ phận đều cố gắng đạt được lợi ích riêng của mình trong đấu tranh quyền lực Do vậy, hệ thống du lịch được tổ chức với những chủ thể có vai trò chính so với các chủ
Trang 34thể khác Tuy nhiên, ít người, ít doanh nghiệp có thể bao quát hết tất cả các nhân tố và không có ai là "trọng tài" toàn cầu hoặc "hoàng đế" để có thể chi phối toàn bộ hệ thống Cần phải nhận thấy rằng, ngành du lịch tồn tại dựa trên những tiểu hệ thống (cung và cầu) và trong nhiều trường hợp có sự liên kết mạnh mẽ giữa các thành phần kinh tế trong nước với nhau và giữa các doanh nghiệp trong nước và ngoài nước Chính vì vậy,
xu hướng trong lợi ích kinh tế là tập trung quyền lực và nhìn chung, thành phần nhà nước chỉ còn là những người chơi thứ yếu giữ quyền kiểm soát thực sự ít ỏi đối với phần lớn sản phẩm du lịch Những trường hợp ngoại lệ, thường là du lịch có quy mô nhỏ hoặc khi đang ở trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển, các hoạt động du lịch được Nhà nước tiến hành triển khai (thông qua các doanh nghiệp, tổ chức của Nhà nước) với sự hỗ trợ tích cực về mặt tài chính và cam kết chính trị mạnh mẽ
1.2.4.2 Lý thuyết tổ chức lãnh thổ du lịch
1.2.4.2.1 Quan niệm về tổ chức lãnh thổ du lịch: tổ chức lãnh thổ du lịch là sự phân bố
về mặt không gian của hoạt động du lịch căn cứ trên sự phân bố của các nguồn tài nguyên du lịch (kể cả tài nguyên đang khai thác và tài nguyên tiềm năng), của các điều kiện về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch cùng các mối liên hệ với điều kiện phát sinh của ngành du lịch với các ngành khác, với các địa phương trong khu vực Tổ chức lãnh thổ du lịch phải được dựa trên sự phân bố không gian kinh tế -
xã hội của lãnh thổ nghiên cứu và mối quan hệ về du lịch với các lãnh thổ lân cận để
có các kế hoạch phát triển du lịch phù hợp
Tổ chức lãnh thổ du lịch là một bộ phận không thể tách rời các định hướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội quốc gia và các địa phương trên lãnh thổ, với các định hướng khoa học công nghệ và các yêu cầu của an ninh quốc phòng
1.2.4.2.2 Các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch: có nhiều hình thức tổ chức lãnh thổ
du lịch như: thể tổng hợp lãnh thổ du lịch, hệ thống lãnh thổ du lịch, vùng du lịch…
Thể tổng hợp lãnh thổ du lịch, theo tác giả E.A.Kotliarov - 1978 là sự kết hợp giữa các cơ sở du lịch với các cơ sở hạ tầng kỹ thuật được liên kết với nhau thông qua các mối liên hệ kinh tế, sản xuất, phân phối… và cùng sử dụng chung các nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như kinh tế - xã hội của lãnh thổ [22]
Hệ thống lãnh thổ du lịch là hệ thống xã hội được tạo thành bởi các yếu tố có quan hệ đa chiều và mật thiết với nhau như nhóm khách du lịch; nhóm các nguồn lực
du lịch (các tổng thể tự nhiên, văn hóa - lịch sử, cơ sở hạ tầng kỹ thuật…); nhóm quản
Trang 35lý, điều hành và phục vụ du lịch (đội ngũ cán bộ nhân viên phục vụ, cán bộ điều hành các hoạt động kinh doanh du lịch, cán bộ quản lý nhà nước…).
