“ Quản lý môi trường là sự tác động liên tục, có tổ chức và hướng đích của chủ thể quản lý môi trường lên cá nhân hoặc cộng đồng người tiến hành tác động các hoạt động phát triến trong h
Trang 1TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
1.1 Khái niệm chung về quản lý môi trường.
“ Quản lý môi trường là sự tác động liên tục, có tổ chức và hướng đích của
chủ thể quản lý môi trường lên cá nhân hoặc cộng đồng người tiến hành tác động các hoạt động phát triến trong hệ thống môi trường và khách thể quản lý môi trường, sử dụng một cách tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội nhằm đạt được mục tiêu quản lý môi trường đã để ra phù hợp với luật pháp và thông lệ hiện hành”.
Thực chất của quản lý môi trường là quản lý con người trong các hoạtđộng phát triển và thông qua đó sử dụng có hiệu quả nhất mọi tiểm năng và cơ hộicủa hệ thống môi trường
Xét về bản chất kinh tế-xã hội, quản lý môi trường là các hoạt độngchủ quan của chủ thể quản lý vì mục tiêu lợi ích của hệ thống, bảo đảm cho các hệthống môi trường tồn tại hoạt động và phát triển lâu dài, cân bằng và ổn định vì lợiích cả vật chất và tinh thần của thế hệ hôm nay và thế hệ mai sau, vì lợi ích của cánhân,cộng đồng, địa phương, vùng quốc gia, khu vực và quốc tế Mục tiêu của hệthống môi trường là do chủ thể quản lý môi trường đảm nhận Họ là chủ sở hữucủa hệ thống môi trường và là người nắm giữ quyền lực của hệ thống môi trường.Nói một cách khác, bản chất của quản lý môi trường tùy thuộc vào chủ sở hữu của
hệ thống môi trường
1.2 Đối tượng của quản lý môi trường.
Quản lý môi trường, trước hết là quản lý một hệ thống bao gồm các phần tử(yếu tố) nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao gồm quanh con người, có ảnhhưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại , phát triển của con người và thiên nhiên
Đó là một hệ thống bao gồm các phần tử của thế giới vô sinh và hữu sinh hoạtđộng theo những quy luật khác nhau và có con người tham dự
Trang 2Trong khi đó hệ thống môi trường có những đặc tính cơ bản sau đây.
1.2.1 Có cấu trúc phức tạp
Hệ thống môi trường bao gồm nhiều phần tử thành phần hợp thành Cácphần tử đó có bản chất khác nhau( tự nhiên, kinh tế, dân cư và xã hội) và bị chiphối bởi các quy luật hoạt động khác nhau, đôi khi đối lập với nhau Tính cấu trúccủa hệ thống môi trường đôi khi thể hiện chủ yếu ở cấu trúc chức năng và cấu trúcbậc thang Theo chức năng, chúng ta có thể phân hệ thống môi trường thành vô số
hệ hoạt động theo những chức năng khác nhau Tương tự như vậy, theo bậc thang (quy mô), chúng ta có thể phân hệ thống môi trường thành các hệ từ lớn đến nhỏ, từ
vĩ mô đến vi mô Dù được phân theo chức năng hay phân theo theo bậc thang, cácphần tử cơ cấu của hệ thống môi trường cũng thường xuyên tác động qua lại quyđịnh và phụ thuộc lẫn nhau ( thông qua trao đổi năng lượng vật chất thông tin vàliên tục), làm cho hệ thống tồn tại, hoạt động và phát triển Vì vậy mỗi sự thay đổinào đó dù là rất nhỏ, của một phần tử của hệ thống môi trường đều gây ra mộtphản ứng dây chuyền cho toàn hệ, làm suy giảm hoặc gia tăng số lượng và chấtlượng môi trường, không phụ thuộc vào ý trí của con người
