1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách phát triển du lịch bền vững khu du lịch cát bà, thành phố hải phòng

122 75 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 444,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bà đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050 được cũng thông qua vào năm 2014.Đây là một cú hích cho du lịch Cát Bà phát triển với mục tiêu đưa Cát Bà trở thànhđiểm du lịch xanh đẳng cấp quố

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LÊ THỊ THU TRANG

CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG KHU DU LỊCH CÁT BÀ, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

Trang 2

HÀ NỘI, NĂM 2017

2

Trang 3

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

……… /………

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LÊ THỊ THU TRANG

CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG KHU DU LỊCH CÁT BÀ, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

Mã số: 60 34 04 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS ĐẶNG THÀNH LÊ

Trang 4

HÀ NỘI, NĂM 2017

4

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Ngoài sự hướng dẫn, giúp đỡ của TS.Đặng Thành Lê, luận văn này là sảnphẩm của quá trình tìm tòi, nghiên cứu và trình bày của tác giả Mọi số liệu,quan điểm, quan niệm, kết luận của các tài liệu và các nhà nghiên cứu khác đượctrích dẫn theo đúng quy định Vì vậy, tác giả luận văn xin cam đoan đây là côngtrình nghiên cứu của riêng mình

Hà Nội, ngày 22 tháng 6 năm 2017

Tác giả

Lê Thị Thu Trang

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn khoahọc TS Đặng Thành Lê đã tận tâm giúp đỡ, chỉ bảo trong suốt quá trình nghiêncứu và hoàn thiện luận văn thạc sỹ chuyên ngành chính sách công công

Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, Khoa Sau đại học, các khoa, ban

và các thầy cô Học viện Hành chính Quốc gia đã tạo điều kiện thuận lợi cho emhoàn thành đề tài luận văn cao học này

Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến Sở Du lịch, Sở Nội vụ thành phố HảiPhòng, Ủy ban nhân dân huyện Cát Hải đã giúp đỡ em trong việc chuẩn bị, thuthập tài liệu

Cảm ơn gia đình, bạn bè đồng nghiệp, những người đã hết lòng động viên,khích lệ em trong quá trình thực hiện luận văn

Hà Nội, ngày 22 tháng 6 năm 2017

Tác giả

Lê Thị Thu Trang

6

Trang 7

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

7 Kết cấu của luận văn

Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách phát triển du lịch bền vững

1.1 KHÁI NIỆM CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG

1.1.1 Một số khái niệm liên quan1.1.2 Chính sách phát triển du lịch bền vững1.2 VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN

VỮNG ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ- XÃ HỘI

1.3 NỘI DUNG CỦA CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG

1.4 CÁC YÊU CẦU ĐỐI VỚI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH

Tiểu kết chương 1

Trang 8

Chương 2: Thực trạng chính sách phát triển du lịch bền vững tại

Khu du lịch Cát Bà, thành phố Hải Phòng

2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KHU DU LỊCH CÁT BÀ, THÀNH PHỐ

HẢI PHÒNG

2.1.1 Vị trí địa lý, địa hình, khí hậu

2.1.2 Tài nguyên thiên thiên

2.2 KHÁI QUÁT VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN

VỮNG TẠI KHU DU LỊCH CÁT BÀ, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

2.2.1 Cơ sở pháp lý xây dựng chính sách phát triển du lịch bền

vững tại khu du lịch Cát Bà, thành phố Hải Phòng

2.2.2 Nội dung chính sách phát triển du lịch bền vững Khu du lịch

Cát Bà, thành phố Hải Phòng

2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH

BỀN VỮNG TẠI KHU DU LỊCH CÁT BÀ, THÀNH PHỐ HẢI

PHÒNG THÔNG QUA PHÂN TÍCH SWOT

Chương 3: Một số định hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách phát

triển du lịch bền vững tại Khu du lịch Cát Bà, thành phố Hải Phòng

3.1 QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG KHU DU LỊCH CÁT BÀ

3.2 MỤC TIÊU, ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG

TẠI KHU DU LỊCH CÁT BÀ, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TRONG

THỜI GIAN TỚI

3.3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC

HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỨNG KHU DU

LỊCH CÁT BÀ

3.3.1 Xây dựng chính sách phát triển du lịch bền vững Khu du lịch

Cát Bà cần đặt trong mối quan hệ với Quy hoạch du lịch Cát Bà và các

quy hoạch ngành liên quan theo mục tiêu bền vững

3.3.2 Cần nhấn mạnh tới công tác tuyên truyền, quảng bá, các

hoạt động xúc tiến du lịch

8

36

363637393939

4 1

5557697071

7 2

73

7374

757579

Trang 9

3.3.3 Cần tập trung hơn vào các giải pháp nhằm bảo vệ tài

nguyên thiên nhiên và môi trường tự nhiên

3.3.4 Đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật

3.3.5 Đào tạo nguồn nhân lực

3.3.6 Tăng cường liên kết du lịch và phát triển sản phẩm du lịch Cát

Tiểu kết chương 3

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

79808283

84

858788

1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn

Tăng trưởng kinh tế là một trong những chỉ tiêu quan trọng của chínhsách điều hành kinh tế vĩ mô của mỗi quốc gia Do đó, việc xác định đượcvai trò của những nhân tố đóng góp cho tăng trưởng là rất cần thiết nhằmgiúp nhà quản lý hoạch định chính sách hiệu quả, đảm bảo tăng trưởng bềnvững trong dài hạn Trong cấu thành tăng trưởng kinh tế của một quốc giabao gồm đóng góp của nhiều thành phần như vốn, lao động và các ngànhdịch vụ Một trong những ngành dịch vụ đóng vai trò then chốt phải kể đến

là du lịch Theo Stefan Franz Schubert (2011) ngành du lịch đóng góp vàotăng trưởng của quốc gia thông qua nhiều kênh khác nhau Thứ nhất, dulịch thu hút số lượng lớn lao động, tạo ra việc làm qua đó sẽ cải thiện thunhập của người lao động Thứ hai, du lịch sẽ kích thích xây dựng mới cơ sở

hạ tầng và tăng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong cùng lĩnh vực Thứ

ba, du lịch là một kênh phổ biến để khuếch tán kiến thức công nghệ, giatăng nghiên cứu phát triển và tích lũy vốn con người Thứ tư, quốc gia pháttriển du lịch sẽ thu về một

Trang 10

9

Trang 11

lượng lớn ngoại tệ, qua đó giảm gánh nặng trong việc thanh toán hàng hóa nhập khẩu phục vụ trong sản xuất và tiêu dùng [1,11]

Ở Việt Nam, trong thời gian qua, nhận thức được tầm quan trọng của dulịch, nhà nước đã ban hành chính sách phát triển du lịch hướng tới phát triểnbền vững Nhờ vậy, du lịch Việt Nam đã có nhiều khởi sắc Theo Báo cáothường niên Travel&Tourism Economic Impact 2016 Viet Nam của Hội đồng

Du lịch và Lữ hành thế giới công bố hồi tháng 3/2016 với mức 6,6% đónggóp cho GDP, du lịch Việt Nam đứng thứ 40/184 nước về quy mô đóng góptrực tiếp vào GDP và xếp thứ 55/184 nước về quy mô tổng đóng góp vàoGDP quốc gia Cụ thể, tổng đóng góp của du lịch vào GDP Việt Nam, baogồm cả đóng góp trực tiếp, gián tiếp và đầu tư công là 584.884 tỷ đồng

(tương đương 13,9% GDP) Trong đó, đóng góp trực tiếp của du lịch vàoGDP là 279.287 tỷ đồng (tương đương 6,6% GDP) Với những đóng góp trên,

du lịch thực sự có khả năng làm thay đổi bộ mặt kinh tế của nước ta [2,34]

Thành Phố Hải Phòng với nhiều tiềm năng về du lịch cũng đã ban hànhchính sách phát triển du lịch từ rất sớm nhằm khai thác tối đa tiềm năng, lợithế của thành phố, nhất là về cảnh quan thiên nhiên, tài nguyên nhân văn, đảmbảo môi trường sinh thái, đa dạng các loại hình và sản phẩm du lịch, thu hútđầu tư, tăng nhanh tỷ trọng du lịch trong tổng GDP của thành phố; tạo việclàm, nâng cao dân trí; giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và đặc thù văn hóa địaphương, phát huy sức mạnh tổng hợp của các cấp, ngành và toàn dân pháttriển du lịch, góp phần thúc đẩy chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế theo hướngcông nghiệp hóa - hiện đại hóa

