1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Bài-tập-lớn-môn-Địa-Lý-Kinh-Tế (1)

22 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 187,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kinh tế loài người đã trải qua hai quá trình là: Kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hóa. Xã hội loài người bắt đầu bằng kinh tế tự nhiên. Trong nền kinh tế tự nhiên con người sản xuất ra các sản phẩm với mục đích phục vụ cho nhu cầu của bản thân họ, vì thế chưa có trao đổi hàng hóa và dịch vụ.

Trang 1

MỤC LỤC Trang

I.Lịch sử phát triển ngành thương mại 2

II Vai trò của ngành thương mại trong nền kinh tế quốc dân của nước ta 4

III Tình hình phát triển ngành thương mại Việt Nam hiện nay 7

1 Tình hình phát triển thương mại nội địa ở Việt Nam hiện nay 7

2 Tình hình phát triển thương mại quốc tế ở Việt Nam hiện nay 8

IV Xu hướng phát triển ngành thương mại ở Việt Nam hiện nay 11

1 Xu hướng phát triển thương mại nội địa ở Việt Nam hiện nay 11

2 Xu hướng phát triển thương mại quốc tế ở Việt Nam hiện nay 18

Tài liệu tham khảo 21

Danh sách thành viên nhóm và trách nhiệm từng thành viên 22

Trang 2

I.Lịch sử phát triển ngành thương mại.

Kinh tế loài người đã trải qua hai quá trình là: Kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hóa Xã hội loài người bắt đầu bằng kinh tế tự nhiên Trong nền kinh tế tự nhiên con người sản xuất ra các sản phẩm với mục đích phục vụ cho nhu cầu của bản thân họ, vì thế chưa có trao đổi hàng hóa và dịch vụ

Trao đổi hàng hóa chỉ xuất hiện trong nền kinh tế hàng hóa khi phân công lao động xã hội đã tương đối phát triển và chế độ tư hữu hình thành Trong lịch sử phát triển loài người trao đổi hàng hóa xuất hiện vào giai đoạn cuối của xá hội cộng đồng nguyên thủy và thời kỳ đầu của chế

độ chiếm hữu nô lệ Lúc đầu trao đổi mang tính ngẫu nhiên và được tiến hành trực tiếp theo hình thức hàng đổi hàng ( H – H’ )

Khi xã hội xuất hiện tiền tệ thì từ đó trao đổi được tiến hành thông qua môi giới của tiền tệ ( H –

T – H’ ) và lưu thông hàng hóa ra đời

Lưu thông hàng hóa là hình thái phát triển của trao đổi hàng hóa, đó là sự trao đổi hàng hóa thông qua môi giới của tiền tệ

Lưu thông hàng hóa ra đời làm cho quá trình mua bán trao đổi dễ dàng hơn, thuận tiện, mở rộng hơn về không gian và thời gian Nó đã thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của trao đổi hàng hóa trựctiếp

Tuy nhiên sự tách rời giữa quá trình mua bán cũng làm xuất hiện mầm mống của mâu thuẫn giữasản xuất và tiêu dùng Do vậy cũng làm nảy sinh những điều kiện dẫn tới khủng hoảng sản xuất

và tiêu thụ

Trong trao đổi hàng hóa trực tiếp và lưu thông hàng hóa, chủ thể của hoạt động trao đổi là nhữngngười sản xuất và những người tiêu dùng, không có sự tham gia của những người trung gian ( thương nhân ) Mục đích của hoạt động trao đổi là giá trị sử dụng

Sự phát triển ngày càng cao của phân công lao động xã hội đã làm xuất hiện một tầng lớp xã hội mới, đó là những người thương gia Khác với những người sản xuất trực tiếp và những người tiêu dùng trực tiếp, thương gia bỏ tiền ra mua hàng hóa của những người sản xuất, sau đó bán lại

để kiếm lời trong hoạt động buôn bán Hoạt động kinh tế của những người thương gia thông qua mua bán để kiếm lời chính là hoạt động thương mại ( T – H – T’)