1.2.2 Tính hoạt động
Hệ thống môi trường không phải là một hệ tĩnh, mà luôn luôn thay đổi trongcấu trúc của nó, trong từng phân tử và trong quan hệ tương tác của chúng Bất kỳmột sự thay đổi nào của hệ thống đều tiềm chứa khả năng làm cho nó lệch khỏitrạng thái cân bằng vốn có của hệ thống và hệ thống có xu hướng lập thành một hệthống cân bằng mới Đó là bản chất của quá trình vận động và phát triển của hệthống môi trường Đặc tính cân bằng động cần được tính trong hoạt động cũng nhưtrong quản lý môi trường
1.2.3 Tính mở
Trang 3Môi trường dù ở quy mô lớn hay quy mô nhỏ cũng để là một hệ thống mở.Các dòng vật chất, năng lượng và thông tin liên tục “chảy’ trong không gian vàtheo thời gian (từ hệ lớn như vũ trụ đến hệ nhỏ như hành tinh Trái đất đến các hệnhỏ hơn nữa và ngược lại, từ trạng thái này sang trang thái khác, từ các hệ quá khứđến cá hệ hiện tại và tiếp nối đến các thế hệ tương lai) Vì thế các vấn đề môitrường ở các mức độ khác nhau không chỉ mang tính địa phương mà mang tính liênvùng, liên quốc gia, toàn cầu và tính lâu dài Chúng cần được giải quyết bằng nỗlực của các cộng đồng, bằng sự phối hợp liên ngành liên quốc gia, liên khu vực vớimột tầm nhìn xa, trông rộng vì lợi ích của thế hệ hôm nay và lợi ích của thệ hệ maisau.
1.2.4 Khả năng tổ chức và điều chỉnh
Trong hệ thống môi trường có các phân tử cơ cấu là vật chất ( tổ chức ) sống( con người giới sinh vật ) hoặc các sản phẩm của chúng Các phần tử này có mộtkhả năng tự nhiên rất kỳ diệu là tự tổ chức lại hoạt động của mình và tự điều chỉnh
để thích đáng với với những thay đổi bên ngoài rộng lớn hơn theo quy luật tiếnhóa, quy luật giảm entropy nhằm hướng tới trạng thái cân bằng ổn định Đặc tínhcân bằng này của hệ thống môi trường quy định tính chất, mức độ, phạm vi tácđộng của các hoạt động phát triển, đồng thời tạo mở hướng quản lý cơ bản và lâudài đối với môi trường quốc gia cũng như toàn cầu
Đây là môn khoa học mà nó dựa trên nền tảng của khoa học quản lý để nhìnnhận những vấn đề môi trường Do đó đối tượng quản lý môi trường là xem xétcác thành phần môi trường cũng như các nguồn tài nguyên tự nhiên để có một sựquản lý điều hành hiệu quả đảm bảo cho việc khai thác và sử dụng tốt nhất trongquá trình vận hành của nền kinh tế nhằm hướng tới phát triển bền vững
Thành phần môi trường:
- Hệ thống tự nhiên: F( tự nhiên) =F( đất, nước, không khí, sinh vật )
Trang 4Hệ thống này tồn tại khách quan bên ngoài con người.
- Hệ thống nhân tạo: F(nhân tạo)=F( nhà cửa, đường xá, cầu cống )
Hệ thống này do con người tạo ra
Chúng ta phải quản lý các thành phần này như thế nào để hiệu tốt nhất chocon người tốt nhất và cho con người và hệ sinh thái
1.3. Mục tiêu của quản lý môi trường.
1.3.1 Mục tiêu duy trì chất lượng môi trường.
Tức là phải duy trì cho bằng được bản chất vốn có của môi trường Ví dụnhư đảm bảo chất lượng của nguồn nước theo tính chất quy định