Trong các điểm du lịch ở Hải Phòng, Cát Bà được coi như viên ngọcquý, là điểm đến được nhiều du khách lựa chọn Vì vậy, UBND thành phốHải Phòng cũng đã xây dựng chính sách phát triển du lịch Cát Bà gắn với dulịch bền vững Đề án Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch bền vững quần đảo Cát

Trang 12

Bà đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050 được cũng thông qua vào năm 2014.Đây là một cú hích cho du lịch Cát Bà phát triển với mục tiêu đưa Cát Bà trở thànhđiểm du lịch xanh đẳng cấp quốc tế, xứng đáng với vị thế và tiềm năng của đảongọc; trong đó chú trọng đến chất lượng tăng trưởng du lịch, phát triển du lịch quầnđảo Cát Bà trở thành động lực kinh tế cho phát triển kinh tế - xã hội của thành phốHải Phòng và đồng bằng sông Hồng; khai thác có hiệu quả các tiềm năng và lợi thế;phát triển các sản phẩm du lịch chất lượng và dịch vụ đặc trưng; ưu tiên phát triển

du lịch cao cấp kết hợp hài hòa với du lịch đại chúng để đáp ứng nhu cầu đa dạngcủa thị trường; bảo tồn và tôn tạo các giá trị tài nguyên; phát triển du lịch gắn liềnvới bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội… Nghị quyết số 16 -NQ/TW

của Ban thường vụ Thành uỷ Hải Phòng cũng xác định “Xây dựng Cát Bà trở

thành một trung tâm du lịch sinh thái của cả nước và quốc tế”.

Tuy nhiên, trên thực tế, chính sách phát triển du lịch bền vững tại Cát Bàvẫn chưa đạt được hiệu quả như mong muốn khi triển khai trong thực tế Mụctiêu và giải pháp của chính sách này vẫn chưa tạo ra động lực phát triển dulịch bền vững tại địa phương Chính vì vậy, là một người con của Cát Bà, học

viên đã lựa chọn hướng nghiên cứu “Chính sách phát triển du lịch bền vững

khu du lịch Cát Bà, thành phố Hải Phòng” để thực hiện.

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

luận văn 2.1 Hướng nghiên cứu về du lịch

Du lịch đang là một trong những lĩnh vực thu hút sự quan tâm của nhiềunhà khoa học nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Cho đến nay, có nhiềucông trình nghiên cứu đề cập tới nội dung phát triển du lịch

Giáo trình “Kinh tế du lịch”, GS.TS.Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh

Hòa, Trường Đại học Kinh tế quốc dân 2008 đề cập tới những vấn đề về dulịch dưới góc độ kinh tế như khái niệm, vai trò, mối quan hệ giữa du lịch vàphát triển kinh tế- xã hội

11

Trang 13

Cuốn sách “Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam” của TS.Phạm

Trung Lương (chủ biên), NXB Giáo dục 2000 bên cạnh việc cung cấp nhữngvấn đề lí luận cơ bản về du lịch đã phân tích, đánh giá thực trạng của du lịchViệt Nam về điểm mạnh, điểm yếu, các cơ hội và thách thức đặt ra

Đề án “Phát triển du lịch biển, đảo và vùng ven biển Việt Nam đến năm 2020” của Viện Nghiên cứu phát triển du lịch xác định rõ các định hướng phát

triển chủ yếu của du lịch biển trong mối quan hệ với Chiến lược phát triển dulịch Việt Nam; với các mục tiêu chiến lược về phát triển kinh tế biển; đảmbảo khai thác có hiệu quả những tiềm năng và lợi thế về du lịch biển gắn vớiviệc đảm bảo an ninh quốc phòng và phù hợp với xu thế hội nhập của ViệtNam với khu vực và quốc tế

Theo đó, ở Việt Nam, du lịch biển có vai trò đặc thù và vị trí quan trọng trongchiến lược phát triển du lịch của cả nước Chiến lược phát triển du lịch Việt Namđến năm 2010 và Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đã xác định 7 khu vực trọng điểm ưu tiênphát triển du lịch, trong số đó đã có tới 5 khu vực là thuộc dải ven biển Mặc dù chođến nay, nhiều tiềm năng đặc sắc của du lịch biển, đặc biệt là hệ thống đảo, baogồm cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chưa được đầu tư khai thác một cáchtương xứng, cho dù ở dải ven biển hiện đã có tới 70% các khu, điểm du lịch trong

cả nước, hàng năm thu hút khoảng 48-65% lượng khách du lịch.Thu nhập từ hoạtđộng du lịch biển chiếm tỷ trọng cao trong thu nhập du lịch Việt Nam Đồng thờiphát triển du lịch biển là một nhiệm vụ quan trọng nhằm đẩy mạnh phát kinh tếbiển Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết số 27/2007/NQ-CP ngày 30/5/2007 củaChính phủ nhằm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trungương Đảng khóa X về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”

Các công trình nghiên cứu nói trên đã cung cấp cơ sở lý luận về du lịch, làmnền tảng để học viên xây dựng hệ thống lý thuyết về chính sách phát triển du lịch

2.2 Hướng nghiên cứu về chính sách phát triển du lịch bền vững

Trang 14

Đi sâu phân tích các chính sách phát triển du lịch ở Việt Nam nói chung

và phát triển du lịch bền vững nói riêng có thể kể tới đề tài nghiên cứu khoa

học cấp cơ sở “Tổng quan hệ thống chính sách phát triển du lịch Việt Nam”

do TS.Hồ Thị Kim Thoa làm chủ nhiệm, Viện Nghiên cứu phát triển du lịch,

2014 Theo đánh giá của nhóm tác giả, xuất phát từ tính chất của ngành dulịch là một ngành liên ngành, liên vùng và có tính xã hội cao, các chính sáchđối với ngành du lịch vì thế cũng mang tính phức tạp và đa dạng Các chínhsách phát triển du lịch không chỉ có những chính sách nội bộ trong ngành màcòn có sự tham gia của nhiều ngành khác có liên quan vì bản thân du lịchkhông thể tự phát triển du lịch nếu không có sự tham gia, hỗ trợ của cácngành khác Tuy nhiên, các chính sách phát triển du lịch Việt Nam hiện nayvẫn còn thiếu tính đồng bộ và chưa có hệ thống, chưa có một cái nhìn tổngthể để có thể nhận thấy được những mặt ưu và nhược điểm của các chính sáchđối với phát triển du lịch hiện nay

Ngoài ra, có thể kể tới một số công trình nghiên cứu về chính sách pháttriển bền vững du lịch ở các địa phương như:

- Tiềm năng, thực trạng và giải pháp phát triển du lịch tỉnh Đak Lak theohướng bền vững, Luận văn thạc sĩ của học viên Mai Thị Thùy Dung, ĐH Sưphạm thành phố Hồ Chí Minh 2007;

- Phát triển du lịch tỉnh Bình Định theo hướng bền vững, Luận văn thạc

sỹ của học viên Trương Thị Thu, ĐH Đà Nẵng 2011;

- Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Phát triển bền vững du lịch biển Nha

Trang- Khánh Hòa, tổ chức tại Nha Trang tháng 1/2013…

- Đề xuất giải pháp phát triển bền vững du lịch sinh thái Phú Yên

Nguyễn Trần Liên Hương, Viện Môi trường và Tài nguyên, 2009

Các công trình nghiên cứu này tập trung phân tích, đánh giá thực trạng pháttriển du lịch theo hướng bền vững ở các địa phương khác nhau ở Việt Nam

2.3 Hướng nghiên cứu về du lịch bền vững tại khu du lịch Cát Bà

13

Trang 15

Đi sâu phân tích, đánh giá tiềm năng, thực trạng du lịch Hải Phòng, có thể kể tới một số công trình sau:

- Du lịch Hải Phòng- Thực trạng, phương hướng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ kinh tế của Phạm Thị Khánh Ngọc, 1999

- Phát triển du lịch ở Hải Phòng trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị, Trần Ngọc Hương, 2012

- Hướng dẫn du lịch Hải Phòng, Sở Văn hóa- thể thao và du lịch, NXBHải Phòng (2015) Cuốn sách khổ nhỏ (10 x 15cm), 124 trang như một cuốn

sổ tay thuận tiện, hữu ích với khách du lịch, giúp họ dễ dàng tra cứu, nhanhchóng hiểu biết về miền đất, hòa nhập với nhịp sống, phong tục tập quán củangười Hải Phòng