Khác với trao đổi hàng hóa trực tiếp và lưu thông hàng hóa, hoạt động thương mại bắt đầu bằng tiền với hành vi mua và kết thúc cũng bằng tiền với hành vi bán mục đích của hoạt động thương mại không phải là giá trị sử dụng mà là giá trị cụ thể là nhằm vào lợi nhuận

Lưu thông hàng hóa ra đời đã phủ định trao đổi hàng hóa trực tiếp, ngược lại thương mại ra đời không đưa đến sự phủ định lưu thông mà trái lại nó là cho lưu thông hàng hóa phát triển ở một trình độ cao hơn

Trang 3

Như vậy, sự xuất hiện của hoạt động thương mại gắn liền với sự xuất hiện của thương gia Về lịch sử, những người thương gia xuất hiện vào cuối chế độ công xã nguyên thủy và đầu chế độ phong kiến.

Những hoạt động thương mại lúc đầu chỉ giới hạn chủ yếu trong lĩnh vực trao đổi các sản phẩm hữu hình ( thương mại hàng hóa ), sau đó được mở rộng sang các sản phẩm vô hình ( thương mạidịch vụ ), và trong nền kinh tế hiện đại, thương mại còn liên quan rất chặt chẽ với các hoạt động đầu tư và sở hữu trí tuệ

Những người thương gia ngày càng đông trong xã hội như là kết quả tất yếu của quá trình phân công lao động xã hội ngày càng mở rộng và chuyên sâu Khi đó, một bộ phận lao động xã hội tách khỏi sản xuất, độc lập với sản xuất, chuyên làm chức năng lưu thông làm xuất hiện một ngành kinh tế mới đó là ngành thương mại Ngành thương mại ra đời như là kết quả tất yếu của

sự phát triển trao đổi và phân công lao động xã hội Phân công lao động lần thứ nhất bằng việc tách chăn nuôi ra khỏi trồng trọt đã thúc đẩy sự phát triển của trao đổi và tiền tệ xuất hiện trong giai đoạn này Phân công lao động lần thứ hai bằng việc tách thủ công khỏi nông nghiệp, sản xuất hàng hóa hình thành Phân công lao động lần thứ ba với việc tách riêng chức năng tiêu thụ khỏi chức năng sản xuất, đã làm xuất hiện một ngành kinh tế chuyên làm chức năng trao đổi, mua bán nhằm vào mục đích kiếm lời trong nền kinh tế đó là ngành thương mại

Phân công lao động xã hội vẫn tiếp tục phát triển và tạo ra nhiều ngành mới Trong lĩnh vực thương mại, ngoài ngành phân phối là ngành chuyên cung cấp các dịch vụ mua bán hàng hóa hữu hình gồm: bán buôn và bán lẻ còn có các ngành thương mại dịch vụ chuyên đảm nhận việc cung ứng dịch vụ cho thị trường thông qua các hoạt động thương mại vì mục đích lợi nhuận (hiện nay theo phân loại của WTO, lĩnh vực thương mại dịch vụ được phân thành 12 ngành, trong đó có 155 tiểu ngành dịch vụ khác nhau) Ngành thương mại ra đời vừa là sự tiến bộ của lịch sử, vừa là điều kiện thúc đẩy sự phát triển một bước cao hơn nữa của sản xuất hàng hóa Sảnxuất hàng hóa và lưu thông hàng hóa là 2 yếu tố cơ bản hợp thành Kinh tế hàng hóa Kinh tế hàng hóa tất nhiên sản sinh và hình thành thị trường Vì thế, nói tới thương mại, nói đến kinh tế hàng hóa, không thể tách rời phạm trù thị trương và kinh tế thị trường Kinh tế hàng hóa và kinh

tế thị trường, cũng như thương mại và thị trường đó là những mặt không thể tách rời của cùng một sự vật

Bản chất và vai trò của thương mại :

Thương mại là tổng hợp các hiện tượng, các hoạt động và các quan hệ kinh tế gắn và phát sinh cùng với trao đổi hàng hóa và cung ứng dịch vụ nhằm mục đích lợi nhuận.

Trang 4

II Vai trò của ngành thương mại trong nền kinh tế quốc dân ở nước ta.