1.3.2 Mục tiêu cho phát triển bền vững.
Đây là một trong những mục tiêu lâu dài và quan trọng nhất cần đạt đếntrong bảo quản lý môi trường Thực ra phát triển bền vững ở mỗi nước là khácnhau nhưng ở đó là sự hài hòa của các yếu tố kinh tế, xã hội, trường Xã hội càngphát triển thì yếu tố môi trường đặt trong vấn đề phát triển bền vững càng gia tăng
Trong mục tiêu phát triển bền vững đòi hỏi lĩnh vực kinh tế phải
- Giảm đểu đặn mức tiêu phí năng lượng và các nguồn tài nguyên khác thông qua sửdụng những công nghệ tiết kiệm và thông qua thay đổi lối sống
- Thay đổi các mẫu hình tiêu thụ và ảnh hưởng đến đa dạng sinh học của các nước
- Giảm hàng rào nhập khẩu thuế quan hay chính sách bảo hộ mậu dịch gây hạn chếthị trường thị trường cho các sản phẩm của những nước nghèo
- Sử dụng tài nguyên nhân văn, kỹ thuật và tài chính để phát triển công nghệ sạch và
sử dụng ít tài nguyên
- Làm cho mọi người được tiếp cận tài nguyên một cách bình đẳng
- Giảm chênh lệch về thu nhập và làm cho mọi người được tiếp cận y tế
- Chyển bớt các khoản chi phí về quân sự an ninh và cho các nhu cầu về phát triển
- Sử dụng tài nguyên cho việc can thiệp mức sống thường xuyên
Trang 5- Xóa đói giảm nghèo.
- Cải thiện tiếp cận ruộng đất, giáo dục và các dịch vụ xã hội
- Hình thành và phát triển các ngành công nghiệp có hiệu suất cao để tạo ra nhiềucông an việc làm và sản xuất ra nhiều hàng hóa và dịch vụ cho thương mại và tiêuthụ
Trong lĩnh vực nhân văn xã hội đòi hỏi
- Ổn định dân số, giảm di cư đến các thành phố, đặc biệt là các thành phố lớn, thôngqua việc nghiên cứu xây dựng và thực thi các chương trình phát triển nông thôn
- Xây dựng các chính sách, biện pháp và kỹ thuật để giảm nhẹ hậu quả môi trườngcủa quá trình đô thị hóa
- Nâng cao tỷ lệ người biết chữ
- Tạo điều kiện cho viêc tiếp cận dễ dàng và nhanh chóng với chăm sóc sức khỏeban đầu
- Cải thiện phúc lợi xã hội, bảo vệ tính đa dạng văn hóa và tăng cường đẩu tư vàophát triển vốn con người
- Đầu tư vào sức khỏe và giáo dục của phụ nữ
- Khuyến khích sự tham gia của công chúng vào các quá trình ra quyết định
Trong lĩnh vực kỹ thuật và công nghệ
- Chuyển dịch sang nền kỹ thuật và công nghệ sạch có hiệu suất hơn để giảm tiêuthụ năng lượng và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và không làm ô nhiễmkhông khí, nước và đất
- Giảm phát thải khí CO2 để giảm tỷ lệ tăng phát thải của khí nhà kính; đồng thờigiảm nồng độ của các khí này trong khí quyển
- Cùng với thời gian phải giảm thải đáng kể để sự dụng nhiên liêu hóa thạch và tìm
ra những nguồn năng lượng mới
- Loại bỏ việc sử dụng CFCs để tránh làm tổn thương đến tầng ozon bảo vệ trái đất
Trang 6- Bảo tồn những kỹ thuật truyền thống với ít chất thải và chất ô nhiễm, những kỹthuật tái chế chất thải và phù hợp với các hệ thống tự nhiên hoặc hỗ trợ cho các hệthống tự nhiên.
