MỤC LỤCTrangMỞ ĐẦU11.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI12. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU23. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI24. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU25. GIỚI HẠN NGHÊN CỨU26. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU3PHẦN NỘI DUNG4Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI4I.Khái niệm, vai trò, đặc điểm của đất đai41. Khái niệm42. Đặc điểm của đất đai43. Vai trò và ý nghĩa của đất đai5II. Cơ sở lý luận của vấn đề quản lý và sử dụng đất đai5Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT102.1. Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Nghi Xuân102.1.1. Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên102.1.1.1.Vị trí địa lý102.1.1.2. Địa hình, địa mạo102.1.1.3. Khí hậu112.1.1.4.Thủy văn và tài nguyên nước132.1.1.5. Đất đai142.1.1.6. Tài nguyên rừng162.1.2.Điều kiện kinh tế xã hội162.1.2.1. Tình hình phát triển kinh tế của huyện162.1.2. DÂN SỐ LAO ĐỘNG VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP242.1.2.1 DÂN SỐ242.1.2.2. Lao động và việc làm252.1.2.3. Cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật262.1.2.4. Giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao282.1.3. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Nghi Xuân312.1.3.1. Thuận lợi312.1.2.2. Khó khăn, hạn chế312.2. Thực trạng sử dụng đất đai và quản lý đất đai322.2.1 Hiện trạng sử dụng đất ở nước ta322.2.2. Tình hình sử dụng đất và quản lý đất ở huyện Nghi Xuân382.2.2.1. Tình hình sử dụng đất38c. Biến động diện tích đất422.2.2.2 Tình hình quản lý đất đai462.2.3. Đánh giá chung về tinh hình sử dựng đất và quản lý đất đai50Chương 3. ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI Ở HUYỆN NGHI XUÂN513.1. Nhóm giải phải về chính sách và quản lý513.1.1. Hoàn thiện các chính sách513.1.2. Thực hiện tốt các nội dung quản lý đất đai513.1.3. Thực hiện bố trí, sắp xếp lại đất của các cơ quan hành chính sự nghiệp523.2. Giải pháp về tài chính523.2.1. Hiện đại hoá chính sách thu tài chính đất đai523.2.2. Thực hiện cơ chế một giá đối với đất đai533.3. Một số giải pháp khác533.3.1. Chuyển đổi mục đích sử dụng đất theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn533.3.2. Duy trì và bảo vệ đất nông lâm nghiệp543.3.3. Các giải pháp về kỹ thuật54KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ56TÀI LIỆU THAM KHẢO57
Trang 1MỞ ĐẦU 1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Từ xưa ông cha ta đã có câu “tấc đất tấc vàng” nên ông cha ta đã đổ baocông sức,xương máu mới khai thác cải tạo bảo vệ giữ gìn vốn đất đai cho tớingày hôm na Chính vì th, đất đai có vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗingười dân:“ Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, làthành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố cáckhu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa – xã hội, an ninh quốc phòng,giao thông vận tải Vì vậy, đất đai là điều kiện chung nhất của mọi ngành sảnxuất là hoạt động của con người, bất cứ một ngành sản xuất nào cũng phải cầnđất đai là đối tượng để con người tác động vào trong quá trình lao động
Đất đai góp phần quan trọng vào trong đời sống của nhân dân đặc biệt đấtnông nghiệp với 80% dân số sống bằng nghề nông nghiệp nên đất là tư liệu sảnxuất không thể thay thế Đất đai có vai trò quan trọng, có vị trí không thể thiếuđối với con người nên việc tổ chức quản lý bảo vệ sử dụng tốt, đạt hieuj quả caonguồn tài nguyên đất là mục tiêu hàng đầu của Đảng và Chính Phủ trong mọiđiều kiện hoàn cảnh đều phải bảo vệ giữ gìn cải tạo tốt nguồn tài nguyên đất đai.Trong nghị quyết Trung ương 5 khóa IX đã khẳng định CNH – HĐH nôngnghiệp, nông thôn là nhiệm vụ trọng tâm Trong những năm trước mắt nôngnghiệp được coi là nhiệm vụ hàng đầu thông qua Chỉ thị 100 của Ban bí thư,Nghị định 64/CP của Chính phủ về việc giao đất cho người dân sử dụng ổn định,lâu dài vào mục đích nông nghiệp, Nghị định 64/CP ban hành tạo bước nhảy vọttrong nghành nông nghiệp, đất đai được giao đến từng hộ gia đình, do đó sửdụng đất đai hợp lý là yêu cầu cấp thiết đặt ra hiện nay ở các địa phương ngàycàng cấp thiết hơn
Tuy nhiên, hiện nay ở nước ta nói chung và huyện Nghi Xuân- Hà Tĩnhnói riêng, việc sử dụng đất và quản lý đất vẫn còn nhiều khó khăn, tồn tại, diệntích đất được chia manh mún gây khó khăn cho viêc quản lý và áp dụng các tiến
bộ KH-KT vào sản xuất nên hiệu quả thấp, chưa khai thác hết khả năng sử dụng
Trang 2của đất Bên cạnh đó, việc vi phạm đất đai vẫn còn gia tăng và xử lý việc viphạm đất đai tại địa phương vẫn còn nhiều vấn đề cần quan tâm.
Xuất phát từ tầm quan trọng của vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên đất và
thực tế của địa phương nên tôi đã chọn đề tài nghiên cứu “ Nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng đất đai ở huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh” Đề tài là bước
khởi đầu cho hoạt động nghiên cứu khoa học của bản thân, đồng thời còn là dịp
để nghiên cứu về địa phương, đóng góp một phần nhỏ bé vào việc sử dụng hợp
lý tài nguyên đất đai đem lại hiệu quả dụng đất cao hơn
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Mục đích nghiên cứu đề tài là tìm ra những giải pháp cơ bản cho việcnâng cao hiệu quả quản lý sử dụng đất đai tại địa phương góp phần tích cực vàoviệc phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội, ổn định trật tự an ninh tại huyện Nghixuân
3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
- Phân tích cơ sở lý luận về sử dụng và quản lý đất đai, nội dung và cáccông cụ quản lý đối với đất đai
-Phân tích, đánh giá thực trạng và tình hình sử dụng đất cũng như côngtác quản lý đất tại địa phương
-Đề xuất các giải pháp và kiến nghị chủ yếu mang tính khả thi để nângcao hiệu quả sử dụng và quản lý đất đai tại địa phương
4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
-Công tác sử dụng và quả lý đất đai ở huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh
5 GIỚI HẠN NGHÊN CỨU
- Giới hạn về lãnh thổ: huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh
- Giới hạn về nội dung: Chỉ nghiên cứu về hiện trạng của vấn đề quản lýđất đai trên địa bàn huyện Nghi Xuân làm cơ sở cho việc đề xuất các giải phápnhằm nâng cao hiệu quả của vấn đề sử dụng đất
- Giới hạn về thời gian nghiên cứu: 2014
Trang 36 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình làm đề tài đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp điều tra thu thập bổ sung số liệu, tài liệu
- Phường pháp kế thừa, phân tích tài liệu, số liệu
- Phương pháp dự báo
- Phương pháp thống kê
Trang 4PHẦN NỘI DUNG Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ VÀ SỬ
DỤNG ĐẤT ĐAI I.Khái niệm, vai trò, đặc điểm của đất đai
Đất đai là lớp bề ngoài của trái đất, có khả năng cho sản phẩm cây trồng
để nuôi sống con người Mọi hoạt động của con người gắn liền với lớp bề mặt
đó theo thời gian và không gian nhất định Chất lượng của đất đai phụ thuộc vào
độ phì nhiêu của đất
2 Đặc điểm của đất đai
Đất đai có vị trí cố định không thể di chuyển được, với một số lượng cóhạn trên phạm vi toàn cầu, quốc gia và khu vực Tính cố định không di chuyển
từ vị trí này sang vị trí khác của đất đai đồng thời quy định tính giới hạn về quy
mô và không gian gắn liền với môi trường mà đất đai chịu chi phối Vị trí củađất đai có ý nghĩa rất lớn về mặt kinh tế trong quá trình khai thác và sử dụng đấtđai
Độ phì là một thuộc tính của đất đai và là yếu tố quyết định chất lượng đấtđai Độ phì là một đăc trưng gắn liền với đất đai, thể hiện khả năng cung cấpthức ăn, nước cho cây trồng trong quá trình sinh trưởng và phát triển Khả năngphục hồi và tái tạo của đất đai chính là khả năng phục hồi và tái tạo độ phì thôngqua tự nhiên hoặc do tác động của con người
Trang 5Như vậy, đất đai có tính hai mặt (không thể sản sinh nhưng có khả năngtái tạo) Tính hai mặt này có ý nghĩa quan trọng trong quá trình sử dụng đất đai.Một mặt phải hết sức tiết kiệm đất đai, xem xét kĩ lưỡng khi bố trí sử dụng cácloại đất đai Mặt khác phải chú ý ứng dụng tiến bộ KH-KT để tăng năng suất câytrồng cũng như khả năng tái tạo và phục hồi độ phì của đất đai.