1.Đối với sản xuất và tái sản xuất xã hội.

Sản xuất đóng vai trò quyết định đối với hoạt động thương mại Thương mại là điều kiện thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển Thông qua hoạt động thương mại trên thị trường, các chủ thể kinh doanh mua bán được các hàng hóa

Vì thế hoạt động thương mại là yếu tố tích cực để phát triển nền kinh tế hàng hóa, thúc đẩy quá trình phân công lao động xã hội Phá vỡ nền kinh tế tự cung tự cấp, tổ chức lại sản xuất, hình thành các vùng chuyên môn hóa sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa lớn Thương mại còn góp phần thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội Trong chu kỳ tái sản xuất thương mại hoạt động

ở hai khâu: Đảm bảo cung ứng các tư liệu sản xuất cho sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm Cung ứng kịp thời các tư liệu sản xuất, rút ngắn thời gian tái sản xuất, đẩy nhanh nhịp độ tăng trưởng kinh tế Và hoạt động thương mại kích thích sự phát triển lượng lượng sản xuất, đưa nhanh tiến

bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất, kích thích sản xuất những mặt hàng mới, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao năng suất lao động và hạ thấp giá thành sản phẩm Với

tư cách là người đại diện tiêu dùng, thong qua nắm nhu cầu thị trường, thương mại phản ánh cho sản xuất để xây dựng kế hoạch sản xuất phù hợp với nhu cầu thị trường và nâng cao hiệu quả sảnxuất

Chính những điều này đã đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được tiến hành bình thường, lưu thông hàng hóa, dịch vụ thông suốt Vì vậy, không có hoạt động thương mại phát triển thì sản xuất hàng hóa không thể phát triển được

2.Đối với nhu cầu tiêu dùng.

Tiêu dùng với tư cách là yếu tố của quá trình tái sản xuất xã hội Vừa chịu tác động quy định ở sản xuất, nhưng đồng thời cũng tác động mạnh đến sản xuất và là mục đích của sản xuất, vì không có sản xuất thì không có tiêu dùng, và không có tiêu dùng thì cũng không có sản xuất Với

tư cách là chiếc cầu nối liền giữa sản xuất và tiêu dùng, thương mại có tác động đến tiêu dùng thông qua việc mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường

Trước hết, thương mại đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội, góp phần ổng định và nâng cao đờisống vật chất và tinh thần của nhân dân Thương mại có khả năng nắm bắt nhu cầu của thị trường

và từ đó đặt hàng hóa cho sản xuất, tác động đến việc xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch

để sản xuất đáp ứng nhu cầu của thị trường về số lượng, mẫu mã, cơ cấu mặt hàng, chất lượng hàng hóa và giá cả Mặt khác, thương mại không chỉ đại diện cho người tiêu dùng, mà còn là người hướng dẫn tiêu dùng phù hợp với điều kiện sản xuất và theo đường lối sống văn minh hiệnđại Cung ứng hàng hóa là hoạt động quan trọng ở thương mại để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, nhưng hoàn toàn không bị động như đòi hỏi của tiêu dùng, mà phải tác động mạnh đến tiêu dùng

và hướng dẫn tiêu dùng, đặc biệt là cơ cấu tiêu dùng phù hợp với tình trạng cụ thể của cơ cấu sảnxuất trong từng thời kỳ Nhu cầu của con người thường vượt khỏ khả năng sản xuất và đi trước

Trang 5

một bước đối với sản xuất, hình thành động lực thường xuyên đối với sự phát triển sản xuất, đồng thời cũng nảy sinh ra sự bất cập: Nhu cầu tiêu dùng không phù hợp với điều kiện kinh tế ở đất nước Đồng thời, thương mại kích thích nhu cần và luôn tạo ra nhu cầu mới Thương mại mộtmặt làm cho nhu cầu trên thị trường trung thực với nhu cầu, mặt khác nó làm bộc lé tính đa dạng,phong phú của nhu cầu Thương mại buộc các nhà sản xuất phải đang dạng hóa các sản phẩm Điều này tác động ngược lại đến tiêu dùng và làm bật dậy nhu cầu mới Điều này tác động ngượclại đến tiêu dùng và làm bật dậy nhu cầu mới.