- Nhanh chóng ứng dụng các kỹ thuật và công nghệ đã được cải thiện cũng nhưnhững quy chế của chính phủ đã ban hành và sửa đổi, thực hiện nghiêm túc nhữngquy chế đó
Trong lĩnh vực môi trường
- Sử dụng có hiệu quả hơn đất canh tác và cung cấp nước
- Cải tiến các phương pháp canh tác nông nghiệp và kỹ thuật nông nghiệp nhằmnâng cao sản lượng lương thực thực phẩm
- Tránh dùng quá mức phân bón hóa học và thuốc trừ sâu
- Bảo vệ nước thông qua các biện pháp hiện hữu nhằm chấm dứt tình trạng sử dụnglãng phí nước và nâng cao hiệu quả sử lãng phí nước và nâng cao hiệu suất của hệthống nước
- Tránh các hoạt động phát triển của con người gây mất ổn định của khí hậu, hủydiệt tầng ozone
- Hạn chế mở mang đất nông nghiệp trên đất dốc hoặc đất bạc màu
- Làm chậm lại, tiến tới chặn đứng sự hủy hoại rừng nhiệt đới hệ sinh thái san hô,rừng ngập mặn ven biển, những vùng đất
- Ngập nước nơi cư trú độc đáo khác để bảo vệ đa dạng sinh học
- Đảm bảo tính đa dạng sinh học
Đa dạng sinh học là sự giàu có của giống loài động thực vật mà bản thânthiên nhiên đã tạo ra hoặc có sự can thiệp của bàn tay con người Theo thống kêhiện nay Việt Nam là nước có đa dạng sinh học đứng thứ năm trên thế giới nênviệc duy trì quản lý đa dạng sinh học ở Việt Nam là hết sức quan trọng không chỉ
là vấn đề cho riêng Việt Nam mà cho cả thế giới
Trang 71.4 Các biện pháp quản lý môi trường.
1.4.2 Các phương pháp quản lý nội bộ hệ thống môi trường.
Các phương pháp tác động lên con người
Các phương pháp hành chính: là các phương pháp tác động dựa vào các mối quan
hệ về tổ chức của hệ thống quản lý Các phương pháp hành chính trong quản lýmôi trường là cách tác động trực tiếp của chủ thể quản lý lên tập thể của nhữngngười dưới quyền bằng cách quyết địng dứt khoát mang tính bắt buộc đòi hỏi họphải chấp hành nghiêm chỉnh và nếu vi phạm sẽ bị xử lý kịp thời đích đáng
Vai trò của phương pháp hành chính trong quản lý môi trường là hết sức tolớn Nó xác lập trật tự, kỷ cương làm việc trong hệ thống, khâu nối các phươngpháp khác lại thành một hệ thống, dấu được bí mật ý đồ hoạt động và giải quyếtnhanh chóng các vấn đề đặt ra trong quản lý môi trường
Các phương pháp hành chính tác động vào đối tượng quản lý theo haihướng: tác động về mặt tổ chức quản lý và tác động điều chỉnh hành vi của đốitượng
Sử dụng các phương pháp hành chính đòi hỏi các cấp quản lý phải nắm vữngmột số yêu cầu chặt chẽ
Một là, quyết định hành chính chỉ có hiệu quả cao khi quyết định đó có căn
cứ khoa học và thực tiễn
Hai là, khi sử dụng các phương pháp hành chính phải gắn chặt quyền hạn vàtrách nhiệm của người ra quyết định
Trang 8 Các phương pháp kinh tế.
Các phương pháp kinh tế tác động vào đối tượng quản lý thông qua lợi íchkinh tế để cho đối tượng bị quản lý tự lựa chọn phương án hoạt động có hiệu quảnhất trong phạm vi hoạt động của họ
Thực chất phương pháp kinh tế là tạo ra động lực thúc đẩy con người hoạtđộng bảo vệ môi trường Động lực đó càng lớn, nếu như nhận thức đầy đủ và kếthợp đúng đắn các lợi ích tồn tại khách quan trong hệ thống
Chủ thể quản lý môi trường tác động lên đối tượng môi trường bằng cácphương pháp kinh tế theo các hướng khác nhau
- Định hướng phát triển chung bằng các mục tiêu, nhiệm vụ phù hợp với điều kiệncủa hệ thống, bằng những chỉ tiêu cụ thể cho từng thời gian cho từng phân hệ, từng
cá nhân của hệ thống
- Sử dụng các định mức kinh tế các biện pháp đòn bẩy, kích thích kinh tế để lôicuốn, thu hút, khuyến khích các cá nhân cộng đồng hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệmôi trường
- Bằng chế độ thưởng, phạt vật chất, trách nhiệm kinh tế chặt chẽ để điều chỉnh hoạtđộng của các bộ phận, các cộng đồng, các cá nhân, xác lập trật tự kỷ cương, xácđịnh chế độ trách nhiệm cho mọi bộ phận, cho đến từng người trong hệ thống
Ngày nay xu hướng chung của các nước là mở rộng việc áp dụng cácphương pháp kinh tế trong quản lý môi trường Muốn vậy cần chú ý đến một sốkhía cạnh quan trọng sau
Một là, việc áp dụng các phương pháp kinh tế luôn luôn gắn liền với việc sửdụng các đòn bầy kinh tế như giá cả, lợi nhuận, tín dụng, lãi suất, tiền lương, nóichung việc sử dụng các phương pháp kinh tế có liên quan chặt chẽ đến việc sửdụng các quan hệ hàng hóa tiền tệ Để nâng cao sử dụng các phương pháp kinh tế,nâng cao năng lực vận dụng các quan hệ hàng hóa tiền tệ, quan hệ thị trường
Trang 9Hai là, để áp dụng phương pháp kinh tế phải thực hiện sự phân cấp đúng đắngiữa các cấp quản lý.