- Đề tài NCKH cấp Bộ "Đánh giá tác động của hoạt động du lịch đếntài

nguyên, môi trường khu vực Hải Phòng – Quảng Ninh", Viện Nghiên cứu pháttriển du lịch 2004 Theo đó, khu vực Hải Phòng - Quảng Ninh là một trong 7trọng điểm phát triển du lịch của cả nước cần được tập trung đầu tư phát triển.Đối với trọng điểm này, khu vực Hạ Long - Cát Bà đóng một vai trò đặc biệt cótính chất là hạt nhân cơ bản và sẽ được ưu tiên quy hoạch phát triển thành mộtkhu du lịch biển lớn có tầm cỡ quốc tế ở nước ta Đề tài đã hệ thống được nhữngtài nguyên du lịch chủ yếu ở khu vực Hải Phòng – Quảng Ninh cũng như đãtổng quan được hiện trạng phát triển du lịch ở khu vực Hải Phòng - Quảng Ninhđến thời điểm nghiên cứu (2004), trong đó xác định được những loại hình dulịch/hoạt động du lịch có khả năng gây những tác động đến tài nguyên, môitrường du lịch như hoạt động xây dựng phát triển các khu du lịch; hoạt độngtham quan du lịch ở các khu bảo tồn thiên nhiên,cảnh quan gắn với văn hoá, lễhội ở khu vực vịnh Hạ Long, Cát Bà và Đồ Sơn

Các công trình nghiên cứu nói trên đã giúp học viên xây dựng hệ thống

cơ sở lý luận cũng như đánh giá được thực trạng du lịch và du lịch bền vững

Trang 16

tại khu du lịch Cát Bà thành phố Hải Phòng Tuy nhiên, hiện chưa có côngtrình nào nghiên cứu đầy đủ chính sách phát triển du lịch bền vững tại khu dulịch Cát Bà- Hải Phòng.

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nói trên, học viên thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về chính sách công, chính sách phát triển dulịch bền vững

- Đánh giá nội dung chính sách phát triển du lịch bền vững tại khu du lịch Cát Bà, thành phố Hải Phòng

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện chính sách phát triển du lịch bền vững tại khu du lịch Cát Bà

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chính sách phát triển du lịch bền vững tại khu du lịch Cát Bà, thành phố Hải Phòng

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về thời gian: đề tài thu thập tài liệu phục vụ cho việc đánh giá nội dungchính sách phát triển du lịch bền vững tại khu du lịch Cát Bà- Hải Phòng từnăm 2009 cho đến nay

- Về không gian: nghiên cứu tại thị trấn Cát Bà và các xã: Trân Châu; Việt Hải; Phù Long; Gia Luận; Hiền Hào; Xuân Đám

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

15

Trang 17

5.1 Phương pháp luận

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ đạo làduy vật biện chứng và duy vật lịch sử

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành luận văn, học viên sử dụng các phương pháp nghiên cứu

cụ thể sau đây:

5.2.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu tài liệu

Nghiên cứu đường lối, chủ trương, chính sách và các văn bản pháp luậtcủa Đảng, Nhà nước, của thành phố Hải Phòng liên quan tới đề tài nghiên cứu

là chính sách phát triển du lịch bền vững tại khu du lịch Cát Bà nhằm xâydựng hệ thống lý thuyết của đề tài

Ngoài ra, học viên cũng tìm kiếm các bài báo, luận văn, luận án, các bàiviết có liên quan nhằm bổ sung cho hệ thống cơ sở lý luận của đề tài

5.2.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra xã hội học

Nhằm cung cấp các bằng chứng có tính thuyết phục để đánh giá chínhsách phát triển du lịch bền vững tại khu du lịch Cát Bà, học viên sử dụngphương pháp điều tra xã hội học để thu thập ý kiến của các bên có liên quantới chính sách trong thực tế

Mẫu nghiên cứu gồm có 200 khách thể, bao gồm:

- Cán bộ, công chức, viên chức tại Sở Du lịch, Sở Nội vụ thành phố Hải Phòng, UBND huyện Cát Hải;

- Khách du lịch tới Cát Bà;

- Người dân địa phương đang sinh sống tại Khu du lịch Cát Bà

Tác giả khảo sát dựa trên bảng hỏi được thiết kế phù hợp với nội dungđánh giá chính sách phát triển du lịch bền vững khu du lịch Cát Bà trong thờigian từ tháng 3 đến tháng 4/2017 (có thể xem bảng hỏi tại Phụ lục 1),

Trang 18

- Phương pháp thống kê

Các tài liệu thống kê đảm bảo giá trị pháp lý được sử dụng triệt để phục

vụ cho việc nghiên cứu Nguồn số liệu được thu thập, tổng hợp, xử lý dựa vàokết quả các cuộc điều tra, các báo cáo của Sở Du lịch thành phố Hải Phòng,của UBND thành phố Hải Phòng; UBND huyện Cát Hải nhằm gia tăng giá trịthực tiễn của luận văn

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Xây dựng hệ thống cơ sở lý luận của đề tài bao gồm chính sách, dulịch, chính sách phát triển du lịch bền vững với những nội dung cơ bản là kháiniệm, vai trò, mối quan hệ giữa chính sách phát triển du lịch và các chínhsách kinh tế- xã hội …

- Đánh giá được nội dung chính sách phát triển du lịch bền vững tạithành phố Hải Phòng bao gồm mục tiêu và các giải pháp dựa trên các phươngpháp điều tra có độ tin cậy cao và dựa trên các tài liệu thu thập được

- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách phát triển du lịch bền vững tại khu du lịch Cát Bà trong thời gian tới

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn “Chính sách phát triển du lịch bền vững khu du lịch Cát

Bà, thành phố Hải Phòng” được nghiên cứu thông qua 3 chương (ngoài

phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục):

-Chương 1 Cơ sở lý luận về chính sách phát triển du lịch bền vững

-Chương 2 Thực trạng chính sách phát triển du lịch bền vững tại khu du lịch Cát Bà, thành phố Hải Phòng

-Chương 3 Một số định hướng và giải pháp hoàn thiện chính sáchphát triển du lịch bền vững tại khu du lịch Cát Bà, thành phố HảiPhòng

17

Trang 19

CHƯƠNG 1

1.1 Khái niệm chính sách phát triển du lịch bền vững

1.1.1 Một số khái niệm liên quan

1.1.1.1 Chính sách công

Ra đời vào những năm 1950, với cuốn sách Khoa học chính sách: sự phát triển gần đây về phạm vi và phương pháp (Harold D Lasswell và Daniel Lerner), Bài Định hướng chính sách (Harold D Lasswell) đã đặt nền móng cho

khoa học chính sách Khoa học chính sách công phát triển nhanh chóng từ giữanhững năm 60 của thế kỷ XX, nổi bật nhất là một loạt công trình của YehezkelDror Khác với những ngành khoa học xã hội truyền thống, hoạt động nghiêncứu chính sách công định hướng đề ra những giải pháp cụ thể cho các vấn đềthực tế Việc nghiên cứu chính sách công không chỉ hiểu rõ những vấn đề lýthuyết, mà cao hơn là nhằm vận dụng lý thuyết và bằng chứng thực tiễn để thiết

kế, triển khai và đánh giá chính sách, từ đó cải thiện điều kiện sống của ngườidân ở các quốc gia

Theo James Anderson: "Chính sách là một quá trình hành động có mục đích

theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm" Các chính sách có thể được đề ra và thực hiện ở những tầng nấc khác nhau:

Chính sách của Liên hiệp quốc, chính sách của một đảng, chính sách của Chínhphủ, chính sách của chính quyền địa phương, chính sách của một bộ, chính sáchcủa một tổ chức, đoàn thể, hiệp hội, chính sách của một doanh nghiệp…

Các tổ chức, các doanh nghiệp, các hiệp hội, đoàn thể… có thể đề ra nhữngchính sách riêng biệt để áp dụng trong phạm vị một tổ chức, doanh nghiệp, hiệphội hay đoàn thể đó Các chính sách này nhằm giải quyết những vấn đề đặt racho mỗi tổ chức, chúng chỉ có hiệu lực thi hành trong tổ chức đó, vì vậy, chúngmang tính chất riêng biệt và được coi là những "chính sách tư", tuy trên thực tếkhái niệm "chính sách tư" hầu như không được sử dụng

Trang 20

Những chính sách do các cơ quan hay các cấp chính quyền trong bộ máynhà nước ban hành nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng được gọi làchính sách công Khoa học chính sách nghiên cứu các chính sách nói chung,nhưng tập trung chủ yếu vào việc nghiên cứu các chính sách công nhằm mụctiêu nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý của Nhà nước.