Vì vậy, thương mại có vai trò quan trọng trong việc mở rộng khả năng tiêu dùng nâng cao mức hưởng thụ của các cá nhân và doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy sản xuất và mở rộng phân công lao động xã hội, thực hiện cách mạng khoa học công nghệ trong các nghành của nền kinh tế quốcdân

3.Đối với giải quyết quan hệ giữa sản xuất công nghiệp – nông nghiệp.

Trong điều kiện còn tồn tại và phát triển sản xuất hàng hóa và lưu thông hàng hóa, các môi quan

hệ kinh tế lớn trong nền kinh tế được thiết lập và phát triển thông qua thị trường, thông qua hoạt động thương mại như quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng, quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa cung và cầu, giữa hàng và tiền…

Mối quan hệ công nghiệp và nông nghiệp là quan hệ kinh tế chủ yếu của nền kinh tế quốc dân, làmối quan hệ của quá trình tái sản xuất Đầu ra của nghành này cũng chính là đầu vào của nghànhkia và ngược lại Chúng vừa là nguồn hàng vừa là thị trường tiêu hụ sản phẩm của nhau Tái sản xuất ở ngành này còn phụ thuộc và tác động trực tiếu tới sản xuất của nghành kia và ngược lại Hơn nữa trong điều kiện còn sản xuất và lưu thông hàng hóa, quan hệ công – nông nghiệp được thực hiện thông qua hoạt động thương mại Có thể nói thương mại là cầu nối giữa hai ngành, gópphần thiết lập cơ cấu kinh tế công – nông nghiệp hợp lý trong vi cả nước, cũng như từng vùng kinh tế và từng địa phương

Như vậy, hoạt động thương mại đã đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cân đối cung cầu hàng hóa trên thị trường Nó tác động tích cực đến sản xuất và thúc đẩy sản xuất phát triển, tổ chức các nguồn hàng và khai thác các nguồn hàng để cung ứng ra thị trường làm cho lượng hàng hóa trên thị trường ngày càng phong phú và đa dạng đáp ứng nhu cầu thị trường

4.Đối với giải quyết các quan hệ trên thị trường.

Nói đến thương mại là nói đến sự cạnh tranh giữa các chủ thể kinh doanh trên thị trường trong mua bán hàng hóa, dịch vụ Quan hệ giữa các chủ thể kinh doanh là quan hệ bình đẳng, thuận mua vừa bán, nói cách khác là các quan hệ đó đã được tiên tiến hóa Đặc biệt là quan hệ cung cầu hàng hóa trên thị trường vì đây là quan hệ kinh tế lớn trong nền kinh tế, nó phản ánh quan hệgiữa sản xuất và tác động, giữa hàng hóa và tiền tệ lưu thông trên thị trường Cung đại diện cho người sản xuất, người bán, cho hàng hóa Còn cầu đại diện cho người mua, cho người tiêu dùng

và đại diện cho tiền tệ Và cân bằng quan hệ cung cầu hàng hóa trên thị trường là yếu tố để phát

Trang 6

triển hàng hóa kinh tế ổn định Vì thế thương mại tổ chức tiêu thụ hàng, đảm bảo tiêu thụ hàng hóa nhanh chóng, đáp ứng nhu cầu thị trường, làm cho cung – cầu hàng hóa trên thị trường cân bằng Và trong trường hợp cung – cầu mất cân đối, thương mại thông qua sử dụng chính sách giá

để điều tiết cung – cầu làm cho cung cầu cân bằng Điều đó góp sức thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng, giúp các doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay

5.Thương mại góp phần phát triển tài chính ngân hàng.