Ba là, sử dụng phương pháp kinh tế đòi hỏi cán bộ quản lý môi trường phải
có trình độ và năng lực về nhiều mặt, và thông thạo nhiều kiến thức và kinhnghiệm quản lý, đồng thời phải có bản lĩnh rõ ràng
Các phương pháp giáo dục
Các phương pháp giáo dục là các cách tác động vào nhận thức và tình cảmcủa cá nhân và cộng đồng nhằm nâng cao tính tự giác và nhiệt tình của họ trongviệc quản lý và bảo vệ môi trường
Các phương pháp giáo dục có ý nghĩa to lớn trong quản lý môi trường, vì đốitượng của quản lý môi trường là con người-một thực thể năng động, là tổng hòacủa nhiều mối quan hệ xã hội Do đó không chỉ tác động lên con người bằng nhữngbiện pháp kinh tế hành chính mà còn phải có tác động tinh thần tình cảm tâm lý
Các phương pháp giáo dục được tiến hành dựa trên cơ sở vận dụng các quyluật tâm lý Đặc trưng của các phương pháp này là tính thuyết phục, tức là làm cho
cá nhân và cộng đồng phận biệt được phải trái, đúng sai, lợi hại , đẹp xấu, thiện ác,
để từ đó nâng cao tính tự giác làm việc và sự gắn bó với hệ thống
Các phương giáo dục thông thường được sử dụng kết hợp với các phươngpháp khác một cách uyển chuyển, linh hoạt nhẹ nhàng vừa sâu sắc đến từng người,từng cộng đồng , có tác động xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường Đây là mộttrong những bí quyết thành công của nhiều nước Đông Nam Á và Bắc Âu
Các phương pháp tác động lên các yếu tố khác của hệ thống môi trường
Đó là các phương pháp quản lý đi sâu vào từng yếu tố chi phối lên các đầuvào của quá trình quản lý môi trường ( tài chính, lao động, công nghệ, thông tin,pháp chế vật tư, sản phẩm rủi ro ) Các phương pháp quản lý này mang tính chấtnghiệp vụ, gắn liền tính kỹ thuật của quản lý chuyên ngành theo các thành phần
Trang 10môi trường và thường gắn với việc sử dụng các phương pháp toán-một loại khôngthể thiếu trong việc lựa chọn các phương pháp quản lý kinh tế ngày nay.
Các phương pháp tác động lên hệ thống môi trường khác
Đó là cách tác động bên ngoài hệ thống Nó không thể sử dụg các tác độngtrực tiếp như đã sử dụng trong nội bộ mà tủy thuộc vào mối tương quan hệ thuộc
và phụt thuộc cụ thể diễn ra như thế nào ( mình lệ thuộc họ hay họ lệ thuộc mình
và họ là quan hệ tương đồng), mà có cách sủ dụng phương pháp thích hợp Cácphương pháp sử dụng chủ yếu ở đây là sự biến dạng của ba phương pháp đã biết:các phương pháp kinh tế các phương pháp tác động tâm lý thay cho các phươngpháp giáo dục, các phương pháp quan hệ hợp lý-thay cho các phương pháp hànhchính Ngoài ra có thể sử dụng các phương pháp khác như phương pháp cạnhtranh, phương pháp marketing, phương pháp xã hội học, phương pháp truyềnthông
CHƯƠNG II HIỆN TRẠNG KINH TẾ-XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TẠI
CÁC XÃ NGHÈO TẠI HÀ NỘI
(ĐÁNH GIÁ TẠI BA XÃ KIM QUAN, CẨM YÊN, ĐẠI ĐỒNG)
Trang 111.2. Tình hình kinh tế- xã hội.