Ngoài tính hai mặt trên, đất đai còn có những đặc điểm như là: sự chiếmhữu, sở hữu đất đai và tính đa dạng phong phú của đất đai
3 Vai trò và ý nghĩa của đất đai
Đất đai có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng trong sự sinh tồn của muônloài và sự tồn tại và phát triển của xã hội con người Đất đai tham gia vào tất cảcác hoạy động sản xuất của con người, là nền tảng xây dựng nền văn hóa xã hội,
là thành phần quan trọng của một nền kinh tế Với vai trò đặc biệt của mìnhcùng với đặc điểm đặc trưng của đất đai, càng đòi hỏi việc sử dụng tiết kiệm hợplý
Đất đai có ý nghĩa rất quan trọng đó là: đất tham gia vào sự phát triểnkinh tế Đất đai là yếu tố quan trọng trong sự phát triển của tất cả các ngànhnghề kinh tế Mỗi ngành nghề sử dụng đất đai khác nhau, song đất đai là yếu tốquan trọng biểu hiện ở chỗ các học thuyết của các nhà kinh tế học khi xây dựngnhững học thuyết của mình đều không loại trừ yếu tố đất đai ra khỏi hàm sảnxuất, hàm kinh tế Đất đai còn là môi trường sống của muôn loài, là địa bàn, cơ
sở của xã hội loài người
Như vậy sử dụng hợp lý đất đai ngoài ý nghĩa kinh tế còn có ý nghĩa bảo
vệ cải tạo môi trường Ngày nay với sự phát triển của KH-KT người ta chú ýđến tác động của quá trình hoạt động sản xuất đến môi trường, trong đó khaithác đất đai là yếu tố vô cùng quan trọng
II Cơ sở lý luận của vấn đề quản lý và sử dụng đất đai
Đối với tất cả các nước, quản lý nhà nước về đất đai là một công việcquan trọng của hệ thống hành chính, không phụ thuộc vào chế độ sở hữu đất đaiđược hiến pháp công nhận Nhiệm vụ cụ thể về quản lý đất đai hoàn toàn phụ
Trang 6thuộc vào yêu cầu về phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Cụ thể hơn, nhiệm
vụ đó phụ thuộc vào chủ trương chính trị của nhà nước và mô hình kinh tế đượclựa chọn Như vậy, mỗi nước xác định nhiệm vụ cụ thể cho quản lý nhà nước vềđất đai có khác nhau, đó là những biện pháp cụ thể của công cụ pháp luật, công
cụ quy hoạch và công cụ kinh tế
Ở Việt Nam, nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai được cụ thể hóa từ khinhà nước bắt đầu thực hiện quá trình đổi mới Đến hiện nay, nhà nước vẫn có haichức năng đối với đất đai: một là chức năng đại diện cho toàn dân thực hiện cácquyền của chủ sở hữu và hai là chức năng thực hiện quản lý nhà nước đối vớiđất đai Trên tổng thể, có thể phân biệt được hai chức năng này Xét về chi tiết,nhiều nhiệm vụ cụ thể có sự trùng lặp mà chia tách ra lại không hợp lý Ví dụ,quy hoạch sử dụng đất đai vùa thể hiện chức năng thực hiện quyền định đoạtcủa chủ sở hữu lại vừa thể hiện chức năng quản lý nhà nước về sử dụng đất chophù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế, ổn định xã hội và bảo vệ môi trường.Như vậy, nhiệm vụ quản lý nhà nước về sử dụng đất đai ở Việt Nam luôn thểhiện việc cụ thể hóa cả hai chức năng nói trên
Nội dung quản lý nhà nước về đất đai ở nước ta cũng có nhiều thay đổitrong suốt 20 năm qua Sự thay đổi đó là để phù hợp với nhiệm vụ phát triển đấtnước qua từng giai đoạn
Năm 1986, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã khởixướng công cuộc đổi mới đất nước Nền kinh tế nước ta từ cơ chế hóa tập trung,quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa Luật đất đai lần đầu tiên được Quốc hội thông qua ngày29/12/1987( có hiệu lực thi hành từ năm 1988) đã xác định 7 nội dung quản lýnhà nước về đất đai bao gồm:
1 Điều tra, khảo sát, đo đạc, phân hạng đất đai và lập bản đồ đại chính
2 Quy hoạch và kế hoạch hóa việc sử dụng đất đai
3 Quy định các chế độ, thể chế về quản lý, sử dụng đất đaivà tổ chức thựchiện các chế độ, thể chế ấy
4 Giao đất và thu hồi đất
Trang 75 Đăng kí đất đai, lập và giữ sổ địa chính, thống kê đất đai, cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất.
6 Thanh tra việc chấp hành các chế độ, thể lệ về quản lý, sử dụng đất đai
7 Giải quyết tranh chấp về đất đai
Luật đất đai năm 1987 mới chỉ tập trung vào điều chỉnh mối quan hệ vềđất đai giữa nhà nước với tư cách là chủ thể quyền sử dụng đất Như vậy, nhiệm
vụ quản lý của nhà nước thiên về chức năng thực hiện các quyền của chủ sở hữu
mà chưa làm rõ chức năng quản lý nhà nước về đất đai Một quan niệm như vậycũng mang tính chất lịch sử của tư duy bao cấp về đất đai
Sau 5 năm thực hiện, luật đất đai lần 2 được Quốc hội thông qua ngày14/7/1993( có hiệu lực thi hành từ 15/10/1993) với một số quan niệm mới hơn
về việc nhà nước trao một số quyền năng thuộc quyền sở hữu toàn dân về đấtđaicho người sử dụng đất và xác định đất có giá do nhà nước quy định nhằmphát triển nền sản xuất hàng hóa trong nền kinh tế nông nghiệp Về thực chấtluật đất đai năm 1993 đã phù hợp hơn với cơ chế thị trường Các nhiệm vụ quản
lý nhà nước về đất đai thể hiện trong luật đất đai năm 1993 vẫn là 7 nội dungnhư luật đất đai năm 1987, song thêm một số nội dung mới bao gồm:
1 Điều tra, khảo sát đo đạc, đánh giá và phân hạng đất đai lập bản đồ địachính
2 Quy hoạch và kế hoạch hóa việc sử dụng đất đai
3 Ban hành các văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng đất và tổ chức thựchiện các văn bản đó
4 Giao đất, cho thuê đất và thu hồi đất
5 Đăng kí đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, quản lý các hợp đồng
sử dụng đất, thống kê đất đai, kiểm kê đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sửdụng đất
6 Thanh tra việc chấp hành các chế độ quản lý, thể lệ về quản lý sử dụngđất
7 Giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo các viphạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai
Trang 8Thực tế, quan niệm về 2 chức năng của nhà nước đối với đất đai vẫn chưađươc thể hiện rõ rang nhiệm vụ của bộ máy quản lý là phục vụ và bảo vệ quyềnlợi hợp pháp của người sử dụng đất Nội dung của luật đất đai năm 1993 nóichung và nội dung quản lý nhà nước về đất đai nói riêng chưa thực sự đáp ứngđược tiến trình chuyển đổi nền kinh tế và nhu cầu hội nhập nền kinh tế quốc tế.