Thương mại có mối quan hệ hết sức chặt chẽ với nghành tài chính và ngân hàng trong quá trình hoạt động Vì thế hoạt động thương mại là tổ chức quá trình lưu thông hàng hóa, chuyển hóa hình thái tiền tệ sang hàng hóa và chuyển hàng hóa sang tiền tệ, lấy tiền tệ làm phương tiện tổ chức lưu thông hàng hóa Do đó hoạt động thương mại vừa chịu sự tác động của ngành tài chính

và ngân hàng, vừa có tác động tích cực trở lại đối với sự phát triển của các ngành tài chính và ngân hàng

Trước hết, thương mại có vai trò quan trọng trong quá tình phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân Vừa tiến hành trao đổi phân phối lại cái đã được phân phối, vừa tham gia đóng góp vào thu nhập quốc dân Như vậy, hoạt động thương mại có vai trò quan trọng rong việc phân phối tái phân phối sản phẩm xã hội, hình thành và phát triển nguồn tài chính quốc gia

Không những thế, lưu thông hàng hóa và lưu thông hàng hóa và lưu thông tiền tệ còn là hai dònglưu thông và có tác động qua lại lẫn nhau Hàng hóa và tiền tệ luôn chuyển hóa lẫn nhau, hình thành lên một mối quan hệ chủ yếu trên thị trường, gắn liền với yếu tố giá cả

Vai trò của hoạt động thương mại là rất quan trọng đối với nâng cao sức mua của đồng tiền, tăng nhanh tốc độ chu chuyển của đồng tiền, giảm tương đối số lương tiền tệ đưa vào lưu thông

6.Thương mại góp phần phát triền kinh tế đối ngoại.

Trong xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế diễn ra mạnh mẽ, thị trường trong nước có mối liên hệ chặt chẽ với thị trường nước ngoài thông qua hoạt động ngoại thương Quan hệ thương mại giữ

vị trí tien phong thúc đẩy các quan hệ kinh tế quốc tế khác phát triển Phát triển hợp tác và hội nhập khu vực và thế giới là xu thế tất yếu của sự phát triển thời đại Một yếu tố có tính chất quyết định để phát triển hợp tác và hội nhập là phát triển thị trường chiến lược để phát triển kinh

tế Đây là con đường để kinh tế phát triển nhảy vọt, thực hiện đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Vì vậy, thương mại có vai trò cầu nối gắn kế nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới, thực hiện đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Vì vậy, thương mại

có vai trò là cầu nối gắn kết nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới, thực hiện chính sách

mở cửa

Trang 7

III Tình hình phát triển ngành thương mại Việt Nam hiện nay.

1.Tình hình phát triển thương mại nội địa ở Việt Nam hiện nay.

Năm 2016, thương mại trong nước tiếp tục đóng vai trò là trụ đỡ quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế Tỷ lệ tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng xã hội so với GDP năm 2016 đạt mức 86%, cao hơn so với 77,3% của năm 2015

Giá cả các mặt hàng trong nước nhìn chung ổn định, cung cầu được bảo đảm, đặc biệt là đối với các mặt hàng thiết yếu như xăng dầu, điện, lương thực, thực phẩm Bộ Công Thương tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính trong công tác điều hành giá xăng dầu, bảo đảm giá xăng dầutrong nước phù hợp xu hướng biến động của giá thế giới, bảo đảm nguyên tắc vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, có tính đến việc hỗ trợ cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và đời sống người dân

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội ước đạt 3,53 triệu tỷ đồng, tăng10,2% so với năm 2015 (cao hơn mức tăng 9,27% của cùng kỳ năm 2015) Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa năm 2016 ước tính đạt 2,67 triệu tỷ đồng, chiếm 75,9% tổng mức và tăng 10,2% so với năm trước, trong đó tăng cao ở nhóm lương thực thực phẩm (tăng 13,6%) và nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình (tăng 11,4%)

Thương mại điện tử ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với thương mại bán lẻ Doanh số thương mại điện tử bán lẻ B2C của Việt Nam năm 2016 ước đạt 5 tỷ đô la Mỹ, tăng hơn gấp đôi

từ 2,2 tỷ đô la Mỹ năm 2013 và chiếm trên 3% tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

cả nước năm 2016

CPI bình quân năm 2016 tăng 2,66% so với bình quân năm 2015 CPI bình quân năm 2016 so với bình quân năm 2015 tăng cao hơn so với năm trước, nhưng thấp hơn nhiều so với mức tăng CPI bình quân của một số năm gần đây CPI tháng 12 năm 2016 tăng 4,74% so với tháng 12 năm