Thomas R Dye lại đưa ra một định nghĩa ngắn gọn về chính sách công, song định nghĩa này lại được nhiều học giả tán thành Theo ông, "chính sách công là cái mà Chính phủ lựa chọn làm hay không làm" Ba mặt quan trọng của

định nghĩa này là:

Thứ nhất, không giống như các định nghĩa khác, nó không bàn luận về "mụctiêu" hay "mục đích" của chính sách Các chính sách là các chương trình hành độngriêng biệt; việc áp dụng các chính sách không có nghĩa là tất cả những ai đồng tìnhvới chính sách sẽ có cùng một mục đích như nhau Trên thực tế, một số chính sách

ra đời không phải vì sự nhất trí về mục tiêu, mà bởi vì nhiều nhóm người khác nhauđồng tình với chính sách đó với nhiều nguyên do khác nhau

Thứ hai, định nghĩa của Dye thừa nhận rằng, các chính sách phản ánh sựlựa chọn làm hay không làm Việc quyết định không làm có thể cũng quan trọngnhư việc quyết định làm Điều này hoàn toàn hợp lý trong trường hợp Chính phủ

ra quyết định không can thiệp vào hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước.Thứ ba, một điểm được nhấn mạnh ở đây là các chính sách không chỉ lànhững đề xuất của Chính phủ về một vấn đề nào đó, mà cũng là cái được thực hiệntrên thực tế Nói cách khác, định nghĩa của Dye về những cái mà Chính phủ làmhoặc không làm, chứ không phải là cái mà họ muốn làm hoặc lập kế hoạch để làm

Wiliam N Dunn cho rằng "chính sách công là một kết hợp phức tạp những

sự lựa chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả các quyết định không hành động,

do các cơ quan nhà nước hay các quan chức nhà nước đề ra" Ông dùng thuật

ngữ "sự lựa chọn" – đây là điểm đáng lưu ư để tránh sự nhầm lẫn giữa chínhsách với các khái niệm khác như quyết định hành chính

19

Trang 21

B Guy Peter đưa ra định nghĩa: "chính sách công là toàn bộ các hoạt động của Nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân" Định nghĩa này khẳng định chủ thể ban hành và thực thi chính sách công

là Nhà nước, đồng thời nhấn mạnh tác động của chính sách công đến đời sốngcủa người dân với tư cách là một cộng đồng

Từ điển bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách như sau:

"chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…" Định nghĩa này

không làm rõ được thực chất của chính sách, chỉ đưa ra một cách hiểu chungchung là những chuẩn tắc để thực hiện đường lối, nhiệm vụ trong một thời giannhất định và trên những lĩnh vực cụ thể Định nghĩa như vậy không chỉ nói vềchính sách, mà có thể hiểu là bất kỳ một kế hoạch, một hoạt động nào đó

Cuốn Giáo trình Hoạch định và phân tích chính sách công của Học viện Hành

chính Quốc gia, NXB Khoa học và Kĩ thuật 2008 của TS.Nguyễn Hữu Hải (chủ

biên) đã xác định "chính sách công là những hành động ứng xử của Nhà nước với

các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển"[9,45] Khái niệm này đã bao quát

được các đặc trưng cơ bản của chính sách công, vừa thể hiện được bản chất củacông cụ chính sách với tư cách là công cụ định hướng của nhà nước

Tuy có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về chính sách công như đã nêutrên, song điều đó không có nghĩa là chính sách công mang những bản chất khácnhau Thực ra, tùy theo quan niệm của mỗi tác giả mà các định nghĩa đưa ra nhấnmạnh vào đặc trưng này hay đặc trưng khác của chính sách công Những đặc trưngnày phản ánh chính sách công từ các góc độ khác nhau, song chúng đều hàm chứanhững nét đặc thù thể hiện bản chất của chính sách công, bao gồm:

Một là, chủ thể ban hành chính sách công là Nhà nước Nếu chủ thể ban

hành các "chính sách tư" có thể là các tổ chức tư nhân, các đoàn thể chính trị –

Trang 22

xă hội, cũng như các cơ quan trong bộ máy nhà nước để điều tiết hoạt độngtrong phạm vi tổ chức, đoàn thể hay cơ quan riêng biệt đó thì chủ thể ban hànhchính sách công chỉ có thể là các cơ quan trong bộ máy nhà nước Vấn đề ở đây

là các cơ quan trong bộ máy nhà nước vừa là chủ thể ban hành chính sách công,vừa là chủ thể ban hành "chính sách tư" Sự khác biệt là ở chỗ các "chính sáchtư" do các cơ quan nhà nước ban hành là những chính sách chỉ nhằm giải quyếtnhững vấn đề thuộc về nội bộ cơ quan đó, không có hiệu lực thi hành bên ngoàiphạm vi cơ quan

Hai là, các quyết định này là những quyết định hành động, có nghĩa là chúng

bao gồm cả những hành vi thực tiễn Chính sách công không chỉ thể hiện dự địnhcủa nhà hoạch định chính sách về một vấn đề nào đó, mà còn bao gồm những hành

vi thực hiện các dự định nói trên Chính sách công trước hết thể hiện dự định củacác nhà hoạch định chính sách nhằm làm thay đổi hoặc duy trì một hiện trạng nào

đó Song, nếu chính sách chỉ là những dự định, dù được ghi thành văn bản thì nóvẫn chưa phải là một chính sách Chính sách công cần phải bao gồm các hành vithực hiện những dự định nói trên và đưa lại những kết quả thực tế

Ba là, chính sách công tập trung giải quyết một vấn đề đang đặt ra trong đời

sống kinh tế – xă hội theo những mục tiêu xác định Chính sách công là một quátrình hành động nhằm giải quyết một vấn đề nhất định Khác với các loại công

cụ quản lý khác như chiến lược, kế hoạch của Nhà nước là những chương t nhhành động tổng quát bao quát một hoặc nhiều lĩnh vực kinh tế – xã hội, đặc điểmcủa chính sách công là chúng được đề ra và được thực hiện nhằm giải quyết mộthoặc một số vấn đề liên quan lẫn nhau đang đặt ra trong đời sống xã hội Chínhsách công chỉ xuất hiện trước khi đó đã tồn tại hoặc có nguy cơ chắc chắn xuấthiện một vấn đề cần giải quyết

Bốn là, chính sách công gồm nhiều quyết định có liên quan lẫn nhau Các

quyết định này có thể bao gồm cả luật, các quyết định dưới luật, thậm chí cảnhững tư tưởng của các nhà lãnh đạo thể hiện trong lời nói và hành động của họ

21

Trang 23

Song, chính sách không đồng nghĩa với một đạo luật riêng biệt hay một văn bảnnào đó Chính sách là một chuỗi hay một loạt các quyết định cùng hướng vàoviệc giải quyết một vấn đề chính sách, do một hay nhiều cấp khác nhau trong bộmáy nhà nước ban hành và thực thi trong một thời gian dài Một chính sách cóthể được thể chế hóa thành các văn bản pháp luật để tạo căn cứ pháp lý cho việcthực thi, song nó còn bao gồm những phương án hành động không mang tính bắtbuộc, mà có tính định hướng, kích thích phát triển.

Tóm lại, chính sách công là tập hợp các quyết định quản lý do các chủ thểkhác nhau trong bộ máy nhà nước ban hành nhằm giải quyết các vấn đề côngcộng nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng

Khái niệm về du lịch theo quan điểm rộng rãi hiện nay được Hội nghị quốc

tế về thống kê du lịch ở Ottawa - Canada tháng 6 năm 1991 đưa ra: "Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình) trong khoảng thời gian đã được tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi của vùng tới thăm".