Sau 10 năm thực hiện luật đât đai năm 1993, luật đất đai lần thứ 3 đượcQuốc hội thông qua ngày 26/11/2003( có hiệu lực thi hành từ 1/7/2004) Luật đấtđai năm 2003 đã tập trung vào việc làm rõ chức năng của nhà nước đại diệnquyền sở hữu toàn dân về đất đai và chức năng quản lý nhà nước về đất đai Cácquyền năng của sở hữu đã được làm rõ và xác định cụ thể nhà nước về đất đai.Các quyền năng của sở hữu đã được làm rõ và xác định cụ thể nhà nước nắm giữquyền năng nào và thuộc thẩm quyền quyết định của cơ quan nào, nhà nước traoquyền năng nào cho người sử dụng đất Một số nội dung mới về nhiệm vụ quản
lý nhà nước về đất đai được bổ sung Nhiệm vụ cụ thể của nhà nước đối với đấtđai trong luật đất đai 2003 gồm 13 điều cụ thể sau:
1 Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đấtđai và tổ chức thực hiện các văn bản đó
2 Xác định ranh giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hànhchính, lập bản đồ hành chính
3 Khảo sát,đo đạc, đánh giá phân hạng đất, lập bản đồ hiện trạng sửdụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất đai
4 Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai
5 Quản lý về việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích
sử dụng đất
6 Đăng kí quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất
7 Thống kê, kiểm kê đất đai
8 Quản lý tài chính về đất đai
9 Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trườngbất động sản
10 Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sửdụng đất
Trang 911 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đấtđai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai.
12 Quản lý tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo các viphạm trong quản lý và sử dụng đất đai
13 Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai
Bên cạnh những nhiệm vụ nêu trên, quản lý nhà nước về tài chính đất đaicòn có nhiệm vụ rất quan trọng là xây dựng và triển khai hệ thống thuế đối vớiđất đai hoặc có liên quan với đất đai Nhiệm vụ này không thuộc phạm vi điềuchỉnh của luật đất đai mà thuộc phạm vi điều chỉnh của hệ thống pháp luật vềthuế Một vẫn đề nữa cần nói thêm về quản lý thị trường quyền sử dụng đất, thịtrường này không thể quản lý riêng, tách rời thị trường bất động sản còn thuộcphạm vi điều chỉnh của hệ thống pháp luật về bất động sản
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT
2.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Nghi Xuân
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên
2.1.1.1.Vị trí địa lý
Nghi Xuân là huyện nằm về phía Bắc của tỉnh Hà Tĩnh, cách Thành phố
Hà Tĩnh 50 km và cách Thị xã Hồng Lĩnh 20 km về phía Bắc, cách Thành phố
Trang 10Vinh (Nghệ An) 10 km về phía Nam, có Quốc lộ 1A đi qua với chiều dài khoảng11km.
Hệ tọa độ địa lý : 18o31’00’’ - 18o45’00’’ Vĩ độ Bắc
105o39’00’’ - 105o51’00’’ Kinh độ Đông
- Phía Bắc giáp thành phố Vinh tỉnh Nghệ An
- Phía Nam giáp huyện Can Lộc, huyện Lộc Hà và Thị xã Hồng Lĩnh
- Phía Tây giáp huyện Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An
- Phía Đông giáp Biển Đông
Toàn huyện có 19 đơn vị hành chính với 17 xã và hai Thị trấn làThị trấn Nghi Xuân và thị trấn Xuân An Thị trấn Nghi Xuân là trung tâm kinh
tế - văn hóa - chính trị của huyện, cách thành phố Vinh (Nghệ An) 10 km về phíaNam, cách thị xã Hà Tĩnh 50 Km về phía Bắc Nghi Xuân có bờ biển dài 32 km,sông Lam chảy phía bắc huyện với chiều dài qua huyện là 28 km, đường Quốc
lộ 1A và tuyến Quốc lộ 1A tránh thị xã Hồng Lĩnh chạy qua phần phía Tây củahuyện dài 11 km , đường quốc phòng 22 – 12 nối từ ngã ba Thị trấn Nghi Xuân
và chạy xuyên qua các xã ven biển của huyện đến các xã của huyện Can Lộc,Thạch Hà và thành phố Hà Tĩnh Đường quốc lộ 8B nối với Quốc lộ 8A từ ngã
tư trung tâm Thị xã Hồng Lĩnh đến Cảng Xuân Hải Với vị trí địa lý như vậy nênrất thuận lợi cho giao lưu thông thương với các Tỉnh, các trung tâm kinh tế – xãhội trong và ngoài nước
2.1.1.2 Địa hình, địa mạo
Nghi Xuân có địa hình nghiêng từ Tây Nam sang Đông Bắc, phía Tây Bắcdọc theo ranh giới của tỉnh Hà Tĩnh và tỉnh Nghệ An là con sông Lam, phía TâyNam chắn bởi dãy núi Hồng Lĩnh, kế tiếp là dãi đồng bằng nhỏ hẹp ven núiHồng Lĩnh và cuối cùng là bãi cát ven biển và biển Đông Về cơ bản địa hìnhNghi Xuân được chia thành ba vùng đặc trưng như sau:
- Vùng 1: Vùng phù sa sông Lam Đây là vùng có giá trị kinh tế lớn nhấtcủa huyện, địa hình tương đối bằng phẳng, trung bình từ 1 – 5,5 m so với mặtnước biển, gồm 10 xã: Xuân Trường, Xuân Đan, Xuân Phổ, Xuân Hải, Tiên
Trang 11Điền, thị trấn Nghi Xuân, Xuân Giang, thị trấn Xuân An, Xuân Hồng, XuânLam Là vùng có điều kiện tương đối thuận lợi cho việc trồng cây lương thực,cây hoa màu ngắn ngày và phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm.
- Vùng 2: Thuộc dãy núi Hồng Lĩnh diện tích khoảng 5000 ha nằm ở phíaTây Nam Đây là những dãy núi đá có độ dốc lớn (chủ yếu là đá Macma axít)cao nhất là đỉnh núi Ông (676m so với mặt nước biển) Ven dưới các chân núi,
eo núi có nhiều khe rạch được địa phương tận dụng để xây dựng 14 hồ đập lớnnhỏ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp Gồm một phần diện tích các xã CươngGián, Cổ Đạm, Xuân Liên, Xuân Thành, Xuân Viên, Xuân Lĩnh, Xuân Hồng,Xuân Lam Ngoài sản xuất nông lâm kết hợp, chăn nuôi, thế mạnh của vùng làphát triển lâm nghiệp và du lịch sinh thái
- Vùng 3: Là vùng cồn cát, bãi cát kéo dọc theo bờ biển, tạo bởi các dãyđụn cát, các úng trũng Địa hình hơi nghiêng về hướng Tây, Tây Bắc với bề rộng
từ 500 - 200m, độ cao so với mặt nước biển dao động từ 0,5 - 5m Do có cửasông, cửa lạch tạo thành các bãi ngập mặn có thể nuôi trồng thuỷ hải sản Vùngnày có tiềm năng phát triển kinh tế biển và dịch vụ du lịch nghỉ mát và nuôi tômtrên cát bao gồm các xã: Cương Gián, Xuân Liên, Cổ Đạm, Xuân Thành, XuânYên, Xuân Hải, Xuân Phổ, Xuân Đan, Xuân Trường, Xuân Hội
2.1.1.3 Khí hậu
Nghi Xuân điển hình cho khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa có mùa đông lạnhvừa, lại bị chi phối bởi yếu tố địa hình sườn núi Hồng Lĩnh nên có sự phân hóarất rõ rệt Đặc điểm chung là chia thành 2 mùa: mùa khô từ tháng 4 đến tháng 8
và mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau
- Nhiệt độ: Số liệu quan trắc qua nhiều năm cho thấy nền nhiệt của huyện
tương đối cao: Tổng tích ôn hàng năm : 5.0700C
Nhiệt độ bình quân hàng năm : 23,8 0C
Nhiệt độ tối cao (tháng 7) : 37,8 0C Nhiệt độ tối thấp (tháng 1) : 8,8 0C
Trang 12Các tháng giữa mùa Đông tương đối lạnh, nhiệt độ trung bình khoảng19,50C Mùa Hè nhiệt độ trung bình 27-29 0C Biên độ nhiệt ngày và đêm có sựchênh lệch khác nhau tùy theo mùa: mùa Hè thường lớn hơn mùa Đông từ 1,5-2oC.