2015, đạt mục tiêu 5% mà Quốc hội đề ra

Công tác quản lý thị trường đã tập trung triển khai ngay từ đầu năm để tăng cường kiểm tra, xử

lý các hành vi buôn lậu, gian lận thương mại ở tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là ở các địa bàn trọng tâm và mặt hàng trọng tâm Công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, quản lý hoạt động bán hàng đa cấp, áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại được đặc biệt quan tâm đẩy mạnh và đổi mới phương thức quản lý, góp phần bảo

vệ và hỗ trợ thị trường trong nước phát triển lành mạnh

Cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam" tiếp tục được mở rộng và đi vào chiều sâu, đã góp phần hỗ trợ và thúc đẩy phát triển sản xuất của các doanh nghiệp trong nước, tạo dựng thị trường vững chắc hơn cho hàng Việt tại thị trường nội địa

Tuy nhiên, mức tăng trưởng thương mại nội địa chưa cao như kỳ vọng Nếu loại trừ yếu tố tăng giá, tổng mức bán lẻ cả nước cả năm chỉ tăng khoảng 7,8%, thấp hơn mức tăng 8,5% của năm

Trang 8

2015 Trong đó, nhóm có tỷ trọng lớn là nhóm bán lẻ hàng hóa có mức tăng không cao như nhóm lương thực, thực phẩm, hàng may mặc cho thấy sự sụt giảm của cầu nội địa.

Hệ thống phân phối hàng hóa, nhất là một số mặt hàng thiết yếu đã từng bước được củng cố nhưng chưa phát triển bền vững Hạ tầng thương mại xét về tổng thể vẫn còn yếu kém và lạc hậu, chưa đáp ứng được so với đòi hỏi phát triển của ngành thương mại và phát triển thị trường trong nước

Quy hoạch vùng sản xuất và thị trường chưa cân đối do sản xuất nông sản phân tán Mặt khác, sản xuất chưa theo quy hoạch còn khá phổ biến nên việc quản lý và đầu tư phát triển hạ tầng còn khó khăn; bố trí mùa vụ sản xuất không tập trung nên dễ xảy ra tình trạng nguồn cung thay đổi gây nên khủng hoảng thừa hoặc thiếu cục bộ ở một số thời điểm (điển hình như đối với trường hợp dưa hấu, hành tím, thanh long…)

Công tác thông tin thị trường chưa thực sự được tổ chức tốt Sự phối hợp giữa các Bộ, ngành, địaphương vẫn chưa chặt chẽ trong công tác truyền thông, dẫn đến chưa thực sự tác động mạnh vào tâm lý, hành vi người tiêu dùng

Công tác kiểm soát thị trường trong nước tuy đã được tăng cường song vẫn chưa đạt yêu cầu, chưa được ngăn chặn và xử lý một cách cơ bản các hoạt động gian lận thương mại trên thị trườngcũng như các yếu tố tiêu cực tiềm ẩn để có biện pháp phòng ngừa Tình trạng hàng giả, hàng kémchất lượng, buôn lậu và các hành vi vi phạm pháp luật trong kinh doanh vẫn còn diễn biến phức tạp Phương thức, thủ đoạn của các đối tượng buôn lậu, sản xuất, kinh doanh hàng giả, gian lận thương mại ngày càng tinh vi, khi bị phát hiện thì chống đối liều lĩnh, gây khó khăn cho lực lượng quản lý thị trường thi hành nhiệm vụ Thương mại điện tử chưa kiểm soát tốt về cả về tư cách pháp nhân lẫn chất lượng hàng hóa được mua bán qua mạng