Vùng du lịch, theo tác giả E.A.Kotliarov - 1978 được hiểu là một lãnh thổ hoàn chỉnh với sự kết hợp các điều kiện, đối tượng và chuyên môn hóa du lịch; đó không chỉ
là lãnh thổ để chữa bệnh, nghỉ ngơi, du lịch mà còn là một bộ máy về kinh tế hành chính phức tạp; vùng du lịch còn bao gồm các xí nghiệp nông nghiệp, công nghiệp, vận tải, các cơ sở văn hóa; vùng du lịch được hình thành do phân công lao động theo lãnh thổ trong lĩnh vực dịch vụ [22] Theo I.I.Pirochnik - 1985 thì vùng du lịch là một hệ thống lãnh thổ kinh tế - xã hội, một tập hợp các hệ thống lãnh thổ du lịch thuộc mọi cấp có liên quan với nhau và các xí nghiệp thuộc cơ sở hạ tầng xã hội nhằm đảm bảo cho hoạt động của hệ thống lãnh thổ du lịch với việc có chung chuyên môn hóa và các điều kiện kinh tế - xã hội để phát triển du lịch [48]
1.2.4.2.3 Hệ thống phân vị trong tổ chức lãnh thổ du lịch: hệ thống phân vị trong tổ
chức lãnh thổ du lịch được sử dụng rất khác nhau giữa các nước Đối với nước ta, Viện nghiên cứu phát triển du lịch đã nghiên cứu và đưa ra một hệ thống phân vị (đối với lãnh thổ quốc gia) gồm 5 cấp là: vùng du lịch, á vùng du lịch, tiểu vùng du lịch, trung tâm du lịch và điểm du lịch [23]
- Điểm du lịch: điểm du lịch là cấp thấp nhất trong hệ thống phân vị và có quy
mô nhỏ về mặt lãnh thổ Tuy nhiên sự chênh lệch về quy mô diện tích giữa các điểm du lịch có thể là tương đối lớn (ví dụ: điểm du lịch Ao Vua, điểm du lịch hồ Ba Bể, Việt Nam có thể được coi là một điểm du lịch của thế giới ) Điểm du lịch là nơi tập trung một loại tài nguyên du lịch (tự nhiên, nhân văn) hay một loại công trình riêng biệt phục
vụ du lịch hoặc kết hợp cả hai ở quy mô nhỏ Vì vậy điểm du lịch có thể được phân thành điểm tài nguyên hoặc điểm chức năng
Theo điểm 8, điều 4 Luật Du lịch thì “Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch
hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch”.
- Trung tâm du lịch: trung tâm du lịch là một cấp rất quan trọng trong hệ thống phân vị, là sự kết hợp của các điểm du lịch Trung tâm du lịch thường tập trung nhiều điểm du lịch, gồm các điểm chức năng được đặc trưng bởi sự gắn kết lãnh thổ về mặt kinh tế - kỹ thuật và tổ chức, có khả năng thu hút khách du lịch Trung tâm du lịch thường có nguồn tài nguyên tương đối phong phú, có cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch tương đối tốt để phục vụ khách Trung tâm du lịch có khả năng tạo vùng rất cao, về cơ bản nó là một hệ thống lãnh thổ du lịch đặc biệt, đây là các cực để thu
Trang 36hút các lãnh thổ lân cận vào phạm vi tác động của nó Trung tâm du lịch có quy mô nhất định về diện tích, bao gồm các điểm du lịch kết hợp với các điểm dân cư và môi trường xung quanh Như vậy, trung tâm du lịch là một lãnh thổ có tài nguyên du lịch phong phú, có hệ thống cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch tương đối tốt,
có khả năng tạo vùng và khả năng thu hút khách cao [23]
- Tiểu vùng du lịch: tiểu vùng du lịch là một tập hợp bao gồm các điểm du lịch
và trung tâm du lịch (nếu có) Về quy mô, tiểu vùng du lịch có thể bao gồm lãnh thổ của một vài tỉnh Tiểu vùng du lịch có nguồn tài nguyên đa dạng và phong phú Trên thực tế có thể phân biệt hai loại tiểu vùng du lịch: Tiểu vùng du lịch thực tế (đang hoạt động) và tiểu vùng du lịch tiềm năng (đang hình thành)
- Á vùng du lịch: á vùng du lịch là tập hợp các tiểu vùng du lịch, các trung tâm