- Lượng mưa: Tổng lượng mưa bình quân hàng năm tương đối lớn (trên
2000 mm), nhưng phân bố không đều giữa các tháng trong năm Tổng lượngmưa 5 tháng mùa Đông chỉ chiếm 26% lượng mưa cả năm; lượng mưa chủ yếutập trung vào mùa mưa (chiếm khoảng 81%) nhưng cũng có sự phân hóa thànhmưa phụ và mưa chính Mưa phụ (mưa tiểu mãn) thường xuất hiện vào đầu mùa
Hè, lượng mưa không cao; mưa chính tập trung chủ yếu từ cuối tháng 8 đếntháng 11, lượng mưa có thể đạt từ 300 - 400 mm/tháng Số ngày mưa trung bìnhhàng năm cũng khá cao, phổ biến từ 150 - 160 ngày
- Lượng bốc hơi: Về mùa Đông do nhiệt độ không khí thấp, độ ẩm tương
đối cao, ít gió, áp lực không khí lại lớn nên lượng bốc hơi rất nhỏ, chỉ chiếm từ1/5 - 1/2 lượng mưa Về mùa nóng, do nhiệt độ không khí cao, độ ẩm thấp, giólớn, áp lực không khí giảm nên cường độ bay hơi lớn, lượng bay hơi của 7 thángmùa nóng có thể gấp 3- 4 lần của các tháng mùa lạnh
- Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí bình quân năm là 86% Thời kỳ độ
ẩm không khí thấp nhất là vào các tháng 6 - 7, ứng với thời kỳ gió Tây Nam khônóng hoạt động mạnh nhất, độ ẩm không khí chỉ gần 70%; thời kỳ độ ẩm khôngkhí cao nhất thường xảy ra vào các tháng cuối mùa Đông (tháng 2 và tháng 3),khi khối không khí cực đới lục địa tràn về qua đường biển và khối không khínhiệt đới biển Đông luân phiên hoạt động gây ra mưa phùn
- Số giờ nắng: Trung bình cả năm khoảng 1.700 giờ, các tháng mùa Đông
từ 70 - 80 giờ, các tháng mùa Hè trung bình từ 180 - 190 giờ Tháng có số giờnắng nhiều nhất thường là tháng 5 khoảng trên 210 giờ Mùa Đông nắng ít gaygắt, thuận lợi hơn cho cây trồng, mùa hè nắng thường rất gay gắt, bất lợi cho quátrình quang hợp của cây trồng, ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp
- Gió: Tốc độ gió trung bình cả năm là 1,88m/s, vào các tháng 7 - 10
thường có bão và kèm theo mưa Có thể nói Nghi Xuân là nơi hứng bão của
Trang 13tỉnh, tần suất xuất hiện bão khá cao, hầu như năm nào cũng có bão, có năm tới 2
- 3 trận bão lớn kèm theo mưa lớn ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống Đồngthời với bão còn có tác động lớn của sóng biển, nhất là vùng phía Bắc huyện, khi
có bão toàn bộ dân các xã phía Bắc sát cửa sông Lam đều phải sơ tán để đềphòng sóng thần và gió lớn Nghi Xuân còn là vùng chịu ảnh hưởng mạnh củagió Lào, thường xảy ra vào các tháng 5 – 6, có khi kéo dài trong nhiều ngày
Ngoài ra, còn có hiện tượng sương mù, chủ yếu xảy ra trong mùa Đôngvào những ngày chuyển tiếp, thường có từ 5 - 6 ngày, phổ biến là loại sương mùđịa hình xuất hiện từng đám mà không thành lớp dày đặc
2.1.1.4 Thủy văn và tài nguyên nước
Thuỷ văn của huyện chịu ảnh hưởng bởi hệ thống sông Lam và các consuối nhỏ trên địa bàn, các khe suối có độ dốc và tốc độ dòng chảy nhỏ, chủ yếu
là về mùa mưa lũ Mật độ sông suối phân bố không đồng đều
Trên địa bàn huyện có con sông chính là sông Lam hợp bởi hệ thống sôngNgàn Sâu và sông Ngàn Phố của hai huyện Hương Khê và huyện Hương Sơnđoạn qua huyện Nghi Xuân chảy theo hướng Tây Nam - Đông Bắc Lưu lượngdòng chảy bình quân năm của các sông khoảng 15 m3/s; mùa lũ có thể đạt tớitrên 3000 m3/s, mùa cạn có khi chỉ có 5 m3/s Sự hình thành lũ và số lượng cáccơn lũ trên sông được quyết định bởi thời gian và cường độ mưa
Chế độ thuỷ văn của huyện còn chịu ảnh hưởng của thuỷ triều do huyện
có 32 km bờ biển Chế độ thủy triều tại đây có khoảng 2/3 số ngày trong tháng
là nhật triều, còn lại là bán nhật triều; thời gian triều dâng kéo dài hơn thời giantriều rút Độ lớn triều trung bình kỳ nước cường từ 1,2 - 1,5 m và trong kỳ triềukém khoảng 0,5 m Do ảnh hưởng của thủy triều nên nước sông Lam thường bịnhiễm mặn về mùa khô nên trạm bơm Xuân Lam tưới tiêu phục vụ sản xuấtnông nghiệp không chủ động, sông Lam là cơ sở cho việc phát triển vận tảiđường sông, công nghiệp đóng tàu, du lịch, nuôi trồng thủy sản và điều tiết nước
lũ về mùa mưa
Huyện có tài nguyên nước khá dồi dào
Trang 14- Nguồn nước mặt: Nguồn nước mặt Nghi Xuân khan hiếm, chủ yếu lấy
từ nước mưa và một vài suối của dãy Hồng Lĩnh có nước quanh năm nhưng lưulượng thấp, ngoài ra còn có một số hồ chứa nhỏ trữ nước về mùa mưa phục vụcho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân vùng ven chân núi Hồng Lĩnh Khu nàycòn khe suối tự nhiên chạy từ rào Mỹ Dương đến cống ngăn mặn xã CươngGián cũng là nguồn cung cấp nước mặt cho sản xuất và đời sống trong vùng,nhưng lưu lượng bổ sung về mùa kiệt rất ít do việc xây dựng và nâng cấp các hồchứa trên các khe suối nhánh đổ xuống suối này Tuy trên địa bàn huyện có sôngLam chảy dọc theo ranh giới phía bắc của huyện với chiều dài 28 km, song dogần cửa biển nên bị nhiễm mặn và không sử dụng được cho nông nghiệp và sinhhoạt Ngay tại trạm bơm Lam Hồng của huyện cũng có lúc bị nhiễm mặn
- Nguồn nước ngầm: Tuy chưa thăm dò khảo sát để đánh giá trữ lượng,
nhưng qua thực tế cho thấy nguồn nước ngầm của huyện cũng khá dồi dào Mức
độ nông, sâu phụ thuộc địa hình và lượng mưa, ở vùng đồng bằng và ven biểnthì có mực nước ngầm nông (với độ sâu 2m - 3m đã có mạch nước ngầm) , vùngven đồi núi Hồng Lĩnh nước ngầm sâu hơn (với độ sâu 5m - 7m đã có mạchnước ngầm) Hiện nay, hầu hết các hộ gia đình đang sử dụng nguồn nước ngầm