Khái niệm về du lịch được sử dụng rộng rãi hiện nay thường dựa vào sự chuyểnđộng của con người trên một khoảng cách nơi xuất phát và nơi đến, thời gian và mụcđích chuyến đi Vì vậy, thuật ngữ du lịch là chuyển động của con người đã được Tổchức Du lịch Thế giới và các nước Mỹ, Anh, Canada, Úc, chấp thuận Nhưng điều nàygây ra những khó khăn về thông tin thống kê cho các học giả khi sử dụng để phát triển

cơ sở dữ liệu, mô tả hiện tượng du lịch và phân tích nó

Trang 24

Định nghĩa trong Từ điển Bách khoa về Du lịch (Viện hàn lâm): Du lịch là tập

hợp các hoạt động tích cực của con người nhằm thực hiện một dạng hành trình, là một công nghiệp liên kết nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch… Du lịch

là cuộc hành trình mà một bên là người khởi hành với mục đích đó được chọn trước

và một bên là những công cụ làm thỏa mãn các nhu cầu của họ

Khái niệm về du lịch theo Luật Du lịch năm 2005 quy định "Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong khoảng thời gian nhất định”.

Khái niệm về du lịch bao gồm khái niệm các yếu tố dưới đây:

- Khách du lịch: Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch,

trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến.Khách du lịch là những người đi du lịch với mục đích là luôn muốn khám pháthế giới tự nhiên, xã hội nhằm thoả mãn nhu cầu về tâm lý và tinh thần Vì vậy,khách du lịch thường quan tâm sản phẩm du lịch nơi họ đến Nên vấn đề khaithác tài nguyên, tổ chức các dịch vụ tại các điểm du lịch là một trong yếu tốquan trọng để khách du lịch sẽ quyết định đến việc lựa chọn điểm đến và cáchoạt động du lịch trong chuyến đi của họ

- Hoạt động du lịch: trên cơ sở mục đích của khách du lịch có thể thấy Hoạt

động du lịch là hoạt động của khách du lịch, của tổ chức, cá nhân kinh doanh dulịch, của cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch.Trong hoạt động du lịch các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cho khách du lịch lànhững nhà kinh doanh họ coi du lịch là một cơ hội lớn để thu lợi bằng việc cungcấp hàng hoá và dịch vụ mà thị trường du khách yêu cầu Chính phủ của các nước,những nhà chính trị coi hoạt động du lịch là yếu tố thiết yếu đối với nền kinh tếthông qua các khoản thuế từ chi tiêu của du khách và gắn liền với thu nhập củangười dân Dân cư tại điểm du lịch là người dân địa phương tại các điểm du lịch họthường coi du lịch như một nhân tố văn hoá và việc làm

23

Trang 25

Với cách hiểu trên đây cho thấy du lịch là tổng thể những hiện tượng vànhững mối quan hệ phát sinh từ sự tác động qua lại lẫn nhau giữa khách du lịch,những nhà kinh doanh du lịch, chính quyền sở tại và cộng đồng dân cư địaphương trong quá trình thu hút và lưu giữ khách du lịch Bản chất của du lịch là

“ngành kinh tế dịch vụ” Dịch vụ du lịch là một loại hình dịch vụ nhằm thoả mãn

nhu cầu cho khách du lịch trong suốt thời gian đi du lịch Du lịch một mặt mang

ý nghĩa thông thường việc đi lại của con người với mục đích nghỉ ngơi giải trímặt khác, du lịch là hoạt động gắn chặt với kết quả kinh tế, sản xuất, tiêu thụ dochính nó tạo ra

1.1.1.3 Phát triển bền vững

Trên nhiều diễn đàn và văn kiện của cộng đồng quốc tế cũng như trongcác chính sách, chương trình hành động của các quốc gia, vấn đề phát triểnbền vững đang nổi lên như một trong những mối quan tâm hàng đầu của toànnhân loại

Phát triển được hiểu là một quá trình tăng trưởng bao gồm nhiều yếu tốcấu thành khác nhau về kinh tế, chính trị, xã hội, kỹ thuật, văn hoá… Pháttriển là xu hướng tự nhiên tất yếu của thế giới vật chất nói chung, của xã hộiloài người nói riêng

Khái niệm bền vững ở đây được hiểu là tỷ lệ sử dụng một tài nguyênkhông vượt quá tỷ lệ bổ sung tài nguyên đó Sử dụng bền vững tồn tại khi nhucầu về một tài nguyên thấp hơn cung cấp mới hay sự phân phối và tiêu dùngmột tài nguyên được giữ ở mức thấp hơn sản lượng bền vững tối đa

Thuật ngữ "Phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980

trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn

Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn

giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh

tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học".

Trang 26

Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo Brundtland

(còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế

giới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland) Báo cáo này ghi rõ: Phát triển bền vững

là "sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng,

tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai " Nói cách

khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội

công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ

Năm 1992, Hội nghị thượng đỉnh về Môi trường và Phát triển của Liênhợp quốc được tổ chức ở Ri-ô đơ Gia-nê-rô đề ra Chương trình nghị sự toàn

cầu cho thế kỷ XXI, theo đó, phát triển bền vững được xác định là: “Một sự phát triển thỏa mãn những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm hại đến khả năng đáp ứng những nhu cầu của thế hệ tương lai” Theo đó, ba trụ cột

phát triển bền vững được xác định là:

Thứ nhất, bền vững về mặt kinh tế, hay phát triển kinh tế bền vững là

phát triển nhanh và an toàn, chất lượng;

Thứ hai, bền vững về mặt xã hội là công bằng xã hội và phát triển con

người, chỉ số phát triển con người (HDI) là tiêu chí cao nhất về phát triển xãhội, bao gồm: thu nhập bình quân đầu người; trình độ dân trí, giáo dục, sứckhỏe, tuổi thọ, mức hưởng thụ về văn hóa, văn minh;

Thứ ba, bền vững về sinh thái môi trường là khai thác và sử dụng hợp lý tài

nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và cải thiện chất lượng môi trường sống

Hình 1.1 Quan niệm về phát triển bền vững

Hệ xã hội

Phát triển

25

Trang 27

Ở Việt Nam, chủ đề phát triển bền vững cũng đã được chú ý nhiều tronggiới nghiên cứu cũng như những nhà hoạch định đường lối, chính sách Quanniệm về phát triển bền vững thường được tiếp cận theo hai khía cạnh:

Một là, phát triển bền vững là phát triển trong mối quan hệ duy trì những

giá trị môi trường sống, coi giá trị môi trường sinh thái là một trong nhữngyếu tố cấu thành những giá trị cao nhất cần đạt tới của sự phát triển

Hai là, phát triển bền vững là sự phát triển dài hạn, cho hôm nay và cho

mai sau; phát triển hôm nay không làm ảnh hưởng tới mai sau

Trong mục 4, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường, phát triển bền vững được

định nghĩa: “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế

hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường” Đây là định nghĩa có tính tổng

Trang 28

quát, nêu bật những yêu cầu và mục tiêu trọng yếu nhất của phát triển bềnvững, phù hợp với điều kiện và tình hình ở Việt Nam.

1.1.2 Chính sách phát triển du lịch bền vững

Sự tăng trưởng nhanh chóng của du lịch là một nguyên nhân dẫn đến suythoái môi trường ở các vùng du lịch: ô nhiễm khí và nước do xả thải quá khảnăng tự làm sạch của môi trường, thay đổi cảnh quan để xây dựng cơ sở hạtầng; ảnh hưởng xấu đến đa dạng sinh học, mất giá đồng tiền, xung đột về lợiích xã hội vào mùa du lịch, tệ nạn xã hội bùng phát, xói mòn bản sắc văn hóabản địa Trước những vấn đề tiêu cực đặt ra, Tổ chức du lịch thế giới (WTO)

và các nhà nghiên cứu đã tìm kiếm một giải pháp nhằm bảo đảm sự phát triểnhài hòa giữa phát triển du lịch với bảo vệ môi trường Du lịch bền vững ra đờitrong thập kỷ 90 nhằm giải quyết những vấn đề đòi hỏi nêu trên

Theo World conservation Union 1996, “Du lịch bền vững là việc di chuyển và tham quan đến các vùng tự nhiên một cách có trách nhiệm với môi trường để tận hưởng và đánh giá cao tự nhiên (và tất cả những đặc điểm văn hóa kèm theo, có thể là trong quá khứ và hiện tại) theo cách khuyến cáo về bảo tồn, có tác động thấp từ du khách và mang lại lợi ích cho sự tham gia chủ động về kinh tế xã hội của cộng đồng địa phương”

Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO) đã đưa ra định nghĩa: "Du lịch bền vững

là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà vẫn đảm bảo những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch tương lai”.