du lịch và các điểm du lịch thành một thể thống nhất với mức độ tổng hợp cao hơn Vai trò của cơ sở hạ tầng tăng lên, các thông số hoạt động và lãnh thổ du lịch lớn hơn Xét
về các mối quan hệ dân cư và việc cung cấp những nhu cầu vật chất cho khách du lịch thì á vùng du lịch bao gồm cả những địa phương không có các điểm tài nguyên du lịch Các mối quan hệ bên trong lãnh thổ đa dạng hơn Á vùng du lịch có nhiều loại tài nguyên du lịch Quá trình chuyên môn hóa các hoạt động du lịch trên phạm vi lãnh thổ
đã bắt đầu
Á vùng du lịch được coi như một cấp trung gian giữa vùng du lịch và tiểu vùng
du lịch Sự hình thành và phát triển của á vùng du lịch phụ thuộc vào nhiều yếu tố Có thể trong một số vùng du lịch sự phân hóa lãnh thổ chưa dẫn đến hình thành các á vùng; ngược lại khi hội tụ đủ các yếu tố (có trung tâm tạo vùng đủ mạnh để thu hút khách từ các lãnh thổ khác) thì á vùng du lịch sẽ trở thành vùng du lịch Trong trường hợp ấy hệ thống phân vị chỉ còn 4 cấp là điểm du lịch, trung tâm du lịch, tiểu vùng du lịch và vùng du lịch
- Vùng du lịch: vùng du lịch là cấp cao nhất trong hệ thống phân vị Đó là một kết hợp lãnh thổ của các á vùng, tiểu vùng, trung tâm và điểm du lịch có những đặc trưng riêng về số lượng và chất lượng Nói cách khác vùng du lịch như một thể thống nhất của các đối tượng và hiện tượng tự nhiên, nhân văn, xã hội bao gồm hệ thống lãnh thổ du lịch và môi trường KT - XH xung quanh với chuyên môn hóa nhất định trong lĩnh vực du lịch Nói đến vùng du lịch phải nói đến chuyên môn hóa các hoạt động du lịch Đó chính là bản sắc của vùng du lịch, làm cho vùng này khác hẳn với vùng kia
Trang 37Các mối liên hệ nội, ngoại vùng rất đa dạng dựa trên nguồn tài nguyên, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật sẵn có của vùng Về mặt lãnh thổ, vùng du lịch có diện tích lớn bao gồm nhiều tỉnh, thành phố Ngoài ra với hoạt động du lịch mạnh mẽ nó còn bao chiếm cả các khu vực không có tài nguyên du lịch.
Ngoài 5 cấp của hệ thống phân vị trong tổ chức lãnh thổ du lịch cấp quốc gia như trên, trong thực tế ở quy mô nhỏ hơn như cấp tỉnh (thành phố), một số khái niệm khác thường được sử dụng bao gồm: cụm du lịch, khu du lịch, tuyến du lịch…
- Cụm du lịch: cụm du lịch thường được sử dụng khi nói đến nơi tập trung nhiều
loại tài nguyên với một tập hợp các điểm du lịch trên một lãnh thổ (thường là cấp tỉnh, thành phố), trong đó hạt nhân là một hoặc vài điểm du lịch có giá trị thu hút khách cao (dưới dạng đang khai thác hoặc dưới dạng tiềm năng)
- Khu du lịch: “khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu về tài
nguyên du lịch tự nhiên, được quy hoạch đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế, xã hội và môi trường” (điểm 7,
điều 4 Luật Du lịch, 2005)
- Tuyến du lịch: các điểm du lịch, các khu du lịch được nối với nhau tạo thành
tuyến du lịch Trong từng trường hợp cụ thể, các tuyến du lịch có thể là tuyến nội tỉnh (trong lãnh thổ của một tỉnh, thành phố); tuyến nội vùng (trong phạm vi lãnh thổ của một vùng du lịch); tuyến liên vùng (giữa các vùng du lịch); hoặc tuyến quốc tế (giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ) Phụ thuộc vào phương tiện vận chuyển, tuyến du lịch
có thể là tuyến du lịch đường bộ, đường không, đường sắt, đường thủy
Theo điểm 9, điều 4 Luật Du lịch (2005) thì “Tuyến du lịch là lộ trình liên kết
các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch, gắn với các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không”.