Thêm vào đó, tình trạng không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật và chất kích thích tăng trưởng trên các mặt hàng nông sản vẫn còn phổ biến Lực lượng quản

lý thị trường vẫn gặp rất nhiều khó khăn do phương thức, thủ đoạn vi phạm ngày càng tinh vi, đối tượng vi phạm ngày càng đa dạng, chế tài xử lý vi phạm chưa đủ sức răn đe

2 Tình hình phát triển thương mại quốc tế ở Việt Nam hiện nay.

Những bước điều chỉnh về chính sách thương mại đã đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới Hiện nay, Việt Nam đã có quan hệ thương mại với 224/255 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới

Về tham gia các hiệp định, tổ chức kinh tế song phương và đa phương: Từ sau năm 1986, đặc biệt là từ đầu thập kỷ 1990 đến nay, Việt Nam đã thực hiện đường lối tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Kết quả của thực hiện đường lối đó thể hiện rõ nét qua việc đàm phán và ký

Trang 9

kết nhiều hiệp định hợp tác song phương, đa phương về kinh tế, thương mại, đầu tư và tham gia nhiều tổ chức kinh tế - thương mại khu vực và toàn cầu.

Riêng trong năm 2015, Việt Nam đã ký hiệp định thương mại tự do (FTA) với Hàn Quốc

(VKFTA) và với Liên minh Kinh tế Á - Âu, kết thúc đàm phán Hiệp định TPP và FTA với EU (EVFTA), tham gia Cộng đồng Kinh tế ASEAN (chính thức có hiệu lực từ ngày 31/12/2015) Tổng cộng đến nay, Việt Nam đã ký kết 10 FTA song phương và đa phương, kết thúc đàm phán

2 FTA khác Các FTA đó bao trùm 55 nền kinh tế (trong đó có 15 nền kinh tế thuộc nhóm 20 nền kinh tế lớn nhất thế giới, như: Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, EU…) Ngoài ra, Việt Nam còn

ký kết 80 hiệp định thương mại song phương khác, 46 hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư,

40 hiệp định tránh đánh thuế 2 lần Các FTA mà Việt Nam tham gia hoặc sẽ ký kết đã và đang

mở ra các cơ hội cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam được tiếp cận các thị trường rộng lớn củathế giới, giúp đẩy mạnh xuất khẩu của nước ta

Theo Tổng cục Thống kê, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá tăng từ 789 triệu USD năm 1986 lên 162 tỷ USD năm 2015 Tốc độ tăng trưởng của từng thời kỳ rất cao, thời kỳ từ 1991-1995 tăng gấp 2 lần so với thời kỳ 1986-1990 và đạt 39,9 tỷ USD với tốc độ tăng trưởng 21,4%/năm; thời kỳ 1996-2000 tăng 2,8 lần so với thời kỳ trước và đạt trên 100 tỷ USD (tốc độ tăng bình quân là 17,2%/năm); thời kỳ 2001-2005 tăng 2,1 lần so với thời kỳ trước, đạt 241 tỷ USD (tốc độtăng bình quân 18,2%/năm); thời kỳ 2006-2010 tăng 2,6 lần thời kỳ trước, đạt 624 tỷ USD với tốc độ tăng trưởng bình quân là 13,2%/năm; thời kỳ 2011-2015 cũng tăng 2,1 lần thời kỳ trước, đạt 1.321 tỷ USD với tốc độ tăng trưởng bình quân 16,1%/năm

Riêng năm 2016, tổng kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu ước tính đạt 349,2 tỷ USD, tăng 6,5%

so với năm trước

Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân giai đoạn 1986-2005 là 21,2%/năm, giai đoạn

2006-2010 là 17,3%/năm và giai đoạn 2011-2015 là 17,9%/năm Nếu xuất khẩu bình quân 1 năm ở giai đoạn đầu Đổi mới là 1,4 tỷ USD/năm thì giai đoạn 2001-2005 đã tăng lên 22,2 tỷ USD/năm (gấp 16 lần), giai đoạn 2006-2010 là 56 tỷ USD/năm, giai đoạn 2011-2015 là 131,1 tỷ USD/năm,cao gấp đôi so với giai đoạn trước Thành tích này là nhờ khởi động nhiều chính sách kinh tế vĩ

mô của chính phủ đã trực tiếp và gián tiếp khuyến khích xuất khẩu hàng hóa Năm 2016, kim ngạch xuất khẩu đạt 175,9 tỷ USD, tăng 8,6% so với năm trước, một mức tăng khá ấn tượng so với mức tăng 7,9% của năm 2015