Tổng diện tích đất tự nhiên của ba xã là 136154ha, trong đó đất nông nghiệp
là 90563ha chiếm 66.52% đất tự nhiên, đất phi nông nghiệp khoảng 45591ha,chiếm khoảng 33.48% Dân số 20677 người, mật độ dân số 1.519người/km2, chitiết được biểu thị như trong bảng 1 dưới đây
Đất đai của các xã có độ phì nhiêu cao, có nhiều địa hình có thể bố tríđược nhiều loại cây trồng Nông dân có trình độ thâm canh khá, nền nông nghiệp
đã, và đang sẽ cung cấp đáng kể sản phẩm nông nghiệp thit cá, rau, hoa, quả câycảnh cho Hà Nội
Trang 12Biểu 1: Tình hình sử dụng đất tự nhiên và mật độ dân số
T
T Tên xã Diện tích đất tự nhiên(km2)
Dân số(người)
mật độ(người/km2)
tổng diện tích đất nông nghiệp
đất phinôngnghiệp
kỹ thuật Với chuỗi đô thị Miếu Môn-Xuân Mai-Hòa Lạc-Sơn Tây và các khu côngnghệ cao được xây dựng sẽ là cơ hội, động lực thúc đẩy các mặt hoạt động kinh tếđặc biệt là ngành công nghiệp và phát triển đô và là địa bàn xây dựng mới, dichuyển xí nghiệp công nghiệp của Thủ đô Khi đường Láng –Hòa Lạc giai đoạn 2được xây dựng, hệ thống đường sắt, xa điện ngầm từ Hà Nội đi Hòa Lạc được xâydựng sẽ là tiền đề tạo bước phát triển đột phá kinh tế về kinh tế xã hội của địaphương
Tốc độ tăng trưởng của ba xã nghèo trên bình quân là12,46%/năm trong đótăng trưởng bình quân của xã Kim Quan là 14,57%/năm, xã Cẩm Yên là13,41%/năm, xã Đại Đồng là 9,4%/năm , được thể hiện trong bảng 2 sau:
Biểu 2: Giá trị sản lượng và tốc độ tăng trưởng kinh tế (2005-2007)
Trang 13Tổng cộng 321.408 373.279 706.432 16,14 89,25 219,79 73,26
Kim Quan 30.510 43.125 43.848 41,34 1,68 43,72 14,57Cẩm Yên 11.426 14.567 16.023 27,49 10,00 40,23 13,41Đại Đồng 53.931 61.952 69.135 14,87 11,59 28,19 9,40
Nguồn số liệu: Trích báo cáo kinh tế - xã hội hàng năm của xã
Bình quân thu nhập tính theo đầu người của 3 xã là 5,547 triệuđồng/người/năm, chi tiết được thể hiện ở biểu 3 dưới
Biểu 3: Dân số và thu nhập bình quân đầu người
đình
Dân số(người)
Thu nhập bình quântriệu đồng/người/năm
Kim Quan 1.630 6.526 4,60
Đại Đồng 2.207 9.500 7,92
Nguồn số liệu: Trích báo cáo kinh tế - xã hội hàng năm của xã
Tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp của 3 xã năm 2005 là 44 %/năm, năm
2006 là 47%/năm, năm 2007 là 47%/năm Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ côngnghiệp và thương mại dịch vụ năm 2005 là 56 %/năm, năm 2006 là 53%/năm, đếnnăm 2007 là 53 %/năm.Chi tiết từng xã thể hiện tại Biểu 4, dưới đây
Trang 14Biểu 4: Giá trị sản xuất nông nghiệp và CN, TTCN, TMDV (2005-2007)
Nguồn số liệu: Trích báo cáo kinh tế - xã hội hàng năm các xã cung cấp
Nhìn chung, sự tăng trưởng kinh tế của các xã là phù hợp với quy luật thuậnchiều trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn trong cả nước Đó là kết quảbước đầu đáng ghi nhận mở ra khả năng mới trong quá trình chuyển dịch cơ cấukinh tế theo hướng CNH – HĐH, tuy nhiên ta cũng vẫn nhận thấy đây là một trongnhững xã nghèo khá điển hình, mức tổng sản lượng nông nghiệp vẫn chiếm khácao trong tổng sản lượng sản xuất Đời sống nhân dân từng bước cải thiện, các mặt