để phục vụ cho sinh hoạt nhất là các xã từ Tiên Điền đến Xuân Hội và các xãven biển
2.1.1.5 Đất đai
Theo kết quả điều tra xây dựng bản đồ đất huyện Nghi Xuân tỷ lệ1/20.000 (không tính diện tích đất chuyên dùng, đất ở, sông suối, mặt nước vànúi đá) thì huyện có các nhóm đất và đơn vị đất chủ yếu, như sau:
a- Nhóm đất cát: Chiếm 58,21% tổng diện tích tự nhiên của huyện, được
tạo thành từ các trầm tích sông, trầm tích biển, các sản phẩm dốc tụ, tích lũy từ
sự phá huỷ của các đá giàu thạch anh như granit, quartzit, cát kết lắng đọng ởvùng cửa sông, ven biển tạo thành những bãi bồi cát lớn, nhóm này được phân
bố chủ yếu ở các xã dọc theo bờ biển như Xuân Hội, Xuân Phổ, Xuân Yên,Xuân Thành, Cổ Đạm, Xuân Liên, Cương Gián và được phân làm 2 đơn vị đất:
Trang 15+ Đất cồn cát : Tập trung ở các xã Xuân Hội, Xuân Phổ, Xuân Yên, Xuân
Thành, Cổ Đạm, Xuân Liên, Cương Gián
+ Đất cát biển: Đó là các bãi cát, cồn cát ven biển ở các xã Xuân Hội,Xuân Phổ, Xuân Yên, Xuân Thành, Cổ Đạm, Xuân Liên, Cương Gián
b- Nhóm đất mặn: Chiếm 1,14% diện tích tự nhiên, nằm xen với đất phù
sa ở vùng ven sông gần cửa Hội, chủ yếu nằm trên địa bàn các xã Xuân Hội,Xuân Trường, Xuân Đan, Xuân Phổ, Được hình thành do phù sa sông lắngđọng trong môi trường nước mặn, nước lợ hoặc bị nhiễm mặn do ngập nướcmặn, ngập thuỷ triều Nhóm này gồm có 2 đơn vị đất:
+ Đất mặn nhiều: Phân bố ở ven sông Lam sát cửa Hội thuộc địa bàn xã
Xuân Hội, Xuân Trường và xã Cương Gián
+ Đất mặn ít: Phân bố tập trung tại khu vực trong đê của một số xã ven
sông Lam: Xuân Phổ, Xuân Đan, Xuân Trường và Xuân Hội
c- Nhóm đất phèn mặn: Chiếm 5,56% diện tích tự nhiên, phân bố thành
dải phù sa gần cửa Hội tập trung chủ yếu tại các xã Xuân Hội, Xuân Trường,Xuân Đan, và Xuân Phổ, Xuân Giang
d- Nhóm đất phù sa: Chiếm 11,91% diện tích tự nhiên, phân bố tập trung
ở địa hình vùng đồng bằng, được tạo thành chủ yếu do quá trình lắng đọng phù
sa của sông Lam và các khe suối ven núi Hồng Lĩnh Bao gồm:
+ Đất phù sa sông lam được bồi lắng hàng năm: Phân bố chủ yếu ở cácxã: Xuân Hồng, Xuân Lam, Xuân Giang và Thị trấn Xuân An
+ Đất phù sa úng nước: Phân bố tập trung ở ven chân núi Hồng Lĩnh
thuộc các xã Xuân Viên, Xuân Mỹ, Cổ Đạm
+ Đất phù sa suối: Phân bố tập trung ven chân núi Hồng Lĩnh thuộc xã
Xuân Lĩnh, Xuân Liên, Xuân Hoa, Xuân Song
đ- Nhóm đất dốc tụ: Chiếm 2,10% diện tích tự nhiên, phân bố tập trung ở
Xuân Liên, Xuân Hoa, Xuân Song và Xuân Lĩnh
e- Nhóm đất xám bạc màu: Chiếm 2,80% diện tích tự nhiên, phân bố chủ
yếu thuộc địa bàn các xã Xuân Song, Xuân Viên, Xuân Hồng
g- Nhóm đất đỏ vàng trên Granit: Chiếm 6,05% tổng diện tích tự nhiên,
phân bố tập trung trên núi Hồng Lĩnh ở độ cao trên 300m
h- Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá: Chiếm 16,79% diện tích tự nhiên, phân
bố ven sườn núi Hồng Lĩnh ở độ cao 100 - 300m
Trang 162.1.1.6 Tài nguyên rừng
Nghi Xuân không có rừng tự nhiên, theo số liệu kiểm kê đất đai năm
2010 cho thấy diện tích rừng của huyện có 6.521,56 ha, chiếm 29,64% diện tích
tự nhiên, trong đó rừng sản xuất 1.588,26 ha, rừng phòng hộ 4.933,30 ha Rừngchủ yếu là phi lao, bạch đàn nằm dọc bờ biển, diện tích rừng thông tập trung vennúi Hồng Lĩnh
Ngoài ra, sinh thái rừng ngập mặn khu vực cửa Hội với nhiều loài độngthực vật thủy sinh không chỉ góp phần làm đa dạng nguồn tài nguyên rừng củahuyện mà còn rất có giá trị cả về kinh tế, khoa học, du lịch và môi trường
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
2.1.2.1 Tình hình phát triển kinh tế của huyện
a Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trong 5 năm qua Đảng bộ và nhân dân huyện Nghi Xuân đã nắm bắt thời
cơ, thuận lợi, khắc phục khó khăn, đoàn kết, thống nhất, tập trung lãnh đạo, chỉđạo, động viên các tầng lớp nhân dân nỗ lực phấn đấu giành được kết quả khátoàn diện trên các lĩnh vực, cơ bản hoàn thành các chỉ tiêu Đại hội Đảng bộhuyện lần thứ XIX đề ra: kinh tế tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịchtheo hướng tích cực; văn hoá - xã hội tiếp tục có bước phát triển, đời sống vậtchất và tinh thần của nhân dân được cải thiện; quốc phòng, an ninh được giữvững; công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị được tăng cường, từngbước xây dựng huyện nhà ngày càng phát triển
Kinh tế tiếp tục phát triển với tốc độ khá; tỷ trọng các ngành công nghiệp,thương mại, dịch vụ - du lịch tăng nhanh; nông, lâm, ngư nghiệp phát triển ổnđịnh; cơ sở vật chất hạ tầng kỹ thuật được tăng cường; đời sống vật chất củanhân dân ngày càng được nâng cao
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 13,2%/năm Thu nhập bình quân
đầu người năm 2012 đạt trên 10 triệu đồng
Bảng số 01: Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn
2006 - 2010
Trang 17TT Chỉ tiêu Đơn vị
tính
Năm 2008
Năm 2009
Năm 2010
Năm 2011
Năm 2012
1 Tổng giá trị
sản xuất Tỷ đồng 1180,61 1343,70 1426,91 1601,24 1884,161.1
Trang 18và giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp.