Cùng với tăng trưởng kinh tế và xuất khẩu, nhập khẩu với ý nghĩa là một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy sản xuất, tiêu dùng cũng tăng khá cao

Trang 10

Nhập khẩu bình quân tăng lên 26 tỷ USD/năm giai đoạn 2001-2005, cao gấp hơn 10 lần giai đoạn 1986-1990, đạt khoảng 68 tỷ USD/năm giai đoạn 2006-2010 và đạt 133,2 tỷ USD/năm giai đoạn 2011-2015 (Bảng 2) Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu năm 2016 đạt 173,3 tỷ USD, tăng 4,6% so với năm trước Cán cân thương mại hàng hóa tính chung cả năm 2016 đã chuuyển sang trạng thái dương với mức xuất siêu 2,6 tỷ USD.

1990 1991 - 1995 1996 - 2000 2001 – 2005 2006 - 2010 2011 - 2015Tổng kim ngạch xuất –

nhập khẩu (triệu USD) 19.717 39.940 113.440 240.981 623.562 1.321.683Tốc độ tăng bình quân

và gia công hàng hóa ở công đoạn thấp của chuỗi giá trị (dệt may, da giày, điện tử…) Thương mại trong nước phát triển nhanh, nhưng cấu trúc thiếu bền vững; Sự chênh lệch về trình độ phát triển thương mại theo vùng, miền chưa được cải thiện; Các doanh nghiệp thương mại trong nước chủ yếu có quy mô nhỏ đang chịu sức ép cạnh tranh lớn từ các doanh nghiệp FDI; Hoạt động bánbuôn có quy mô, phạm vi nhỏ hẹp cả theo không gian thị trường và phạm vi mặt hàng; Chi phí trong lĩnh vực phân phối cao do mức độ phức tạp, độ dài của các kênh phân phối, sự thiếu hụt của dịch vụ logistics

Trang 11

IV Xu hướng phát triển ngành thương mại Việt Nam hiện nay.

1.Xu hướng phát triển thương mại nội địa ở Việt Nam hiện nay.

Tiềm lực thương mại nội địa

Thị trường nội địa VN được đánh giá là rất hấp dẫn ,với quy mô dân số đông khoảng 90 triệu người, trong đó có tới 60% là dân số trẻ Với một lượng lớn là dân số trẻ như vậy thì đây được coi là thị trường tiềm năng Nhu cầu của người dân ngày một tăng cao, mức chi tiêu cá nhân của người tiêu dùng VN ngày một tăng, chi tiêu cá nhân tăng cao thể hiện mức thu nhập và sức mua

có khả năng thanh toán của dân cư tăng lên

Các doanh nghiệp đã, đang tiếp cận và nắm bắt nhu cầu thị trường trong từng vùng, từng nhóm dân cư, kể cả vùng sâu, vùng xa có khó khăn về giao thông và vận chuyển hàng hóa để sản xuất

và kinh doanh, mở rộng mạng lưới bán buôn, bán ẻ nên tổng mức hàng hóa tăng lên Ðây được coi như một tín hiệu rất tốt cho việc tiếp tục phát triển thị trường nội địa khi thị trường xuất khẩu

bị thu hẹp do tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo ngành kinh doanh

Nguồn: Tổng cục thống kê

Mấy năm trở lại đây, chủ trương phát triển thị trường trong nước để kích thích tiêu dùng nội địa

đã được triển khai khá rộng khắp trên cả nước với sự chỉ đạo và điều hành của nhiều bộ, ngành

và các cấp, từ Trung ương tới địa phương, sự tham gia của các doanh nghiệp và sự đồng thuận của các tầng lớp nhân dân nên đã tạo được những kết quả quan trọng cho sự phát triển của đất

Ngày đăng: 24/02/2021, 20:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w