xã hội cũng có chuyển biến tích cực Do tổ chức thực hiện chương trình xoá đói,giảm nghèo, khuyến khích các cá nhân gia đình sản xuất kinh doanh giỏi, biết làmgiàu, nên đời sống nhân dân xã ngày càng được cải thiện
Trang 15Tuy nhiên, công tác bảo vệ môi trường còn nhiều hạn chế, yếu kém, chưatheo kịp tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá như hiện nay Trong đó, nguyênnhân chính là nhận thức bảo vệ môi trường trong xã hội, của người dân chưa đầy
đủ, ý thức chấp hành pháp luật về môi trường của nhiều tổ chức, cá nhân còn yếu.Những hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường làm huỷ hoại và ô nhiễm môitrường đã đến mức báo động
2. Tổng quan về tình hình môi trường.
2.1. Hiện trạng môi trường nước.
2.1.1. Hiện trạng môi trường nước mặt.
Với đặc điểm địa hình của các xã khá đa dạng xã Kim Quan với địa hình bán sơnnguyệt, xã Đại Đồng với địa hình bán sơn địa, và xã Cẩm Yên với địa hình xã nằmtrong khu vực chuyển tiếp giữa vùng núi Ba Vì và đồng bằng sông Hồng, có địahình đồi gò, hơi dốc về phía nam Có thể thấy cả ba xã với nhiều loại địa hình nhưđồng bằng, trung du và miền núi nên có rất nhiều dạng các thuỷ vực khác nhau nhưsông, suối, ao, hồ.Là nơi tập trung hầu hết các nguồn nước mặt của địa phương.Một số con sông lớn chạy qua như sông Tích, cùng hệ thống kênh, mương, ao, hồ,
…Điều này cho thấy nguồn tài nguyên nước mặt khá rồi dào có khả năng cung cấpnước phục vụ tốt cho đời sống, kinh tế -xã hội phát triển của địa phương
Tuy nhiên, hiện nay nguồn nước mặt được sử dụng cho rất nhiều mục đích khácnhau như sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, điều hoà vi khí hậu, tạo cảnhquan du lịch…Ngoài ra, sông lớn còn giúp hệ thống giao thông đường thuỷ thuậnlợi trong thông thương hàng hoá Hàng năm, những con sông này còn có tác dụngbồi đắp một lượng lớn phù xa góp phần làm tăng độ phì nhiêu của đất cho các khuvực đồng bằng dọc hai bờ sông
Ngày nay, nguồn tài nguyên nước mặt của các xã đang đứng trước nhữngnguy cơ suy giảm nghiêm trọng về chất lượng do ô nhiễm gây ra Hiện tại cácnguồn ô nhiễm tại các thuỷ vực rất đa dạng, tập trung chủ yếu vào các loại chất
Trang 16thải rắn, các loại hoá chất bảo vệ thực vật, dầu mỡ thải từ các hoạt động giao thôngđường thuỷ, dịch vụ du lịch đã gây ra những ảnh hưởng đáng kể đến chất lượngcủa nguồn tài nguyên nước của địa phương và làm ô nhiễm thuỷ vực Nguồn nướcsinh hoạt của nhân dân vẫn chủ yếu lấy từ giếng khoan và giếng khơi Theo thống
kê của xã Cẩm Yên hiện nay, nhân dân xã sử dụng phần lớn nước sinh hoạt từ có
80 giếng khoan của hộ gia đình và 500 giếng đào trong hộ gia đình Còn tại xã ĐạiĐồng hiện nay, nhân dân xã sử dụng phần lớn nước sinh hoạt từ 7 giếng làngkhoảng 3.600m 3 và 1.500 bể chứa nước mưa, 2.000 giếng khoan của hộ gia đình.Nhân dân xã Kim Quan sử dụng phần lớn nước sinh hoạt từ có 80 giếng khoan của