Tại Việt Nam, “Du lịch bền vững” là một khái niệm còn khá mới mẻ Đã

có một số công trình nghiên cứu về phát triển du lịch trên khía cạnh bền vững.Mặc dù còn những quan điểm chưa thật sự thống nhất về khái niệm phát triển

du lịch bền vững, cho đến nay đa số ý kiến các chuyên gia trong lĩnh vực du

lịch và các lĩnh vực có liên quan khác ở Việt Nam đều cho rằng: “Phát triển

du lịch bền vững là một hoạt động khai thác một cách có quản lí các giá trị

tự nhiên và nhân văn nhằm thỏa mãn nhu cầu đa dạng của khách

27

Trang 29

du lịch, có quan tâm đến lợi ích kinh tế dài hạn trong khi vẫn đảm bảo sự đóng góp cho bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì được sự toàn vẹn văn hóa để phát triển hoạt động du lịch trong tương lai; cho công tác bảo

vệ môi trường và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương”.

Tuy có nhiều khái niệm về du lịch bền vững nhưng tập trung lại nó phải

có những nội dung chủ yếu sau đây:

- Giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên và môitrường nhân văn Du lịch phải thân thiện với môi trường

- Đảm bảo lợi ích nhiều mặt của cộng đồng dân cư địa phương Tăng thu

nhập cho địa phương

- Phải có trách nhiệm về phát triển du lịch hôm nay và cả mai sau Vì vậy du lịch bền vững đồng nghĩa với du lịch trách nhiệm

Du lịch bền vững có 3 hợp phần chính, đôi khi được ví như “ba chân”(International Ecotourism Society, 2004):

Thân thiện môi trường Du lịch bền vững có tác động thấp đến nguồn lợi

tự nhiên Nó giảm thiểu các tác động đến môi trường (động thực vật, các sinhcảnh sống, nguồn lợi sống, sử dụng năng lượng và ô nhiễm …) và cố gắng cólợi cho môi trường

Gần gũi về xã hội và văn hoá Nó không gây hại đến các cấu trúc xã hội

hoặc văn hoá của cộng đồng nơi mà chúng được thực hiện Thay vào đó thì

nó lại tôn trọng văn hoá và truyền thống địa phương Khuyến khích các bênliên quan (các cá nhân, cộng đồng, nhà điều hành tour, và quản lý chínhquyền) trong tất cả các giai đoạn của việc lập kế hoạch, phát triển và giám sát,giáo dục các bên liên quan về vai trò của họ

Có kinh tế Nó đóng góp về mặt kinh tế cho cộng đồng và tạo ra những

thu nhập công bằng và ổn định cho cộng đồng địa phương cũng như càngnhiều bên liên quan khác càng tốt

Trang 30

Chính sách phát triển du lịch bền vững theo tác giả, là hệ thống các quyết định quản lý của các cơ quan nhà nước nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà vẫn đảm bảo những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch tương lai.

1.2 Vị trí, vai trò của chính sách phát triển du lịch bền vững đối với sự phát triển kinh tế- xã hội

Phát triển du lịch bền vững là một vấn đề phức hợp và mang nhiều ýnghĩa hơn chỉ là một cơ hội tạo thu nhập Với xu thế tăng dần tỉ trọng ngànhcông nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỉ trọng ngành nông nghiệp, ngành du lịchđang ngày càng chiếm giữ vị trí quan trọng trong cơ cấu GDP của các quốcgia, trong đó có Việt Nam

Chính phủ nhiều quốc gia đã xác định chính sách phát triển du lịch bềnvững có vai trò quan trọng trong hệ thống các chính sách kinh tế- xã hội, làđộng lực phát triển của nhiều nước

Xây dựng và thực hiện có hiệu quả chính sách phát triển du lịch bềnvững sẽ có tác động tích cực tới toàn bộ nền kinh tế, cụ thể:

- Giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu nhập quốc dân Du lịch là

một ngành kinh tế mang tính tổng hợp, liên ngành, liên vùng và xã hội hoá

Do vậy công việc phát triển du lịch góp phần thúc đẩy các nền kinh tế khácphát triển thông qua việc đáp ứng các sản phẩm du lịch phục vụ nhu cầu củakhách du lịch như: phương tiện vận chuyển, thông tin liên lạc, cấp điện, cấpnước…Thu nhập từ du lịch sẽ đóng góp vào việc nâng cao đời sống vật chấtcũng như tinh thần của người dân địa phương thông qua các hoạt động du lịchgóp phần đô thị hoá các địa phương có điểm du lịch

- Góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, tăng thu nhập cho một cộng đồng địa phương thông qua cung cấp các sản phẩm du

lịch phục vụ nhu cầu của khách

29

Trang 31

- Góp phần cải thiện cơ sở vật chất hạ tầng và dịch vụ du lịch: Phát triển

du lịch kéo theo các dịch vụ đi kèm góp phần cải thiện về cơ sở hạ tầng vàdịch vụ xã hội cho địa phương như : thông tin liên lạc, y tế, đường giao thông,các khu vui chơi giải trí…do có các dự án về du lịch kéo theo các dự án khácđầu tư về cơ sở hạ tầng tới khách du lịch

- Tạo điều kiện giao lưu văn hoá giữa các vùng, các cộng đồng và quốc

tế Việc phát triển du lịch tạo ra cơ hội giao lưu văn hoá của người dân trong

vùng và các địa phương trong cả nước với người nước ngoài thông qua giaotiếp với khách du lịch Phát triển du lịch làm rút ngắn khoảng cách về cơ sở

hạ tầng cũng như nhận thức của người dân địa phương Những tác động về vănhoá của du lịch làm thay đổi cả hệ thống nhận thức đó là tư cách cá nhân, quan

hệ gia đình, lối sống tập thể, hành vi đạo đức, nghi lễ truyền thống….qua tiếpxúc trực tiếp hay gián tiếp của người dân địa phương với du khách

Tuy nhiên, trong thực tế, khi triển khai thực hiện chính sách phát triển dulịch bền vững cũng có thể gặp phải một số vấn đề cần giải quyết:

- Ảnh hưởng tới kết cấu dân số (số lượng, thành phần) theo ngành nghề

do nhu cầu về nhân lực và sức hút thu nhập từ du lịch Du lịch phát triển sẽthu hút một lượng lớn lao động từ các ngành nghề khác đặc biệt là ngànhnông nghiệp khiến cho lực lượng sản xuất lương thực ngày càng giảm đi đáng

kể nhất là khu vực hay vùng có điểm du lịch Hiện tượng nhập cư của laođộng du lịch, các nhà kinh doanh du lịch từ nơi khác đến và vấn đề di cư củangười dân địa phương trong khu du lịch nhằm giải phóng mặt bằng để xâydựng cơ sở du lịch cũng gây ra nhiều vấn đề khác nhau như: mâu thuẫn giữangười dân địa phương với những nhà đầu tư, mâu thuẫn với dân lao động dulịch nhập cư tìm kiếm việc làm…

- Tạo áp lực lên cơ sở hoạt động du lịch: Do tính mùa vụ của hoạt động

du lịch cho nên vào thời kỳ cao điếm số lượng khách đến cũng như nhu cầusinh hoạt của du khách có thể vượt quá mức khả năng đáp ứng về dịch vụ

Trang 32

công cộng và cơ sở hạ tầng của người dân địa phương như còn ùn tắc giaothông, các nhu cầu về cung cấp nước, năng lượng, xử lý chất thải vượt quákhả năng của địa phương nơi diễn ra hoạt động du lịch.