Năm 2012, tỷ trọng ngành nông, lâm, thủy sản chiếm 29,68% trong cơcấu kinh tế, giảm 8,45% so với năm 2008, tỷ trọng ngành công nghiệp – tiểu thủcông nghiệp là 35,82%, giảm 0,25% so với năm 2008, tỷ trọng ngành thươngmại, dịch vụ là 34,5%, tăng 8,7% so với năm 2008
Trong giai đoạn tới, với sự đầu tư của Nhà nước, của UBND tỉnh Hà Tĩnh,cùng sự cố gắng nỗ lực phấn đấu của toàn huyện, cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyểndịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch
vụ, giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế
b Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
* Nông nghiệp
Trong 5 năm qua, sản xuất nông, lâm, thủy sản của huyện tiếp tục pháttriển ổn định Huyện đã tổ chức thực hiện tích cực, đồng bộ các chủ trương,Nghị quyết của Đảng, Nhà nước về nông nghiệp, nông thôn Tốc độ tăng trưởngbình quân ngành nông nghiệp trong 5 năm qua đạt trên 4%/năm Tổng giá trị sảnxuất của ngành năm 2012 đạt 559 tỷ đồng, bằng 29,68% tổng giá trị sản xuất củatoàn huyện Bình quân lương thực đầu người đạt 153 Kg/người/năm
Trang 19- Ngành trồng trọt: Ngành sản xuất nông nghiệp trong những năm qua còngặp nhiều khó khăn, vụ hè thu gặp nắng hạn đầu vụ, lũ lụt cuối vụ, vụ mùa gặpbão, lũ lớn làm ngập úng và hư hỏng diện tích lúa, màu của huyện Tuy nhiên,với sự cố gắng của toàn huyện, ngành sản xuất nông nghiệp của huyện cũng đạtđược những kết quả khá cao Một số tiến bộ khoa học kỹ thuật, đặc biệt là giống,
mô hình, phương pháp sản xuất mới đã được áp dụng, góp phần tăng năng suất,chất lượng và giá trị sản phẩm ngành trồng trọt Cùng với cây trồng chính là lúa,lạc thì trên địa bàn huyện cũng có một số mô hình cây trồng cho giá trị kinh tếnhư cây sắn, cây khoai lang, cây vừng, cây rau đậu các loại
- Chăn nuôi: Đây là nhóm ngành chiếm vị trí chính trong khu vực kinh tế
nông nghiệp cùng với nhóm ngành trồng trọt Công tác phòng chống dịch bệnhcho gia súc, gia cầm được chú trọng, nhất là dịch tai xanh ở lợn, lở mồm longmóng ở trâu, bò, cúm gia cầm
Chăn nuôi phát triển với tổng đàn trâu bò đạt 18.499 con, đàn lợn là16.014 con, đàn gia cầm cũng tăng đáng kể so với năm 2008 Một số mô hìnhchăn nuôi tập trung có hiệu quả như: nuôi ngan an toàn sinh học ở Xuân Hải,nuôi lợn nái ngoại ở Xuân Viên, nuôi bò lai Zêbu ở thị trấn Xuân An; tiếp tụcthực hiện chương trình cải tạo đàn bò đạt kết quả khá
- Lâm nghiệp: Với diện tích đất lâm nghiệp lớn với hơn 6.000 ha nhưngtrong đó rừng phòng hộ đã chiếm tới 75%, diện tích rừng sản xuất còn lại chogiá trị sản xuất là 8 tỷ đồng vào năm 2012 Các dự án quy hoạch phát triển câycao su, phát triển trang trại, trồng rừng đều được thực hiện có hiệu quả Đã đưavào trồng một số loại cây có giá trị cao Có nhiều hộ gia đình có thu nhập cao từkinh tế rừng
- Thủy sản: Được đánh giá là có tiềm năng thế mạnh trong phát triểnngành nông nghiệp của huyện với tổng diện tích nuôi thả cá đến nay đạt 551 ha.Nhiều hộ nông dân đã tận dụng tốt số diện tích ao hồ, mặt nước để đưa vào nuôithả cá, đồng thời khai thác ngư trường trên biển cho giá trị kinh tế cao Hiệu quả
Trang 20của một số mô hình nuôi tôm he chân trắng thâm canh bằng phương pháp trảibạt ở xã Xuân Hội, trát bờ bằng bê tông ở Xuân Phổ bước đầu cho thu nhập khá.Bảng 02: Kết quả sản xuất ngành nông nghiệp qua một số năm
Đơn vị tính
Năm
2007 Năm 2008
Năm 2009
Năm 2010
Năm 2011
Năm 2012
Trang 22Trong những năm gần đây khu vực kinh tế công nghiệp, tiểu thủ côngnghiệp, xây dựng của huyện có những bước tiến mới Tổng giá trị sản xuất củangành này năm 2012 đạt 550 tỷ đồng, chiếm 34,72% tổng giá trị sản xuất củatoàn huyện.
Huyện Nghi Xuân rất chú trọng hoạt động xúc tiến đầu tư vào lĩnh vựccông nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, đã có những cơ chế chính sách thông thoángtrong thu hút, kêu gọi đầu tư Phối hợp với Ban quản lý Vũng Áng thu hút vàokhu Công nghiệp Xuân An Các Doanh nghiệp và dự án quy mô khá lớn tậptrung đầu tư và đi vào hoạt động có hiệu quả như: Nhà máy bao bì xuất khẩu;Nhà máy gạch Tuynel Nghi Xuân tại xã Cổ Đạm đi vào hoạt động cho sản phẩmtốt trên thị trường; Nhà máy Gỗ băm dăm xuất khẩu, Dự án làng nghề vàThương mại dịch vụ của Công ty TNHH Thanh Thành Đạt Nhiều dự án đãhoàn thành hoặc đang thực hiện các thủ tục đầu tư vào Khu Công nghiệp GiaLách như: Xí nghiệp Sữa chữa cơ khí của DNTN Tú Hà, Xí nghiệp sản xuấtmộc dân dụng và thiết bị trường học Ngành sản xuất vật liệu xây dựng nhưgạch, cát sỏi, đất, đá có sản lượng khá
Bên cạnh đó các ngành truyền thống như: mộc, nề, đan lát, chế biến nông,lâm sản cũng vẫn được duy trì và phát triển Các hộ tham gia sản xuất cácngành nghề truyền thống có thu nhập khá, cuộc sống được cải thiện
* Dịch vụ
Hoạt động dịch vụ - thương mại, du lịch của huyện có bước phát triểnmạnh, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 10%, đáp ứng ngày càng tốthơn nhu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân, các mặt hàng chính được cungứng kịp thời, đầy đủ
Một số ngành dịch vụ chủ lực của huyện là thương mại, dịch vụ, kháchsạn, nhà hàng, vận tải, kho bãi, thông tin liên lạc, tài chính và ngân hàng Đây lànhững ngành dịch vụ đem lại cho huyện doanh thu cao, đặc biệt trong nhữngnăm gần đây Các dịch vụ phát triển rộng khắp, tốc độ nhanh, thu hút hàng ngànlao động, tạo thu nhập khá, góp phần xoá đói giảm nghèo tại các địa phương.Doanh thu xuất khẩu đạt 4,7 triệu USD Hệ thống chợ nông thôn được quan tâm
Trang 23đầu tư, các loại hàng hoá, nhu yếu phẩm được phục vụ tương đối đầy đủ, đảmbảo kịp thời cho nhu cầu sản xuất, tiêu dùng trên địa bàn; hoạt động vận tải đápứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh và giao lưu, đi lại cho nhân dân; Công táckiểm tra giá cả thị trường, chống buôn lậu, gian lận thương mại được chú trọng;việc chấp hành quy định pháp luật tại các cơ sở kinh doanh đã có nhiều chuyểnbiến Tuy vậy, tình hình giá cả thị trường tăng nhanh đã làm ảnh hưởng đến đờisống và sản xuất.