hộ gia đình và 500 giếng đào trong hộ gia đình Các giếng nước ngầm được ngườidân tự khai thác ở độ sâu 20-30 mét Sau đó được bơm hút lên hầu hết các nguồnnước đều được người dân cho chảy vào bể lọc bằng cát Đây là công đoạn duy nhấttrong quá trình xử lý nước tại các hộ gia đình hiện nay Mặc dù quá trình lọc cát đã
có tác dụng làm giảm hàm lượng sắt có trong nguồn nước, song không thể triệt đểnên nguồn nước khi sử dụng đều có hàm lượng sắt và một số yếu tố khác cao hơntiêu chuẩn quy định cho phép đối với nước sinh hoạt Không có hộ gia đình nàodùng nước ao hồ và các nguồn khác vì đã bị ô nhiễm không thể dùng được trongsinh hoạt
Nguyên nhân của tình trạng môi trường nước bị ô nhiễm bởi một số nguồnchính sau:
Một là: Nguồn nước thải không được xử lý triệt để xả thải trực tiếp vào các
thuỷ vực nước mặt
Hai là: Nguồn chất thải rắn sinh ra từ quá trình sinh hoạt và sản xuất không
được quản lý chặt chẽ bị phát tán vào nguồn nước mặt
Trang 17Ba là: Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật bị rửa trôi từ các khu vực ruộng cấy,
trồng ảnh hưởng đến chất lượng của các nguồn nước mặt tiếp nhận;
Bốn là: Chất thải sinh ra từ quá trình hoạt động du lịch trên các thuỷ vực
nước mặt gây ô nhiễm dầu mỡ, mất cảnh quan của các thuỷ vực;
Năm là: Sự lan truyền chất ô nhiễm từ những khu vực này sang khu vực
khác, lan truyền theo dòng chảy
Sáu là: Các ao hồ trong khu dân cư hiện nay bị san lấp nhiều ảnh hưởng đến
việc tiêu thoát nước gây ra ô nhiễm môi trường
Về hiện trạng môi trường nước tại các cơ sở sản xuất công nghiệp và tiểu thủ côngnghiệp và dịch vụ thương mại tại các xã một trong những đặc điểm chung hầu hếtcác cơ sở sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ đều có côngnghệ lạc hậu, chủ yếu là sản suất thủ công, không có hệ thống xử lý chất thải nêntác động đến môi trường là điều khó trách khỏi Tại xã Kim Quan Theo số liệuthống kê tỷ trọng giá trị sản lượng sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp và
dịch vụ của xã chiếm 56%/năm và hầu hết tại cơ sở sản xuất này đều có công nghệ
lạc hậu, chủ yếu là sản suất thủ công, không có hệ thống xử lý chất thải nên tácđộng đến môi trường là điều khó trách khỏi Hầu hết lượng nước thải được sinh rađều không xử lý và xả thải trực tiếp ra môi trường Do đặc thù như vậy nên những
cơ sở sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ này đều là nhữngđịa điểm có tính nhậy cảm môi trường cao Đây là các cơ sở sản xuất công nghiệp
và tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ có phát sinh ra một lượng nước thải khá lớntrong quá trình sản xuất Hầu hết lượng nước thải được sinh ra đều không xử lý và
xả thải trực tiếp ra môi trường Quá trình này gây ảnh hưởng trực tiếp đến nguồnnước mặt là điều khó tránh khỏi