- An ninh và trật tự an toàn xã hôi bị đe dọa: Du lịch ngày càng phát

triển càng thu hút đông đảo du khách cả nội địa và quốc tế Nhiều đối tượngkhách đến cùng đến một điểm hoặc địa phương nên khó kiểm soát được hếthoạt động của khách Do vậy các tệ nạn phát sinh do nhu cầu của khách nhưnạn mại dâm, cờ bạc, ma tuý và tranh dành khách giữa người dân địa phương

- Thay đổi phương thức tiêu dùng Việc phát triển du lịch đã làm tăng

thu nhập cũng như mức sống của người dân địa phương, làm tăng sức muađồng thời cũng làm tăng giá cả hàng hoá nguyên liệu và thực phẩm Điều nàythể hiện rõ nhất ở sự chi tiêu thoải mái của khách du lịch làm giá cả các mặthàng trong khu vực bị đẩy lên làm ảnh hưởng tới cơ cấu tiêu dùng của nơi cócác hoạt động du lịch, đặc biệt là những người có thu nhập thấp

- Chuẩn mực xã hội bị thay đổi trong một số trường hợp làm suy thoái

văn hoá truyền thống

- Tăng nguy cơ mắc bệnh lây truyền xã hội: Du lịch gắn liền với việc tiếp

xúc giữa người dân địa phương với khách du lịch, do vậy sự thâm nhập củacác dòng khách khác về địa lý chủng tộc sẽ kéo theo nguy cơ lan truyền cácloại bệnh khác nhau (bệnh đường ruột, bệnh ngoài da, bệnh lây truyền quađường tình dục ) Ngoài ra ô nhiễm môi trường như rác thải, nước bẩn…sẽ làm ảnh hưởng tới sức khoẻ cộng đồng địa phương

Ở Việt Nam, nhấn mạnh tới tầm quan trọng của chính sách phát triển dulịch, ngày 16/1/2017, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

đã ký ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW về phát triển du lịch trở thànhngành kinh tế mũi nhọn Theo đó, sự phát triển của ngành Du lịch đã và đanggóp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và xuất khẩu tại chỗ; bảo tồn

31

Trang 33

và phát huy giá trị di sản văn hóa, tài nguyên thiên nhiên; tạo nhiều việc làm,nâng cao đời sống nhân dân; đẩy mạnh quá trình hội nhập quốc tế, quảng báhình ảnh đất nước, con người Việt Nam Tuy nhiên, nếu phát triển du lịch mộtcách cực đoan, không quan tâm tới bảo vệ môi trường thì sau một khoảng thờigian nhất định, tăng trưởng du lịch sẽ không đạt được.

1.3 Nội dung của chính sách phát triển du lịch bền vững

1.3.1 Mục tiêu

Để chính sách phát triển du lịch bền vững đạt được hiệu quả, cần hướngtới việc đảm bảo đạt được 3 mục tiêu cơ bản sau:

- Đảm bảo sự phát triển bền vững về kinh tế: Đảm bảo sự tăng trưởng,

phát triển ổn định lâu dài về mặt kinh tế của du lịch, góp phần tích cực vàophát triển kinh tế của quốc gia và cộng đồng

- Đảm bảo sự bền vững về tài nguyên và môi trường: Thể hiện ở việc

sử

dụng hợp lý các tiềm năng tài nguyên và điều kiện môi trường Việc khaithác, sử dụng tài nguyên du lịch cho phát triển cần được quản lý sao chokhông chỉ thoả mãn nhu cầu hiện tại mà còn đảm bảo cho nhu cầu phát triển

du lịch qua nhiều thế hệ Bên cạnh đó trong quá trình phát triển, các tác độngcủa hoạt động du lịch đến môi trường sẽ được hạn chế đi đôi với những đónggóp cho nỗ lực tôn tạo tài nguyên, bảo vệ môi trường

- Đảm bảo sự bền vững về xã hội: Theo đó sự phát triển du lịch có những

đóng góp cụ thể cho phát triển văn hóa, đảm bảo sự công bằng trong pháttriển, xóa đói giảm nghèo

Trang 34

Hình 1.2 Tam giác mục tiêu phát triển du lịch bền vững

TAM GIÁC MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG

- Sử dụng nguồn tài nguyên một cách bền vững

- Giảm tiêu thụ quá mức và xả thải nhằm giảm chi phí khôi phục các suy

thái môi trường, nâng cao chất lượng du lịch

- Phát triển phải gắn liền với bảo tồn tính đa dạng

- Phát triển du lịch lồng ghép với quy hoạch phát triển của địa

phương,

quốc gia

Trang 35

33

Trang 36

- Đẩy mạnh các hoạt động phát triển kinh tế địa phương cũng như hạn chế tối thiểu thiệt hại môi trường.

- Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương

- Tăng cường sự trao đổi tham khảo ý kiến cộng đồng địa phương và các

chủ thể có liên quan đảm bảo tính lâu dài trong giải quyết các vấn đề liênquan đến hoạt động du lịch

- Đào tạo đội ngũ nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ trong hoạtđộng du lịch, nhằm cải thiện các sản phẩm du lịch

- Phát huy trách nhiệm trong việc cung cấp thông tin cho du khách mộtcách đầy đủ để nâng cao sự tôn trọng của du khách đến môi trường tự nhiên,

xã hội và văn hóa khu du lịch

- Triển khai các hoạt động nghiên cứu nhằm giải quyết có hiệu quả các vấn đề đảm bảo lợi ích cho các chủ thể liên quan

1.4 Các yêu cầu đối với chính sách phát triển du lịch bền vững

Để chính sách phát triển du lịch bền vững đạt được hiệu quả, cần phảiphải tiếp cận và thực hiện một cách toàn diện, hài hoà các yêu cầu sau:

Thứ nhất, liên quan tới hệ sinh thái Phát triển du lịch phải chú ý đến

việc duy trì các hệ thống trợ giúp cuộc sống (đất, nước, không khí và câyxanh), bảo vệ sự đa dạng và ổn định của các loài và các hệ sinh thái Cơ sở hạtầng, cơ sở vật chất – kỹ thuật phải được thiết kế, tổ chức phù hợp với điềukiện cho phép (giới hạn) của môi trường Vì điều kiện của môi trường thayđổi theo không gian và thời gian, phát triển du lịch phải phù hợp với điều kiệnmôi trường ở mỗi vùng khác nhau

Thứ hai, về hiệu quả Sử dụng có hiệu quả nguồn vốn và lao động bỏ ra

trong hoạt động kinh doanh du lịch Hiệu quả liên quan đến việc đánh giá cácphương thức, biện pháp đo lường chi phí, thời gian, lợi ích của cá nhân xã hội

34

Trang 37

thu được thông qua hoạt động du lịch Việc này đòi hỏi quy mô và sự ổn địnhthích hợp của các thị trường du lịch.

Thứ ba, công bằng: Bình đẳng và thừa nhận các nhu cầu cá nhân, hộ gia

đình, các nhóm xã hội, giữa thế hệ hiện tại và thế hệ tương lai, giữa con người

và thiên nhiên

Thứ tư, về bản sắc văn hoá: Bảo vệ và duy trì chất lượng cuộc sống, các

truyền thống văn hoá đặc sắc như tôn giáo, nghệ thuật và thể chế Du lịchphải tăng cường bảo vệ văn hoá thông qua chính sách du lịch văn hoá

Thứ năm, về cộng đồng: Cộng đồng địa phương tham gia vào quá trình

du lịch một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua hoạt động đầu tư kinhdoanh du lịch và các hoạt động khác có liên quan như công nghiệp, thủ công

mỹ, nông nghiệp…

Thứ sáu, cân bằng: Phát triển du lịch phải tạo được sự liên kết, cân đối

và hài hoà giữa kinh tế và môi trường, giữa nông nghiệp và du lịch, giữa cácloại hình du lịch liên ngành để tạo hiệu quả tổng hợp

Thứ bảy, phát triển: Khai thác các tiềm năng làm tăng khả năng cải

thiện chất lượng cuộc sống Tăng trưởng là kết quả của sự phát triển, nhưngkhông đồng nghĩa với sự khai thác triệt để và phá huỷ môi trường

1.5 Kinh nghiệm trong nước và quốc tế về chính sách phát triển du lịch bền vững

1.5.1 Kinh nghiệm quốc tế

1.5.1.1 Xây dựng mô hình du lịch bền vững của cộng đồng Châu Âu (Ecomost: european Community Models of Sustainable Tourism)

Mô hình Ecomost được xây dựng thử nghiệm tại Mallorka, Tây BanNha Đây là một trung tâm du lịch lớn nhất châu Âu Mallorka phát triểnđược là nhờ du lịch, 50% thu nhập nhờ du lịch cuối tuần Để khắc phục tìnhtrạng suy thoái của ngành du lịch ở Mallorka, một chương trình nghiên cứu

Trang 38

xây dựng mô hình du lịch bền vững đã được tiến hành Theo mô hình

ECOMOST, phát triển du lịch bền vững cần gắn kết ba mục tiêu chủ yếu là:

- Bền vững về mặt sinh thái: Bảo tồn sinh thái và đa dạng sinh học, phát triển du lịch cần phải tôn trọng khả năng tải của hệ sinh thái