Trang 38khai thác sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên là nguyên tắc quan trọng hàng đầu mặc dù phần lớn các tài nguyên du lịch được xem là tài nguyên có khả năng tái tạo hoặc ít biến đổi Nếu các tài nguyên du lịch được khai thác một cách hợp lý, bảo tồn và sử dụng bền vững đảm bảo quá trình tự duy trì hoặc tự bổ sung được diễn ra theo những quy luật
tự nhiên hoặc thuận lợi hơn do có sự tác động của con người thông qua việc đầu tư, tôn tạo thì sự tôn tạo đó sẽ đáp ứng lâu dài nhu cầu phát triển của du lịch qua nhiều thế hệ Việc sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên cần dựa trên cơ sở nghiên cứu kiểm kê, đánh giá, quy hoạch sử dụng cho mục tiêu tiêu phát triển cụ thể Sự phát triển bền vững nói chung và phát triển du lịch bền vững nói riêng cần đảm bảo việc lưu lại cho thế hệ tương lai nguồn tài nguyên không kém hơn so với những gì mà các thế hệ trước được hưởng Điều này có nghĩa là trong qua trình khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên cần phải tính đến giải pháp nhằm ngăn chặn sự mất đi của các loài sinh vật, sự suy giảm những chức năng thiết yếu của các hệ sinh thái có giá trị du lịch như các khu rừng nguyên sinh, các vùng đất ngập nước,…và khả năng bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống dân tộc Điều này có nghĩa là tài nguyên và môi trường du lịch cần được hiểu đó không phải là “hàng hoá cho không” mà phải được tính vào chi phí đầu vào của sản phẩm du lịch để có nguồn đầu tư cần thiết cho việc bảo tồn và tái tạo tài nguyên, kiểm soát và ngăn chặn sự xuống cấp của môi trường
1.3.2 Hạn chế việc sử dụng quá mức tài nguyên và giảm thiểu chất thải ra môi trường
Việc khai thác sử dụng quá mức tài nguyên và không kiểm soát được lượng chất thải từ hoạt động du lịch sẽ góp phần dẫn đến sự suy thoái môi trường mà hậu quả của nó là sự phát triển không bền vững của du lịch nói riêng và kinh tế- xã hội nói chung Đối với một số loại tài nguyên như nước, rừng…hoạt động du lịch yêu cầu sử dụng cao hơn Ví dụ nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt cho một người dân trung bình 50 lít/ngày, song nhu cầu này đối với khách du lịch trung bình gấp 4 lần, thậm chí là 10 lần Mỗi sân golf trung bình tiêu thụ 1 lượng nước ngầm để tưới cỏ là 3.000m3 /ngày Chính
vì vậy ở nhiều khu du lịch ở Gam bia, Thái Lan…tình trạng thiếu nước sinh hoạt rất nghiêm trọng, trong khi nguồn nước thải từ các khu du lịch đó lại rất lớn, gây ô nhiễm đất và nguồn nước
1.3.3 Phát triển phải gắn liền với nỗ lực bảo tồn tính đa dạng
Tính đa dạng về thiên nhiên, về văn hoá và xã hội là nhân tố đặc biệt quan trọng tạo nên sự hấp dẫn của du lịch, làm thoả mãn nhu cầu đa dạng cao về tự nhiên, văn hoá
Trang 39và xã hội, nơi đó sẽ có khả năng cạnh tranh du lịch cao và có sức hấp dẫn du lịch lớn, đảm bảo cho sự phát triển Chính vì vậy việc duy trì và tăng cường tính đa dạng thiên nhiên, văn hoá, xã hội là hết sức quan trọng cho sự phát triển bền vững của du lịch và cũng là chỗ dựa sinh tồn của ngành du lịch Trong thực tế, nếu phát triển du lịch đúng nguyên tắc, sẽ đảm bảo cho hoạt động du lịch trở thành một động lực góp phần tích cực duy trì sự đa dạng của thiên nhiên Ví dụ điển hình là hoạt động du lịch sinh thái ở các vườn quốc gia, các khu bảo tồn tự nhiên ở nhiều nơi trên thế giới đều nhận được sự hỗ trợ
to lớn từ du lịch thông qua đóng góp cụ thể về tài chính, tạo ra cơ hội tăng thu nhập cho cộng đồng và qua đó đóng góp cho bảo tồn đa dạng sinh học Du lịch cũng góp phần bảo tồn các giá trị văn hoá bằng việc khích lệ các hoạt động văn hoá dân gian, thúc đẩy việc sản xuất các hàng truyền thống, chia sẻ lợi ích từ nguồn thu cho việc tôn tạo, bảo
vệ các di tích lịch sử văn hoá… Du lịch còn tạo công ăn việc làm, góp phần làm đa dạng hoá xã hội
1.3.4 Phát triển du lịch phải phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội
Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp có tính liên ngành, liên vùng Vì vậy mọi phương án khai thác tài nguyên để phát triển phải phù hợp với các quy hoạch chuyên ngành nói riêng và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội nói chung ở phạm vi quốc gia, ở mỗi vùng và từng địa phương Ngoài ra, đối với mỗi phương án phát triển cần tiến hành đánh giá tác động môi trường nhằm hạn chế các tác động tiêu cực đến tài nguyên và môi trường Điều này sẽ góp phần đảm bảo cho sự phát triển bền vững của du lịch trong mối quan hệ với các ngành kinh tế khác cũng như việc sử dụng có hiệu quả tài nguyên, đảm bảo môi trường Thực tế cho thấy ở những nơi có vị trí của du lịch chưa được xác định đúng mức trong một chiến lược phát triển tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, nơi phát triển du lịch không được xem xét và cân đối với các ngành khác trong khuôn khổ một quy hoạch tổng thể, thì sự phát triển quá mức của các ngành khác sẽ làm tổn hại tới tài nguyên và làm suy thoái môi trường, ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển bền vững của du lịch Có thể coi sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng Hạ Long
là ví dụ điển hình về vấn đề này Song ngược lại tình trạng trên cũng sẽ là nguyên nhân của việc “bung ra” một cách nhanh chóng không thể kiểm soát của hoạt động du lịch Điều nầy cũng sẽ gây những tác động tiêu cực đến tài nguyên và môi trường Sự suy thoái của tài nguyên rừng, cảnh quan sinh thái và môi trường ở một số điểm du lịch như Cát Bà, Sầm Sơn… do thiếu quy hoạch, có thể coi là những ví dụ cụ thể minh chứng cho
Trang 40tình trạng trên Trong quy hoạch phát triển du lịch cần đánh giá được các lợi ích cũng như
sự bất lợi về kinh tế trong mối quan hệ với tài nguyên và môi trường Bên cạnh đó, các đánh giá tác động còn tính tới những mâu thuẫn quyền lợi có thể xảy ra giữa các thành phần kinh tế khác nhau: các cộng đồng địa phương, du khách, chính quyền Trung ương và địa phương, các doanh nghiệp… Điều này là rất cần thiết làm căn cứ cho việc điều hoà quyền lợi, tránh những xung đột tiêu cực, đảm bảo cho sự phát triển lâu dài bền vững của mọi ngành kinh tế, trong đó có du lịch
1.3.5 Đảm bảo việc chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương trong quá trình phát triển du lịch
Thực tế cho thấy trên một địa bàn lãnh thổ nếu mỗi ngành chỉ biết đến lợi ích của mình, không có sự hỗ trợ đối với sự phát triển kinh tế và chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương thì sẽ làm cho kinh tế và cuộc sống người dân địa phương gặp nhiều khó khăn, kém phát triển Điều này buộc cộng đồng địa phương phải khai thác tối đa các tiềm năng tài nguyên của mình làm đẩy nhanh quá trình cạn kiệt tài nguyên và tổn hại đến môi trường sinh thái Kết quả các quá trình đó sẽ gây những tác động tiêu cực đến phát triển bền vững của ngành du lịch nói riêng, và kinh tế- xã hội nói chung Chính vì vậy việc chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương là một nguyên tắc quan trọng trong phát triển bền vững
1.3.6 Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương trong quá trình phát triển du lịch
Việc tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch không chỉ giúp họ tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống mà còn làm cho họ có trách nhiệm hơn với tài nguyên, môi trường du lịch và cùng ngành du lịch chăm lo đến việc nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch Điều này rất có ý nghĩa, góp phần quan trọng đối với sự phát triển bền vững của du lịch Kinh nghiệm thực tế về phát triển du lịch ở nhiều nước cho thấy sự tham gia của địa phương là cần thiết bởi bản thân người dân địa phương, nền văn hoá, môi trường, lối sống và truyền thống của họ là những nhân tố quan trọng thu hút khách
du lịch Bên cạnh đó, có thể thấy việc phát triển du lịch đã mang lại lợi ích kinh tế, môi trường và văn hóa cho cộng đồng, song ngược lại sự tham gia thực sự của cộng đồng sẽ làm phong phú thêm tài nguyên và sản phẩm du lịch, sẽ tạo ra được những điều kiện đặc biệt thuận lợi cho du lịch bởi cộng đồng là chủ nhân của tài nguyên và môi trường khu vực Điều này sẽ tạo ra khả năng phát triển lâu dài của du lịch cùng với sự tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch như chuyên chở, cho thuê nhà, phòng