Công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực du lịch được tăng cường; chủ độngthu hút đầu tư xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng và cung cấp các dịch vụ, đảm bảophục vụ tốt cho du khách; tổ chức tuyên truyền phổ biến các chủ trương, chínhsách của Đảng, nhà nước về quản lý, kinh doanh du lịch; tổ chức lễ hội Khaitrương mùa du lịch biển Xuân Thành; phối hợp với Sở Văn hoá, Thể thao và Dulịch thẩm định xếp hạng các cơ sở lưu trú; tổng số 105 nhà hàng, khách sạn đủđiều kiện phục vụ khách du lịch trên địa bàn; Các loại hình dịch vụ được nhânrộng đã giải quyết nhiều lao động trên các lĩnh vực
Tổng giá trị sản xuất ngành thương mại dịch vụ năm 2012 đạt 500 tỷđồng, tăng 295,50 tỷ đồng so với năm 2008, chiếm 31,56% tổng giá trị sản xuấttoàn huyện
2.1.2 DÂN SỐ LAO ĐỘNG VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP
2.1.2.1 DÂN SỐ
Qua tổng hợp biến động dân số của huyện từ năm 2008 đến nay ta thấy tỷ
lệ phát triển dân số tự nhiên của huyện ổn định ở mức cao, trung bình là 0,61%.Dân số tăng từ 93.150 người năm 2008 lên 96.902 người vào năm 2012 Tronggiai đoạn tới cần có những chính sách hợp lý để ổn định tỷ lệ phát triển dân số,quản lý tốt vấn đề phát triển dân số cơ học để đảm bảo cơ cấu dân số, lao động,việc làm và ổn định cuộc sống nhân dân
Dân số của huyện phân bố trên địa bàn 19 xã, thị trấn, mật độ dân số trungbình toàn huyện là 440 người/km2 Trong đó, mật độ dân số cao tập trung ở Thịtrấn Nghi Xuân, thị trấn Xuân An, xã Xuân Yên và mật độ thấp trên địa bàn xãXuân Viên, Xuân Lam, Xuân Lĩnh
Bảng số 03: Hiện trạng phân bố dân cư, lao động năm 2012
Trang 24TT Xã (thị trấn)
Tổng nhân khẩu (Người)
Mật độ dân số (Người/Km2)
Tổng số
hộ (Hộ)
Dân số trong
độ tuổi lao động (Người)
Trang 25nghiệp, dịch vụ thì yêu cầu nguồn nhân lực phải được đào tạo có chất lượng Vìvậy, nguồn lao động của huyện cần được quan tâm, đào tạo để đáp ứng nhu cầulao động có trình độ cho sự phát triển kinh tế, xã hội của huyện
Trong những năm qua, bằng nhiều hình thức, tỉnh và huyện đã thực hiệnchương trình Quốc gia giải quyết việc làm và lồng ghép các chương trình dự án,
đã có những biện pháp tích cực để giải quyết việc làm cho người lao động như
hỗ trợ, đầu tư xây dựng các mô hình kinh tế, phối hợp với các ngành liên quan
để xúc tiến việc làm cho người lao động góp phần giảm tỷ lệ lao động thấtnghiệp và tỷ lệ hộ nghèo (tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 29,15% năm 2008 xuống13,57% vào năm 2012)
2.1.2.3 Cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật
* Giao thông vận tải
Được sự quan tâm của Nhà nước, của tỉnh đầu tư cho huyện bằng nhiềunguồn vốn cùng với sự nỗ lực đóng góp công sức của nhân dân cơ sở hạ tầngcủa huyện có nhiều chuyển biến rõ rệt
+ Giao thông đường bộ: Hệ thống giao thông của huyện bao gồm đườngQuốc lộ, Tỉnh lộ, huyện lộ, đường xã và giao thông nông thôn Một số tuyếngiao thông đường bộ chính của huyện:
- Quốc lộ 1A có 02 tuyến Tuyến chạy dọc chân núi hồng lĩnh về phía tâydài 11 km, qua Thị trấn Xuân An, xã Xuân Hồng, xã Xuân Lam.và Tuyến tránhthị xã Hồng Lĩnh dài 11 km qua Thị trấn Xuân An, xã Xuân Viên, xã Xuân Lĩnh:
Là tuyến giao thông huyết mạch của huyện, chạy qua địa bàn của huyện Quốc lộ 8B chạy qua địa bàn của huyện dài 21 km, qua địa bàn Thị trấn Xuân
-An, Thị trấn Nghi Xuân, xã Xuân Lĩnh, Xuân Giang, Tiên Điền, Xuân Hải,Xuân Phổ, Xuân Đan, Xuân Trường, Xuân Hội
- Tỉnh lộ 22/12 chạy qua địa bàn của huyện dài 21km, qua địa bàn Thịtrấn Xuân An, xã Xuân Viên, Xuân Mỹ, Xuân Thành, Cổ Đạm, Xuân Liên,Cương Gián
- Đường liên xã và giao thông nông thôn: Hệ thống giao thông liên xãtrong những năm qua cùng với sự đóng góp nhân dân và hỗ trợ cấp trên các hệthống giao thông liên xã đã được đầu tư xây dựng, nâng cấp tương đối hoànchỉnh tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu thông trong địa bàn Các hệ thốnggiao thông trục xã, liên thôn đang được quan tâm đầu tư nâng cấp bằng các
Trang 26nguồn lực đóng góp của nhân dân và các chương trình mục tiêu Quốc gia, từngbước đáp ứng được nhu cầu lưu thông của nhân dân.
+ Giao thông đường thủy: Với 32 Km bờ biển, 28 Km đường sông Lam,cảng Xuân Hải, cảng cá Xuân Phổ và cửa Hội, nhưng khả năng phát triển mạnglưới giao thông đường thuỷ chưa được khai thác tối đa, còn nhiều hạn chế, mớichỉ mang tính chất nội khu vực, quy mô nhỏ Đa phần tàu thuyền cập bến là tàuthuyền đánh bắt cá có công suất nhỏ, chủ yếu của ngư dân trong huyện và nhữngvùng xung quanh
Để có hệ thống giao thông hoàn chỉnh, đáp ứng được nhu cầu về giaothông cũng như đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, trong những năm tớiNghi Xuân cần tiếp tục phối hợp với các ngành, các cấp ở Trung ương và địaphương đầu tư phát triển, hoàn thiện mạng lưới giao thông trên địa bàn huyện.Ngoài việc chú trọng nâng cấp, sửa chữa và mở rộng các tuyến đường hiện có,cần phải dành ra một quỹ đất để xây dựng thêm một số tuyến đường mới đápứng cho sự phát triển đô thị, khu du lịch Đồng thời cũng phải dành ra một diệntích nhất định để phát triển hệ thống giao thông tĩnh như bến xe, bãi đỗ xe Đâycũng sẽ là một áp lực đối với việc sử dụng đất của huyện trong tương lai
Nhìn chung, do hạn chế về vốn, công tác thủy lợi của huyện còn hạn chế,chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất nông nghiệp cũng như bảo vệ đời sốngnhân dân Hiện tượng hạn úng vẫn còn xảy ra gay gắt, nhất là vấn đề tưới, chonên diện tích lúa chỉ giới hạn ở vùng ven chân núi, và một số ít dọc sông Lam,còn các cây trồng khác tuyệt đại bộ phận phải nhờ nước trời Do vậy mùa hanhkhô ở đây càng gay gắt lại còn gay gắt hơn Đây cũng là nguyên nhân chính củaviệc chậm chuyển đổi cơ cấu cây trồng cũng như năng suất cây trồng (kể cả lúa
và hoa màu) không cao
Hệ thống đê, kè cống (kể cả đê biển và đê sông) cũng chưa đảm bảo yêu
Trang 27gây xói lở bờ cũng đang là vấn đề bức xúc Vì vậy, để ổn định và phát triển sảnxuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa trên cơ sở khai thác tiềm năngđất đai, lao động và thế mạnh về vị trí địa lý của huyện, để cải tạo và bảo vệ môitrường thiên nhiên, công tác thủy lợi đòi hỏi cần có sự đầu tư lớn trên nhiều lĩnhvực (đầu mối, nội đồng, đê, kè, cống ) cũng như sự quan tâm thích đáng đếncông tác quản lý và khai thác Đây là vấn đề cần được quan tâm nhiều trongtương lai.