- Bền vững về mặt văn hoá xã hội: Bảo tồn được bản sắc văn hóa xã hội muốn vậy mọi người quyết định phải có sự tham gia của cộng đồng

- Bền vững về mặt kinh tế: Đảm bảo hiệu quả kinh tế và quản lý tốt tài nguyên sao cho tài nguyên có thể tiếp tục phục vụ cho các thế hệ tương lai

- Dân số cần được duy trì hợp lý và giữ vững bản sắc văn hoá;

- Cảnh quan cần duy trì được sự hấp dẫn du khách;

- Không làm gì gây hại cho sinh thái;

- Có một cơ chế hành chính hiệu quả Cơ chế này phải nhằm vào thựchiện các nguyên tắc, phát triển bền vững, đảm bảo thực thi mọi kế hoạch hiệuquả và tổng hợp cho phép sự tham gia của cộng đồng vào hoạch định cácchính sách du lịch

ECOMOST đã chia nhỏ các mục tiêu của du lịch bền vững thành các thành

tố và sau đó các thành tố được nhận diện và cách đánh giá qua các chỉ thị:

- Thành tố văn hoá xã hội: Dân số phù hợp, bảo tồn hiệu quả kinh tế và bảo tồn bản sắc văn hoá

- Thành tố du lịch: Thoả mãn du khách và các nhà kinh doanh tour du lịch, bảo trì và hiện đại hoá điều kiện ăn ở giải trí

- Thành tố sinh thái: Khả năng tải, bảo tồn cảnh quan, sự quan tâm đến môi trường

- Thành tố chính sách: Đánh giá được chất lượng du lịch chính sách định

hướng sinh thái, quy hoạch vùng, sự tham gia của cộng đồng và các nhóm quyền lực trong quá trình quy hoạch

36

Trang 39

ECOMOST xây dựng một kế hoạch hành động cụ thể trong đó chia cáchành động dựa vào mức độ ưu tiên và xác định rõ trách nhiệm của các cánhân và các tổ chức liên quan.

1.5.1.2 Xây dựng mô hình du lịch bền vững tại Làng HIGASHI, OKINAWA, Nhật Bản

Làng Higashi, thuộc đảo Okianawa, Nhật Bản có diện tích 82 km2, trong đó

có 73% diện tích là rừng nhiệt đới Làng Higashi có dân số 1.900 người; ngànhnghề chủ yếu của cư dân địa phương là làm du lịch, nông nghiệp trồng dứa, xoài,màu lương thực…

Tài nguyên thiên nhiên nổi bật là có 10ha rừng ngập mặn, vườn hoa đỗ quyên

có hơn 5.000 cây và một số loài động vật quý hiếm được coi là tài sản quốc giaNhật Bản là: Chim Gallorallus Okinawa thuộc họ Gà nước, Chim SapheopipoNoguchii thuộc họ Gõ Kiến, Bọ cánh cứng Cheirotonus Jambar Mỗi năm, LàngHigashi đón trung bình khoảng 300.000 khách du lịch

Hoạt động du lịch của làng gồm:

- Du lịch tham quan ngắm cảnh trong làng;

- Du lịch xanh: Trải nghiệm làm nông nghiệp, nghỉ trọ nhà dân (home stay);

Nội dung chương trình du lịch:

Khách du lịch khi đến làng được đón tiếp tại trụ sở tổ chức Hiệp hội xúc tiến

du lịch của làng để được giới thiệu và kết nối các hoạt động du lịch tại thôn Khách

du lịch được sẽ được tham gia Lễ nhập Làng do Hiệp hội tổ chức (lễ gặp mặt giới

thiệu giữa người khách du lịch và người dân địa phương nơi khách du lịch đến ở).

Sau lễ đón nhập làng, khách du lịch được các gia đình đón về lưu trú và tham giacác hoạt động du lịch trải nghiệm tại gia đình Ngày thứ 2, khách du lịch được đi

tham quan du lịch theo chương trình tour du lịch theo chương trình (thăm quan

rừng ngập mặn, ngắm vườn hoa đỗ quyên, thăm các bãi biển, phong cảnh), các gia

đình có trách nhiệm đưa, đón khách du lịch đi tham quan phong cảnh do Hiệp hộixúc tiến du lịch của Làng tổ chức chung cho toàn bộ khách du lịch, thăm quan nhà

trưng bày của làng (giống như một viện bảo tàng nhỏ về lịch sử, phong tục tập

Trang 40

quán, sinh hoạt của người dân địa phương và tài nguyên du lịch của làng) Những

ngày tiếp theo, khách du lịch tham gia các hoạt động du lịch xanh, trải nghiệm làmnông nghiệp như làm đất, thu hoạch nông sản, cho gia súc ăn…Một điểm đáng chú

ý, là khách du lịch khi đến ở trọ tại gia đình được sinh hoạt chung như thành viêntrong gia đình, từ sinh hoạt đến làm việc

Sau 2 đến 3 ngày hoặc có thể lâu hơn (theo chương trình tua) khách du lịchđược gia đình người dân đưa trở lại trụ sở tổ chức Hiệp hội xúc tiến du lịch củaLàng để trở về Sau lễ chia tay và chụp ảnh lưu niệm, khách du lịch được các công

dân địa phương;

- Du lịch gắn với hoạt động giáo dục môi trường;

1.5.2 Kinh nghiệm trong nước

1.5.2.1 Xây dựng chính sách phát triển du lịch bền vững theo hướng dựa vào cộng đồng ở Hội An, Quảng Nam

Đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng bền vững và chất lượng dựa trên cácgiá trị văn hóa và sinh thái hiện có… là hướng phát triển ngành kinh tế du lịch ởHội An trong những năm qua

Theo hướng phát triển, chính quyền thành phố chủ trương đẩy mạnh du lịchcộng đồng, tạo điều kiện để người dân được hưởng lợi ngay trên chính di sản củamình Những năm gần đây, thành phố đã cho phát triển nhiều loại hình dịch vụ lưutrú trong dân Loại hình homestay hiện nay rất phát triển, kể cả các biệt thự du lịch

ởcác vùng ven Sắp tới, thành phố sẽ mở rộng hơn nữa những quy định để tạo điềukiện tối đa cho các chủ hộ kinh doanh cũng như các doanh nghiệp có điều kiện đầu

tư phát triển mạnh hơn nữa loại hình này nhằm đem lại lợi ích cho nhiều ngườidân” Trong năm, đã có 217 cơ sở với gần 890 phòng lưu trú được đưa vào hoạtđộng, nâng tổng số cơ sở hiện có lên hơn 430 cơ sở với gần 7.600 phòng Công tác

38

Ngày đăng: 26/09/2019, 14:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1996), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của BanChấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Năm: 1996
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2007), Nghị quyết số 09/NQ-TƯ ngày 9/2/2007 của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóaX về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 09/NQ-TƯ
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Năm: 2007
3. Ban thường vụ Thành ủy Hải Phòng, Thông báo số 82- TB/TU ngày 04/8/2012 sơ kết 05 năm thực hiện Nghị quyết 09 – NQ/TU ngày 22/11/2006 của Ban thường vụ Thành ủy về phát triển du lịch Hải Phòng giai đoạn 2006 – 2010 định hướng đến 2020, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo số 82- TB/TU
4. Ban thường vụ Thành ủy Hải Phòng, Nghị Quyết số 09-NQ/TU ngày 22/11/2016 của Ban thường vụ Thành ủy về phát triển du lịch Hải Phòng giai đoạn 2006 – 2010 định hướng đến năm 2020, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị Quyết số 09-NQ/TU
5. Câu lạc bộ hưu trí du lịch Thành phố Hải Phòng(2005), 50 năm du lịch hải Phòng, NXB Hải Phòng, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: 50 năm du lịch hải Phòng
Tác giả: Câu lạc bộ hưu trí du lịch Thành phố Hải Phòng
Nhà XB: NXB Hải Phòng
Năm: 2005
6. Chính phủ, Nghị định 92/2007/NĐ-CP ngày 1/6/2007 của Chính phủ vềviệc hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều tại Luật Du lịch, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 92/2007/NĐ-CP
7. Cục xúc tiến Việt Nam(2002), Sản phẩm và làng nghề Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản phẩm và làng nghề Việt Nam
Tác giả: Cục xúc tiến Việt Nam
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w