* Thông tin liên lạc
Ngành thông tin liên lạc của huyện những năm gần đây đã đạt tốc độ pháttriển cao cả về hạ tầng cơ sở lẫn doanh thu dịch vụ, đảm bảo thông tin liên lạcđược thông suốt, góp phần hữu hiệu trong công cuộc phát triển kinh tế, đảm bảo
an ninh quốc phòng cũng như đáp ứng kịp thời nhu cầu giao lưu, trao đổi thôngtin của nhân dân Đến nay, 19 xã, thị trấn trên địa bàn huyện có điểm bưu điệnvăn hoá Phủ sóng phát thanh và truyền hình, sóng điện thoại 19/19 xã, thị trấn
và tất cả các xã, thị trấn đã có trạm truyền thanh Ngoài ra trên địa bàn huyệncòn có các dịch vụ của bưu chính như phát hành báo chí, bưu kiện, bưu phẩm…đều được thực hiện khá tốt
Trong giai đoạn tới, cần đầu tư hơn để hoàn thiện hệ thống viễn thông củahuyện, đảm bảo thông tin liên lạc nhanh và thông suốt, phục vụ tốt hơn cho hoạtđộng của toàn huyện
2.1.2.4 Giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao
* Giáo dục đào tạo
- Sự nghiệp giáo dục đào tạo của huyện Nghi Xuân trong những năm qua
đã có những chuyển biến đáng khích lệ, phát triển cả về số lượng và chất lượng.Đến nay đã hoàn thành công tác xoá mù chữ, là một trong những huyện của tỉnh
Hà Tĩnh sớm được công nhận đạt phổ cập giáo dục tiểu học và đạt phổ cập giáodục trung học cơ sở Chất lượng đào tạo cơ bản được giữ vững và nâng cao, sốlượng giáo viên giỏi, học sinh giỏi ngày một tăng, có giáo viên giỏi đạt danhhiệu “Viên phấn vàng” Quốc gia
Hệ thống cơ sở trường lớp của huyện hiện có 19 trường mầm non; 24trường tiểu học; 13 trường trung học cơ sở và 3 trường trung học phổ thông.Ngoài ra còn có 1 Trung tâm giáo dục thường xuyên và 1 Trung tâm kỹ thuật
Trang 28tổng hợp hướng nghiệp Với quan điểm “giáo dục là quốc sách, hàng đầu”,những năm qua, huyện đã không ngừng đầu tư xây dựng cơ sở vật chất chongành giáo dục Đến nay toàn huyện có 100% số xã, thị trấn trong huyện cótrường học được xây dựng cao tầng, 10 xã có từ 2- 3 trường học được xây dựngcao tầng, số phòng học kiên cố đạt 46% và 100% số xã được xây dựng trung tâmgiáo dục cộng đồng
Tuy nhiên, chất lượng giáo dục trên địa bàn huyện chưa cao, chưa đồngđều, chưa đáp ứng được yêu cầu Sự nghiệp giáo dục phải luôn được ưu tiên đầu
tư và quan tâm hàng đầu Trong giai đoạn 5, 10 năm tiếp theo, cơ sở hạ tầng vàtrang thiết bị dạy và học được huyện đặc biệt quan tâm, cơ sở trường lớp đượcxây dựng mới và mở rộng nhiều, đặc biệt là hệ thống trường mầm non Quantâm đến sự nghiệp giáo dục là đầu tư cho sự phát triển của huyện
* Y tế
Sự nghiệp y tế có nhiều tiến bộ, cơ sở vật chất và trang thiết bị từng bướcđược nâng cấp, đội ngũ thầy thuốc thường xuyên được đào tạo bồi ưnỡgd cângcao chuyên môn, nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp Công tác chăm sóc và bảo
vệ sức khoẻ cho nhân dân được thực hiện hiệu quả
Sự nghiệp y tế của huyện những năm gần đây chủ yếu tập trung vàonhiệm vụ nâng cao chất lượng bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Nănglực của ngành luôn được tăng cường cả về cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ cũngnhư chất lượng khám chữa bệnh Mạng lưới cơ sở y tế của huyện phát triển cảhai tuyến, tuyến huyện và tuyến xã Hiện tại Nghi Xuân có 1 bệnh viện huyện
(thị trấn Nghi Xuân), 2 phòng khám đa khoa khu vực (Xuân An và Cổ Đạm), 1
đội vệ sinh phòng dịch và 19 trạm y tế của 19 xã, thị trấn với 233 cán bộ y tế
Công tác phòng chống dịch bệnh: Tổ chức thực hiện tốt các chương trình
y tế mục tiêu Quốc gia Tuyên truyền hướng dẫn nhân dân thực hiện công tácphòng chống dịch cúm gia cầm và đại dịch cúm ở người Đến nay trên địa bànhuyện chưa phát hiện có dịch Duy trì thực hiện công tác truyền thông gắn vớidịch vụ kế hoạch hoá gia đình Tổ chức thực hiện chiến dịch chăm sóc sức khoẻsinh sản ở các xã, thị trấn; mở các lớp tập huấn cho cán bộ chuyên trách và cộngtác viên dân số
Trang 29Thường xuyên thăm hỏi, giúp đỡ các cháu có hoàn cảnh đặc biệt khókhăn, các vụ vi phạm quyền trẻ em được giải quyết tích cực, 100% trẻ em dưới 1
tuổi được tiêm đầy đủ các loại vác xin
Huyện cần triển khai tốt và đẩy mạnh chính sách dân số kế hoạch hoá giađình, xây dựng gia đình và bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em Tổ chức chiến dịchthực hiện dịch vụ sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình UBND huyện cùngphòng y tế phối hợp đầu tư trang thiết bị, nâng cao trình độ của các y bác sỹ đểđảm bảo công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân trong huyện
* Văn hóa, thể thao
Hoạt động văn hoá, nghệ thuật thông tin cổ động của huyện trong nhữngnăm qua phát triển sâu rộng từ huyện xuống các thôn xóm, chất lượng đời sốngvăn hóa ở cơ sở được nâng cao, góp phần thực hiện tốt đường lối của Đảng về
“xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Phong tràoxây dựng làng, xã, gia đình văn hóa và phong trào toàn dân đoàn kết xây dựngcuộc sống mới ở khu dân cư đã được nhân dân tích cực tham gia và đồng tìnhủng hộ Các hoạt động về văn hóa, nghệ thuật diễn ra rất đa dạng, phong phú thuhút được nhiều đối tượng tham gia như tổ chức các lễ hội, liên hoan văn nghệquần chúng chào mừng các ngày lễ lớn, tổ chức các cuộc thi hội diễn nghệ thuật,sáng tác kịch, thơ, hò vè với nhiều chủ đề khác nhau nhằm tuyên truyền sâu rộnglối sống lành mạnh, ngợi ca tình yêu đất nước, con người, bài trừ các hủ tục lạc
hậu và các tệ nạn xã hội (mê tín dị đoan, ma túy, cờ bạc, mại dâm, ).
Công tác phát thanh, truyền hình cũng được quan tâm cả về nội dung, chấtlượng lẫn thời lượng Các bản tin đã phản ánh kịp thời các hoạt động của địaphương, tuyên truyền các chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước cũngnhư phổ biến, hướng dẫn nhân dân về công tác khuyến nông, khuyến lâm vàkhuyến ngư, cổ vũ nhân dân ra sức thi đua hoàn thành thắng lợi các mục tiêuphát triển kinh tế xã hội
- Phong trào thể dục - thể thao của huyện được phát triển sâu rộng dướinhiều hình thức, nội dung phong phú với các môn: bóng đá, bóng chuyền, cầulông, võ thuật, đua thuyền Công tác giáo dục thể chất trong nhà trường đã đượccoi trọng; phong trào thể dục - thể thao trong các lực lượng vũ trang, công nhânviên chức, thanh niên, học sinh cũng như trong gia đình thu hút nhiều người